Bài giảng môn Lập trình Java

LỜI NÓI ĐẦU  
Hiện nay có nhiều ngôn ngữ lập trình được sử dụng để viết các ứng dụng trên  
máy tính như: C++, C#, VB, VB.Net…. Mỗi ngôn ngữ đều có một thế mạnh riêng, nếu  
biết lựa chọn một ngôn ngữ phù hợp để xây dựng ứng dụng sẽ giúp cho các chuyên gia  
lập trình tích kiệm được thời gian, công sức và giúp xử lý kỹ thuật lập trình đơn giản  
và thuận tiện hơn.  
Java là ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng thuần túy với nhiều đặc trưng ưu việt  
so với các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng khác như tính độc lập với nên, Tính Đa  
nhiệm - đa luồng tính bảo mật, khả năng đóng gói, giao tiếp….  
Khác với các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng khác như c++ hay c# là ngay  
từ khi ra đời mục tiêu của java là phát triển một ngôn ngữ đơn giản, nhỏ nhẹ và có thể  
chạy trên nhiều môi trường khác nhau, do đó Java đặc biệt thích hợp để viết chương  
trình cho các ứng dụng trên mạng, trên các thiết bị di động, …, việc việt các ứng dụng  
này bằng Java dễ dàng hơn nhiều so với các ngôn ngữ khác.  
Chính vì vậy trong rất nhiều ngôn ngữ lập trình đang được các chuyên gia sử  
dụng để viết nên các ứng dụng trên máy tính, trong doanh nghiệp, trên các thiết bị cầm  
tay... Java luôn là ngôn ngữ được các chuyên gia lựa chọn ở mức ưu tiên số 1. Java đã  
được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngôn ngữ lập trình được ưa chuộng bậc nhất  
hiện nay. Ở Việt Nam, Java đang rất phát triển các doanh nghiệp đã sử dụng Java  
trong các sản phẩm Game, phần mềm, ngân hàng, thiết bị cầm tay, ứng dụng  
web,…Những chuyên gia thành thạo ngôn ngữ này luôn đứng trước sự săn đón của  
hàng trăm nghìn việc làm và cơ hội thăng tiến.  
Tập bài giảng này được xây dựng gồm có 6 chương trình bày chi tiết về lập trình  
Java cơ bản, bám sát theo khung chương trình môn lập trình Java của Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định. Nhằm trang bi cho sinh viên những kiến thức cơ bản về  
lập trình Java tạo nền tảng để sinh viên tiếp cận với ngôn ngữ này cũng như học các  
học phần khác trong chương trình như thực tập lập trình trên thiết bị di động. Tập bài  
giảng được sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các giáo viên, giảng viên và tài liệu học  
tập cho học sinh – sinh viên thuộc Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định.  
Ngoài ra có thể làm tài liệu tham khảo cho mọi đối tượng quan tâm đến lập trình Java.  
NHÓM TÁC GIẢ  
i
MỤC LỤC  
ii  
iii  
iv  
v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
vii  
viii  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
ix  
x
CHƢƠNG 1: LẬP TRÌNH JAVA CƠ BẢN  
1.1. Giới thiệu về Java và cài đặt  
1.1.1. Lịch sử Java  
Java là ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng (tựa C++) doSun Microsystem đưa ra  
vào giữa thập niên 90.  
Chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình Java có thể chạytrên bất kỳ hệ thống  
nào có cài máy ảo Java (Java VirtualMachine).  
Ngôn ngữ lập trình Java do James Gosling và các công sựcủa Công ty Sun  
Microsystem phát triển.  
Đầu thập niên 90, Sun Microsystem tập hợp các nhà nghiêncứu thành lập nên  
nhóm đặt tên là Green Team. Nhóm GreenTeam có trách nhiệm xây dựng công nghệ  
mới cho ngành điệntử tiêu dùng. Để giải quyết vấn đề này nhóm nghiên cứu pháttriển  
đã xây dựng một ngôn ngữ lập trình mới đặt tên là Oaktương tự như C++ nhưng loại  
bỏ một số tính năng nguy hiểmcủa C++ và có khả năng chạy trên nhiều nền phần cứng  
khácnhau. Cùng lúc đó WorldWide Web bắt đầu phát triển và Sun đãthấy được tiềm  
năng của ngôn ngữ Oak nên đã đầu tư cải tiếnvà phát triển. Sau đó không lâu ngôn ngữ  
mới với tên gọi làJava ra đời và được giới thiệu năm 1995.  
Đến quý II năm 1995, Sun Microsystems công bố chính thức Java và nó trở  
thành một công cụ mạnh mẽ cho việc phát triển các ứng dụng trên Internet.  
Java được xây dựng chủ yếu trong bộ công cụ phát triển JDK (Java Development  
Kit) nó gồm các trình biên dịch, thông dịch, giúp đỡ, soạn tài liệu, thư viện chuẩn…  
sau đó các nhà phát triển phần mềm đã xây dựng thêm rất nhiều nhánh mới như Java  
Mail (Java-Thư tín), Java TAPI (Java-Viễn thông)…  
Bắt đầu với JDK 1.0 vào 1995, đến năm 1996 Sun đưa ra phiên bản JDK 1.1,  
năm 1998 ra đời phiên bản JDK 1.2 và hiện nay đã có phiên bản JDK 1.7.  
Java là tên gọi của một hòn đảo ở Indonexia, Đây là nơinhóm nghiên cứu phát  
triển đã chọn để đặt tên cho ngôn ngữlập trình Java trong một chuyến đi tham quan và  
làm việc trênhòn đảo này. Hòn đảo Java này là nơi rất nổi tiếng với nhiềukhu vườn  
trồng cafe, đó chính là lý do chúng ta thường thấybiểu tượng ly cafe trong nhiều sản  
phẩm phần mềm, công cụ lậptrình Java của Sun cũng như một số hãng phần mềm khác  
đưara.  
1.1.2. Đặc trƣng của Java  
Đơn giản  
1
       
Hướng đối tượng  
Độc lập phần cứng và hệ điều hành  
Mạnh  
Bảo mật  
Phân tán  
Đa luồng  
Động  
a) Đơn giản  
Những người thiết kế mong muốn phát triển một ngôn ngữ dễ học và quen thuộc  
với đa số người lập trình. Do vậy Java loại bỏ các đặc trưng phức tạp của C và C++  
như thao tác con trỏ, thao tác định nghĩa chồng toán tử (operator overloading),… Java  
không sử dụng lệnh “goto” cũng như file header (.h). Cấu trúc “struct” và “union”  
cũng được loại bỏ khỏi Java.  
b) Hƣớng đối tƣợng  
Java được thiết kế xoay quanh mô hình hướng đối tượng. Vì vậy trong Java, tiêu  
điểm là dữ liệu và các phương pháp thao tác lên dữ liệu đó. Dữ liệu và các phương  
pháp mô tả trạng thái và cách ứng xử của một đối tượng trong Java.  
c) Độc lập phần cứng và hệ điều hành  
Đây là khả năng một chương trình được viết tại một máy nhưng có thể chạy được  
bất kỳ đâu. Chúng được thể hiện ở mức mã nguồn và mức nhị phân.  
Ở mức mã nguồn, người lập trình cần mô tả kiểu cho mỗi biến. Kiểu dữ liệu  
trong Java nhất quán cho tất cả các hệ điều hành và phần cứng khác nhau. Java có  
riêng một thư viện các lớp cơ sở. Vì vậy chương trình Java được viết trên một máy có  
thể dịch và chạy trơn tru trên các loại máy khác mà không cần viết lại.  
Tính độc lập ở mức nhị phân, một chương trình đã biên dịch có thể chạy trên  
nhiều nền (phần cứng, hệ điều hành) khác mà không cần dịch lại mã nguồn. Tuy vậy  
cần có phần mềm máy ảo Java (sẽ đề cập đến ở phần sau) hoạt động như một trình  
thông dịch tại máy thực thi.  
2
Hình 1.1. Cách biên dịch truyền thống  
Đối với các chương trình viết bằng C, C++ hoặc một ngôn ngữ nào khác, trình  
biên dịch sẽ chuyển tập lệnh thành mã máy (Machine code),hay lệnh của bộ vi xử lý.  
Những lệnh này phụ thuộc vào CPU hiện tại trên máy bạn. Nên khi muốn chạy trên  
loại CPU khác, chúng ta phải biên dịch lại chương trình. Hình 1.2 thể hiện quá trình để  
thực thi chương trình viết bằng C++ trên các loại máy khác nhau.  
Hình 1.2 Quá trình thực thi chương trình viết bằng Java trên các loại máy khác  
nhau.  
Hình 1.2. Dịch chương trình Java  
Môi trường phát triển của Java được chia làm hai phần: Trình biên dịch và trình  
thông dịch. Không như C hay C++, trình biên dịch của Java chuyển mã nguồn thành  
dạng bytecode độc lập với phần cứng mà có thể chạy trên bất kỳ CPU nào.  
Nhưng để thực thi chương trình dưới dạng bytecode, tại mỗi máy cần phải có  
trình thông dịch của Java hay còn gọi là máy ảo Java. Máy ảo Java chuyển bytecode  
thành mã lệnh mà CPU thực thi được.  
d) Mạnh mẽ  
Java là ngôn ngữ yêu cầu chặt chẽ về kiểu dữ liệu. Phải khai báo kiểu dữ liệu  
tường minh khi viết chương trình. Java kiểm tra lúc biên dịch và cả trong thời gian  
thông dịch vì vậy Java loại bỏ một số loại lỗi lập trình nhất định.  
3
 
Java không sử dụng con trỏ và các phép toán con trỏ. Java kiểm tra tất cả các truy  
nhập đến mảng, chuỗi khi thực thi để đảm bảo rằng các truy nhập đó không ra ngoài  
giới hạn kích thước. Java kiểm tra sự chuyển đổi kiểu dữ liệu từ dạng này sang dạng  
khác lúc thực thi.  
Trong các môi trường lập trình truyền thống, lập trình viên phải tự mình cấp phát  
bộ nhớ. Trước khi chương trình kết thúc thì phải tự giải phóng bộ nhớ đã cấp. Vấn đề  
nảy sinh khi lập trình viên quên giải phóng bộ nhớ đã xin cấp trước đó. Trong chương  
trình Java, lập trình viên không phải bận tâm đến việc cấp phát bộ nhớ. Quá trình cấp  
phát, giải phóngđược thực hiện tự động, nhờ dịch vụ thu nhặt những đối tượng không  
còn sử dụng nữa (garbage collection).Cơ chế bẫy lỗi của Java giúp đơn giản hóa quá  
trình xử lý lỗi và hồi phục sau lỗi.  
e) Bảo mật  
Viruses là nguyên nhân gây ra sự lo lắng trong việc sử dụng máy tính. Trước khi  
có Java, các lập trình viên phải quꢀtVirus các tệp trước khi tải về hay thực hiện chúng.  
Thông thường việc này cũng không loại trừ hoàn toàn Virus. Ngoài ra chương trình  
khi thực thi có khả năng tìm kiếm và đọc các thông tin nhạy cảm trên máy của người  
sử dụng mà người sử dụng không hề hay biết.  
Java cung cấp một môi trường quản lý thực thi chương trình. Nó cho rằng không  
có một đoạn mã nào là an toàn cả. Vì vậy Java không chỉ là ngôn ngữ lập trình thuần  
tuý mà còn cung cấp nhiều mức để kiểm soát tính an toàn khi thực thi chương trình.  
Ở lớp đầu tiên, dữ liệu và các phương thức được đóng gói bên trong lớp. Chúng  
chỉ được truy xuất thông qua các giao diện mà lớp cung cấp. Java không hỗ trợ con trỏ  
vì vậy không cho phép truy xuất bộ nhớ trực tiếp. Nó cũng ngăn chặn không cho truy  
xuất thông tin bên ngoài kích thước của mảng bằng kỹ thuật tràn và cũng cung cấp kỹ  
thuật dọn rác trong bộ nhớ. Các đặc trưng này tạo cho Java an toàn tối đa và có khả  
năng cơ động cao.  
Trong lớp thứ hai, trình biên dịch kiểm soát để đảm bảo mã là an toàn, và tuân  
theo các nguyên tắc của Java.  
Lớp thứ ba được đảm bảo bởi trình thông dịch. Chúng kiểm tra xem bytecode có  
đảm bảo các qui tắc an toàn trước khi thực thi.  
Lớp thứ tư kiểm soát việc nạp các lớp vào bộ nhớ để giám sát việc vi phạm giới  
hạn truy xuất trước khi nạp vào hệ thống.  
f) Phân tán  
4
Java có thể dùng để xây dựng các ứng dụng có thể làm việc trên nhiều phần  
cứng, hệ điều hành và giao diện đồ họa. Java được thiết kế hỗ trợ cho các ứng dụng  
chạy trên mạng. Vì vậy chúng được sử dụng rộng rãi như là công cụ phát triển trên  
Internet, nơi sử dụng nhiều nền tảng khác nhau.  
g) Đa luồng  
Chương trình Java đa luồng(Multithreading) để thực thi các công việc đồng thời.  
Chúng cũng cung cấp giải pháp đồng bộ giữa các luồng. Đặc tính hỗ trợ đa luồngnày  
cho phép xây dựng các ứng dụng trên mạng chạy hiệu quả.  
h) Động  
Java được thiết kế như một ngôn ngữ động để đáp ứng cho những môi trường  
mở. Các chương trình Java chứa rất nhiều thông tin thực thi nhằm kiểm soát và truy  
nhập đối tượng lúc chạy. Điều này cho phép khả năng liên kết động mã.  
1.1.3. Các kiểu chƣơng trình Java  
Chúng ta có thể xây dựng các loại chương trình Java như sau:  
a) Applets  
Applet là chương trình được tạo ra để sử dụng trên Internet thông qua các trình  
duyệt hỗ trợ Java như IE hay Netscape. Bạn có thể dùng Java để xây dựng Applet.  
Applet được nhúng bên trong trang Web. Khi trang Web hiển thị trong trình duyệt,  
Applet sẽ được tải về và thực thi tại trình duyệt.  
b) Ứng dụng thực thi qua dòng lệnh  
Các chương trình này chạy từ dấu nhắc lệnh và không sử dụng giao diện đồ họa.  
Các thông tin nhập xuất được thể hiện tại dấu nhắc lệnh.  
c) Ứng dụng đồ họa  
Đây là các chương trình Java chạy độc lập cho phꢀp người dùng tương tác qua  
giao diện đồ họa.  
d) Servlet  
Java thích hợp để phát triển ứng dụng nhiều lớp. Applet là chương trình đồ họa  
chạy trên trình duyệt tại máy trạm. Ở các ứng dụng Web, máy trạm gửi yêu cầu tới  
máy chủ. Máy chủ xử lý và gửi kết quả trở lại máy trạm. Các Java API chạy trên máy  
chủ chịu trách nhiệm xử lý tại máy chủ và trả lời các yêu cầu của máy trạm. Các Java  
API chạy trên máy chủ này mở rộng khả năng của các ứng dụng Java API chuẩn. Các  
ứng dụng trên máy chủ này được gọi là các Servlet. hoặc Applet tại máy chủ. Xử lý  
Form của HTML là cách sử dụng đơn giản nhất của Servlet. Chúng còn có thể được  
5
 
dùng để xử lý dữ liệu, thực thi các giao dịch và thường được thực thi thông qua máy  
chủ Web.  
e) Ứng dụng cơ sở dữ liệu  
Các ứng dụng này sử dụng JDBC API để kết nối tới cơ sở dữ liệu. Chúng có thể  
là Applet hay ứng dụng, nhưng Applet bị giới hạn bởi tính bảo mật.  
1.1.4. Máy ảo Java  
Máy ảo là một phần mềm mô phỏng một máy tính thật. Nó có tập hợp các lệnh  
logic để xác định các hoạt động của máy tính và có một hệ điều hành ảo. Người ta có  
thể xem nó như một máy tính thật. Nó thiết lập các lớp trừu tượng cho: Phần cứng bên  
dưới, hệ điều hành, mã đã biên dịch.  
Trình biên dịch chuyển mã nguồn thành tập các lệnh của máy ảo mà không phụ  
thuộc vào phần cứng cụ thể. Trình thông dịch trên mỗi máy sẽ chuyển tập lệnh này  
thành chương trình thực thi. Máy ảo tạo ra một môi trường bên trong để thực thi các  
lệnh bằng cách:  
Nạp các file .class  
Quản lý bộ nhớ  
Dọn “rác”  
Việc không nhất quán của phần cứng làm cho máy ảo phải sử dụng ngăn xếp để  
lưu trữ các thông tin sau:  
Các “Frame” chứa các trạng thái của các phương thức.  
Các toán hạng của mã bytecode.  
Các tham số truyền cho phương thức.  
Các biến cục bộ.  
Khi máy ảo Java(JVM) thực thi mã, một thanh ghi cục bộ có tên “Program  
Counter” được sử dụng. Thanh ghi này trỏ tới lệnh đang thực hiện. Khi cần thiết, có  
thể thay đổi nội dung thanh ghi để đổi hướng thực thi của chương trình. Trong trường  
hợp thông thường thì từng lệnh một nối tiếp nhau sẽ được thực thi.  
Một khái niệm thông dụng khác trong Java là trình biên dịch “Just In Time-  
JIT”. Các trình duyệt thông dụng như Netscape hay IE đều có JIT bên trong để tăng  
tốc độ thực thi chương trình Java. Mục đích chính của JIT là chuyển tập lệnh bytecode  
thành mã máy cụ thể cho từng loại CPU. Các lệnh này sẽ được lưu trữ và sử dụng mỗi  
khi gọi đến.  
a) Quản lý bộ nhớ và dọn rác  
Trong C, C++ hay Pascal người lập trình sử dụng phương pháp trực tiếp để cấp  
phát và thu hồi bộ nhớ ở vùng “Heap”. Heap là vùng bộ nhớ lớn được phân chia cho  
tất cả các luồng.  
6
 
Để quản lý Heap, bộ nhớ được theo dõi qua các danh sách sau:  
Danh sách các vùng nhớ chưa sử dụng.  
Danh sách các vùng đã cấp.  
Khi có một yêu cầu về cấp phát bộ nhớ, hệ thống xem xꢀt trong danh sách chưa  
cấp phát để lấy ra khối bộ nhớ đầu tiên có kích cỡ sát nhất với lượng bộ nhớ cần thiết .  
Kỹ thuật cấp phát này giảm tối thiểu việc phân mảnh của heap.  
“Coalescing” là kỹ thuật khác cũng giảm thiểu việc phân mảnh của heap bằng  
cách gom lại các vùng nhớ chưa dùng liền nhau thành một khối lớn hơn. Còn kỹ thuật  
sắp xếp lại các phần đã dùng để tạo vùng nhớ chưa sử dụng lớn hơn gọi là  
“Compaction”.  
Java sử dụng hai heap riêng biệt cho cấp phát vùng nhớ tĩnh và vùng nhớ động.  
Một heap (heap tĩnh) chứa các định nghĩa về lớp, các hằng và danh sách các phương  
thức. Heap còn lại (heap động) được chia làm hai phần được cấp phát theo hai chiều  
ngược nhau. Một bên chứa đối tượng còn một bên chứa con trỏ trỏ đến đối tượng đó.  
“Handle” là cấu trúc bao gồm hai con trỏ. Một trỏ đến bảng phương thức của đối  
tượng, con trỏ thứ hai trỏ đến chính đối tượng đó. Chú ý rằng khi “Compaction” cần  
cập nhật lại giá trị con trỏ của cấu trúc “handle”.  
Thuật toán dọn rác có thể áp dụng cho các đối tượng đặt trong heap động. Khi có  
yêu cầu về bộ nhớ, trình quản lý heap trước tiên kiểm tra danh sách bộ nhớ chưa cấp  
phát. Nếu không tìm thấy khối bộ nhớ nào phù hợp (về kích cỡ) thì trình dọn rác sẽ  
được kích hoạt khi hệ thống rỗi. Nhưng khi đòi hỏi bộ nhớ cấp bách thì trình dọn rác  
sẽ được kích hoạt ngay.  
Trình dọn rác gọi phương thức finalize của đối tượng trước khi dọn dẹp đối  
tượng. Hàm này sẽ dọn dẹp các tài nguyên bên ngoài như các file đang mở. Công việc  
này không được trình dọn rác thực thi.  
b) Quá trình kiểm tra file .class  
Việc kiểm tra được áp dụng cho tất cả các file .class sắp được nạp lên bộ nhớ để  
đảm bảo tính an toàn. Trình “Class Loader” sẽ kiểm tra tất cả các file .class không  
thuộc hệ điều hành với mục đích giám sát sự tuân thủ các nghi thức để phát hiện các  
file .class có nguy cơ gây hư hỏng đến bộ nhớ, hệ thống file cục bộ, mạng hoặc hệ điều  
hành. Quá trình kiểm tra sẽ xem xét tổng thể tính nguyên vẹn của một lớp.  
File .class bao gồm ba phần logic là:  
Bytecode  
Thông tin về Class như phương thức, giao diện và các giá trị hằng số được  
tập hợp trong quá trình biên dịch.  
7
Các thuộc tính về lớp.  
Các thông tin của file .class được xem xét riêng rẽ trong các bảng sau:  
Bảng Field chứa các thuộc tính  
Bảng Method chứa các hàm của class  
Bảng Interface và các hằng số.  
Quá trình kiểm tra file .class được thực hiện ở bốn mức:  
Mức đầu tiên thực hiện việc kiểm tra cú pháp để đảm bảo tính cấu trúc và  
tính toàn vẹn cú pháp của file .class được nạp.  
Mức thứ hai sẽ xem xꢀt file .class để đảm bảo các file này không vi phạm  
các nguyên tắc về sự nhất quán ngữ nghĩa.  
Mức thứ ba sẽ kiểm tra bytecode. Trong bước này sẽ kiểm tra số thông số  
truyền vào phương thức, khả năng truy xuất sai chỉ số của mảng, chuỗi, biểu  
thức.  
Mức thứ tư sẽ kiểm tra trong thời gian thực thi để giám sát các việc còn lại  
mà ba bước trên chưa làm. Ví dụ như liên kết tới các lớp khác trong khi thực  
thi, hay kiểm tra quyền truy xuất. Nếu mọi điều thỏa mãn, lớp sẽ được khởi  
tạo.  
1.1.5. Bộ công cụ phát triển JDK  
Sun Microsystem đưa ra ngôn ngữ lập trình Java qua sản phẩm có tên là Java  
Development Kit (JDK). Từ khi phát triển phiên bản đầu tiên từ năm 1995 đến nay, bộ  
công cụ Java đã được phát triển qua nhiều phiên bản và cũng có nhiều sự thay đổi, sau  
đây là một số phiên bản đã được phát hành:  
JDK 1.0  
JDK 1.1 (19 tháng 2, 1997)  
JDK 1.1.5 (Pumpkin) 03 tháng 12, 1997  
JDK 1.1.6 (Abigail) 24 tháng 4, 1998  
JDK 1.1.7 (Brutus) 28 tháng 9, 1998  
JDK 1.1.8 (Chelsea) 08 tháng 4, 1999  
J2SE 1.2 (Playground) 08 tháng 12, 1998  
J2SE 1.2.1 (không có) 30 tháng 3, 1999  
J2SE 1.2.2 (Cricket) 08 tháng 7, 1999  
J2SE 1.3 (Kestrel) 08 tháng 5, 2000  
8
 
J2SE 1.3.1 (Ladybird) 17 tháng 5, 2001  
J2SE 1.4.0 (Merlin) 06 tháng 02, 2002  
J2SE 1.4.1 (Hopper) 16 tháng 9, 2002  
J2SE 1.4.2 (Mantis) 26 tháng 6, 2003  
J2SE 5 (1.5.0) (Tiger) 30 tháng 9, 2004  
Java SE 6(còn gọi là Mustang), được công bố 11 tháng 12 năm 2006. Các bản  
cập nhật 2 và 3 được đưa ra vào năm 2007, bản cập nhật 4 đưa ra tháng 1 năm 2008.  
JDK 6.18, 2010  
Java SE 7(còn gọi là Dolphin), được bắt đầu từ tháng 8 năm 2006 và công bố  
ngày 28 tháng 7 năm 2011.  
Hiện tại đang phát triển và thử nghiệm bản Java JDK 8.  
JDK bao gồm Java Plug-In, chúng cho phép chạy trực tiếp Java Applet hay  
JavaBean bằng cách dùng JRE thay cho sử dụng môi trường thực thi mặc định của  
trình duyệt.  
JDK chứa các công cụ sau:  
Trình biên dịch, 'javac'  
Cú pháp:  
javac [options] sourcecodename.java  
Trình thông dịch, 'java'  
Cú pháp:  
java [options] classname  
Trình dịch ngƣợc, 'javap'  
javap dịch ngược bytecode và in ra thông tin về các thuộc tính (các trường), các  
phương thức của một lớp.  
Cú pháp:  
javap [options] classname  
Công cụ sinh tài liệu, 'javadoc'  
Tiện ích này cho phép ta tạo ra tệp HTML dựa trên các lời giải thích trong mã  
chương trình (phần nằm trong cặp dấu /*.... */).  
Cú pháp:  
9
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 265 trang baolam 24020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng môn Lập trình Java", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_mon_lap_trinh_java.pdf