Điều chế QPSK và 16PSK phân cực kép trong kênh truyền quang có và không có tín hiệu hỗn loạn
Vũ Anh Đào, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Quyền
ĐIỀU CHẾ QPSK VÀ 16PSK PHÂN CỰC
KÉP TRONG KÊNH TRUYỀN QUANG CÓ
VÀ KHÔNG CÓ TÍN HIỆU HỖN LOẠN
Vũ Anh Đào*1,2, Trần Thị Thanh Thủy2, Nguyễn Xuân Quyền1
1Đại học Bách Khoa Hà Nội
2Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Tóm tắt: Bài báo trình bày nghiên cứu về hệ thống
thông tin quang sợi sử dụng hai phương pháp điều chế tiên
tiến QPSK và 16PSK. Hệ thống so sánh hiệu năng quang
học trong các kênh quang có và không có tín hiệu hỗn loạn
ở tốc độ bit 60Gbps, chiều dài sợi quang là 80 km và
khoảng cách kênh 100 GHz trong băng tần C. Bài báo khảo
sát tỷ số lỗi bit BER theo chiều dài và theo tốc độ truyền,
cho hai dạng kênh truyền thông với hai loại điều chế trên.
Qua hai khảo sát trên chúng tôi thấy điều chế QPSK có
chất lượng tốt hơn. Bên cạnh đó, bài báo cũng thảo luận
các phân tích và đánh giá sâu hơn một số tham số hệ thống
gồm tương quan giữa máy phát và máy thu và giản đồ
chòm sao với loại điều chế này cho cả hai loại kênh truyền.
lệch nhau 22.50, xác định bởi tổ hợp 4 bit liền nhau của tín
hiệu nhị phân, được gọi là Quadbit. Sơ đồ điều chế 16-
PSK có độ phức tạp cao, được sử dụng chủ yếu trong kỹ
thuật radio số. Các điều chế khóa chuyển dịch đa pha dạng
PSK thường được áp dụng cho tín hiệu băng gốc trong các
hệ thống thông tin vô tuyến.
Trong lĩnh vực truyền thông, chất lượng dịch vụ không
ngừng được nâng cao, người dùng không chỉ quan tâm đến
tốc độ, chất lượng truyền tin mà đặc biệt chú ý đến tính an
toàn khi truyền các bản tin qua mạng. Các nhà khoa học
trong lĩnh vực bảo mật thông tin đưa ra rất nhiều phương
pháp mã hóa bảo mật như DSS (tiêu chuẩn chữ ký số), triple
DES (tiêu chuẩn mã hóa dữ liệu) [8], AES (tiêu chuẩn mã
hóa tiên tiến) [8]–[10] v.v nhưng cũng dần bị giải mã bởi
một số thuật toán như thuật toán vét cạn, quy hoạch động,
vv.
Từ khóa: hỗn loạn, thông tin quang, tương quan, BER,
QPSK, 16PSK.
I. GIỚI THIỆU
Hỗn loạn được biết đến từ cuối thế kỷ 19 và đã được sử
dụng trong rất nhiều lĩnh vực như toán học, điều khiển học,
sinh học, vật lý… Về mặt bản chất, hỗn loạn là trạng thái
vận động không có tính chu kỳ của một hệ thống xác định
trong một quá trình nào đó, và thường được biểu diễn bằng
một phương trình đặc trưng mô tả quan hệ biến đổi theo
thời gian [11]–[13]. Hiện nay, tín hiệu hỗn loạn thường
được sử dụng trong các hệ thống truyền thông để tăng tính
bảo mật vì tính chất nhạy cảm với sự sai khác thông số, đặc
biệt là điều kiện khởi tạo. Tín hiệu hỗn loạn là tín hiệu trải
phổ, sử dụng băng thông lớn và có mật độ công suất thấp.
Trong các hệ thống truyền thông truyền thống, các hàm
mẫu tương tự được gửi qua kênh là tổng trọng số của dạng
sóng và là tuyến tính. Tuy nhiên, trong các hệ thống thông
tin liên lạc hỗn loạn, các mẫu là các phân đoạn của dạng
sóng hỗn loạn và là phi tuyến. Đặc tính phi tuyến tính,
không ổn định và không theo chu kỳ của tín hiệu hỗn loạn
này có nhiều đặc điểm khiến nó trở nên hấp dẫn hơn trong
truyền thông [14]–[19].
Ngày nay, thông tin quang sợi và kỹ thuật ghép kênh phân
chia theo bước sóng quang WDM (wavelength division
multiplexing) đã xuất hiện ở mọi hệ thống mạng thông tin
như truy nhập, vùng, đô thị, mạng xương sống quốc gia hay
mạng quốc tế [1]–[4]. Trong các hệ thống thông tin quang,
các dạng điều chế tiên tiến khác nhau như PSK[5] , QAM
[6],[7] được áp dụng rộng rãi để nâng cao hiệu suất phổ
thông tin và nâng cao tốc độ bit trên các kênh truyền.
PSK (Phase Shift Keying) là điều chế số theo pha tín
hiệu mà mỗi bit đặc trưng bởi góc pha khác nhau của tín
hiệu. Một dạng cơ bản thông dụng nhất của điều chế PSK
là kiểu điều chế khóa dịch pha cầu phương QPSK
(Quadrature Phase Shift Keying). Kỹ thuật này được xây
dựng từ dạng sin với bốn giá trị pha, xác định bởi tổ hợp 2
bit liền nhau của tín hiệu nhị phân, được gọi là Dibit có độ
dài 2 bit. Dạng điều chế PSK thứ hai cũng rất phổ biến khác
là 16-PSK, trong đó tín hiệu có dạng sin với tám giá trị pha
Tác giả liên lạc: Vũ Anh Đào,
Email: [email protected]du.vn
Đến tòa soạn: 9/2020, chỉnh sửa: 10/2020, chấp nhận đăng: 10/2020.
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn
thông có mã số 07-HV-2020-ĐT1.
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
131
ĐIỀU CHẾ QPSK VÀ 16PSK PHÂN CỰC KÉP TRONG KÊNH TRUYỀN QUANG CÓ VÀ KHÔNG CÓ TÍN HIỆU HỖN LOẠN
Chaos
Chaos
Chaos
Channel 1
Power
Meter
Rx1
Channel 1
Chaos
PBS
QPSK.
Demod
90° EO
Hybrid
Power
Meter
Tx1
QPSK
MZ
Laser1 CW
data1
data1
S/P
PBC
MZ
PBS
LO1
QPSK.
Demod
QPSK
90° EO
Hybrid
Chaos
PBS
NZ-DSF DCF
EDFA
Chaos
Channel 2
Channel 2
QPSK
MZ
QPSK.
Demod
PBS
Laser2 CW
90° EO
Hybrid
data2
S/P
Power
Meter
Rx2
PBC
MZ
data2
PBS
Power
Meter
Tx2
QPSK
LO2
QPSK.
Demod
90° EO
Hybrid
PBS
Hình 1. Mô hình hệ thống ghép kênh có hỗn loạn và không có hỗn loạn sử dụng điều chế QPSK phân cực
kép.
Trên thực tế, việc triển khai hỗn loạn cho các thiết bị
xn+1 = a.x (1− x ), x 0,1
(1)
n
n
0
liên lạc và điện tử cần chú ý hai quá trình quan trọng là
đồng bộ hóa hỗn loạn và kiểm soát hỗn loạn. Tín hiệu hỗn
loạn được trộn với thông tin thông qua một số sơ đồ khác
nhau như xáo trộn, điều chế và mã hóa sẽ giúp bảo mật tốt
hơn vì nếu bị nghe trộm, họ cũng không thể phát hiện một
cách chính xác thông tin đã bị mã hóa [20],[21].
Với n = 1,2,3… là số nguyên dương. Nếu hệ số điều
khiển a = 3.9 hệ thống rơi vào trạng thái hỗn loạn. Khi đó,
giá trị đầu ra biến đổi hỗn loạn trong khoảng từ 0 đến 1.
Hàm hỗn loạn có dạng mật độ phân bố xác suất như sau:
1
p(x) =
với 0<x<1
(2)
Trong bài báo này, chúng tôi triển khai mô hình thông
tin quang WDM hai kênh với một kênh có hỗn loạn (COC
- chaotic secure optical communication) và kênh quang
x(1− x)
Trong hệ thống này, bộ phát laser diode (LDT) và bộ
thu laser diode (LDR) đều được cấu tạo từ laser bán dẫn
chế độ đơn với bộ phản xạ ngoài và có cùng cấu hình. Cả
kênh hai kênh COC và CFOC đều được phóng cùng nhau
vào sợi quang thông qua bộ ghép kênh WDM (MUX). Để
bù suy hao do tán sắc gây ra khi thông tin được truyền đi
trên sợi quang, bộ khuếch đại sợi pha tạp erbium (EDFA -
erbium-doped fiber amplifier) được sử dụng với hệ số
khuếch đại G được thiết kế để bù suy hao, được tính theo
thông
thường
(CFOC-
common
fiber-optic
communication) sử dụng kỹ thuật điều chế QPSK và
16PSK kết hợp với kỹ thuật phân cực kép (dual
polarization). Kênh COC có ứng dụng như là một kênh
truyền thông tin bảo mật dành riêng cho các dịch vụ thông
tin quan trọng. Đây là mô hình kênh đơn giản và hiệu quả
sử dụng hàm hỗn loạn (chaos) để nâng cao mức độ bảo mật
của kênh thông tin. Chúng tôi khảo sát BER theo các tham
số hệ thống, hiệu quả sử dụng truyền dẫn của kênh có hỗn
loạn khi truyền qua sợi ở tốc độ cao.
G =
.L
với NZ −DSF là hệ số suy hao sợi
công thức
NZ −DSF
NZ-DSF, 퐿 là tổng chiều dài đường truyền sợi dịch tán sắc
khác không NZ-DSF và sợi DCF, là sợi bù tán sắc, có hệ
II. MÔ HÌNH HỆ THỐNG
=
0.4dB/km). Đến phía thu, tín hiệu quang
số suy hao
DCF
Sơ đồ hệ thống truyền dẫn ghép kênh của kênh COC và
CFOC sử dụng điều chế QPSK phân cực kép được thể hiện
như Hình 1. Khi phân cực kép, dung lượng của kênh sẽ tăng
gấp đôi và BER của kênh quang cũng bị suy giảm như là
sự đánh đổi không thể tránh khỏi bởi sự ảnh hưởng đến tỷ
số tín hiệu trên nhiễu quang OSNR (optical signal to noise
ratio). Mỗi kênh, được xác định bởi bước sóng của sóng
mang quang λc, được ghép vào cùng một sợi quang ở định
dạng dữ liệu gốc. Kênh 1 bản tin được chia làm 2 luồng
song song có tốc độ bằng một nửa tốc độ ban đầu, sau đó
mỗi luồng được điều chế QPSK và hỗn loạn được thêm vào
tại đây. Kênh 2 được xây dựng như kênh 1, tuy nhiên chỉ
khác là kênh này không có hỗn loạn được thêm vào trước
khi điều chế ngoài miền quang. Hệ thống Logistic map một
chiều được chọn là hệ thống động phi tuyến rời rạc, phù
hợp với tính chất phi tuyến trong các hệ thống truyền tin
quang, được cho bởi công thức:
được phân tách bằng bộ tách sóng WDM (DMUX) sau khi
truyền tải đường dài, thông tin nếu được mã hóa hỗn loạn
thì sẽ được giải hỗn loạn tại đây, đồng thời được giải điều
chế QPSK. Các đặc tính động học của từng cặp máy phát
và máy thu trong thiết lập trên có thể được mô tả bằng các
phương trình tốc độ Lang-Kobayashi đối với laser bán dẫn
chế độ dọc đơn mode như sau [17],[22] :
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
132
Vũ Anh Đào, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Quyền
G NT ,R (t) − N0
1+ ET ,R (t) 2
dET ,R (t)
1
2
=
(1+i )
ET ,R (t)
(3)
dt
Có hỗn loạn, QPSK
Không hỗn loạn,
QPSK
+kT ,R ET ,R (t −)exp(-i)+kinjEext (t),
Có hỗn loạn, 16PSK
Không hỗn loạn, 16PSK
Bảng 1. Bảng các tham số hệ thống
Biểu
Tham số
Giá trị
tượng
Bước sóng kênh 1
Bước sóng kênh 2
Tốc độ bit
1552.52nm
1551.72nm
80Gbps
1
2
Hình 2. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của BER vào
chiều dài sợi quang của hệ thống.
Rb
Hệ số suy hao sợi NZ- 0.2dB/km
DSF
NZ −DSF
NZ −DSF
2
ps2 / km-1
= 0.2 dB/km,
W-1 / km-1 . Các tham số khác của hệ thống được thể hiện
= 5.1
= 1.5
Hệ số suy hao sợi 0.4dB/km
DCF
DCF
ở bảng 1.
III. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG VÀ THẢO LUẬN
Hệ số tán sắc sợi NZ- 16ps/nm/km
DSF
DNZ −DSF
Dạng sóng của sóng mang hỗn loạn có thể được thay
đổi thông qua việc truyền qua sợi, do đó, sự đồng bộ hỗn
loạn giữa máy phát và máy thu được giả thiết. Ở phía phát,
kênh 1 được cộng thêm tín hiệu hỗn loạn để truyền đi. Ở
phía thu, tín hiệu nhận được lại một lần nữa được trừ đi tín
hiệu hỗn loạn để có được thông tin gốc. Trong bài báo này,
mô hình được xây dựng như trên với hai loại điều chế là
QPSK và 16PSK phân cực kép. Bài báo sử dụng mô phỏng
trên nền tảng của phần mềm thương mại hóa Optisystem
V.15 cho hệ thống thông tin quang và các mã nguồn của tín
hiệu hỗn loạn từ công cụ mô phỏng Matlab.
Hệ số tán sắc sợi DCF -160ps/nm/km
DDCF
LDCF
Chiều dài sợi DCF
5km
Chiều dài chuỗi bit
Các bit bảo vệ
65536
10
N
n
G
Tăng ích khuếch đại
20dB
Trước hết, để so sánh hai loại điều chế trên với hai kênh
COC và CFOC, chúng tôi đánh giá hiệu năng của hệ thống
thông qua tỉ lệ lỗi bit BER theo chiều dài sợi và tốc độ
truyền dẫn.
Diện tích hiệu dụng 80µm2
sợi
Hình 2 thể hiện kết quả khảo sát tỷ lệ lỗi bit theo chiều
dài sợi quang ở khoảng cách từ 20 đến 80 km, với hệ số
khuếch đại G = 20 dB để bù đủ suy hao sợi quang. Với
QPSK, BER gần như bằng 0 ở khoảng cách từ 20 km đến
40 km, BER giảm khi khoảng cách tăng lên (đối với kênh
COC), khoảng cách càng xa thì hiệu năng của hệ thống
càng giảm. Từ khoảng cách 80km trở đi chất lượng kênh
có hỗn loạn rất xấu, BER sẽ tăng một cách nhanh chóng, số
lượng bit sai nhiều, còn kênh CFOC thì chất lượng tốt hơn
rất nhiều, hầu như không có sai số khi khoảng cách đường
truyền tăng lên. Điều này chứng tỏ khi thêm bộ tạo hỗn loạn
vào thì hiệu năng hệ thống giảm đáng kể ở khoảng cách xa.
Khi ở khoảng cách xa, công suất suy giảm mạnh khi đến bộ
thu, lúc này bộ thu có độ nhạy thu nhất định khó có thể phát
hiện được tín hiệu có công suất quá thấp, cộng thêm việc
có hỗn loạn làm che mất dạng tín hiệu gốc, làm cho máy
G NT,R (t) − N0
1+ ET ,R (t) 2
dNT ,R (t) IT ,R
2 (4)
ET ,R (t)
1
=
−
NT ,R (t) −
dt
qV n
Trong đó, 퐸푇,푅 và 푁푇,푅 tương ứng là biên độ trường điện
tử phức tạp thay đổi chậm và mật độ sóng mang trong
khoang laser. Các chỉ số T và R lần lượt biểu thị máy phát
và máy thu, ω là tần số góc của laser chạy tự do, Eext là
biên độ trường điện từ được đưa vào máy thu và là thời
gian của một chu kỳ. Sự lan truyền của tín hiệu quang hỗn
loạn thứ j trong sợi có thể được mô tả bằng phương trình
Schrödinger phi tuyến (NLS) [23]:
Ej
z
2Ej
N
2
− E 2 + 2
Ek E ,
2
1
(5)
i
= − Ej +
j
j
2
2 t2
k=1,k j
trong đó Ej và Ek tương ứng là biên độ trường điện từ phức
tạp thay đổi chậm của kênh thứ j và kênh thứ k. α là hệ số
2
suy hao sợi,
là hệ số phân tán bậc hai của sợi, γ là hệ
số phi tuyến. Sợi quang được sử dụng trong bài báo này là
sợi dịch chuyển phân tán khác không (NZ-DSF), các tham
số được chọn theo khuyến nghị ITU-T G.655, cụ thể là
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
133
ĐIỀU CHẾ QPSK VÀ 16PSK PHÂN CỰC KÉP TRONG KÊNH TRUYỀN QUANG CÓ VÀ KHÔNG CÓ TÍN HIỆU HỖN LOẠN
Giản đồ chòm sao với hỗn loạn
QPSK
Giản đồ chòm sao không hỗn loạn
QPSK
Có hỗn loạn, 16PSK
Không hỗn loạn, 16PSK
Có hỗn loạn, QPSK
Không hỗn loạn, QPSK
Giản đồ chòm sao không hỗn loạn
QPSK
Giản đồ chòm sao với hỗn loạn
QPSK
Hình. 3. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của BER
vào tốc độ truyền của hệ thống.
thu khó có thể thu đúng được hết tín hiệu, gây ra lỗi bit ở
bộ xử lý phía sau. Với 16PSK, hệ số BER rất lớn và hầu
như không phụ thuộc vào độ dài đường truyền, dù là kênh
COC hay CFOC.
Giản đồ chòm sao không hỗn loạn
QPSK
Giản đồ chòm sao với hỗn loạn
Tốc độ truyền thông tin cũng là một tham số mà các
nhà nghiên cứu muốn tối ưu và nâng cao. Hình 3 khảo sát
BER theo tốc độ bit, tốc độ bit càng cao thì BER càng lớn.
QPSK và 16QPSK đều là những dạng điều chế đơn giản
nên trong bài báo này, chúng tôi chỉ khảo sát kênh truyền
ở tốc độ dưới 60 Gbps. Với QPSK, cùng một khoảng cách
nhưng tốc độ khác nhau sẽ dẫn đến BER khác nhau, hơn
nữa kênh có hỗn loạn cùng tốc độ bit thì nó có tỉ lệ lỗi bit
lớn hơn, đặc biệt từ tốc độ bit từ 44 Gbps trở lên thì sự
khác nhau này càng rõ ràng. Kênh có hỗn loạn có tỉ lệ lỗi
bit cao như vậy là do tốc độ bit cao thì chu kỳ xung nhỏ
mà laser cần thời gian bật, nếu như thời gian bật của laser
lớn hơn chu kỳ xung thì sẽ dẫn đến hiện tượng chirp, thêm
vào đó có thêm hỗn loạn làm biến đổi dạng xung. Với
16PSK, cũng giống như BER theo độ dài, BER theo tốc độ
rất lớn và hầu như không phụ thuộc tốc độ truyền. Thậm
chí, với kênh COC, BER lên tới 0.5.
QPSK
Hình. 4. Giản đồ chòm sao của kênh
không có hỗn loạn và kênh có hỗn loạn với điều
chế QPSK, (a) 20km, (b) 50km, (c) 80km.
Có hỗn loạn
Không hỗn loạn
Tuy rằng kênh có bộ hỗn loạn BER tăng, hay nói cách
khác hiệu năng hệ thống không cao, nhưng đổi lại thì hệ
thống sẽ an toàn ở trên kênh truyền, tránh bị giải mã thông
tin khi kênh truyền bị truy cập bất hợp pháp. Đây có thể nói
là một phương pháp bảo mật hữu hiệu, đơn giản. Để nâng
cao hiệu năng hệ thống hay giảm BER có thể sử dụng mã
hóa kênh, mã sửa lỗi để chèn các bit phát hiện và sửa lỗi.
Một yêu cầu nghiêm ngặt của hệ thống có sử dụng hỗn loạn
là phía bên máy thu cũng phải biết quy luật hàm hỗn loạn
thì mới có thể tách được ra tín hiệu. Vì vậy, việc đồng bộ
hàm hỗn loạn giữa máy phát và máy thu thực sự là một
thách thức. Tuy nhiên, có thể sử dụng một kênh truyền
riêng để truyền và mã hóa hàm hỗn loạn, tránh bị lộ quy
luật của hàm hỗn loạn để thông tin truyền đi được an toàn.
Qua tham số BER theo độ dài và tốc độ truyền ta thấy,
QPSK cho chất lượng tốt hơn, kể cả kênh COC và CFOC.
Để đánh giá chính xác hơn chất lượng của hệ thống COC
và CFOC, giản đồ chòm sao và hệ số tương quan đã được
sử dụng. Hình 4 thể hiện kết quả mô phỏng khác nhau của
chòm sao tín tại kênh hỗn loạn và kênh không hỗn loạn tại
từng khoảng cách khác nhau: 20km, 50km, 80km. Mô
phỏng được khảo cứu sử dụng khuôn dạng điều chế QPSK.
Giản đồ chòm sao chỉ ra trạng thái tín hiệu sau điều chế số
ứng với cụm bit, từ đó đánh giá định tính về xác suất lỗi bit,
Điều chế
QPSK
Hình 5. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của hệ số
tương quan vào chiều dài sợi của hệ thống với
điều chế QPSK.
lỗi symbol. Hệ thống sử dụng điều chế QPSK nên chòm
sao có 4 điểm. Giản đồ chòm sao của kênh không có hỗn
loạn thì các điểm nhỏ hội tụ tại điểm lớn gọi là tọa độ điểm
bản tin tương đối rõ ràng, điều này có nghĩa là xác suất lỗi
bit thấp, thậm chí giống hệt nhau với các khoảng cách
20km, 50km và 80 km. Ngược lại, kênh có hỗn loạn thì tọa
độ trạng thái trong chòm sao bị loe ra chứng tỏ sự méo dạng
tín hiệu lớn, và do đó làm cho xác xuất lỗi bit trở nên lớn
đáng kể. Khi truyền ở khoảng cách 20km, 50km thì tọa độ
điểm bản tin của kênh không có hỗn loạn và kênh có hỗn
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
134
Vũ Anh Đào, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Quyền
loạn không bị chồng lên nhau tức là tỷ lệ lỗi bit hay lỗi
IV. KẾT LUẬN
symbol thấp. Tuy nhiên tại khoảng cách truyền tăng lên
80km, các tọa độ điểm của giản đồ chòm sao của kênh có
hỗn loạn bị chồng lên nhau, có nhiều điểm xuyên nhiễu ở
giữa các trạng thái của biên độ véc tơ lỗi nên khó có thể xác
định thuộc tọa độ điểm bản tin nào gây ra lỗi bit hay lỗi
symbol, còn kênh thông thường không có hỗn loạn thì sự
thăng giáng của biên độ véc tơ lỗi trong phạm vi biến động
là rất nhỏ. Điều này hiển nhiên, không những do khoảng
cách càng xa thì công suất càng suy giảm, máy thu khó có
thể phát hiện đúng được tín hiệu mà còn do kênh có hỗn
loạn gây biến đổi dạng sóng tín hiệu. Như vậy hệ thống
WDM một kênh hỗn loạn và một kênh thông thường hoạt
động đảm bảo chất lượng, hiệu năng ở khoảng cách dưới
50km.
Trong bài báo này, chúng tôi đã trình bày nghiên cứu
về ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến BER như tốc
độ bit và khoảng cách đường truyền cho kênh truyền quang
có và không có hỗn loạn, sử dụng hai dạng điều chế QPSK
và 16PSK phân cực kép. Tốc độ kênh được thiết kế để hoạt
động lên đến 60Gbps ở khoảng cách 20km vẫn đảm bảo
chất lượng BER khi chưa chèn mã sửa lỗi trước FEC
(forward error correction). Đây là một kết quả hoàn toàn có
thể đạt được BER đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho mạng
đường dài hay mạng truy nhập băng rộng.
Bởi vì máy thu bắt buộc phải biết được luật hỗn loạn thì
mới có thể nhận được thông tin một cách chính xác, do đó
việc đồng bộ thông tin luật hỗn loạn trở thành một lĩnh vực
sẽ được quan tâm lớn. Nghiên cứu này cũng mở ra khả năng
nghiên cứu sâu rộng hơn trong tương lai đối với các kỹ
thuật sử dụng ghép kênh tiên tiến như OFDM hay trong các
siêu kênh, ghép kênh theo mode không gian trực giao hoặc
là các hệ thống đa kênh sử dụng điều chế cao cấp hay điều
chế đa mức mà được lồng ghép với kỹ thuật hỗn loạn để
nâng cao mức độ bảo mật hoặc phân tập trải phổ để cải
thiện SNR cho hệ thống thông tin.
Muốn đánh giá đồng bộ hóa của hệ thống có thể dựa
vào hệ số tương quan tuyến tính Pearson được xác định
theo công thức:
P (t)− P (t) P (t) − P (t)
T
T
R
R
=
,
(6)
P (t)− P (t) 2
P (t)− P (t) 2
T
T
R
R
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Với P (t) và P (t) tương ứng là công suất đầu ra của máy
T
R
phát và máy thu và
biểu thị trung bình thời gian. Hệ số
[1] K. Igarashi et al., “Super-Nyquist-WDM transmission over
7,326-km seven-core fiber with capacity-distance product
of 103 Exabit/s·km,” Opt. Express, vol. 22, no. 2, p. 1220,
2014, doi: 10.1364/oe.22.001220.
[2] Z. Zheng, Z. Qian, G. Shou, and Y. Hu, “OCDMA over
WDM system based on Chebyshev-map chaotic spread
spectrum in passive optical network,” 2009 WRI World
Congr. Comput. Sci. Inf. Eng. CSIE 2009, vol. 1, pp. 208–
211, 2009, doi: 10.1109/CSIE.2009.455.
[3] P. Guo, W. Hou, L. Guo, Z. Ning, M. S. Obaidat, and W.
Liu, “WDM-MDM Silicon-Based Optical Switching for
Data Center Networks,” IEEE Int. Conf. Commun., vol.
2019-May, pp. 1–6, 2019, doi: 10.1109/ICC.2019.8762082.
[4] J. Zhang, J. Yu, and N. Chi, “Generation and transmission
of 512-Gb/s quad-carrier digital super-Nyquist spectral
shaped signal,” Opt. Express, vol. 21, no. 25, p. 31212,
2013, doi: 10.1364/oe.21.031212.
.
tương quan ρ chỉ số thống kê đo lường mức độ mạnh yếu
của mối quan hệ giữa hai máy phát và máy thu. Trong đó ρ
có giá trị từ -1 đến 1, nếu kết quả được tính ra lớn hơn 1
hoặc nhỏ hơn -1 có nghĩa là có lỗi trong phép đo tương
quan, trong mô phỏng này ta lấy |휌| có giá trị từ 0 đến 1.
Hệ số tương quan ρ càng lớn thì máy phát và máy thu càng
phụ thuộc nhau,và ngược lại, khi ρ =0 thì máy phát và máy
thu độc lập với nhau. Hình 5 biểu thị sự phụ thuộc của hệ
số tương quan vào chiều dài sợi quang trong khoảng cách
từ 20km đến 80km. Khi ở khoảng cách 20km, kênh hỗn
loạn có hệ số tương quan ρ =0.135, cao hơn kênh không có
hỗn loạn với hệ số tương quan ρ = 0.03 khi mà công suất
phát xạ của laser là 10dBm. Khoảng cách càng ngày càng
tăng thì hệ số tương quan ngày càng giảm, đến khi chiều
dài sợi là 80km thì hệ số tương quan của kênh COC khoảng
0.08, còn của kênh CFOC gần như không phụ thuộc vào
khoảng cách đường truyền, luôn có giá trị xấp xỉ bằng 0.
[5] G. Charlet et al., “Transmission of 16.4-bit/s capacity over
2550 km using PDM QPSK modulation format and coherent
receiver,” J. Light. Technol., vol. 27, no. 3, pp. 153–157,
2009, doi: 10.1109/JLT.2008.2005506.
[6] F. Buchali, F. Steiner, G. Böcherer, L. Schmalen, P. Schulte,
and W. Idler, “Rate Adaptation and Reach Increase by
Probabilistically Shaped 64-QAM: An Experimental
Demonstration,” in Journal of Lightwave Technology, 2016,
Nhận thấy rằng, kênh có sử dụng kết hợp nhúng mặt nạ
hỗn loạn thì tỷ số BER tăng nhưng đổi lại thì hệ thống sẽ
an toàn ở trên kênh truyền, tránh bị nghe trộm. Đây có thể
nói là một phương pháp bảo đơn giản mà hiệu quả. Để nâng
cao hiệu năng hệ thống hay giảm BER có thể sử dụng mã
hóa kênh, mã sửa lỗi để chèn các bit phát hiện và sửa lỗi
vào, đến phía máy thu nó có thể tự sửa được lỗi. Một yêu
cầu nghiêm ngặt của hệ thống có sử dụng hỗn loạn là phía
bên máy thu cũng phải biết quy luật hàm hỗn loạn thì mới
có thể tách được ra tín hiệu. Do đó, việc trao đổi thông tin
chìa khóa luật sinh hỗn loạn giữa máy phát và máy thu phải
được đồng bộ. Tuy nhiên, việc đồng bộ hàm hỗn loạn giữa
máy phát và máy thu hiện nay là vấn đề khó khăn nhất đối
với hệ thống thông tin hỗn loạn. Tuy nhiên, có thể sử dụng
một kênh truyền riêng hoặc một phương thức mã hóa lượng
tử để truyền và mã hóa hàm hỗn loạn cho tiến trình truyền
nhận thông tin.
vol.
34,
no.
7,
pp.
1599–1609,
doi:
10.1109/JLT.2015.2510034.
[7] J. Yu, Z. Dong, H. Chien, Y. Shao, and N. Chi, “7-Tb/s (7
× 1.284 Tb/s/ch) Signal Transmission Over 320 km Using
PDM-64QAM Modulation,” Photonics Technol. Lett., vol.
24, no. 4, pp. 264–266, 2012.
[8] K. Yuan, H. Zhang, and Z. Li, “An improved AES algorithm
based on chaos,” 1st International Conference on
Multimedia Information Networking and Security, MINES
2009,
vol.
2.
pp.
326–329,
2009,
doi:
10.1109/MINES.2009.219.
[9] J. Qiu, L. Zhang, D. Li, and X. Liu, “High security chaotic
multiple access scheme for visible light communication
systems with advanced encryption standard interleaving,”
Opt. Eng., vol. 55, no. 6, p. 066121, 2016, doi:
10.1117/1.oe.55.6.066121.
[10] Ü. Çavuşoğlu, S. Kaçar, A. Zengin, and I. Pehlivan, “A
novel hybrid encryption algorithm based on chaos and S-
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
135
ĐIỀU CHẾ QPSK VÀ 16PSK PHÂN CỰC KÉP TRONG KÊNH TRUYỀN QUANG CÓ VÀ KHÔNG CÓ TÍN HIỆU HỖN LOẠN
AES algorithm,” Nonlinear Dyn., vol. 92, no. 4, pp. 1745–
with and without chaos at a bit rate of 60Gbps, fiber length
of 80 km and channel spacing 100 GHz in band C. BER bit
1759, 2018, doi: 10.1007/s11071-018-4159-4.
[11] Y. M. Al-Moliki, M. T. Alresheedi, and Y. Al-Harthi,
error according to length and baud rate, for two types of
“Physical-layer security against known/chosen plaintext
communication channel with the above two modulation
types. Through assessment, the quality of BER shows that
the QPSK modulation has better quality. In addition, the
paper also discusses further analysis and evaluation of a
number of system parameters including transmitter and
receiver correlation and constellation diagrams with this
modulation for both types of transmission channels.
attacks for OFDM-Based VLC system,” IEEE Commun.
Lett., vol. 21, no. 12, pp. 2606–2609, 2017, doi:
10.1109/LCOMM.2017.2747512.
[12] S. Y. Xiang et al., “Wideband unpredictability-enhanced
chaotic semiconductor lasers with dual-chaotic optical
injections,” IEEE J. Quantum Electron., vol. 48, no. 8, pp.
1069–1076, 2012, doi: 10.1109/JQE.2012.2202269.
[13] N. Li, H. Susanto, B. Cemlyn, I. D. Henning, and M. J.
Adams, “Secure communication systems based on chaos in
optically pumped spin-VCSELs,” Opt. Lett., vol. 42, no. 17,
p. 3494, 2017, doi: 10.1364/ol.42.003494.
Keywords: chaos, optical information, correlation,
BER, QPSK, 16PSK
[14] L. F. Abdulameer, J. D. Jignesh, U. Sripati, and M.
Kulkarni, “BER performance enhancement for secure
wireless optical communication systems based on chaotic
MIMO techniques,” Nonlinear Dyn., vol. 75, no. 1–2, pp.
7–16, 2014, doi: 10.1007/s11071-013-1044-z.
Vu Anh Dao received the
Diploma
Engineer, Automatic Control and
Measurement Master from
of
Cybernetics
Hanoi University of Science and
Technology, Vietnam in 1999
and 2001, respectively. She has
been studying as a PhD student
at the School of Electronics and
[15] V. Annovazzi-Lodi, G. Aromataris, M. Benedetti, and S.
Merlo, “Secure chaotic transmission on a free-space optics
data link,” IEEE J. Quantum Electron., vol. 44, no. 11, pp.
1089–1095, 2008, doi: 10.1109/JQE.2008.2001929.
[16] N. Jiang, A. Zhao, Y. Wang, S. Liu, J. Tang, and K. Qiu,
“Security-enhanced chaotic communications with optical
temporal encryption based on phase modulation and phase-
to-intensity conversion,” OSA Contin., vol. 2, no. 12, p.
3422, 2019, doi: 10.1364/osac.2.003422.
Telecommunications
(SET),
Hanoi University of Science and
Technology (HUST), Vietnam since 2017, and is a lecturer in the
Faculty of Electronics Engineering at the Posts and
Telecommunications Institute of Technology (PTIT). Her main
research interests are Cybernetics, electronics design, all-optical
signal processing, optical high-speed and chaos-based digital
communications.
[17] D. Kanakidis, A. Bogris, A. Argyris, and D. Syvridis,
“Numerical investigation of fiber transmission of a chaotic
encrypted message using dispersion compensation
schemes,” J. Light. Technol., vol. 22, no. 10, pp. 2256–
2263, 2004, doi: 10.1109/JLT.2004.833266.
Thanh Thuy Tran Thi was born in
Hai Duong province, Vietnam, in
1998. She is currently a final-year
[18] P. Canyelles-Pericas, A. Burton, H. Le-Minh, Z.
Ghassemlooy, and K. Busawon, “Chaos synchronization on
Visible Light Communication with application for secure
data communications,” IEEE AFRICON Conf., 2013, doi:
10.1109/AFRCON.2013.6757743.
student
Telecommunications
at
the
Posts
Institute
and
of
Technology (PTIT), Hanoi, as an
excellent student. She has joined as a
member of the AI-photonics lab at the
PTIT institute since 2018. She intends
to pursue the Ph.D. program. Her
research interests include photonic
[19] B. Chen, L. Zhang, and H. Lu, “High Security Differential
Chaos-Based Modulation with Channel Scrambling for
WDM-Aided VLC System,” IEEE Photonics J., vol. 8, no.
5, 2016, doi: 10.1109/JPHOT.2016.2607689.
integrated circuits, silicon photonics, machine learning in photonic
networks, all-optical signal processing, and optical high-speed
communication systems.
[20] J.-Z. Zhang, A.-B. Wang, J.-F. Wang, and Y.-C. Wang,
“Wavelength division multiplexing of chaotic secure and
fiber-optic communications,” Opt. Express, vol. 17, no. 8,
p. 6357, 2009, doi: 10.1364/oe.17.006357.
Nguyen Xuan Quyen received the
Diploma of Engineer, Master and
[21] Q. Zhao and H. Yin, “Performance analysis of dense
wavelength division multiplexing secure communications
with multiple chaotic optical channels,” Opt. Commun., vol.
PhD
Engineering
degrees
in
Electronic
and
Telecommunication Technologies,
from Hanoi University of Science
and Technology, Vietnam in 2006,
2008 and 2013, respectively. During
2007–2011, he has stayed with the
285,
no.
5,
pp.
693–698,
2012,
doi:
10.1016/j.optcom.2011.10.085.
[22] D. Kanakidis, “Secure Optical Communication Systems
based on Chaotic Carriers.”
School
Telecommunications (SET), Hanoi
University of Science and
of
Electronics
and
[23] H. Bulow, “Experimental demonstration of optical signal
detection using nonlinear fourier transform,” Journal of
Lightwave Technology, vol. 33, no. 7. pp. 1433–1439, 2015,
doi: 10.1109/JLT.2015.2399014.
Technology (HUST), Vietnam. From
2011 to 2012, he was an exchange PhD student at the Institute
for Smart System Technologies, Alpen–Adria Klagenfurt
University, Austria. From 2014 to 2015, he worked as a post-
doctoral researcher at the Department of Computer Architecture,
Polytechnic University of Catalonia (UPC), Barcelona, Spain. He
then worked as a visiting academic staff at the Department of
Electronic and Computer Engineering, University of Limerick,
Ireland in 2015. Currently, he is a senior lecturer at the SET of
HUST. His main research interests are microwave engineering,
chaos-based digital communications and physical layer security.
MODULATION OF MULTIPLAYER QPSK
AND 16PSK IN OPTICAL CHANNEL WITH AND
WITHOUT CHAOTIC SIGNAL
Abstract: In this paper, we present research on a
haphazard security fiber optic communication system using
two advanced modulation methods QPSK and 16PSK. The
system compares optical performance in optical channels
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
136
Bạn đang xem tài liệu "Điều chế QPSK và 16PSK phân cực kép trong kênh truyền quang có và không có tín hiệu hỗn loạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dieu_che_qpsk_va_16psk_phan_cuc_kep_trong_kenh_truyen_quang.pdf

