Giáo trình Quản trị mạng

Chương 1  
Sơ lược lịch sử phát triển của mạng máy tính  
Vào giữa những năm 50 khi những thế hệ máy tính đầu tiên được đưa vào hoạt động  
thực tế với những bóng đèn điện tử thì chúng có kích thước rất cồng kềnh và tốn nhiều năng  
lượng. Hồi đó việc nhập dữ liệu vào các máy tính được thông qua các tấm bìa mà người viết  
chương trình đã đục lỗ sẵn. Mỗi tấm bìa tương đương với một dòng lệnh mà mỗi một cột của  
nó có chứa tất cả các ký tự cần thiết mà người viết chương trình phải đục lỗ vào ký tự mình lựa  
chọn. Các tấm bìa được đưa vào một "thiết bị" gọi là thiết bị đọc bìa mà qua đó các thông tin  
được đưa vào máy tính (hay còn gọi là trung tâm xử lý) và sau khi tính toán kết quả sẽ được  
đưa ra máy in. Như vậy các thiết bị đọc bìa và máy in được thể hiện như các thiết bị vào ra  
(I/O) đối với máy tính. Sau một thời gian các thế hệ máy mới được đưa vào hoạt động trong đó  
một máy tính trung tâm có thể được nối với nhiều thiết bị vào ra (I/O) mà qua đó nó có thể thực  
hiện liên tục hết chương trình này đến chương trình khác.  
Cùng với sự phát triển của những ứng dụng trên máy tính các phương pháp nâng cao  
khả năng giao tiếp với máy tính trung tâm cũng đã được đầu tư nghiên cứu rất nhiều. Vào giữa  
những năm 60 một số nhà chế tạo máy tính đã nghiên cứu thành công những thiết bị truy cập  
từ xa tới máy tính của họ. Một trong những phương pháp thâm nhập từ xa được thực hiện  
bằng việc cài đặt một thiết bị đầu cuối ở một vị trí cách xa trung tâm tính toán, thiết bị đầu cuối  
này được liên kết với trung tâm bằng việc sử dụng đường dây điện thoại và với hai thiết bị xử lý  
tín hiệu (thường gọi là Modem) gắn ở hai đầu và tín hiệu được truyền thay vì trực tiếp thì thông  
qua dây điện thoại.  
1
Hình 1.1. Mô hình truyền dữ liệu từ xa đầu tiên  
Những dạng đầu tiên của thiết bị đầu cuối bao gồm máy đọc bìa, máy in, thiết bị xử lý  
tín hiệu, các thiết bị cảm nhận. Việc liên kết từ xa đó có thể thực hiên thông qua những vùng  
khác nhau và đó là những dạng đầu tiên của hệ thống mạng.  
Trong lúc đưa ra giới thiệu những thiết bị đầu cuối từ xa, các nhà khoa học đã triển khai  
một loạt những thiết bị điều khiển, những thiết bị đầu cuối đặc biệt cho phép người sử dụng  
nâng cao được khả năng tương tác với máy tính. Một trong những sản phẩm quan trọng đó là  
hệ thống thiết bị đầu cuối 3270 của IBM. Hệ thống đó bao gồm các màn hình, các hệ thống điều  
khiển, các thiết bị truyền thông được liên kết với các trung tâm tính toán. Hệ thống 3270 được  
giới thiệu vào năm 1971 và được sử dụng dùng để mở rộng khả năng tính toán của trung tâm  
máy tính tới các vùng xa. Ðể làm giảm nhiệm vụ truyền thông của máy tính trung tâm và số  
lượng các liên kết giữa máy tính trung tâm với các thiết bị đầu cuối, IBM và các công ty máy  
tính khác đã sản xuất một số các thiết bị sau:  
2
Thiết bị kiểm soát truyền thông: có nhiệm vụ  
nhận các bit tín hiệu từ các kênh truyền thông, gom chúng lại thành các byte dữ liệu và chuyển  
nhóm các byte đó tới máy tính trung tâm để xử lý, thiết bị này cũng thực hiện công việc ngược  
lại để chuyển tín hiệu trả lời của máy tính trung tâm tới các trạm ở xa. Thiết bị trên cho phép  
giảm bớt được thời gian xử lý trên máy tính trung tâm và xây dựng các thiết bị logic đặc trưng.  
3
Thiết bị kiểm soát nhiều đầu cuối: cho phép  
cùng một lúc kiểm soát nhiều thiết bị đầu cuối. Máy tính trung tâm chỉ cần liên kết với một thiết  
bị như vậy là có thể phục vụ cho tất cả các thiết bị đầu cuối đang được gắn với thiết bị kiểm  
soát trên. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi thiết bị kiểm soát nằm ở cách xa máy tính vì chỉ cần  
sử dụng một đường điện thoại là có thể phục vụ cho nhiều thiết bị đầu cuối.  
4
Hình 1.2: Mô hình trao đổi mạng của hệ thống 3270  
Vào giữa những năm 1970, các thiết bị đầu cuối sử dụng những phương pháp liên kết  
qua đường cáp nằm trong một khu vực đã được ra đời. Với những ưu điểm từ nâng cao tốc độ  
truyền dữ liệu và qua đó kết hợp được khả năng tính toán của các máy tính lại với nhau. Ðể  
thực hiện việc nâng cao khả năng tính toán với nhiều máy tính các nhà sản xuất bắt đầu xây  
dựng các mạng phức tạp. Vào những năm 1980 các hệ thống đường truyền tốc độ cao đã  
được thiết lập ở Bắc Mỹ và Châu Âu và từ đó cũng xuất hiện các nhà cung cấp các dịnh vụ  
truyền thông với những đường truyền có tốc độ cao hơn nhiều lần so với đường dây điện thoại.  
Với những chi phí thuê bao chấp nhận được, người ta có thể sử dụng được các đường truyền  
này để liên kết máy tính lại với nhau và bắt đầu hình thành các mạng một cách rộng khắp. Ở  
đây các nhà cung cấp dịch vụ đã xây dựng những đường truyền dữ liệu liên kết giữa các thành  
phố và khu vực với nhau và sau đó cung cấp các dịch vụ truyền dữ liệu cho những người xây  
dựng mạng. Người xây dựng mạng lúc này sẽ không cần xây dựng lại đường truyền của mình  
mà chỉ cần sử dụng một phần các năng lực truyền thông của các nhà cung cấp.  
Vào năm 1974 công ty IBM đã giới thiệu một loạt các thiết bị đầu cuối được chế tạo cho  
lĩnh vực ngân hàng và thương mại, thông qua các dây cáp mạng các thiết bị đầu cuối có thể  
truy cập cùng một lúc vào một máy tính dùng chung. Với việc liên kết các máy tính nằm ở trong  
một khu vực nhỏ như một tòa nhà hay là một khu nhà thì tiền chi phí cho các thiết bị và phần  
mềm là thấp. Từ đó việc nghiên cứu khả năng sử dụng chung môi trường truyền thông và các  
tài nguyên của các máy tính nhanh chóng được đầu tư.  
5
Vào năm 1977, công ty Datapoint Corporation đã bắt đầu bán hệ điều hành mạng của  
mình là "Attached Resource Computer Network" (hay gọi tắt là Arcnet) ra thị trường. Mạng  
Arcnet cho phép liên kết các máy tính và các trạm đầu cuối lại bằng dây cáp mạng, qua đó đã  
trở thành là hệ điều hành mạng cục bộ đầu tiên.  
Từ đó đến nay đã có rất nhiều công ty đưa ra các sản phẩm của mình, đặc biệt khi các  
máy tính cá nhân được sử dụng một cánh rộng rãi. Khi số lượng máy vi tính trong một văn  
phòng hay cơ quan được tăng lên nhanh chóng thì việc kết nối chúng trở nên vô cùng cần thiết  
và sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho người sử dụng.  
Ngày nay với một lượng lớn về thông tin, nhu cầu xử lý thông tin ngày càng cao. Mạng  
máy tính hiện nay trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta, trong mọi lĩnh vực như khoa học,  
quân sự, quốc phòng, thương mại, dịch vụ, giáo dục... Hiện nay ở nhiều nơi mạng đã trở thành  
một nhu cầu không thể thiếu được. Người ta thấy được việc kết nối các máy tính thành mạng  
cho chúng ta những khả năng mới to lớn như:  
Sử dụng chung tài nguyên: Những tài  
nguyên của mạng (như thiết bị, chương trình, dữ liệu) khi được trở thành các tài nguyên chung  
thì mọi thành viên của mạng đều có thể tiếp cận được mà không quan tâm tới những tài  
nguyên đó ở đâu.  
6
Tăng độ tin cậy của hệ thống: Người ta có  
thể dễ dàng bảo trì máy móc và lưu trữ (backup) các dữ liệu chung và khi có trục trặc trong hệ  
thống thì chúng có thể được khôi phục nhanh chóng. Trong trường hợp có trục trặc trên một  
trạm làm việc thì người ta cũng có thể sử dụng những trạm khác thay thế.  
Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác  
thông tin: Khi thông tin có thể được sữ dụng chung thì nó mang lại cho người sử dụng khả  
năng tổ chức lại các công việc với những thay đổi về chất như:  
7
Ðáp ứng những nhu cầu của hệ thống ứng  
dụng kinh doanh hiện đại.  
Cung cấp sự thống nhất giữa các dữ liệu.  
8
Tăng cường năng lực xử lý nhờ kết hợp  
các bộ phận phân tán.  
Tăng cường truy nhập tới các dịch vụ mạng  
khác nhau đang được cung cấp trên thế giới.  
Với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội nên vấn đề kỹ thuật trong mạng là mối  
quan tâm hàng đầu của các nhà tin học. Ví dụ như làm thế nào để truy xuất thông tin một cách  
nhanh chóng và tối ưu nhất, trong khi việc xử lý thông tin trên mạng quá nhiều đôi khi có thể  
làm tắc nghẽn trên mạng và gây ra mất thông tin một cách đáng tiếc.  
Hiện nay việc làm sao có được một hệ thống mạng chạy thật tốt, thật an toàn với lợi ích  
kinh tế cao đang rất được quan tâm. Một vấn đề đặt ra có rất nhiều giải pháp về công nghệ,  
một giải pháp có rất nhiều yếu tố cấu thành, trong mỗi yếu tố có nhiều cách lựa chọn. Như vậy  
9
để đưa ra một giải pháp hoàn chỉnh, phù hợp thì phải trải qua một quá trình chọn lọc dựa trên  
những ưu điểm của từng yếu tố, từng chi tiết rất nhỏ.  
Ðể giải quyết một vấn đề phải dựa trên những yêu cầu đặt ra và dựa trên công nghệ để  
giải quyết. Nhưng công nghệ cao nhất chưa chắc là công nghệ tốt nhất, mà công nghệ tốt nhất  
là công nghệ phù hợp nhất.  
Chương 2  
Những khái niệm cơ bản của mạng máy tính  
Với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, hiện nay các mạng máy tính đã phát triển  
một cách nhanh chóng và đa dạng cả về quy mô, hệ điều hành và ứng dụng. Do vậy việc  
nghiên cứu chúng ngày càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên các mạng máy tính cũng có cùng các  
điểm chung thông qua đó chúng ta có thể đánh giá và phân loại chúng.  
I. Định nghĩa mạng máy tính  
Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền theo  
một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho nhau.  
Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển  
các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các giá  
trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off). Tất cả các tín hiệu được truyền giữa các máy  
tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các đường  
truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở đây đường truyền được kết nối có thể là dây  
cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến ... Các đường truyền dữ liệu  
10  
tạo nên cấu trúc của mạng. Hai khái niệm đường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản  
của mạng máy tính.  
11  
Hình 2.1: Một mô hình liên kết các máy tính trong mạng  
Với sự trao đổi qua lại giữa máy tính này với máy tính khác đã phân biệt mạng máy tính  
với các hệ thống thu phát một chiều như truyền hình, phát thông tin từ vệ tinh xuống các trạm  
thu thụ động... vì tại đây chỉ có thông tin một chiều từ nơi phát đến nơi thu mà không quan tâm  
đến có bao nhiêu nơi thu, có thu tốt hay không.  
Đặc trưng cơ bản của đường truyền vật lý là giải thông. Giải thông của một đường  
chuyền chính là độ đo phạm vi tần số mà nó có thể đáp ứng được. Tốc độ truyền dữ liệu trên  
đường truyền còn được gọi là thông lượng của đường truyền - thường được tính bằng số  
lượng bit được truyền đi trong một giây (Bps). Thông lượng còn được đo bằng đơn vị khác là  
Baud (lấy từ tên nhà bác học - Emile Baudot). Baud biểu thị số lượng thay đổi tín hiệu trong một  
giây.  
Ở đây Baud và Bps không phải bao giờ cũng đồng nhất. Ví dụ: nếu trên đường dây có 8  
mức tín hiệu khác nhau thì mỗi mức tín hiệu tương ứng với 3 bit hay là 1 Baud tương ứng với 3  
bit. Chỉ khi có 2 mức tín hiệu trong đó mỗi mức tín hiệu tương ứng với 1 bit thì 1 Baud mới  
tương ứng với 1 bit.  
II. Phân loại mạng máy tính  
Do hiện nay mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày càng đa  
dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp. Người ta có thể chia các  
mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện rộng và Mạng cục bộ.  
Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN)  
là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính trong một khu vực như trong một toà nhà, một  
khu nhà.  
12  
Mạng diện rộng (Wide Area Networks -  
WAN) là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau  
như giữa các thành phố hay các tỉnh.  
Sự phân biệt trên chỉ có tính chất ước lệ, các phân biệt trên càng trở nên khó xác định  
với việc phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng như các phương tiện truyền dẫn. Tuy nhiên  
với sự phân biệt trên phương diện địa lý đã đưa tới việc phân biệt trong nhiều đặc tính khác  
nhau của hai loại mạng trên, việc nghiên cứu các phân biệt đó cho ta hiểu rõ hơn về các loại  
mạng.  
III. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng  
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc  
độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên  
mạng, dạng chuyển giao thông tin.  
13  
Địa phương hoạt động: Liên quan đến khu  
vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là mạng liên kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ. Khu  
vực có thể bao gồm một tòa nhà hay là một khu nhà... Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường  
dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ (Hạn chế đó còn là hạn chế của  
khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệu). Ngược lại mạng diện rộng là mạng có khả năng  
liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là một thành phố, một miền, một đất nước,  
mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hoặc nhiều khu vực địa lý riêng biệt.  
Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường  
truyền: Do các đường cáp của mạng cục bộ đươc xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó  
ít bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên nhiên (như là sấm chớp, ánh sáng...). Điều đó cho phép  
mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với  
14  
mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách khá xa với những đường truyền dẫn dài  
có khi lên tới hàng ngàn km. Do vậy mạng diện rộng không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi  
đó tỉ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được.  
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps nếu  
dùng cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn  
nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.  
(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit  
được truyền trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối đa  
1 Megabit trong 1 giây trên đường truyền đó).  
Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn  
trong mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 - 107  
Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự  
phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng  
diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay  
các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu. Tùy theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó  
thuộc cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên  
quốc gia. Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định của chính phủ các khu vực có  
đường dây đi qua như: tốc độ, việc mã hóa.  
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt  
mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.  
15  
Đường đi của thông tin trên mạng: Trong  
mạng cục bộ thông tin được đi theo con đường xác định bởi cấu trúc của mạng. Khi người ta  
xác định cấu trúc của mạng thì thông tin sẽ luôn luôn đi theo cấu trúc đã xác định đó. Còn với  
mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều do việc sử dụng các dịch vụ truyền  
dữ liệu. Trong quá trình hoạt động các điểm nút có thể thay đổi đường đi của các thông tin khi  
phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện có quá nhiều thông tin cần truyền  
giữa hai điểm nút nào đó. Trên mạng diện rộng thông tin có thể có các con đường đi khác  
nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường truyền hay nâng cao  
điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu.  
Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các  
mạng diện rộng hiện nay được phát triển cho việc truyền đồng thời trên đường truyền nhiều  
16  
dạng thông tin khác nhau như: video, tiếng nói, dữ liệu... Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu  
phát triển trong việc truyền dữ liệu thông thường. Điều này có thể giải thích do việc truyền các  
dạng thông tin như video, tiếng nói trong một khu vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền  
qua những khoảng cách lớn.  
Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về chủng loại  
và phát triển rất nhanh về chất. Trong sự phát triển đó số lượng những nhà sản xuất từ phần  
mềm, phần cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng nhanh với nhiều sản phẩm đa  
dạng. Chính vì vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những ý nghĩa quan trọng. Tại các nước các  
cơ quan chuẩn quốc gia đã đưa ra các những chuẩn về phần cứng và các quy định về giao tiếp  
nhằm giúp cho các nhà sản xuất có thể làm ra các sản phẩm có thể kết nối với các sản phẩm  
do hãng khác sản xuất.  
Chương 3  
Mô hình truyền thông  
I. Sự cần thiết phải có mô hình truyền thông  
Để một mạng máy tính trở một môi trường truyền dữ liệu thì nó cần phải có những yếu  
tố sau:  
17  
Mỗi máy tính cần phải có một địa chỉ phân  
biệt trên mạng.  
Việc chuyển dữ liệu từ máy tính này đến  
máy tính khác do mạng thực hiện thông qua những quy định thống nhất gọi là giao thức của  
mạng.  
Khi các máy tính trao đổi dữ liệu với nhau thì một quá trình truyền giao dữ liệu đã được  
thực hiện hoàn chỉnh. Ví dụ như để thực hiện việc truyền một file giữa một máy tính với một  
máy tính khác cùng được gắn trên một mạng các công việc sau đây phải được thực hiện:  
18  
Máy tính cần truyền cần biết địa chỉ của  
máy nhận.  
Máy tính cần truyền phải xác định được  
máy tính nhận đã sẵn sàng nhận thông tin  
19  
Chương trình gửi file trên máy truyền cần  
xác định được rằng chương trình nhận file trên máy nhận đã sẵn sàng tiếp nhận file.  
Nếu cấu trúc file trên hai máy không giống  
nhau thì một máy phải làm nhiệm vụ chuyển đổi file từ dạng này sang dạng kia.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 410 trang baolam 22000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị mạng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_quan_tri_mang.doc