Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin - Nguyễn Văn Hưng

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ  
  
GIÁO TRÌNH  
Môn học: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ  
HỆ THỐNG THÔNG TIN  
NGHỀ: QUẢN TRỊ MẠNG MÁY TÍNH  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
( Ban hành kèm theo Quyết định số: 120/QĐ-TCDN ngày 25 tháng 02 năm  
2013 của Tổng cục Trưởng Tổng cục dạy nghề)  
Hà Nội, năm 2013  
Trang 1  
LỜI GIỚI THIỆU  
Tổ chức xây dựng, quản lý vận hành hệ thống thông tin (HTTT) là một  
trong những ứng dụng quan trọng của ngành công nghệ thông tin (CNTT) và  
đến nay đã có nhiều HTTT được xây dựng và ứng dụng trong thực tiễn. Mặc dù  
hiện nay có khá nhiều ngôn ngữ lập trình và hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng như  
các phần mềm chuyên dụng áp dụng trong công tác quản lý, tuy nhiên đối với  
một hệ thống thông tin việc vận dụng ngay các phần mềm đó là một vấn đề gặp  
không ít khó khăn.  
Các hệ thống thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản lý có  
nhiều nguyên nhân song nguyên nhân quan trọng đó là các nhà xây dựng hệ  
thống thông tin không được trang bị kiến thức cơ bản về phân tích và thiết kế,  
thiếu kinh nghiệm tham gia vào quá trình phân tích thiết kế dẫn đến giai đoạn  
cài đặt phải thay đổi nhiều, gây ra sự lãng phí trong việc xây dựng khai thác, bảo  
trì và phát triển hệ thống.  
Phân tích thiết kế hệ thống thông tin là phương pháp luận để xây dựng và  
phát triển hệ thống thông tin bao gồm các lý thuyết, mô hình, phương pháp và  
các công cụ sử dụng trong quá trình phân tích và thiết kế hệ thống.  
Mặc dầu có rất nhiều cố gắng, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót,  
nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của độc giả để giáo trình  
được hoàn thiện hơn.  
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên Ths. Nguyễn Văn Hưng  
2. Ths. Ngô Thị Thanh Trang  
3. CN. Nguyễn Thị Bích Thảo  
 
Trang 2  
MỤC LỤC  
 
Trang 3  
CHƯƠNG 3: .......................................................................................................23  
Trang 4  
Trang 5  
MÔN HỌC: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN  
Mã môn học: MH 20  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
- Vị trí: Môn học được bố trí sau khi sinh viên học xong các môn học chung và  
môn kiến thức kỹ thuật cơ sở, thuộc về khối kiến thức chuyên môn nghề và  
trước các môn học, mô đun đào tạo nghề chuyên sâu khác;  
- Tính chất: Là môn học chuyên ngành.  
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Đây là mô đun tự chọn trong chuyên môn  
nghề, cung cấp cho sinh viên các kỹ năng cơ bản nhất về phân tích và thiết kế  
hệ thống thông tin, xây dựng các hệ thống thông tin cơ bản để phục vụ trong  
thực tiễn.  
Mục tiêu của môn học:  
- Hiểu được các khái niệm về hệ thống thông tin và phân loại các hệ thống  
thông tin;  
- Hiểu và sử dụng được phương pháp phân tích hệ thống thông tin: khảo sát hệ  
thống, phân tích hệ thống về chức năng, phân tích hệ thống về dữ liệu và mô  
hình dòng dữ liệu;  
- Hiểu và sử dụng được phương pháp thiết kế hệ thống thông tin;  
- Áp dụng các phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống thông tin vào việc  
xây dựng ứng dụng thực tế;  
- Bố trí làm việc khoa học đảm bảo an toàn cho người và phương tiện học tập.  
Nội dung của môn học:  
Thời gian  
Số  
TT  
Tên chương/mục  
Tổng Lý Thực hành/ Kiểm tra* (LT  
số thuyết  
Bài tập  
hoặcTH)  
I. Chương 1: Hệ thống thông tin  
1. Thông tin  
6
1
5
3
4
1
3
3
2
0
2
0
0
0
0
0
2. Hệ thống thông tin  
II. Chương 2: Đại cương về phân  
tích & thiết kế hệ thống  
1. Các giai đoạn của phân tích và  
thiết kế hệ thống  
1
1
0
0
0
0
2. Vai trò nhiệm vụ trong PT & 0.5  
0.5  
TK  
3. Mô hình hóa hệ thống  
4. Phương pháp phân tích và thiết 0.5  
kế có cấu trúc (SADT)  
0.5  
0.5  
0.5  
0
0
0
0
5. Mối liên hệ của các giai đoạn 0.5  
0.5  
0
0
 
Trang 6  
trong SADT  
III. Chương 3: Khảo sát hệ thống  
1. Mục đích  
15  
0.5  
2.5  
10  
1
1
30  
7
5
0.5  
0.5  
2
1
1
9
0
2
7
0
0
19  
5
1
0
0
1
0
0
1
0
2. Khảo sát hệ thống  
3. Các phương pháp khảo sát  
4. Phân tích hiệu quả và rủi ro  
5. Tư liệu hóa kết quả khảo sát  
IV. Chương 4: Phân tích hệ thống  
10  
2
1. Phân tích chức năng – Mô hình  
chức năng  
2. Phân tích dữ liệu – Mô hình dữ  
liệu  
10  
3
6
1
3. Mô hình dòng dữ liệu  
4. Tư liệu hóa phân tích hệ thống  
V. Chương 5: Thiết kế hệ thống  
1. Các thành phần thiết kế  
2. Thiết kế kiến trúc tổng thể  
3. Thiết kế giao diện  
10  
3
20  
1
2
3
3
4
6
4
1
7
1
1
1
1
1
1
6
2
12  
0
1
2
2
3
4
0
0
1
0
0
0
0
0
1
4. Thiết kế kiểm soát  
5. Thiết kế dữ liệu  
6. Thiết kế chi tiết chức năng –  
MODULE chương trình  
7. Tư liệu hóa thiết kế hệ thống  
Cộng  
1
1
0
0
3
75  
30  
42  
Trang 7  
CHƯƠNG 1  
HỆ THỐNG THÔNG TIN  
Mã chương: MH20-01  
Giới thiệu:  
Chương này sẽ trình bày các khái niệm cơ bản về thông tin và hệ thống  
thông tin (HTTT). Tiếp sau các khái niệm khởi đầu, chương này trình bày các  
đặc trưng cơ bản của HTTT, khái niệm về hệ thống xử lý tác nghiệp, hệ thống  
thông tin quản lý và hệ hỗ trợ ra quyết định. Trình bày khái niệm về HTTT tổng  
thể trong tổ chức hoạt động và các phương pháp cơ bản xây dựng HTTT.  
Mục tiêu:  
- Hiểu được ý nghĩa, vai trò của thông tin trong thực tiễn;  
- Nhận thức cơ bản về hệ thống thông tin nhằm định hướng cho quá trình  
phân tích và thiết kế hệ thống thông tin;  
- Thực hiện các thao tác an toàn với máy tính.  
Nội dung chính:  
1. THÔNG TIN:  
Mục tiêu:  
- Hiểu được ý nghĩa, vai trò của thông tin trong thực tiễn;  
- Phân biệt được giữa dữ kiện và thông tin;  
- Trình bày được các đặc điểm của thông tin.  
1.1. Ý nghĩa - vai trò của thông tin:  
- Thông tin là một trong sáu loại tài nguyên trong tổ chức hoạt động:  
Trong bất kỳ tổ chức hoạt động ngày nay đều có 6 loại tài nguyên cơ bản: Tài  
chính, nguồn nhân lực, thiết bị, máy móc, nguyên nhiên vật iệu, sự quản lý điều  
hành và thông tin;  
- Thông tin là một trong ba thành phần cấu thành nên thế giới khách  
quan: Vật chất, năng lượng và thông tin. Thông tin ngày nay chiếm tỷ trọng  
không nhỏ trong cơ cấu giá thành của mọi hàng hóa sản phẩm và dịch vụ; đặc  
biệt đối với xã hội càng phát triển thì tỷ trọng của thông tin chiếm trong cơ cấu  
giá thành càng lớn;  
- Thông tin là một trong bốn vấn đề quan trọng của thế kỷ 21: Công nghệ  
sinh học, công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới và thông tin.  
1.2. Các đặc điểm của thông tin:  
- Thông tin với tư cách là hàng hoá ( có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử  
dụng) thì nó là hàng hoá dạng đặc biệt bởi vì việc bán thông tin thực chất là  
việc nhân bản;  
- Thông tin có tính tích hợp, nếu tiếp tục chế biến sẽ cho ra thông tin mới  
có giá trị và giá trị sử dụng cao hơn;  
Ví dụ: Hệ điều hành Windows XP Windows 7  
- Thông tin khác với dữ kiện, một dữ kiện có phải là thông tin hay không  
nó hoàn toàn phụ thuộc vào ngữ cảnh và con người cụ thể tiếp nhận nó. Thông  
         
Trang 8  
tin phải là những gì khi con người tiếp nhận nó thì mở rộng thêm được nhận  
thức và tư duy; còn không thì nó chỉ là dữ kiện;  
- Việc chuyển giao thông tin ngày nay không phụ thuộc vào không gian  
và thời gian nhờ vào môi trường Internet.  
2. HỆ THỐNG THÔNG TIN:  
Mục tiêu:  
- Làm cho sinh viên nhận biết được các yếu tố của một hệ thống: phần tử,  
mục đích, môi trường;  
- Nhận thức cơ bản về hệ thống thông tin, nhằm định hướng cho quá trình  
phân tích và thiết kế hệ thống thông tin;  
- Trình bày được các đặc trưng của HTTT;  
- Hiểu và trình bày được các HTTT được phân loại theo chức năng. Nêu  
ra được các giai đoạn phát triển hệ thống.  
2.1. Khái niệm về Hệ thống thông tin (HTTT):  
Hệ thống: Là một tập hợp có tổ chức của nhiều phần tử thường xuyên  
tương tác với nhau, có những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt  
động chung cho một mục đích nào đó. Môi trường là phần nằm ngoài hệ thống  
đang xét và thực chất nó là một hệ thống nào đó có giao tiếp với hệ thống đang  
xét. Giữa hệ thống và môi trường là đường giới hạn xác định phạm vi của hệ  
thống.  
Môi trường  
Phần tử  
Hình 1.1 Mô hình tổng quát của một hệ thống  
Ví dụ: Hệ mặt trời, hệ thống triết học, hệ thống thủy lực, hệ thống pháp luật, hệ  
thống cơ khí v.v…  
2.2. Mục đích của Hệ thống thông tin:  
Bất kỳ hệ thống nào cũng phải có mục đích, bởi lẽ mục đích của hệ thống  
chính là lý do để hệ thống tồn tại. HTTT có mục đích thu nhận, xử lý, truyền  
     
Trang 9  
dẫn, cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu dùng tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt  
động của tổ chức hoặc cá nhân.  
Đối với doanh nghiệp: HTTT có mục đích là nâng cao năng lực cạnh tranh  
của doanh nghiệp.  
Đối với cơ quan hành chính nhà nước: HTTT có mục đích nâng cao hiệu  
lực điều hành và quản lý nhà nước.  
Đối với tầm Quốc gia: Về cơ bản HTTT có mục đích nâng cao năng lực  
cạnh tranh của Quốc gia đối với Quốc tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của  
người dân.  
Mọi hệ thống đều có sự tương tác với môi trường bên ngoài. Qua quá trình  
hoạt động có thể kết quả mang lại của hệ thống không như mong đợi, vì vậy mọi  
hệ thống đều có mức độ hoàn thành mục đích chấp nhận được; nếu sự hoạt động  
của hệ thống mà kết quả đạt được không nằm trong giới hạn của mức độ này thì  
hệ thống bị phá huỷ.  
Ví dụ: Hệ thống điều hoà nhiệt độ cơ thể con người: Mục đích duy trì nhiệt độ là  
37.5oC, mức độ hoàn thành mục đích chấp nhận được là từ 36.50C đến dưới  
420C.  
2.3. Thành phần của Hệ thống thông tin :  
Hệ thống thông tin gồm có các thành phần cơ bản sau:  
a) Hệ thống trang thiết bị: Có khả năng thu nhận, xử lý và truyền dẫn  
thông tin bao gồm tất cả các thiết bị vật lý sử dụng trong HTTT. Thiết bị này  
bao gồm phần cứng như máy tính, các thiết bị đầu cuối, các thiết bị ngoại vi,  
máy in và cả các thiết bị không thuộc máy tính như máy chữ, máy kiểm tra chữ  
ký v.v...  
b) Hệ thống phần mềm máy tính: Bao gồm các phần mềm hệ thống và  
phần mềm ứng dụng. Phần mềm hệ thống là các chương trình điều khiển phần  
cứng và môi trường phần mềm. Các chương trình này gồm hệ điều hành, phần  
mềm giao tiếp, hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu và các chương trình tiện ích. Phần  
mềm ứng dụng bao gồm các chương trình trực tiếp hỗ trợ hệ thống trong việc xử  
lý dữ liệu để tạo ra thông tin yêu cầu.  
c) Hệ thống dữ liệu: Hầu hết dữ liệu được xử lý trong HTTT phải được lưu  
giữ vì lý do pháp lý hoặc vì sự cần thiết được xử lý trong tương lai. Những dữ  
liệu này được lưu trong các file và cơ sở dữ liệu trên máy tính hoặc dưới dạng  
giấy trong các hồ sơ văn phòng.  
d) Sự quản lý vận hành hệ thống:  
Con người: HTTT cung cấp thông tin cho mọi người bao gồm cả người  
quản lý và người sử dụng cuối. Người sử dụng cuối là người tương tác trực tiếp  
với hệ thống và cung cấp dữ liệu cho hệ thống đồng thời nhận thông tin từ nó  
Thủ tục: Đặc trưng bởi các mẫu bao gồm các dữ liệu mô tả công việc của  
tất cả mọi người, cả người sử dụng cuối và nhân viên trong HTTT. Thủ tục xác  
định các quy trình, thao tác và các công thức tính toán.  
Nếu chỉ xét về khía cạnh xử lý thông tin thì HTTT chỉ bao gồm hai thành  
phần chính là dữ liệu và xử lý:  
 
Trang 10  
Các dữ liệu là các thông tin được cấu trúc hoá. Với mỗi cấp quản lý lượng  
thông tin xử lý có thể rất lớn, đa dạng và biến động cả về chủng loại và cách  
thức xử lý. Thông tin cấu trúc bao gồm luồng thông tin vào và luồng thông tin  
ra.  
Luồng thông tin vào:  
Các thông tin cần thiết cho quá trình xử lý, có thể là các thông tin phản ánh  
cấu trúc doanh nghiệp và các thông tin phản ánh hoạt động của doanh nghiệp.  
Chúng được phân thành ba loại sau:  
- Thông tin cần cho tra cứu: Thông tin dùng chung cho hệ thống và ít bị  
thay đổi, các thông tin này thường được cập nhật một lần và chỉ dùng cho tra  
cứu khi xử lý thông tin sau này.  
- Thông tin luân chuyển chi tiết: Loại thông tin chi tiết về hoạt động của  
đơn vị, khối lượng thông tin thường rất lớn, cần phải xử lý kịp thời.  
- Thông tin luân chuyển tổng hợp: Loại thông tin được tổng hợp từ hoạt  
động của các cấp thấp hơn, thông tin này thường cô đọng, xử lý định kỳ theo lô.  
Luồng thông tin ra:  
- Thông tin đầu ra được tổng hợp từ các thông tin đầu vào và phụ thuộc vào  
nhu cầu quản lý trong từng trường hợp cụ thể, từng đơn vị cụ thể. Thông tin ra  
là kết quả của việc tra cứu nhanh về một đối tượng cần quan tâm, đồng thời phải  
đảm bảo sự chính xác và kịp thời.  
- Các thông tin đầu ra quan trọng nhất được tổng hợp trong quá trình xử lý  
là các báo cáo tổng hợp, thống kê, thông báo. Các mẫu biểu báo cáo thống kê  
phải phản ánh cụ thể trực tiếp, sát với từng đơn vị.  
- Ngoài những yêu cầu được cập nhật thông tin kịp thời cho hệ thống, luồng  
thông tin ra phải được thiết kế linh hoạt mềm dẻo. Đây là chức năng thể hiện  
tính mở, và khả năng giao tiếp của hệ thống với môi trường bên ngoài. Thông  
tin đầu ra gắn với chu kỳ thời gian tuỳ ý theo yêu cầu của bài toán quản lý cụ  
thể, từ đó ta có thể lọc bớt được thông tin thừa trong quá trình xử lý.  
2.4. Các đặc trưng của Hệ thống thông tin:  
a) HTTT có thể gồm nhiều hệ thống con có phân cấp. Khi các hệ thống  
con cùng hoạt động chúng sẽ tương tác lẫn nhau và mang lại hiệu quả cao hơn  
cho toàn hệ thống.  
Ví dụ: HTTT tài chính, tiền lương, nguyên vật liệu,…tạo nên HTTT của một  
công ty.  
b) HTTT phải được tổ chức xây dựng trên nền tảng công nghệ xử lý thông  
tin hiện đại. Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển năng động của xã  
hội đòi hỏi con người phải xử lý khối lượng thông tin rất lớn và nhanh chóng, vì  
vậy để đáp ứng yêu cầu này thì HTTT phải được xây dựng trên nền tảng công  
nghệ xử lý thông tin hiện đại – đó là hệ thống máy tính điện tử.  
c) HTTT phải hướng đến việc hỗ trợ ra quyết định. Trong thực tế mọi tổ  
chức hoặc cá nhân luôn có nhu cầu ra quyết định nhằm điều chỉnh hoặc định  
hướng cho mọi hoạt đông của tổ chức hoặc cá nhân phù hợp với yêu cầu phát  
triển của xã hội. Muốn ra được những quyết định đúng đắn thì cần phải có thông  
 
Trang 11  
tin đầy đủ, chính xác và kịp thời. Để hệ thống thông tin có hiệu quả thì HTTT  
phải có định hướng đến việc hỗ trợ ra quyết định.  
d) HTTT là hệ thống có kết cấu mềm dẻo và có khả năng tiến hoá : HTTT  
có mục đích xử lý và cung cấp thông tin thoả mãn nhu cầu dùng tin của mọi tổ  
chức và cá nhân. Xã hội luôn vận động và phát triển vì vậy nhu cầu dùng tin  
của mọi tổ chức hoặc cá nhân cũng luôn biến đổi cùng với sự phát triển của xã  
hội ; do đó HTTT phải có khả năng đáp ứng các nhu cầu thông tin mới sẽ phát  
sinh trong tương lai. Để đảm bảo điều này HTTT phải có kết cấu mềm dẻo và có  
khả năng tiến hoá; yêu cầu này nhằm đảm bảo tuổi thọ của HTTT trong một  
khoảng thời gian nhất định.  
2.5. Phân loại các Hệ thống thông tin :  
2.5.1. Hệ xử lý tác nghiệp (TPS: Transaction Processing Systems)  
Một hoạt động tác nghiệp là một hoạt động cơ bản, thường xuyên diễn ra  
trong tổ chức hoạt động có tính chu kỳ và có quy trình giao tác rõ ràng.  
Hệ xử lý tác nghiệp là hệ thống tự động hoá một số công việc tác nghiệp  
bằng thủ công trên hệ thống máy tính và thường phục vụ cho nhân viên giao tác  
thừa hành.  
Hệ thống có thể xử lý các giao tác: thu nhận, cập nhật, tính toán, sắp xếp,  
phân loại, thống kê, lưu trữ, tìm kiếm và hiển thị thông tin…  
Thu thập thông tin dữ liệu từ thực tiễn và đưa vào cơ sở dữ liệu của  
HTTT..  
Ví dụ: Các hệ thống xử lý bán hàng, bán vé máy bay, tàu hoả , ATM…  
2.5.2. Hệ thống thông tin quản lý (MIS:Management Information Systems  
)
Hệ thống thông tin quản lý là hệ phục vụ cho công tác quản lý, những  
chức năng chủ yếu của nó là xử lý thông tin và đưa ra các báo cáo có tính chất  
trình bày theo cấu trúc có sẵn.  
Hệ thống này cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc ra các quyết định có cấu  
trúc, thông thường cung cấp thông tin phục vụ cho người quản lý cấp trung bình  
trong tổ chức hoạt động.  
Quyết định có cấu trúc là loại quyết định cần phải có:  
+ Quy trình ra quyết định rõ ràng.  
+ Yêu cầu thông tin cần để ra quyết định được xác lập tường minh.  
Ví dụ: Duyệt cho thanh toán tiền đi công tác.  
Quyết định nửa cấu trúc và không có cấu trúc là loại quyết định không  
đảm bảo một hoặc cả hai điều kiện của quyết định có cấu trúc.  
2.5.3. Hệ hỗ trợ ra quyết định (DSS: Decision Support Systems)  
Hệ hỗ trợ ra quyết định cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ việc ra các  
quyết định nửa cấu trúc hoặc không có cấu trúc.  
Các đặc điểm của hệ hỗ trợ ra quyết định:  
- Thông tin có thể được kết xuất bằng hình ảnh nhiều hơn là văn bản.  
 
Trang 12  
- Hệ thống phải có khả năng trả lời các câu hỏi tình huống Nếu – Như  
(WHAT – IF)  
- Hệ thống phải có giao diện thật tiện lợi để người sử dụng tương tác hỏi  
đáp tình huống.  
- Hệ thống có thể sử dụng mô hình khoa học: Tối ưu, Quy hoạch, Dự báo  
v.v…  
Ví dụ: Quyết định bổ nhiệm 1 cán bộ, quyết định mở một chi nhánh ở địa điểm  
nào, quy mô vốn đầu tư bao nhiêu v.v…là loại quyết định nửa cấu trúc hoặc  
không có cấu trúc.  
2.6. Hệ thống thông tin tổng thể trong tổ chức hoạt động:  
Phân hệ ứng dụng  
TC, KH,NVL…  
Thông tin khác  
TT,  
TT, dữ liệu  
Thực tiễn  
hoạt  
TPS  
TT  
động  
TT  
CSDL  
MIS  
TT  
TT  
DSS  
TT  
Mô hình khoa học …  
Hình 1.2: HTTT tổng thể trong tổ chức hoạt động  
Trong tổ chức hoạt động một hệ thống thông tin tổng thể bao gồm nhiều hệ  
thống thông tin ứng dụng, mỗi hệ thống ứng dụng có thể được xây dựng thông  
qua 3 phân hệ chức năng (TPS, MIS và DSS) tuỳ thuộc vào điều kiện khả thi:  
thời gian, kinh phí và kỹ thuật công nghệ các phân hệ chức năng của từng hệ  
thống ứng dụng lần lượt được xây dựng và chúng hợp thành hệ thống thông tin  
tổng thể của tổ chức hoạt động.  
2.7. Các bước xây dựng Hệ thống thông tin:  
Theo phương pháp chu trình sống (Life circle method) gồm 6 bước:  
2.7.1. Chiến lược và khảo sát :  
Khảo sát hệ thống là xác lập tính đúng đắn của nhu cầu tổ chức xây dựng  
mới hoặc nâng cấp cải tiến HTTT hiện có, xác định tính khả thi trong việc tổ  
chức xây dựng. Việc khảo sát thường được tiến hành qua các giai đoạn:  
- Khảo sát sơ bộ  
   
Trang 13  
- Khảo sát chi tiết  
- Báo cáo  
2.7.2. Phân tích hệ thống:  
Phân tích hệ thống là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình phát triển hệ  
thống thông tin, là giai đoạn xác lập các đặc trưng mà hệ thống thông tin cần  
phải có. Nếu đầu tư cho phân tích càng nhiều bao nhiêu thì các giai đoạn sau  
như thiết kế, cài đặt, kiểm thử và khai thác bảo trì càng ít bấy nhiêu.  
(VI) Cài đặt  
(I) Khảo sát  
Vận hành  
HT  
(II) Phân tích  
(V) Kiểm thử và  
tích hợp HT  
HT  
(IV)  
(III)  
Xây dựng  
Thiết kế  
HT  
HT  
Hình 1.3: Các bước xây dựng HTTT theo Life circle method  
2.7.3. Thiết kế hệ thống:  
Là giai đoạn đặc tả các đặc trưng của hệ thống thông tin, bao gồm các công  
viêc:  
- Xác định hệ thống máy tính.  
- Phân tích việc sử dụng dữ liệu.  
- Hình thức hóa hệ thống thành phần.  
- Thiết kế dữ liệu logic.  
- Thiết kế chương trình.  
2.7.4. Xây dựng:  
Xây dựng hệ thống là g iai đoạn mua sắm lắp đặt các thiết bị, phát triển, cài  
đặt phần mềm, đào tạo huấn luyện người sử dụng và tạo ra cơ sở dữ liệu  
(CSDL) ban đầu.  
Bao gồm các bước:  
- Thi công.  
- Tạo các cơ sở dữ liệu kiểm tra.  
- Kiểm thử phần mềm.  
Trang 14  
2.7.5. Kiểm thử và tích hợp hệ thống:  
Kiểm thử và hiệu chỉnh tất cả các thành phần của HTTT sao cho hệ thống  
đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của người sử dụng:  
- Lập tài liệu hướng dẫn sử dụng.  
- Chuyển đổi dữ liệu cũ.  
- Kiểm nghiệm, cài đặt.  
2.7.6. Cài đặt, vận hành và bảo trì hệ thống:  
+ Theo dõi việc sử dụng hệ thống, nhận các thông báo lỗi.  
+ Sửa đổi, nâng cấp phiên bản.  
+ Trợ giúp hiệu chỉnh các sai sót số liệu.  
Đối với mỗi hệ thống thông tin nói chung hoặc mỗi một hệ thống thông  
tin ứng dụng, thậm chí ngay cả một phân hệ chức năng trong một hệ thống ứng  
dụng khi hết tuổi thọ, cần xây dựng mới hoặc cần nâng cấp cải tiến thì luôn bắt  
đầu từ bước khảo sát hệ thống theo phương pháp chu trình sống nêu trên.  
CÁC BÀI TẬP MỞ RỘNG, NÂNG CAO VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
1. Trình bày vai trò và đặc điểm của thông tin trong thời đại ngày nay.  
2. Trình bày mục đích và mức độ hoàn thành mục đích chấp nhận được của hệ  
thống thông tin. Nêu mục đích của hệ thống thông tin đối với doanh nghiệp,  
cơ quan quản lý nhà nước và đối với tầm quốc gia.  
3. Nêu các thành phần và các đặc trưng của hệ thống thông tin.  
4. Nêu khái niệm về hoạt động tác nghiệp, quyết định có cấu trúc, nửa cấu trúc  
hoặc không có cấu trúc. Cho các ví dụ thực tế, liên hệ bản thân về hoạt động  
tác nghiệp, quyết định có cấu trúc, nửa cấu trúc hoặc không có cấu trúc.  
5. Trình bày các loại hệ thống thông tin hệ thống thông tin theo chức năng.  
6. Trình bày hệ thống thông tin tổng thể trong tổ chức hoạt động và các bước  
xây dựng hệ thống thông tin.  
7. Nªu ý nghÜa cña viÖc ph©n lo¹i c¸c hÖ thèng. Anh/ChÞ cã thÓ ®-a ra mét  
c¸ch ph©n lo¹i kh¸c?  
 
Trang 15  
CHƯƠNG 2:  
ĐẠI CƯƠNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG  
Mã chương: MH20-02  
Giới thiệu :  
Chương này có mục đích cung cấp cho sinh viên có cách nhìn tổng quan  
về phân tích và thiết kế hệ thống từ đó có khả năng phát triển năng lực tư duy  
tiếp cận các phương pháp khác nhau trong phân tích và thiết kế hệ thống thông  
tin.  
Mục tiêu:  
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có khả năng:  
- Xác định được các giai đoạn của phân tích và thiết kế hệ thống ;  
- Hiểu khái quát một số phương pháp Phân tích & Thiết kế hệ thống và  
phương pháp SADT (Structured Analysis Design Technique) là phương pháp  
được chọn lựa để giới thiệu;  
- Hiểu được vai trò trách nhiệm của các nhóm người liên quan trong quá  
trình phân tích và thiết kế hệ thống.  
Nội dung chính :  
1. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG :  
Mục tiêu :  
- Xác định được các giai đoạn của phân tích và thiết kế HTTT;  
- Trình bày được các đặc điểm, nội dung chính của mỗi giai đoạn ;  
- Hiểu khái quát một số phương pháp Phân tích & Thiết kế hệ thống.  
Phân tích và Thiết kế là một quá trình bắt đầu bằng ý niệm hoá và kết  
thúc bằng việc thực hiện cài đặt và đưa vào sử dụng. Thông thường, xuất phát từ  
các hoạt động chưa có hiệu quả so với mục tiêu đề ra mà việc phân tích sẽ xây  
dựng một hệ thống mới đáp ứng các yêu cầu và hoạt động hiệu quả hơn. Về bản  
chất các giai đoạn của phân tích và thiết kế được mô tả như sau :  
HOW TO DO ?  
(Hệ thống cũ)  
HOW TO DO?  
(Hệ thống mới)  
User View  
WHAT TO DO ?  
(Hệ thống cũ)  
WHAT TO DO ?  
( Hệ thống mới)  
Hình 2.1: Các giai đoạn của Phân tích và Thiết kế HTTT  
Việc phân chia các giai đọan cho quá trình phân tích chỉ mang tính tương  
đối, không tách rời từng giai đoạn, phân tích và thiết kế xen kẽ nhau, vừa làm  
vừa trao đổi với người sử dụng (NSD) để hoàn thiện cho thiết kế.  
     
Trang 16  
1.1. Lập kế hoạch:  
Xác định khoảng thời gian trung và dài hạn một sự phân chia, một kế  
hoạch can thiệp để dẫn đến các nghiên cứu từng khu vực, lãnh vực, phân hệ của  
tổ chức có liên quan.  
Kế hoạch này thể hiện đường lối có tính chất tự giác của ban giám đốc để  
cải tiến hệ thống tổ chức hơn là những chi tiết nhất thời để giải quyết các vấn đề  
nóng bỏng.  
1.2. Nghiên cứu và phân tích hiện trạng:  
Giai đoạn này áp dụng theo từng lãnh vực và theo dự kiến đã xác định ở kế  
hoạch.  
Giai đoạn này thực chất là phân tích hoạt động hệ thông tin vật lý. Để tiến  
hành giai đoạn này, cần sử dụng các kỹ thuật của những người tổ chức (nghiên  
cứu hồ sơ, quy trình, v.v…). Làm quen với công việc tại cơ quan liên quan về hệ  
thống cũ, từ đó, nhận diện được những điểm yếu của hệ thống cũ để có các đề  
xuất mới, hoàn thiện hơn cho thiết kế.  
Nghiên cứu hiện trạng có thể đưa đến việc phân chia mới các lĩnh vực hoặc  
các chức năng. Việc phân chia lại thực chất có liên quan đến cơ sở hoặc độ phức  
tạp của lĩnh vực nghiên cứu.  
1.3. Nghiên cứu và phân tích tính khả thi, khảo sát hệ thống  
1.3.1 Nghiên cứu khả thi:  
Giai đoạn này có vai trò quyết định vì nó sẽ dẫn đến các lựa chọn quyết  
định hệ chương trình tương lai cùng các bảo đảm tài chính. Các bước như sau:  
- Phân tích, phê phán hệ thống hiện hữu nhằm làm rõ những điểm yếu hoặc  
mạnh, sắp xếp các thứ tự những điểm quan trọng cần giải quyết.  
- Xác định các mục tiêu mới của các bộ phận.  
- Hình dung các kịch bản khác nhau bằng cách xác định một cách tổng thể  
các giải pháp, có thể có và làm rõ đối với mỗi một trong chúng, gồm: chi phí  
triển khai, chi phí hoạt động trong tương lai, các ưu và khuyết điểm, chương  
trình tổ chức và đào tạo nhân sự.  
- Từ kết quả bước trên cho phép lựa chọn những nhân vật chịu trách nhiệm  
phù hợp với một giải pháp nào đó đã được xác định hoặc trở lại từ đầu bước  
nghiên cứu khả thi vì nhiều nguyên nhân, ví dụ: không tìm được người chịu  
trách nhiệm thích hợp, chi phí cho dự án quá cao, v.v…  
- Nếu bước trên thành công ta tiến hành xây dựng hồ sơ gọi là "Sổ điều  
kiện thức".  
1.3.2 Khảo sát chi tiết và sổ điều kiện thức:  
Cơ bản được tổ chức như sau:  
     
Trang 17  
- Mô tả giao diện giữa hệ thống và NSD. Điều này dẫn đến một thoả thuận  
xác định hệ thống cung cấp những gì cho NSD.  
- Thực chất các công việc và các cài đặt cần thực hiện.  
* Tóm lại, sổ điều kiện thức xác lập một hợp đồng giữa những phân tích  
viên với Ban giám đốc và NSD trong tương lai.  
1.4. Phân tích hệ thống về chức năng, dữ liệu và mô hình dòng dữ liệu ;  
Giai đoạn này xác định và đưa ra được các mô hình phục vụ cho giai đoạn  
thiết kế.  
1.5. Thiết kế tổng thể mô hình chức năng hệ thông tin:  
Giai đoạn này xác định một cách chi tiết kiến trúc của hệ thông tin. Chia  
các hệ thống lớn thành các hệ thống con. Đây còn gọi là bước phân tích chức  
năng.  
Tất cả các thông tin, các quy tắc tính toán, quy tắc quản lý, các khai thác,  
những thiết bị, phương tiện sẽ được xác định trong giai đoạn này.  
1.6. Phân định công việc giữa con người và máy tính:  
Không phải bất kỳ công việc nào cũng hoàn toàn được thực hiện bởi bằng  
máy tính. Hệ thống thông tin là sự phối hợp giữa các công đoạn thực hiện thủ  
công và máy tính (ví dụ: thu thập thông tin khách hàng).  
1.7. Thiết kế các kiểm soát:  
Thiết kế đảm bảo tính đúng đắn của dữ liệu vào, chia tải dự phòng và thiết  
kế các cơ chế bảo mật cho việc chia sẻ tài nguyên và thiết kế an toàn nhằm  
phòng chống hoả hoạn, lấy cắp, phá hoại, gây mất mát hoặc làm hỏng dữ liệu.  
1.8. Thiết kế giao diện Người - Máy:  
Ví dụ: Menu chương trình, tổ chức màn hình (Form), báo biểu, v.v…  
1.9. Thiết kế dữ liệu, các tập tin ((Files):  
Giai đoạn này nhằm xác định các files, nội dung mỗi file như thế nào? cấu  
trúc của chúng ra sao?  
Ví dụ: trong các hệ quản trị CSDL là công việc thiết kế các bảng, v.v…  
1.10. Thiết kế chương trình (khác với việc viết chương trình):  
Gồm những chương trình gì? Mỗi chương trình gồm những module nào?  
Nhiệm vụ của mỗi module ra sao?  
Đưa ra các mẫu thử cho chương trình: mẫu thử này do người thiết kế đưa ra  
chứ không phải do lập trình viên.  
Chương trình phải đưa ra những kết quả như thế nào với những mẫu thử  
đó. Người phân tích hệ thống phải dự kiến trước các tình huống này.  
             
Trang 18  
2. VAI TRÒ NHIỆM VỤ TRONG PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ :  
Mục tiêu :  
- Hiểu được vai trò trách nhiệm của các nhóm người liên quan trong quá  
trình phân tích và thiết kế hệ thống ;  
- Biết được các yêu cầu đối với một phân tích viên về kiến thức và kỹ  
năng cần thiết.  
Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một hệ thống thông  
tin là tập thể và cá nhân tham gia vào quá trình phát triển hệ thống. Thông  
thường có sáu đối tượng tham gia vào công việc này.  
2.1. Người quản lý hệ thống thông tin:  
Đó là những người được lãnh đạo của tổ chức giao trách nhiệm đưa ra các  
yêu cầu chi tiết cho phân tích viên và triển khai tổ chức thực hiện khi hệ thống  
hoạt động. Đối với các hệ thống thông tin vừa và nhỏ thì người quản lý hệ thống  
thông tin thường là các trưởng phòng ban chức năng có nhiệm vụ cung cấp tình  
hình, số liệu, phương thức xử lý, công thức tính toán,v.v... trong hoạt động nội  
bộ của phòng mình và mối quan hệ thông tin giữa phòng mình với các bộ phận  
khác.  
2.2. Người phân tích hệ thống :  
Là người chủ chốt trong quá trình phát triển hệ thống, những người này sẽ  
quyết định vòng đời của hệ thống. Trong các hệ thống thông tin vừa và nhỏ một  
phân tích viên có thể là người lập trình cho hệ thống. Tuy nhiên đối với các hệ  
thống thông tin lớn thì bộ phận phân tích viên phải là một tập thể, vì như thế  
mới có đủ khả năng nắm bắt các lĩnh vực và hoạt động của tổ chức. Một phân  
tích viên được gọi là có năng lực nếu họ hội đủ các điều kiện sau:  
. Có kỹ năng phân tích: có thể hiểu được tổ chức và sự hoạt động của nó.  
Có thể xác định được các vấn đề đặt ra và giải quyết chúng. Có khả năng suy  
nghĩ mang tính chiến lược và hệ thống.  
. Có kỹ năng kỹ thuật: hiểu biết về thiết bị và phần mềm. Biết chọn lựa  
các giải pháp phần cứng và mềm cho các ứng dụng đặc biệt nơi cần tin học hoá.  
Hiểu biết công việc của người lập trình và người sử dụng đầu cuối.  
. Có kỹ năng quản lý: có khả năng quản lý nhóm làm việc, biết được điểm  
mạnh, điểm yếu của những người làm việc trong nhóm. Biết lắng nghe, đề xuất  
và giải quyết vấn đề. Có khả năng lập kế hoạch, điều phối các nguồn lực.  
. Có kỹ năng giao tiếp: phân tích viên phải đóng vai trò chính trong việc  
liên kết giữa các đối tượng: chủ đầu tư, người sử dụng, người lập trình và các  
thành phần khác trong hệ thống. Kỹ năng giao tiếp của phân tích viên thể hiện ở  
chổ: năng lực diễn đạt và thuyết phục, khả năng hoà hợp với mọi người trong  
nhóm làm việc. Có khả năng tổ chức và điều hành các cuộc họp.  
     
Trang 19  
2.3. Người lập trình :  
Là tập thể hoặc cá nhân có nhiệm vụ mã hoá các đặc tả được thiết kế bởi  
phân tích viên thành các cấu trúc mà máy tính có thể hiểu và vận hành được.  
Người lập trình cũng phải viết các tài liệu chương trình và các chương trình thử  
nghiệm hệ thống, chuẩn bị các số liệu giả để kiểm định độ chính xác của hệ  
thống.  
2.4. Người sử dụng đầu cuối :  
Trong quá trình phân tích thiết kế phân tích viên phải làm việc với người  
sử dụng để biết được chi tiết các thông tin của từng bộ phận, từng mảng công  
việc trong hệ thống. Người sử dụng sẽ cho phân tích viên biết ưu điểm và nhược  
điểm của hệ thống thông tin cũ, cho nên những ý kiến của họ có ý nghĩa quan  
trọng đến việc sử dụng hệ thống một cách có hiệu quả.  
2.5. Kỹ thuật viên :  
Là bộ phận phụ trách về mảng kỹ thuật của hệ thống như: bảo đảm sự  
hoạt động của phần cứng máy tính, đường truyền dữ liệu từ bộ phận này đến bộ  
phận khác trong hệ thống và từ hệ thống đến môi trường ngoài.  
2.6. Chủ đầu tư :  
Thường là thành phần quyết định của tổ chức, là người cung cấp cho phân  
tích viên những thông tin chung của tổ chức. Hệ thống thông tin tin học hóa bao  
giờ cũng có chức năng hỗ trợ ra quyết định, chức năng này giúp cho lãnh đạo  
của tổ chức những thông tin cần thiết trong quá trình ra quyết định.  
3. MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG :  
Mục tiêu :  
- Hiểu được mô hình chính là hình dạng của một hệ thống thực đã được  
thu nhỏ lại ;  
- Nắm vững các phương pháp mô hình hóa, đặc biệt là phương pháp cấu  
trúc (SADT).  
Mô hình (model) là một dạng trừu tượng hóa của một hệ thống thực. Cụ  
thể hơn, mô hình là một hình ảnh (một biểu diễn) của một hệ thống thực, được  
diễn tả :  
- Ở một mức độ trừu tượng hóa nào đó.  
- Dưới quan điểm (hay một góc nhìn) nào đó.  
- Dưới một hình thức thể hiện (văn bản, phương trình, bảng, đồ thị,..) nào đó.  
Việc dùng mô hình để nhận thức và diễn tả một hệ thống gọi là mô hình  
hóa.  
3.1. Các phương pháp mô hình hóa :  
Ngày nay tồn tại rất nhiều phương pháp mô hình hóa hệ thống (cũng còn  
được gọi là các phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống). Người phát triển hệ  
           
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 87 trang baolam 24760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin - Nguyễn Văn Hưng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_phan_tich_va_thiet_ke_he_thong_thong_tin_nguyen_v.doc