Kết hợp mạng perceptron đa tầng và phân tích tương quan công suất tiêu thụ trong đánh giá bảo mật đối với mã mật AES-128

Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Kết hợp mạng perceptron đa tầng và phân tích  
tương quan công suất tiêu thụ trong đánh giá  
bảo mật đối với mã mật AES-128  
Hoàng Văn Phúc, Đỗ Ngọc Tuấn, Lê Văn Nam và Lưu Văn Tuấn  
Viện Tích hợp hệ thống, Học viện Kỹ thuật Quân sự  
Số 236 Hoàng Quốc Việt, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội  
Tóm tắt— Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực bảo  
mật phần cứng đang trở thành một xu hướng nghiên cứu  
trên thế giới. Trong bài báo này, nhóm tác giả đề xuất  
mô hình mạng perceptron đa tầng thực hiện tấn công  
không lập mẫu trong đánh giá bảo mật phần cứng cho  
mã mật AES-128. Đồng thời, chúng tôi đề xuất giải pháp  
sử dụng kỹ thuật phân tích tương quan công suất tiêu  
thụ trong xây dựng tập dữ liệu cho mạng perceptron đa  
tầng. Kết quả thực nghiệm, phân tích trên phần cứng mã  
hóa giúp khẳng định tính khả thi cao của các đề xuất  
trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho đánh giá bảo  
mật phần cứng.  
lượng nhỏ vết năng lượng (power trace), so sánh các  
khóa dự đoán với mẫu đã lập và xác định key với mẫu  
nào giống nhất. Về lý thuyết, tấn công lập mẫu được  
coi là tấn công hiệu quả khi chỉ cần một lượng nhỏ  
power trace. Tuy nhiên, tấn công lập mẫu thường khó  
áp dụng trên thực tế khi mà người tấn công chỉ có duy  
nhất thiết bị mục tiêu và lượng power trace ghi được bị  
giới hạn. Ngược lại, với tấn công không lập mẫu, ví dụ  
như tấn công phân tích vi sai công suất tiêu thụ (DPA:  
Differential Power Analysis) [2], hoặc tấn công phân  
tích tương quan công suất (CPA: Correlation Power  
Analysis) [3], người tấn công chỉ cần sử dụng thiết bị  
mục tiêu để ghi lại power trace và dùng các kỹ thuật  
thống kê để tìm ra khóa bí mật.  
Từ khoá- Mạng perceptron đa tầng, phân tích tương  
quan công suất, tấn công không lập mẫu, tấn công kênh  
bên, mã hóa AES  
Trong những năm gần đây, dưới sự phát triển  
không ngừng của trí tuệ nhân tạo (AI: Artificial  
Intelligence), các ứng dụng của nó đang ngày càng trở  
nên thiết thực và quan trọng mà điển hình là kỹ thuật  
học máy (ML: Machine Learning) hay kỹ thuật học sâu  
(DL: Deep Learning). Trong đó, Perceptron đa tầng  
(MLP: Multilayer Perceptron) là một mô hình mạng  
thuộc kỹ thuật học sâu, mô hình này được tạo ra dựa  
trên việc mô phỏng các kết nối đa tầng của các tế bào  
thần kinh (Nơ-ron) trong bộ não người. Từ các dữ liệu  
đầu vào, trải qua quá trình huấn luyện của mạng MLP,  
máy tính hoàn toàn có thể phân tích và phân loại các dữ  
liệu ở đầu ra một cách nhanh chóng và chính xác.  
Chính vì vậy, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực  
bảo mật đang trở thành một xu hướng nghiên cứu trên  
thế giới.  
Trong các công bố [4], [5], mạng MLP được ứng  
dụng để tìm ra khóa bí mật của mã hóa AES. Đặc biệt,  
bài báo [5] đã chứng minh mạng MLP không chỉ áp  
dụng trong tấn công lập mẫu mà còn có thể áp dụng rất  
tốt với tấn công không lập mẫu. Tuy nhiên, các công bố  
ở trên chỉ áp dụng với dữ liệu có số mẫu đầu vào nhỏ.  
Trên thực tế với dữ liệu đầu vào là các power trace, số  
lượng mẫu là rất lớn, thường là vài nghìn cho đến chục  
nghìn mẫu. Trong khi đó, số lượng mẫu đầu vào cho  
mạng MLP ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình xử lý và  
tính toán của mạng. Vì vậy, trong bài báo này, chúng  
tôi sẽ giới thiệu mô hình mạng MLP nhằm thực hiện  
tấn công mã mật AES không lập mẫu, kết hợp giải  
pháp sử dụng kỹ thuật phân tích tương quan công suất  
I.  
GIỚI THIỆU  
Trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, các thiết bị mã  
hoá sẽ thực hiện biến bản tin rõ thành bản tin được mã  
hoá để bảo vệ dữ liệu. Tuy nhiên, trong quá trình thực  
thi mã hoá hoặc giải mã thì các thiết bị này luôn có sự  
rò rỉ thông tin nhất định và được gọi là thông tin kênh  
kề, ví dụ thời gian thực hiện, bức xạ điện từ trường,  
công suất tiêu thụ điện. Từ các nguyên lý kỹ thuật căn  
bản về cấu tạo của các vi mạch điện tử, chúng ta nhận  
định rằng công suất tiêu thụ của thiết bị mã hoá không  
phải là một tham số ngẫu nhiên mà nó phụ thuộc rất  
nhiều vào quá trình thiết bị xử lý dữ liệu, đặc biệt là  
thực hiện tính toán trong thời gian đủ lớn. Do đó, thông  
tin về công suất tiêu thụ không mong muốn này được  
chính kẻ tấn công lợi dụng nhằm phân tích và đánh cắp  
các khoá bí mật.  
Tấn công kênh bên thường được chia thành hai  
hướng tiếp cận đó là tấn công lập mẫu (Profile attack)  
và không lập mẫu (Non-profile attack). Đối với tấn  
công lập mẫu, điển hình là Template attack [1], người  
tấn công cần thực hiện hai bước quan trọng. Thứ nhất  
là lập mẫu, người tấn công phải có một thiết bị có chức  
năng và cấu tạo giống hệt như thiết bị mục tiêu và có  
đầy đủ quyền thực thi trên thiết bị. Sau đó người tấn  
công sẽ phải thực hiện mã hóa và ghi lại một lượng lớn  
power trace của mỗi từ khóa dự đoán. Thứ hai là áp  
dụng mẫu đã có lên thiết bị mục tiêu. Người tấn công  
thực hiện mã hóa trên thiết bị mục tiêu, ghi lại một  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
55  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
tiêu thụ cho việc xây dựng tập dữ liệu. Kỹ thuật này  
thực hiện tách ra các mẫu có giá trị tương quan cao  
nhất để đưa vào mô hình huấn luyện. Nhóm tác giả  
cũng nhận thấy giải pháp xây dựng tập dữ liệu này giúp  
mạng MLP trở nên đơn giản hơn cho phân loại kết quả  
đầu ra.  
được sử dụng để tính toán giá trị trung gian HW theo  
công thức (1), giá trị h sau đó được dùng để gán nhãn  
cho các tập power trace tương ứng với plaintext cho  
giá trị h=3,4,5 . Sau đó công thức (2) sẽ được sử dụng  
để tính toán hệ số tương quan từ 256 giá trị khóa dự  
đoán (k=[0;255])  
Phần tiếp theo bài báo được tổ chức như sau. Đề  
xuất giải pháp xây dựng tập dữ liệu cho mạng MLP  
được trình bày trong phần II. Phần III sẽ giới thiệu kiến  
trúc mạng MLP đề xuất. Các kết quả khảo sát phân tích  
khóa bí mật được trình bày trong phần IV. Phần V là  
kết luận hiệu quả của giải pháp xây dựng tập dữ liệu và  
tính khả thi của kiến trúc mạng đề xuất.  
N
ꢇꢅꢃ  
ꢄ
h − h t −t  
(
k )(  
)
n,k  
n,i  
i
ꢆ
n=1  
ꢂk,i =  
(2)  
2
N
N
2
h − h  
t −t  
(
)
(
)
ꢇ
ꢇ
n,k  
k
n,i  
i
n=1  
n=1  
Trong đó  
và ti lần lượt là trung bình của mô  
h
k
II. XÂY DỰNG TẬP DỮ LIỆU CHO MẠNG MLP  
hình công suất dự đoán và công suất tiêu thụ thực tế  
tại mẫu i.  
Power trace là những vector biểu diễn các giá trị tỉ  
lệ với công suất tiêu thụ của mạch mục tiêu sau khi  
chuyển đổi ADC. Các power trace thường có hàng  
nghìn mẫu. Như đã nhắc đến ở phần I, số lượng mẫu  
này sẽ rất lớn khi áp dụng mạng MLP. Với kỹ thuật  
phân tích tương quan công suất tiêu thụ (CPA) , toàn  
bộ các mẫu trên một power trace sẽ được tính giá trị  
tương quan với một mô hình công suất tiêu thụ dự  
đoán. Tuy nhiên, chỉ có một số ít các mẫu trong một  
power trace sẽ liên quan đến mô hình đã xây dựng.  
Những mẫu này thường sẽ cho giá trị tương quan với  
mô hình công suất dự đoán cao hơn các điểm còn lại.  
Nhận thấy, nếu tách các mẫu có giá trị tương quan cao  
làm đầu vào, số chiều dữ liệu sẽ giảm xuống rất nhiều.  
Đồng thời chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một mô  
hình học máy để phân loại các power trace theo các  
nhóm có độ tương quan khác nhau. Chính vì thế,  
nhóm tác giả đề xuất sử dụng kỹ thuật phân tích tương  
quan công suất để có thể giảm số lượng mẫu đầu vào.  
Cụ thể, 50 vị trí mẫu có giá trị tương quan lớn nhất sẽ  
được lấy ra để tạo thành tập dữ liệu đầu vào cho MLP.  
Để thực hiện điều này, chúng tôi sử dụng hệ số tương  
quan Pearson. Phương pháp này đã được tác giả trong  
bài báo [5] sử dụng, tuy nhiên điểm đặc biệt trong đề  
xuất của chúng tôi là chỉ sử dụng 3 giá trị HW=3,4,5  
thay vì sử dụng 9 giá trị HW. Điều đó dẫn đến việc số  
lượng power trace cần để tính toán có thể giảm 30%.  
Sau khi đã xác định được 50 điểm có hệ số tương  
quan cao nhất, chúng tôi thực hiện phân loại toàn bộ  
số power trace theo ba giá trị trung gian là HW= 3,4,5.  
Thực hiện tương tự với các byte khóa con còn lại, kết  
quả thu được là 16 thư mục tương đương với 16 byte  
khóa con. Trong mỗi thư mục là 256 thư mục con  
tương ứng được tạo ra từ 256 giá trị khóa dự đoán.  
Trong mỗi thư mục con này, ba thư mục có tên HW3,  
HW4, HW5 được tạo ra, đây cũng chính là nhãn được  
sử dụng để phân loại trong mạng MLP. Cuối cùng,  
ứng với mỗi thư mục nhãn, toàn bộ power trace sẽ  
được phân loại tương ứng. Hình 1 mô tả cấu trúc của  
tập dữ liệu dựa trên kỹ thuật đề xuất.  
Dataset1  
Key_0  
HW3  
Power trace 1  
Power trace N1  
5000 Power traces  
HW4  
Power trace 1  
Power trace N2  
HW5  
Power trace 1  
Key_255  
Power trace N3  
Dataset16  
Hình 1. Cấu trúc tập dữ liệu đề xuất: 5000 power trace ban  
đầu (5000 mẫu/power trace) được tính toán và phân loại  
trong 3 nhóm có tên tương ứng với giá trị trung gian (HW3,  
HW4 và HW5). Mỗi nhóm chứa N1, N2, N3 power trace.  
Mỗi power trace chứa 50 mẫu có giá trị tương quan cao nhất.  
(1)  
h = HW(SubByte PlainText ꢀKey  
(
)
Chúng tôi sử dụng N bản tin ngẫu nhiên cho việc  
mã hóa, sau đó N power trace sẽ được ghi lại. Mỗi  
power trace sẽ chứa L mẫu. Kí hiệu tn,i là giá trị của  
mẫu thứ i trong power trace n, i và n thỏa mãn điều  
kiện (1<i<L, 1<n<N). dn,B là giá trị của khóa con thứ B  
III. ĐỀ XUẤT KIẾN TRÚC MẠNG MLP CHO  
TẤN CÔNG KHÔNG LẬP MẪU  
Mạng MLP đã được chứng minh hiệu quả trong  
việc áp dụng cho phân tích khóa bí mật của AES [5].  
Nguyên lý chính của áp dụng mạng MLP trong phân  
tích khóa bí mật AES là sử dụng các tham số của mô  
hình trong quá trình huấn luyện. Bằng việc xây dựng  
tập dữ liệu dựa trên giá trị tương quan cao nhất giữa  
power trace và giá trị trung gian HW. Chúng ta đã tạo  
ra được mối liên hệ giữa đầu vào (50 mẫu) và giá trị  
(
Bꢁ{1;16}) trong bản tin thứ n. Để có thể thu thập  
được 50 mẫu có hệ số tương quan cao nhất từ power  
traces, chúng tôi sử dụng một nửa số lượng power  
trace ban đầu cho việc tính toán, kỹ thuật này đã được  
nhóm tác giả thực hiện trong [6] và có hiệu quả lớn về  
mặt thời gian thay vì tính toán toàn bộ số power trace.  
Trong trường hợp này, hàm S-Box của thuật toán AES  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
56  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
đầu ra (HW). Vì vậy, khi áp dụng mạng MLP, ứng với  
khóa dự đoán là chính xác, mạng MLP có thể dễ dàng  
huấn luyện và phân loại đơn giản với 3 nhãn. Điều này  
dẫn đến các tham số của mạng MLP trong quá trình  
huấn luyện như độ chính xác (accuracy) sẽ tăng dần  
hoặc giá trị của hàm mất mát (loss function) sẽ giảm  
dần. Ngược lại, với khóa dự đoán là sai, giá trị trung  
gian cũng sẽ bị tính toán sai, dẫn đến mạng MLP  
không thể huấn luyện được. Điều này dẫn đến các  
tham số nêu trên sẽ giữ nguyên hoặc thay đổi không  
đáng kể qua mỗi epoch huấn luyện. Đây chính là yếu  
tố chính để ứng dụng mạng MLP nói riêng hay các kỹ  
thuật học sâu khác vào phân tích khóa AES không cần  
lập mẫu. Tuy nhiên, nhược điểm là mỗi mô hình chỉ có  
thể huấn luyện dự doán cho một giá trị khóa, vì vậy  
với 256 giá trị khóa dự đoán, chúng ta cần chạy 256  
mô hình mạng MLP để tìm ra khóa nào đúng.  
suất của các power trace ứng với các HW. Chi tiết  
tham số của mô hình mạng được mô tả trong Bảng I.  
Về tập dữ liệu huấn luyện, chúng tôi phân loại tập  
dữ liệu ban đầu một cách ngẫu nhiên theo tỉ lệ 80%  
cho tập huấn luyện (Tranning set) và 20% cho tập  
kiểm thử (Test set).  
Bảng I. CÁC THAM SỐ THIẾT LẬP MẠNG MLP.  
Tên lớp  
Input  
Số nút của một lớp  
Hàm kích hoạt  
50  
150  
300  
600  
300  
100  
25  
-
eLU  
eLU  
eLU  
eLU  
eLU  
eLU  
Softmax  
Hiden 1  
Hiden 2  
Hiden 3  
Hiden 4  
Hiden 5  
Hiden 6  
Output  
3
Để chứng minh hiệu quả của việc ứng dụng mạng  
MLP cho phân tích khóa AES không lập mẫu, nhóm  
tác giả đã xây dựng mô hình mạng MLP bao gồm có  
thành phần lớp nhận giá trị đầu vào, các lớp ẩn và cuối  
cùng là lớp đầu ra như thể hiện trong Hình 2.  
IV. KẾT QUẢ KHẢO SÁT  
Nhóm tác giả thực hiện khảo sát mô hình đề xuất  
bằng power trace thu được từ board mạch CW1173  
ChipWhisperer-Lite [7]. Đây là một dự án mã nguồn  
mở cung cấp phần cứng và mã nguồn cho nghiên cứu  
tấn công kênh bên. Phiên bản mà tác giả sử dụng có  
chứa mạch mục tiêu là vi điều khiển Atmel AVR  
Xmega128 8-bit, vi điều khiển này thực thi thuật toán  
mã hóa AES-128 [8]. ChipWhisperer cung cấp khả  
năng thiết lập để ghi các power trace thông qua chip  
ADC tích hợp sẵn trên board. Thiết lập này cho phép  
người sử dụng có thể nạp chương trình từ máy tính,  
gửi bản tin cần mã hóa, khóa bí mật xuống mạch mục  
tiêu và gửi các giá trị đo công suất tiêu thụ thông qua  
ADC tích hợp trên mạch mục tiêu về máy tính.  
Để xây dựng tập dữ liệu cho khảo sát mô hình  
mạng MLP đề xuất, nhóm tác giả thực hiện thu thập  
5000 power trace, mỗi power trace chứa 5000 mẫu  
tương đương quá trình thực thi vòng mã hóa thứ nhất  
của thuật toán AES. Trong tấn công không lập mẫu,  
chúng tôi thực hiện giữ khóa bí mật cố định, bản tin  
cần mã hóa sẽ được lấy ngẫu nhiên 5000 bản tin.  
Trong tất cả các khảo sát về phân tích mã AES, chỉ  
vòng mã hóa thứ nhất được sử dụng. Tiếp theo, chúng  
tôi thực hiện huấn luyện và thực hiện phân loại sử  
dụng 80% tập dữ liệu đã xây dựng, số còn lại dùng để  
thực hiện kiểm tra.  
Toàn bộ chương trình xây dựng tập dữ liệu và mô  
hình mạng MLP đề xuất được viết trên MATLAB. Chi  
tiết tham số kết quả chạy mô hình MLP đề xuất cùng  
tập dữ liệu được thể hiện trong Hình 3 và Hình 4. Dễ  
dàng nhận thấy rằng, các tham số về độ chính xác và  
tham số hàm mất mát của khóa dự đoán đúng và khóa  
dự đoán sai là phân biệt hoàn toàn. Quá trình huấn  
luyện, chúng tôi cho mạng MLP thực hiện 30 epoch.  
Hình 4 cho thấy, sau 10 epoch đầu tiên tham số độ  
chính xác và hàm mất mát bắt đầu có sự thay đổi rõ  
ràng, thể hiện mạng MLP đề xuất có thể huấn luyện  
được từ tập dữ liệu mà nhóm tác giả đã xây dựng. Đối  
Hình 2. Cấu trúc mạng MLP được sử dụng.  
Lớp đầu vào của mạng MLP đề xuất sử dụng 50  
nút tương ứng với dữ liệu đầu vào là 50 mẫu. Lớp ẩn  
gồm có 6 lớp được thiết kế với số lượng nút được mô  
tả trong Bảng I. Cuối cùng là lớp đầu ra với 3 nút. Mô  
hình mạng được minh họa trong Hình 3. Mỗi đầu ra  
của một nút (trừ các nút của lớp đầu vào) được tính  
dựa trên công thức:  
a(l) = f (W(l)T a(l−1) +b(l) )  
(3)  
Trong đó a là giá trị đầu ra, b là bias của lớp thứ l,  
W là ma trận trọng số. Hàm f(.) trên được gọi là một  
hàm kích hoạt (activation function). Trong thiết kế đề  
xuất, để có được hiệu quả trong tính tóan, chúng tôi sử  
dụng hàm eLU (Exponential Linear Unit) cho tất cả  
các nút trong lớp ẩn, đây là một hàm có hiệu quả tốt  
hơn so với hàm thông dụng ReLU, đồng thời giúp  
mạng tránh được hiện tượng vanishing gradients. Hàm  
eLU được biểu diễn như sau:  
(4)  
z
if z ꢉ 0  
ꢊ
ꢋ
eLU(z) =  
ꢈ[exp(z) −1] otherwise  
ꢌ
Với mục đích là thực hiện phân loại các power  
trace ứng với các giá trị HW, nhóm tác giả sử dụng lớp  
Softmax Regression là lớp đầu ra cho việc tính xác  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
57  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
với khóa dự đoán sai được minh họa trong Hình 3, các  
tham số huấn luyện gần như không thay đổi, thể hiện  
rằng mạng MLP không thể học được các dữ liệu từ tập  
dữ liệu đã tạo.  
5000 power trace. Trong các nghiên cứu tiếp theo,  
chúng tôi sẽ khảo sát, đánh giá các khoá bí mật có độ  
dài lớn hơn, nhiều mẫu hơn cũng như việc cải thiện  
mô hình thuật toán đảm bảo cho việc giảm thời gian  
tính toán và tăng độ chính xác.  
Hình 3. Các tham số quan sát được của khóa giả thiết sai.  
a) Khóa sai  
b) Khóa đúng  
Hình 4. Các tham số quan sát được của khóa giả thiết đúng.  
Hình 5. Confusion matrix cho các trường hợp khóa đúng và  
Ngoài ra, việc phân biệt khóa đúng hay sai còn có  
thể sử dụng confusion matrix như Hình 5. Đối với  
khóa sai sự phân bố của các điểm thực sự thuộc về một  
nhãn sẽ tập trung vào HW4, ngược lại, với khóa đúng,  
các điểm thực sự thuộc vào các nhãn có tỉ lệ phần trăm  
cao, thể hiện mô hình được huấn luyện và tiến hành  
phân loại tốt. Các giá trị này sẽ phân bố đều ra cả ba  
nhãn HW tạo thành một đường chéo. Từ đây, thông  
qua trực quan hoặc sử dụng lập bảng và tìm giá trị lớn  
nhất của tham số độ chính xác, chúng ta có thể tìm  
được toàn bộ khóa bí mật AES.  
khóa sai.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] S. Chari, J. R. Rao, and P. Rohatgi, “Template attacks,” in  
Cryptographic Hardware and Embedded Systems - CHES  
2002, B. S. Kaliski, c¸. K. Koc¸, and C. Paar, Eds. Berlin,  
Heidelberg: Springer Berlin Heidelberg, 2003, pp. 13–28.  
[2] P. Kocher, J. Jaffe, and B. Jun, “Differential power analysis,”  
proceedings of CRYPTO’99, Lecture Notes in Computer  
Science, vol. 1666, Springer, Berlin, pp. 388–397, 1999  
[3] E. Brier, C. Clavier, and F. Olivier, “Correlation power  
analysis with a leakage model,” in Cryptographic Hardware  
and Embedded Systems - CHES 2004, M. Joye and J.-J.  
Quisquater, 2004, pp. 16–29  
[4] Emmanuel Prouff and Remi Strullu and Ryad Benadjila and  
Eleonora Cagli and Cecile Dumas, “Study of Deep Learning  
Techniques for Side-Channel Analysis and Introduction to  
ASCAD Database." Cryptology ePrint Archive, Report  
[5] B. Timon, “Non-profiled deep learning-based side-channel  
attacks with sensitivity analysis,” IACR Transactions on  
Cryptographic Hardware and Embedded Systems, vol. 2019,  
no. 2, pp. 107–131, Feb. 2019. [Online]. Available:  
[6] Đỗ Ngọc Tuấn, Trần Trung Kiên, Đỗ Thành Quân và Hoàng  
Văn Phúc, “Phương pháp phân tích kênh bên với mã mật AES  
sử dụng dữ liệu đo công suất tiêu thụ” Tạp chí Khoa học và  
công nghê quân sự, số Đặc san Viện điện tử, 9-2020  
V. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, nhóm tác giả đã xây dựng thành  
công mô hình mạng MLP cho tấn công không lập mẫu  
mã mật AES thực thi trên CW1173. Nhóm tác giả đã  
sử dụng kỹ thuật phân tích tương quan công suất tiêu  
thụ để xây dựng tập dữ liệu đầu vào cho mạng MLP.  
Kết quả khảo sát phân tích khóa bí mật đã chứng minh  
được tính khả thi của mô hình mạng MLP đề xuất.  
Dựa vào hai tham số của mạng trong quá trình huấn  
luyện và kiểm thử thì việc phân loại tìm ra được khóa  
đúng là chính xác. Bằng việc xây dựng tập dữ liệu sử  
dụng 3 nhãn HW3, HW4 và HW5, nhóm tác giả chỉ  
cần sử dụng khoảng 3000 power trace trên tổng số  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
58  
pdf 4 trang baolam 20260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết hợp mạng perceptron đa tầng và phân tích tương quan công suất tiêu thụ trong đánh giá bảo mật đối với mã mật AES-128", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_hop_mang_perceptron_da_tang_va_phan_tich_tuong_quan_cong.pdf