Giáo trình Hệ quản trị cơ sở dữ liệu - Chương V: Điều khiển cạnh tranh

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
CHƯƠNG V  
ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
(Concurrency Control)  
MỤC ĐÍCH  
Một trong các tính chất cơ bản của một giao dịch là tính cô lập. Khi một vài giao dịch thực  
hiện một cách cạnh tranh trong CSDL, tính cô lập có thể không được bảo tồn. Đối với hệ thống,  
cần phải điều khiển sự trao đổi giữa các giao dịch cạnh tranh; sự điều khiển này được thực hiện  
thông qua một trong tập hợp đa dạng các cơ chế được gọi là sơ đồ điều khiển cạnh tranh.  
Các sơ đồ điều khiển cạnh tranh được xét trong chương này được dựa trên tính khả tuần  
tự. Trong chương này ta cũng xét sự quản trị các giao dịch thực hiện cạnh canh nhưng không xét  
đến sự cố hỏng hóc.  
YÊU CẦU  
Hiểu các khái niệm  
Hiểu các kỹ thuật điều khiển cạnh tranh:  
-
-
-
Các kỹ thuật dựa trên chốt (lock)  
Các kỹ thuật dựa trên tem thởi gian  
Các kỹ thuật hỗp hợp  
Hiểu nguyên lý của các kỹ thuật này  
Hiểu các kỹ thuật điều khiển deadlock  
95  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
V.1. GIAO THỨC DỰA TRÊN CHỐT  
Một phương pháp để đảm bảo tính khả tuần tự là yêu cầu việc truy xuất đến hạng mục dữ  
liệu được tiến hành theo kiểu loại trừ tương hỗ; có nghĩa là trong khi một giao dịch đang truy xuất  
một hạng mục dữ liệu, không một giao dịch nào khác có thể sửa đổi hạng mục này. Phương pháp  
chung nhất được dùng để thực thi yêu cầu này là cho phép một giao dịch truy xuất một hạng mục  
dữ liệu chỉ nếu nó đang giữ chốt trên hạng mục dữ liệu này.  
V.1.1. CHỐT (Lock)  
Có nhiều phương thức chốt hạng mục dữ liệu. Ta hạn chế việc nghiên cứu trên hai phương  
thức:  
1. Shared. Nếu một giao dịch Ti nhận được một chốt ở phương thức shared (ký hiệu  
là S) trên hạng mục Q, khi đó Ti có thể đọc, nhưng không được viết Q.  
2. Exclusive. Nếu một giao dịch Ti nhận được một chốt ở phương thức Exclusive (ký  
hiệu là X), khi đó Ti có thể cả đọc lẫn viết Q.  
Ta yêu cầu là mỗi giao dịch đòi hỏi một chốt ở một phương thức thích hợp trên hạng mục  
dữ liệu Q, phụ thuộc vào kiểu hoạt động mà nó sẽ thực hiện trên Q. Giả sử một giao dịch Ti đồi  
hỏi một chốt phương thức A trên hạng mục Q mà trên nó giao dich Tj (Tj ≠ Ti) hiện đang giữ một  
chốt phương thức B. Nếu giao dịch Ti có thể được cấp một chốt trên Q ngay, bất chấp sự hiện  
diện của chốt phương thức B, khi đó ta nói phương thức A tương thích với phương thức B. Một  
hàm như vậy có thể được biểu diễn bởi một ma trận. Quan hệ tương thích giữa hai phương thức  
chốt được cho bởi ma trận comp sau:  
S
X
S
True False  
X False False  
Comp(A, B)= true có nghĩa là các phương thức A và B tương thích.  
figure V- 1  
Các chốt phương thức shared có thể được giữ đồng thời trên một hạng mục dữ liệu. Một  
chốt exclusive đến sau phải chờ đến tận khi tất cả các chốt phương thức shared đến trước được  
tháo ra.  
Một giao dịch yêu cầu một chốt shared trên hạng mục dữ liệu Q bằng cách thực hiện chỉ  
thị lock-S(Q), yêu cầu một chốt exclusive thông qua chỉ thị lock-X(Q). Một hạng mục dữ liệu Q  
có thể được tháo chốt thông qua chỉ thị unlock(Q).  
Để truy xuất một hạng mục dữ liệu, giao dịch Ti đầu tiên phải chốt hạng mục này. Nếu  
hạng mục này đã bị chốt bởi một giao dịch khác ở phương thức không tương thích, bộ điều khiển  
cạnh tranh sẽ không cấp chốt cho đến tận khi tất cả các chốt không tương thích bị giữ bởi các  
giao dịch khác được tháo. Như vậy Ti phải chờ đến tận khi tất cả các chốt không tương thích bị  
giữ bởi các giao dịch khác được giải phóng.  
Giao dịch Ti có thể tháo chốt một hạng mục dữ liệu mà nó đã chốt trước đây. Một giao  
dịch cần thiết phải giữ một chốt trên một hạng mục dữ liệu chừng nào mà nó còn truy xuất hạng  
mục này. Hơn nữa, đối với một giao dịch việc tháo chốt ngay sau truy xuất cuối cùng đến hạng  
mục dữ liệu không luôn luôn là điều mong muốn vì như vậy tính khả tuần tự có thể không được  
đảm bảo. Để minh hoạ cho tình huống này, ta xét ví dụ sau: A và B là hai tài khoản có thể được  
96  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
truy xuất bởi các giao dịch T1 và T2 . Giao dịch T1 chuyển 50$ từ tài khoản B sang tài khoản A và  
đươch xác định như sau:  
T1 :  
Lock-X(B);  
Read(B);  
B:=B-50;  
Write(B);  
Unlock(B);  
Lock-X(A);  
Read(A);  
A:=A+50;  
Write(A);  
Unlock(A);  
figure V- 2  
Giao dịch T2 hiển thị tổng số lượng tiền trong các tài khoản A và B (A + B) và được xác  
định như sau;  
T2 :  
Lock-S(A);  
Read(A);  
Unlock(A);  
Lock-S(B);  
Read(B);  
Unlock(B);  
Display(A+B);  
figure V- 3  
Giả sử giá trị của tài khoản A và B tương ứng là 100$ và 200$. Nếu hai giao dịch này thực  
hiện tuần tự, hoặc theo thứ tự T1, T2 hoặc theo thứ tự T2 , T1 , và khi dó T2 sẽ hiển thị giá trị 300$.  
Tuy nhiên nếu các giao dịch này thực hiện cạnh tranh, giả sử theo lịch trình schedule-1, trong  
trường hợp như vậy giao dịch T2 sẽ hiển thị giá trị 250$ --- một kết quả không đúng. Lý do của  
sai lầm này là do giao dịch T1 đã tháo chốt hạng mục B quá sớm và T2 đã tham khảo một trạng  
thái không nhất quán !!!  
Lịch trình schedule 1 bày tỏ các hành động được thực hiện bởi các giao dịch cũng như các  
thời điểm khi các chốt được cấp bởi bộ quản trị điều khiển cạnh tranh. Giao dịch đưa ra một yêu  
cầu chốt không thể thực hiện hành động kế của mình đến tận khi chốt được cấp bởi bộ quản trị  
điều khiển cạnh tranh; do đó, chốt phải được cấp trong khoảng thời gian giữa hoạt động yêu cầu  
chốt và hành động sau của giao dịch. Sau này ta sẽ luôn giả thiết chốt được cấp cho giao dịch  
ngay trước hành động kế và như vậy ta có thể bỏ qua cột bộ quản trị điều khiển cạnh tranh trong  
bảng  
97  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
T1  
T2  
Bộ quản trị điều khiển cạnh tranh  
Lock-X(B)  
Grant-X(B,T1)  
Read(B)  
B:=B-50  
Write(B)  
Unlock(B)  
Lock-S(A)  
Grant-S(A,T2)  
Grant-S(B,T2)  
Read(A)  
Unlock(A)  
Lock-S(B)  
Read(B)  
Unlock(B)  
Display(A+B)  
Lock-X(A)  
Grant-X(A,T1)  
Read(A)  
A:=A+50  
Write(A)  
Unlock(A)  
Schedule-1  
figure V- 4  
Bây giờ giả sử rằng tháo chốt bị làm trễ đến cuối giao dịch. Giao dịch T3 tương ứng với T1  
với tháo chốt bị làm trễ được định nghĩa như sau:  
T3 :  
Lock-X(B);  
Read(B);  
B:=B-50;  
Write(B);  
Lock-X(A);  
Read(A);  
A:=A+50;  
Write(A);  
Unlock(B);  
Unlock(A);  
figure V- 5  
98  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
Giao dịch T4 tương ứng với T2 với tháo chốt bị làm trễ được xác định như sau:  
T4 :  
Lock-S(A);  
Read(A);  
Lock-S(B);  
Read(B);  
Display(A+B);  
Unlock(A);  
Unlock(B);  
figure V- 6  
Các lịch trình có thể trên T3 và T4 không để cho T4 hiển thị trạng thái không nhất quán.  
Tuy nhiên, sử dụng chốt có thể dẫn đến một tình huống không mong đợi. Ta hãy xét lịch  
trình bộ phận schedule-2 trên T3 và T4 sau:  
T3  
Lock-X(B)  
T4  
Schedule-2  
figure V- 7  
Do T3 giữ một chốt phương thức Exclusive trên B, nên yêu cầu một chốt phương thức  
shared của T4 trên B phải chờ đến khi T3 tháo chốt. Cũng vậy, T3 yêu cầu một chốt Exclusive trên  
A trong khi T4 đang giữ một chốt shared trên nó và như vậy phải chờ. Ta gặp phải tình huống  
trong đó T3 chờ đợi T4 đồng thời T4 chờ đợi T3 -- một sự chờ đợi vòng tròn -- và như vậy không  
giao dịch nào có thể tiến triển. Tình huống này được gọi là deadlock (khoá chết). Khi tình huống  
khoá chết xảy ra hệ thống buộc phải cuộn lại một trong các giao dịch. Mỗi khi một giao dịch bị  
cuộn lại, các hạng mục dữ liệu bị chốt bởi giao dịch phải được tháo chốt và nó trở nên sẵn có cho  
giao dịch khác, như vậy các giao dịch này có thể tiếp tục được sự thực hiện của nó.  
Nếu ta không sử dụng chốt hoặc tháo chốt hạng mục dữ liệu ngay khi có thể sau đọc hoặc  
viết hạng mục, ta có thể rơi vào trạng thái không nhất quán. Mặt khác, nếu ta không tháo chốt một  
hạng mục dữ liệu trước khi yêu cầu một chốt trên một hạng mục khác, dealock có thể xảy ra. Có  
các phương pháp tránh dealock trong một số tình huống, tuy nhiên nói chung dealock là khó tránh  
khi sử dụng chốt nếu ta muốn tránh trạng thái không nhất quán. Dealock được ưa thích hơn trạng  
thái không nhất quán vì chúng có thể điều khiển được bằng cách cuộn lại các giao dịch trong khi  
99  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
đó trạng thái không nhất quán có thể dẫn đến các vấn đề thực tế mà hệ CSDL không thể điều  
khiển.  
Ta sẽ yêu cầu mỗi giao dịch trong hệ thống tuân theo một tập các quy tắc , được gọi là  
giao thức chốt (locking protocol), chỉ định khi một giao dịch có thể chốt và tháo chốt mỗi một  
trong các hạng mục dự liệu. Giao thức chốt hạn chế số các lịch trình có thể. Tập các lịch trình như  
vậy là một tập con thực sự của tập tất cả các lịch trình khả tuần tự có thể.  
Xét { T0 , T1 , ..., Tn } một tập các giao dịch tham gia vào lịch trình S. Ta nói Ti đi trước Tj  
trong S, và được viết là Ti → Tj , nếu tồn tại một hạng mục dữ liệu Q sao cho Ti giữ chốt phương  
thức A trên Q , Tj giữ chốt phương thức B trên Q muộn hơn và comp(A,B) = false. Nếu Ti → Tj ,  
thì Ti sẽ xuất hiện trước Tj trong bất kỳ lịch trình tuần tự nào.  
Ta nói một lịch trình S là hợp lệ dưới một giao thức chốt nếu S là một lịch trình tuân thủ  
các quy tắc của giao thức chốt đó. Ta nói rằng một giao thức chốt đảm bảo tính khả tuần tự xung  
đột nếu và chỉ nếu đối với tất cả các lịch trình hợp lệ, quan hệ → kết hợp là phi chu trình.  
V.1.2. CẤP CHỐT  
Khi một giao dịch yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu ở một phương thức và  
không có một giao dịch nào khác giữ một chốt trên cùng hạng mục này ở một phương thức xung  
đột, chốt có thể được cấp. Tuy nhiên, phải thận trọng để tránh kịch bản sau: giả sử T2 giữ một  
chốt phương thức shared trên một hạng mục dữ liệu, một giao dịch khác T1 yêu cầu một chốt  
phương thức exclusive cũng trên hạng mục này, rõ ràng T1 phải chờ T2 tháo chốt. Trong khi đó  
một giao dịch khác T3 yêu cầu một chốt phương thức shared, do yêu cầu chốt này tương thích với  
phương thức chốt được giữ bởi T1 nên nó được cấp cho T3. Tại thời điểm T2 tháo chốt, T1 vẫn  
phải chờ sự tháo chốt của T3, nhưng bây giờ lại có một giao dịch T4 yêu cầu một chốt phương thức  
shared và nó lại được cấp do tính tương thích và cứ như vậy, có thể T1 sẽ không bao giờ được cấp  
chốt mà nó yêu cầu trên hạng mục dữ liệu. Ta gọi hiện tượng này là bị chết đói (starved).  
Để tránh sự chết đói của các giao dịch, việc cấp chốt được tiến hành như sau: Khi một  
giao dịch Ti yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q ở phương thức M, chốt sẽ được cấp  
nếu các điều kiện sau được thoả mãn:  
1. Không có giao dịch khác đang giữ một chốt trên Q ở phương thức xung đột với M  
2. Không có một giao dịch nào đang chờ được cấp một chốt trên M và đã đưa ra yêu  
cầu về chốt trước Ti  
V.1.3. GIAO THỨC CHỐT HAI KỲ (Two-phase locking protocol)  
Giao thức chốt hai kỳ là một giao thức đảm bảo tính khả tuần tự. Giao thức này yêu cầu  
mỗi một giao dịch phát ra yêu cầu chốt và tháo chốt thành hai kỳ:  
1. Kỳ xin chốt (Growing phase). Một giao dịch có thể nhận được các chốt, nhưng có  
không thể tháo bất kỳ chốt nào  
2. Kỳ tháo chốt (Shrinking phase). Một giao dịch có thể tháo các chốt nhưng không  
thể nhận được một chốt mới nào.  
Khởi đầu, một giao dịch ở kỳ xin chốt. Giao dịch tậu được nhiều chốt như cần thiết. Mỗi  
khi giao dịch tháo một chốt, nó đi vào kỳ tháo chốt và nó không thể phát ra bất kỳ một yêu cầu  
chốt nào nữa. Các giao dich T3 và T4 là hai kỳ. Các giao dịch T1 và T2 không là hai kỳ. Người ta  
có thể chứng minh được giao thức chốt hai kỳ đảm bảo tính khả tuần tự xung đột, nhưng không  
đảm bảo tránh được dealock và việc cuộn lại hàng loạt. Cuộn lại hàng loạt có thể tránh được bởi  
một sự sửa đổi chốt hai kỳ được gọi là giao thức chốt hai kỳ nghiêm ngặt. Chốt hai kỳ nghiêm  
100  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
ngặt đòi hỏi thêm tất cả các chốt phương thức exclusive phải được giữ đến tận khi giao dịch bàn  
giao. Yêu cầu này đảm bảo rằng bất kỳ dữ liệu nào được viết bởi một giao dịch chưa bàn giao bị  
chốt trong phương thức exclusive đến tận khi giao dịch bàn giao, điều đó ngăn ngừa bất kỳ giao  
dịch khác đọc dữ liệu này.  
Một biến thể khác của chốt hai kỳ là giao thức chốt hai kỳ nghiêm khắc. Nó đòi hỏi tất cả  
các chốt được giữ đến tận khi giao dịch bàn giao. Hầu hết các hệ CSDL thực hiện chốt hai kỳ  
nghiêm ngặt hoặc nghiêm khắc.  
Một sự tinh chế giao thức chốt hai kỳ cơ sở dựa trên việc cho phép chuyển đổi chốt: nâng  
cấp một chốt shared sang exclusive và hạ cấp một chốt exclusive thành chốt shared. Chuyển đổi  
chốt không thể cho phép một cách tuỳ tiện, nâng cấp chỉ được phép diễn ra trong kỳ xin chốt, còn  
hạ cấp chỉ được diễn ra trong kỳ tháo chốt. Một giao dịch thử nâng cấp một chốt trên một hạng  
mục dữ liệu Q có thể phải chờ. Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt cho phép chỉ sinh ra các  
lịch trình khả tuần tự xung đột. Nếu các chốt exclusive được giữ đến tận khi bàn giao, các lịch  
trình sẽ là cascadeless.  
Ta xét một ví dụ: Các giao dịch T8 và T9 được nêu trong ví dụ chỉ được trình bày bởi các  
hoạt động ý nghĩa là Read và Write.  
T8 :  
Read(A1);  
Read(A2);  
...  
Read(An);  
Write(A1).  
Read(A1);  
Read(A2);  
Display(A1 + A2).  
T9 :  
figure V- 8  
Nếu ta sử dụng giao thức chốt hai kỳ, khi đó T8 phải chốt A1 ở phương thức exclusive. Bởi  
vậy, sự thực hiện cạnh tranh của hai giao dịch rút cuộc trở thành thực hiện tuần tự. Ta thấy rằng  
T8 cần một chốt exclusive trên A1 chỉ ở cuối sự thực hiện của nó, khi nó write(A1). Như vậy, T8  
có thể khởi động chốt A1 ở phương thức shared, và đổi chốt này sang phương thức exclusive sau  
này. Như vậy ta có thể nhận được tính cạnh tranh cao hơn, vì như vậy T8 và T9 có thể truy xuất  
đến A1 và A2 đồng thời.  
Ta biểu thị sự chuyển đổi từ phương thức shared sang phương thức exclusive bởi upgrade  
và từ phương thức exclusive sang phương thức shared bởi downgrade. Upgrade chỉ được phép  
xảy ra trong kỳ xin chốt và downgrade chỉ được phép xảy ra trong kỳ tháo chốt. Lịch trình chưa  
hoàn tất dưới đây cho ta một minh hoạ về giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt.  
Chú ý rằng một giao dịch thử cập nhật một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q có thể buộc  
phải chờ. Việc chờ bắt buộc này xảy ra khi Q đang bị chốt bởi giao dịch khác ở phương thức  
shared.  
Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt chỉ sinh ra các lịch trình khả tuần tự xung đột,  
các giao dịch có thể được tuần tự hoá bởi các điểm chốt của chúng. Hơn nữa, nếu các chốt  
exclusive được giữ đến tận khi kết thúc giao dịch, lịch trình sẽ là cascadeless.  
101  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
T8  
T9  
Lock-S(A1)  
Lock-S(A2)  
Lock-S(A2)  
Lock-S(A2)  
Lock-S(A3)  
…
Unlock(A1)  
Unlock(A2)  
UpGrade(A1)  
figure V- 9  
Ta mô tả một sơ đồ đơn giản nhưng dược sử dụng rộng rãi để sinh tự động các chỉ thị chốt  
và tháo chốt thích hợp cho một giao dịch: Mỗi khi giao dich T xuất ra một chỉ thị Read(Q), hệ  
thống sẽ xuất ra một chỉ thị Lock-S(Q) ngay trước chỉ thị Read(Q). Mỗi khi giao dịch T xuất ra  
một hoạt động Write(Q), hệ thống sẽ kiểm tra xem T đã giữ một chốt shared nào trên Q hay  
chưa, nếu đã, nó xuất ra một chỉ thị Upgrade(Q) ngay trước chỉ thị Write(Q), nếu chưa, nó  
xuất ra chỉ thị Lock-X(Q) ngay trước Write(Q). Tất cả các chốt giao dịch nhận được sẽ được  
tháo chốt sau khi giao dịch bàn giao hay bỏ dở.  
V.1.4. GIAO THỨC DỰA TRÊN ĐỒ THỊ (Graph-Based Protocol)  
Ta đã biết, trong trường hợp thiếu vắng các thông tin liên quan đến cách thức các hạng  
mục dữ liệu được truy xuất, giao thức chốt hai kỳ là cần và đủ để đảm bảo tính khả tuần tự. Nếu ta  
muốn phát triển các giao thức không là hai kỳ, ta cần các thông tin bổ xung trên cách thức mỗi  
giao dịch truy xuất CSDL. Có nhiều mô hình khác nhau về lượng thông tin được cung cấp. Mô  
hình đơn giản nhất đòi hỏi ta phải biết trước thứ tự trong đó các hạng mục dữ liệu sẽ được truy  
xuất. Với các thông tin như vậy, có thể xây dựng các giao thức chốt không là hai kỳ nhưng vẫn  
đảm bảo tính khả tuần tự xung đột.  
Để có được hiểu biết trước như vậy, ta áp đặt một thứ tự bộ phận, ký hiệu →, trên tập tất  
cả các hạng mục dữ liệu D ={ d1 , d2 , ..., dn }. Nếu di → dj , bất kỳ giao dịch nào truy xuất cả di và  
dj phải truy xuất di trước khi truy xuất dj . Thứ tự bộ phận này cho phép xem D như một đồ thị  
định hướng phi chu trình, được gọi là đồ thị CSDL (DataBase Graph). Trong phần này, để đơn  
giản, ta hạn chế chỉ xét các đồ thị là các cây và ta sẽ đưa ra một giao thức đơn giản, được gọi là  
giao thức cây (tree protocol), giao thức này hạn chế chỉ dùng các chốt exclusive.  
Trong giao thức cây, chỉ cho phép chỉ thị chốt Lock-X, mỗi giao dịch T có thể chốt một  
hạng mục dữ liệu nhiều nhất một lần và phải tuân theo các quy tắc sau:  
1. Chốt đầu tiên bởi T có thể trên bất kỳ hạng mục dữ liệu nào  
2. Sau đó, một hạng mục dữ liệu Q có thể bị chốt bởi T chỉ nếu cha của Q hiện đang  
bị chốt bởi T  
3. Các hạng mục dữ liệu có thể được tháo chốt bất kỳ lúc nào  
102  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
4. Một hạng mục dữ liệu đã bị chốt và được tháo chốt bởi T, không thể bị T chốt lại  
lần nữa.  
Các lịch trình hợp lệ trong giao thức cây là khả tuần tự xung đột.  
Ví dụ: Cây CSDL là:  
A
B
C
F
I
D
E
H
J
G
figure V- 10  
Chỉ các chỉ thị chốt và tháo chốt của các giao dịch được trình bày:  
T10 : Lock-X(B); Lock-X(E); Lock-X(D); Unlock(B); Unlock(E); Lock-X(G);  
Unlock(D); Unlock(G).  
T11 : Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).  
T12 : Lock-X(B); Lock-X(E); Unlock(B); Unlock(E).  
T13 : Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).  
figure V- 11  
Một lịch trình tuân theo giao thức cây chứa tất cả bốn giao dịch trên được cho trong hình  
bên dưới. Ta nhận thấy, các lịch trình tuân thủ giao thức cây không chỉ là khả tuần tự xung đột mà  
còn đảm bảo không có dealock. Giao thức cây có mặt thuận lợi so với giao thức hai kỳ là tháo  
chốt có thể xảy ra sớm hơn. Việc tháo chốt sớm có thể dẫn đến rút ngắn thời gian chờ đợi và tăng  
tính cạnh tranh. Hơn nữa, do giao thức là không dealock, nên không có cuộn lại. Tuy nhiên giao  
thức cây có điểm bất lợi là, trong một vài trường hợp, một giao dịch có thể phải chốt những hạng  
mục dữ liệu mà nó không truy xuất. Chẳng hạn, một giao dịch cần truy xuất các hạng mục dữ liệu  
A và J trong đồ thị CSDL trên, phải chốt không chỉ A và J mà phải chốt cả các hạng mục B, D, H.  
Việc chốt bổ xung này có thể gây ra việc tăng tổng phí chốt, tăng thời gian chờ đợi và giảm tính  
cạnh tranh. Hơn nữa, nếu không biết trước các hạng mục dữ liệu nào sẽ cần thiết phải chốt, các  
giao dịch sẽ phải chốt gốc của cây mà điều này làm giảm mạnh tính cạnh tranh.  
Đối với một tập các giao dịch, có thể có các lịch trình khả tuần tự xung đột không thể nhận  
được từ việc tuân theo giao thức cây. Có các lịch trình được sinh ra bởi tuân theo giao thức chốt  
hai kỳ nhưng không thể được sinh ra bởi tuân theo giao thức cây và ngược lại.  
103  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
T10  
T11  
T12  
T13  
Lock-X(B)  
Lock-X(D)  
Lock-X(H)  
Unlock(D)  
Lock-X(E)  
Lock-X(D)  
Unlock(B)  
Unlock(E)  
Lock-X(B)  
Lock-X(E)  
Unlock(H)  
Lock-X(G)  
Unlock(D)  
Lock-X(D)  
Lock-X(H)  
Unlock(D)  
Unlock(H)  
Unlock(E)  
Unlock(B)  
Unlock(G)  
Lịch trình khả tuần tự dưới giao thức cây  
figure V- 12  
V.1.5. ĐA HẠT (Multiple Granularity)  
Trong các sơ đồ điều khiển cạnh tranh được mô tả trước đây, ta đã sử dụng hạng mục dữ  
liệu như đơn vị trên nó sự đồng bộ hoá được thực hiện. Tuy nhiên, có các hoàn cảnh trong đó việc  
nhóm một vài hạng mục dữ liệu và xử lý chúng như một đơn vị đồng bộ hoá mang lại nhiều lợi  
ích. Nừu một giao dich Ti phải truy xuất toàn bộ CSDL và giao thức chốt được sử dụng, khi đó Ti  
phải chốt mỗi hạng mục dữ liệu trong CSDL. Như vậy việc thực hiện các chốt này sẽ tiêu tốn một  
thời gian đáng kể. Sẽ hiệu quả hơn nếu Ti chỉ cần một yêu cầu chốt để chốt toàn bộ CSDL. Mặt  
khác, nếu Ti cần truy xuất chỉ một vài hạng mục dữ liệu, nó không cần thiết phải chốt toàn bộ  
CSDL vì như vậy sẽ giảm tính cạnh tranh. Như vậy, cái mà ta cần là một cơ chế cho phép hệ  
thống xác định nhiều mức hạt. Một cơ chế như vậy là cho phép các hạng mục dữ liệu có kích cỡ  
khác nhau và xác định một sự phân cấp các hạt dữ liệu, trong đó các hạt nhỏ được ẩn náu bên  
trong các hạt lớn. Sự phân cấp như vậy có thể được biểu diễn đồ thị như một cây. Một nút không  
là lá của cây đa hạt biểu diễn dữ liệu được kết hợp với con cháu của nó. Như một ví dụ minh hoạ,  
ta xét cây sau:  
104  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
DB  
A1  
A2  
Fa  
Fb  
Fc  
Fd  
Ra1  
Ra2 ... Ran Rb1 ... Rbk  
Rc1  
Rc2 ... Rcm  
Rd1  
…
Rdq  
Phân cấp hạt  
figure V- 13  
Nó gồm bốn mức nút. Mức cao nhất là toàn bộ CSDL. Thấp hơn là các nút kiểu vùng:  
CSDL bao gồm các vùng này. Mỗi vùng lại có các nút kiểu file như các con của nó, mỗi vùng  
chứa đúng các file này và không file nào nằm trong nhiều hơn một vùng. Cuối cùng, mỗi file có  
các nút con kiểu mẩu tin, không mẩu tin nào hiện diện trong hơn một file.  
Mỗi nút trong cây có thể được chốt một các cá nhân. Như đã làm trong giao thức chốt hai  
kỳ, ta sẽ sử dụng các phương thức chốt shared và exclusive . Khi một giao dịch chốt một nút,  
trong phương thức shared hoặc exclusive, giao dịch cũng chốt tất cả các nút con cháu của nút này  
ở cùng phương thức. Ví dụ Ti chốt tường minh file Fb ở phương thức exclusive, nó đã chốt ẩn tất  
cả các mẩu tin của Fb cũng trong phương thức exclusive.  
Giả sử giao dịch Tj muốn chốt mẩu tin Rb6 của file Fb. vì giao địch Ti đã chốt tường minh  
file Fb, mẩu tin Rb6 cũng bị chốt ẩn. Song làm thế nào để hệ thống biết được Tj có thể chốt Rb6 hay  
không: Tj phải duyệt cây từ gốc đến mẩu tin Rb6 , nếu có một nút bất kỳ tren đường dẫn bị chốt ở  
phương thức không tương thích, Tj phải chờ. Bây giờ, nếu Tk muốn chốt toàn bộ CSDL, nó phải  
chốt nút gốc. Tuy nhiên, do Ti hiện đang giữ một chốt trên Fb, một bộ phận của cây, nên Tk sẽ  
không thành công. Vậy làm thế nào để hệ có thể chốt được nút gốc: Một khả năng là tìm kiếm  
trên toàn bộ cây, giải pháp này phá huỷ hoàn toàn sơ đồ mục đích của sơ đồ chốt đa hạt. Một giải  
pháp hiệu quả hơn là đưa vào một lớp mới các phương thức chốt, được gọi là phương thức chốt  
tăng cường (intension lock mode). Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường, chốt tường  
minh được tiến hành ở mức thấp hơn của cây (hạt min hơn). Chốt tăng cường được được đặt trên  
tất cả các tổ tiên của một nút trước khi nút đó được chốt tường minh. Như vậy một giao dịch  
không cần thiết phải tìm kiếm toàn bộ cây để xác định nó có thể chốt một nút thành công hay  
không. Một giao dịch muốn chốt một nút, chẳng hạn Q, phải duyệt một đường dẫn từ gốc đến Q,  
trong khi duyệt cây, giao dịch chốt các nút trên đường đi ở phương thức tăng cường.  
Có một phương thức tăng cường kết hợp với phương thức shared và một với phương thức  
exclusive. Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường shared (IS), chốt tường minh được tiến  
hành ở mức thấp hơn trong cây, nhưng chỉ là một các chốt phương thức shared. Tương tự, nếu  
một nút bị chốt ở phương thức tăng cường exclusive (IX), chốt tường minh được tiến hành ở mức  
thấp hơn với các chốt exclusive hoặc shared. Nếu một nút bị chốt ở phương thức shared và  
phương thức tăng cường exclusive (SIX), cây con có gốc là nút này bị chốt tường minh ở phương  
thức shared và chốt tường minh được tiến hành ở mức thấp hơn với các chốt exclusive. Hàm tính  
tương thích đối với các phương thức chốt này được cho bởi ma trận:  
105  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
IS  
IX  
True  
True  
S
SIX  
X
IS  
IX  
S
True  
True  
True  
True  
True  
False  
False False False  
False False  
False False False False  
False True  
SIX True  
X
False False False False False  
figure V- 14  
Giao thức chốt đa hạt dưới đây đảm bảo tính khả tuần tự. Mỗi giao địch T có thể chốt một  
nút Q theo các quy tắc sau:  
1. Hàm tương thích chốt phải được kiểm chứng  
2. Gốc của cây phải được chốt đầu tiên, và có thể được chốt ở bất kỳ phương thức nào  
3. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức S hoặc IS chỉ nếu cha của Q hiện  
đang bị chốt bởi T ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức IS.  
4. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức X, SIX hoặc IX chỉ nếu cha của Q  
hiện đang bị chốt ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức SIX  
5. T có thể chốt một nút chỉ nếu trước đó nó chưa tháo chốt một nút nào.  
6. T có thể tháo chốt một nút Q chỉ nếu không con nào của Q hiện đang bị chốt bởi T  
Ta thấy rằng giao thức đa hạt yêu cầu các chốt được tậu theo thứ tự Top-Down, được  
tháo theo thứ tự Bottom-Up.  
Ví dụ: Xét cây phân cấp hạt như trên và các giao dịch sau:  
○ Giả sử giao dịch T18 đọc mẩu tin Ra2 của file Fa. Khi đó T18 cần phải chốt DB, vùng A1  
và Fa ở phương thức IS và Ra2 ở phương thức S:  
Lock-IS(DB); Lock-IS(A1);  
Lock-IS(Fa); lock-S(Ra2)  
○ Giả sử giao dịch T19 sửa đổi mẩu tin Ra9 trong file Fa , khi đó T19 cần phải chốt CSDL,  
vùng A1 và file Fa ở phương thức IX và Ra9 ở phương thức X: Lock-IX(DB);  
Lock-IX(A1); lock-IX(Fa); lock-X(Ra9)  
○ Giả sử giao dịch T20 đọc tất cả các mẩu tin của file Fa , khi đó T20 cần phải chốt CSDL,  
và vùng A1 ở phương thức IS và chốt Fa ở phương thức S: Lock-IS(DB); Lock-  
IS(A1); Lock-S(Fa)  
○ Giả sử giao dịch T21 đọc toàn bộ CSDL, nó có thể làm điều đó sau khi chốt CSDL ở  
phương thức S: Lock-S(DB)  
Chú ý rằng T18, T20 và T21 có thể truy xuất đồng thời CSDL, giao dịch T19 có thể thực hiện  
cạnh tranh với T18 nhưng không với T20 hoặc T21  
V.2. GIAO THỨC DỰA TRÊN TEM THỜI GIAN (Timestamp-  
based protocol)  
V.2.1. TEM THỜI GIAN (Timestamp)  
Ta kết hợp với mỗi giao dịch Ti trong hệ thống một tem thời gian cố định duy nhất, được  
biểu thị bởi TS(Ti). Tem thời gian này được gán bởi hệ CSDL trước khi giao dịch Ti bắt đầu thực  
106  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
hiện. Nếu một giao dịch Ti đã được gán tem thời gian TS(Ti) và một giao dịch mới Tj đi vào hệ  
thống, khi đó TS(Ti) < TS(Tj). Có hai phương pháp đơn giản để thực hiện sơ đồ này:  
1. Sử dụng giá trị của đồng hồ hệ thống như tem thời gian: Một tem thời gian của một  
giao dịch bằng giá trị của đồng hồ khi giao dịch đi vào hệ thống.  
2. Sử dụng bộ đếm logic: bộ đếm được tăng lên mỗi khi một tem thời gian đã được  
gán, tem thời gian của một giao dịch bằng với giá trị của bộ đếm khi giao dich đi  
vào hệ thống.  
Tem thời gian của các giao dịch xác định thứ tự khả tuần tự. Như vậy, nếu TS(Ti) < TS(Tj),  
hệ thống phải đảm bảo rằng lịch trình được sinh ra là tương đương với một lịch trình tuần tự  
trong đó Ti xuất hiện trước Tj .  
Để thực hiện sơ đồ này, ta kết hợp với mỗi hạng mục dữ liệu Q hai giá trị tem thời gian:  
• W-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện  
Write(Q) thành công  
• R-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện  
Read(Q) thành công  
Các tem thời gian này được cập nhật mỗi khi một Write hoặc một Read mới được thực  
hiện.  
V.2.2. GIAO THỨC THỨ TỰ TEM THỜI GIAN (Timestamp-Ordering  
Protocol)  
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo rằng các Write và Read xung đột bất kỳ được  
thực hiện theo thứ tự tem thời gian. Giao thức này hoạt động như sau:  
1. Giả sử giao dịch Ti phát ra Read(Q).  
a. Nếu TS(Ti) < W-Timestamp(Q), Ti cần đọc một giá trị của Q đã được viết  
rồi. Do đó, hoạt động Read bị vứt bỏ và Ti bị cuộn lại.  
b. Nếu TS(Ti) ≥ W-Timestamp(Q), hoạt động Read được thực hiện và  
R-Timestamp được đặt bằng giá trị lớn nhất trong hai giá trị R-Timestamp  
và TS(Ti).  
2. Giả sử giao dịch Ti phát ra Write(Q).  
a. Nếu TS(Ti) < R-Timestamp(Q), Giá trị của Q mà Ti đang sinh ra được giả  
thiết là để được dùng cho các giao dịch đi sau nó (theo trình tự thời gian),  
nhưng nay không cần đến nũa. Do vậy, hoạt động Write này bị vứt bỏ và  
Ti bị cuộn lại  
b. Nếu TS(Ti) < W-Timestamp(Q), Ti đang thử viết một giá trị đã quá hạn  
của Q, Từ đó, hoạt động Write bị vứt bỏ và Ti bị cuộn lại  
c. Ngoài ra, hoạt động Write được thực hiện và W-Timestamp(Q) được đặt là  
TS(Ti)  
Một giao dịch Ti bị cuộn lại bởi sơ đồ điều khiển cạnh tranh như kết quả của hoạt động  
Read hoặc Write đang được phát ra, được gán với một tem thời gian mới và được tái khởi động  
lại (được xem như một giao dịch mới tham gia vào hệ thống)  
107  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
Ta xét các giao dịch T14 và T15 được xác định như dưới đây:  
T14 : Read(B);  
Read(A);  
Display(A+B);.  
T15 : Read(B);  
B:=B-50;  
Write(B);  
Read(A);  
A:=A+50;  
Write(A);  
Display(A+B).  
figure V- 15  
Ta giả thiết rằng một giao dịch được gán cho một tem thời gian ngay trước chỉ thị đầu tiên  
của nó. Như vậy, lịch trình schedule-3 dưới đây có TS(T14) < TS(T15), và là một lịch trình hợp  
lệ dưới giao thức tem thời gian:  
T14  
T15  
Read(B)  
Read(B)  
B:=B-50  
Write(B)  
Read(A)  
Read(A)  
Display(A+B)  
A:=A+50  
Write(A)  
Schedule-3  
figure V- 16  
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo tính khả tuần tự xung đột và không dealock.  
V.2.3. QUY TẮC VIẾT THOMAS (Thomas' Write rule)  
Một biến thể của giao thức tem thời gian cho phép tính cạnh tranh cao hơn giao thức thứ  
tự tem thời gian. Trước hết ta xét lịch trình schedule-4 sau:  
108  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
T16  
T17  
Read(Q)  
Write(Q)  
Write(Q)  
Schedule-4  
figure V- 17  
Nếu áp dụng giao thức thứ tự tem thời gian, ta có TS(T16) < TS(T17). Hoạt dộng  
Read(Q) của T16 và Write(Q) của T17 thành công, khi T16 toan thực hiện hoạt động Write(Q)  
của nó, vì TS(T16) < TS(T17) = W-timestamp(Q), nên Write(Q) của T16 bị vứt bỏ và giao dịch  
T16 bị cuộn lại. Sự cuộn lại này là không cần thiết. Nhận xét này cho ta một sửa đổi phiên bản  
giao thức thứ tự tem thời gian:  
Các quy tắc giao thức đối với Read không thay đổi, các quy tắc đối với Write được thay  
đổi chút ít như sau:  
Giả sử giao dịch Ti phát ra Write(Q).  
1. Nếu TS(Ti) < R-timestamp(Q), Giá trị của Q mà Ti đang sinh ra được giả thiết là  
để được dùng cho các giao dịch đi sau nó (theo trình tự thời gian), nhưng nay  
không cần đến nữa. Do vậy, hoạt động Write này bị vứt bỏ và Ti bị cuộn lại.  
2. Nếu TS(Ti) < W-timestamp(Q), Ti đang thử viết một giá trị lỗi thời của Q. Do  
vậy, hoạt động Write này có thể bị bỏ lơ (không được thực hiện, nhưng Ti không  
bị cuộn lại).  
3. Ngoài ra, hoạt động Write được thực hiện và W-timestamp(Q) được đặt là TS(Ti).  
Sự sửa đổi đối với giao thức thứ tự tem thời gian này được gọi là quy tắc viết Thomas.  
Quy tắc viết Thomas cho khả năng sinh các lịch trình khả tuần tự mà các giao thức thức trước đây  
không thể.  
V.2.4. GIAO THỨC DỰA TRÊN TÍNH HỢP LỆ  
Trong trường hợp đa số các giao dịch trong hệ thống là các giao dịch chỉ đọc (read-only),  
tỷ suất xung đột giữa các giao dịch là thấp. Như vậy nhiều giao dịch trong chúng thực hiện thiếu  
sự giám sát của sơ đồ điều khiển cạnh tranh cũng vẫn giữ cho hệ thống ở trạng thái nhất quán.  
Hơn nữa, một sơ đồ điều khiển cạnh tranh đưa vào một tổng phí đáng kể (cho thực hiện mã lệnh,  
thời gian chờ của giao dịch ...). Việc tìm một sơ đổ với tổng phí nhỏ là một mục tiêu. Nhưng khó  
khăn là ta phải biết trước những giao dịch sẽ bị dính líu vào một xung đột. Để có được các hiểu  
bét đó, ta cần một sơ đồ để giám sát hệ thống.  
Ta giả thiết rằng mỗi giao dịch Ti , trong thời gian sống của nó, thực hiện trong hai hoặc  
ba kỳ khác nhau, phụ thuộc vào nó là một giao dịch chỉ đọc hay là một giao dịch cập nhật. Các kỳ  
này, theo thứ tự, là như sau:  
1. Kỳ đọc. Trong kỳ này, các giá trị của các hạng mục dữ liệu khác nhau được đọc  
vào các biến cục bộ của Ti . Tất cả các hoạt động Write được thực hiện trên các  
biến cục bộ tạm, không cập nhật CSDL hiện hành.  
2. Kỳ hợp lệ. Giao dịch Ti thực hiện một phép kiểm thử sự hợp lệ để xác định xem  
nó có thể sao chép đến CSDL các biến cục bộ tạm chứa các kết quả của các hoạt  
Write mà không vi phạm tính khả tuần tự xung đột hay không.  
109  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
3. Kỳ viết. Nếu Ti thành công trong kỳ hợp lệ, các cập nhật hiện hành được áp dụng  
vào CSDL, nếu không Ti bị cuộn lại.  
Mỗi giao dịch phải trải qua ba kỳ theo thứ tự trên, tuy nhiên, ba kỳ của các giao dịch đang  
thực hiện cạnh tranh có thể đan xen nhau.  
Các kỳ đọc và kỳ viết tự nó đã rõ ràng. Chỉ có kỳ hợp lệ là cần thảo luận thêm. Để thực  
hiện kiểm thử sự hợp lệ, ta cần biết khi nào các kỳ khác nhau của giao dịch Ti xảy ra. Do vậy, ta  
sẽ kết hợp ba tem thời gian với giao dịch Ti :  
1. Start(Ti). Thời gian khi Ti bắt đầu sự thực hiện.  
2. Validation(Ti). Thời gian khi Ti kết thúc kỳ đọc và khởi động kỳ hợp lệ.  
3. Finish(Ti). Thời gian khi Ti kết thúc kỳ viết.  
Ta xác định thứ tự khả tuần tự bởi kỹ thuật thứ tự tem thời gian sử dụng giá trị tem thời  
gian Validation(Ti). Như vậy, giá trị TS(Ti) = Validation(Ti) và nếu TS(Tj) < TS(Tk) thì bất kỳ  
lịch trình nào được sinh ra phải tương đương với một lịch trình tuần tự trong đó giao dịch Ti xuất  
hiẹn trước giao dịch Tk . Lý dota chọn Validation(Ti) như tem thời gian của Ti , mà không chọn  
Start(Ti), là vì ta hy vọng thời gian trả lời sẽ nhanh hơn.  
Phép kiểm thử hợp lệ đối với Tj đòi hỏi rằng, đối với mỗi giao dịch Ti với TS(Ti) < TS(Tj),  
một trong các điều kiện sau phải được thoả mãn:  
1. Finish(Ti) < Start(Tj). Do Ti hoàn tất sự thực hiện của nó trước khi Tj bắt đầu,  
thứ tự khả tuần tự được duy trì.  
2. Tập các hạng mục dữ liệu được viết bởi Ti không giao với tập các hạng mục  
dữ liệu được đọc bởi Tj và Ti hoàn tất kỳ viết của nó trước khi Tj bắt đầu kỳ  
hợp lệ (Start(Tj) < Finish(Ti) < Validation(Tj)). Điều kiện này đảm bảo rằng các  
viết của Ti và Tj là không chồng chéo. Do các viết của Ti không ảnh hưởng tới đọc  
của Tj và do Tj không thể ảnh hưởng tới đọc của Ti , thứ tự khả tuần tự được duy  
trì.  
Lịch trình schedule-5 cho ta một minh hoạ về giao thức dựa trên tính hợp lệ:  
T14  
Read(B)  
T15  
Read(B)  
B:=B-50  
Read(A)  
A:=A+50  
Read(A)  
Xác nhận tính hợp lệ  
Display(A+B)  
Xác nhận tính hợp lệ  
Write(B)  
Write(A)  
figure V- 18  
110  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
Sơ đồ hợp lệ tự động canh chừng việc cuộn lại hàng loạt, do các Write hiện tại xảy ra chỉ  
sau khi giao dịch phát ra Write đã bàn giao.  
V.3. CÁC SƠ ĐỒ ĐA PHIÊN BẢN (Multiversion Schemes)  
Các sơ đồ điều khiển cạnh tranh được thảo luận trước đây đảm bảo tính khả tuần tự hoặc  
bởi làm trễ một hoạt động hoặc bỏ dở giao dịc đã phát ra hoạt động đó. Chẳng hạn, một hoạt động  
Read có thể bị làm trễ vì giá trị thích hợp còn chưa được viết hoặc nó có thể bị vứt bỏ vì giá trị  
mà nó muốn đọc đã bị viết đè rồi. Các khó khăn này có thể được che đi nếu bản sao cũ của mỗi  
hạng mục dữ liệu được giữ trong một hệ thống.  
Trong các hệ CSDL đa phiên bản, mỗi hoạt động Write(Q) tạo ra một bản mới của Q. Khi  
một hoạt động Read(Q) được phát ra, hệ thống chọn lựa một trong các phiên bản của Q để đọc.  
Sơ đồ điều khiển cạnh tranh phải đảm bảo rằng việc chọn lựa này được tiến hành sao cho tính khả  
tuần tự được đảm bảo. Do lý do hiệu năng, một giao dịch phải có khả năng xác định dễ dàng và  
mau chóng phiên bản dhạng mục dữ liệu sẽ đọc.  
V.3.1. THỨ TỰ TEM THỜI GIAN ĐA PHIÊN BẢN  
Kỹ thuật chung được dùng trong các sơ đồ đa phiên bản là tem thời gian. Ta kết hợp với  
một giao dịch một tem thời gian tĩnh duy nhất, ký hiệu TS(Ti). Tem thời gian này được gán trước  
khi khi giao dịch bắt đầu sự thực hiện. Mỗi hạng mục dữ liệu Q kết hợp với một dãy  
<Q1, Q2, ... , Qm> mỗi phiên bản Qk chứa ba trường dữ liệu:  
• Content là giá trị của phiên bản Qi  
• W-timestamp(Qk) là tem thời gian của giao dịch đã tạo ra phiên bản Qk  
• R-timestamp(Qk) là tem thời gian lớn nhất của giao dịch đã đọc thành  
công phiên bản Qk  
Một giao dịch, gọi là Ti , tạo ra phiên bản Qk của hạng mục dữ liệu Q bằng cách phát ra  
một hoạt động Write(Q). Trường Content của phiên bản chứa giá trị được viết bởi Ti . W-  
timestamp và R-timestamp được khởi động là TS(Ti). Giá trị R-timestamp được cập nhật mỗi  
khi một giao dịch Tj đọc nội dung của Qk và R-timestamp(Qk) < TS(Tj).  
Sơ đồ tem thời gian đa phiên bản dưới đây sẽ đảm bảo tính khả tuần tự. Sơ đồ hoạt động  
như sau: giả sử Tj phát ra một hoạt động Read(Q) hoặc Write(Q). Qk ký hiệu phiên bản của Q,  
tem thời gian viết của nó là tem thời gian viết lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng TS(Tj).  
1. Nếu giao dịch Tj phát ra một Read(Q), khi đó giá trị trả lại là nội dung của phiên  
bản Qk  
2. Nếu Tj phát ra một Write(Q) và nếu TS(Tj) < R-timestamp(Qk) khi đó giao dịch Tj bị  
cuộn lại. Nếu không, nếu TS(Tj) = W-timestamp(Qk) nội dung của Qk bị viết đè, khác  
đi một phiên bản mới của Q được tạo.  
Các phiên bản không còn được dùng đến nữa bị xoá đi dựa trên quy tắc sau: Giả sử có hai  
phiên bản Qi và Qj của một hạng mục dữ liệu và cả hai phiên bản này cùng có W-  
timestamp nhỏ hơn tem thời gian của giao dịch già nhất trong hệ thống, khi đó phiên bản già hơn  
trong hai phiên bản Qi và Qj sẽ không còn được dùng nữa và bị xoá đi.  
Sơ đồ thứ tự tem thời gian đa phiên bản có tính chất hay đó là một yêu cầu Read không  
bao giờ thất bại và không phải chờ đợi. Trong một hệ thống mà hoạt động Read xảy ra nhiều hơn  
Write cái lợi này là đáng kể. Tuy nhiên có vài điều bất lợi của sơ đồ này là: thứ nhất đọc một  
111  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
hạng mục dữ liệu cũng đòi hỏi cập nhật trường R-timestamp, thứ hai là xung đột giữa các giao  
dịch được giải quyết bằng cuộn lại.  
V.3.2. CHỐT HAI KỲ ĐA PHIÊN BẢN  
Giao thức chốt hai kỳ đa phiên bản cố gắng tổ hợp những ưu điểm của điều khiển cạnh  
tranh với các ưu điểm của chốt hai kỳ. Giao thức này phân biệt các giao dịch chỉ đọc và các giao  
dịch cập nhật.  
Các giao dịch cập nhật thực hiện chốt hai kỳ nghiêm khắc (các chốt được giữ đến tận khi  
kết thúc giao dịch). Mỗi hạng mục dữ liệu có một tem thời gian. Tem thời gian trong trường hợp  
này không là tem thời gian dựa trên đồng hồ thực mà là một bộ đếm, sẽ được gọi là TS-  
counter.  
Các giao dịch chỉ đọc được gán tem thời gian là giá trị hiện hành của TS-counter trước khi  
chúng bắt đầu sự thực hiện: chúng tuân theo giao thức thứ tự tem thời gian đa phiên bản để thực  
hiện đọc. Như vậy, khi một giao dịch chỉ đọc Ti phát ra một Read(Q), giá trị trả lại là nội dung  
của phiên bản mà tem thời gian của nó là tem thời gian lớn nhất nhỏ hơn TS(Ti).  
Khi một giao dịch cập nhật đọc một hạng mục, nó tậu một chốt shared trên hạng mục, rồi  
đọc phiên bản mới nhất của hạng mục (đối với nó). Khi một giao dịch cập nhật muốn viết một  
hạng mục, đầu tiên nó tậu một chốt exclusive trên hạng mục này, rồi tạo ra một phiên bản mới cho  
hạng mục. Write được thực hiện trên phiên bản mới này và tem thời gian của phiên bản mới được  
khởi động là +∞.  
Khi một giao dịch cập nhật Ti hoàn tất các hoạt động của nó, nó thực hiện xử lý bàn giao  
như sau: Đầu tiên, Ti đặt tem thời gian trên mỗi phiên bản nó đã tạo là TS-counter+1; sau đó Ti  
tăng TS-counter lên 1. Chỉ một giao dịch cập nhật được phép thực hiện xử lý bàn giao tại một thời  
điểm.  
Các phiên bản bị xoá cùng kiểu cách với thứ tự tem thời gian đa phiên bản.  
V.4. QUẢN TRỊ DEADLOCK  
Một hệ thống ở trạnh thái deadlock nếu tồn tại một tập hợp các giao dịch sao cho mỗi giao  
dịch trong tập hợp đang chờ một giao dịch khác trong tạp hợp. Chính xác hơn, tồn tại một tập các  
giao dịch { T0 , T2 , ..., Tn } sao cho T0 đang chờ một hạng mục dữ liệu được giữ bởi T1 , T1 đang  
chờ một hạng mục dữ liệu đang bị chiếm bởi T2 , ..., Tn-1 đang chờ một hạng mục dữ liệu được giữ  
bởi Tn và Tn đang chờ một hạng mục T0 đang chiếm. Không một giao dịch nào có thể tiến triển  
được trong tình huống như vậy. Một cách chữa trị là viện dẫn một hành động tẩy rửa, chẳng hạn  
cuộn lại một vài giao dịch tham gia vào deadlock.  
Có hai phương pháp chính giải quyết vấn đề deadlock: Ngăn ngừa deadlock, phát hiện  
deadlock và khôi phục. Giao thức ngăn ngừa deadlock đảm bảo rằng hệ thống sẽ không bao giờ đi  
vào trạng thái deadlock. Sơ đồ phát hiện deadlock và khôi phục (deadlock-detection and  
deadlock-recovery scheme) cho phép hệ thống đi vào trạng thái deadlock và sau đó cố gắng khôi  
phục. Cả hai phương pháp đều có thể dẫn đến việc cuộn lại giao dịch. Phòng ngừa deadlock  
thường được sử dụng nếu xác suất hệ thống đi vào deadlock cao, phát hiện và khôi phục hiệu quả  
hơn trong các trường hợp còn lại.  
V.4.1. PHÒNG NGỪA DEADLOCK (Deadlock prevention)  
Có hai cách tiếp cận phòng ngừa deadlock: Một đảm bảo không có chờ đợi vòng tròn xảy  
ra bằng cách sắp thứ tự các yêu cầu chốt hoặc đòi hỏi tất cả các chốt được tậu cùng nhau. Một  
112  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
cách tiếp cận khác gần hơn với khắc phục deadlock và thực hiện cuộn lại thay vì chờ đợi một  
chốt. Chờ đợi là tiểm ẩn của deadlock.  
Sơ đồ đơn giản nhất dưới cách tiếp cận thứ nhất đòi hỏi mỗi giao dịch chốt tất cả các hạng  
mục dữ liệu trước khi nó bắt đầu thực hiện. Hơn nữa, hoặc tất cả được chốt trong một bước hoặc  
không hạng mục nào được chốt. Giao thức này có hai bất lợi chính: một là khó dự đoán, trước khi  
giao dịch bắt đầu, các hạng mục dữ liệu nào cần được chốt, hai là hiệu suất sử dụng hạng mục dữ  
liệu rất thấp do nhiều hạng mục có thể bị chốt nhưng không được sử dụng trong một thời gian dài.  
Sơ đồ phòng ngừa deadlock khác là áp đặt một thứ tự bộ phận trên tất cả các hạng mục dữ  
liệu và yêu cầu một giao dịch chốt một hạng mục dữ liệu theo thứ tự được xác định bởi thứ tự bộ  
phận này.  
Cách tiếp cận thứ hai để phòng ngừa deadlock là sử dụng ưu tiên và cuộn lại quá trình.  
Với ưu tiên, một giao dịch T2 yêu cầu một chốt bị giữ bởi giao dịch T1 , chốt đã cấp cho T1 có thể  
bị lấy lại và cấp chgo T2 , T1 bị cuộn lại. Để điều khiển ưu tiên, ta gán một tem thời gian duy nhất  
cho mỗi giao dịch. Hệ thống sử dụng các tem thời gian này để quyết định một giao dịch phải chờ  
hay cuộn lại. Việc chốt vẫn được sử dụng để điều khiển cạnh tranh. Nếu một giao dịch bị cuộn lại,  
nó vẫn giữ tem thời gian cũ của nó khi tái khởi động. Hai sơ đồ phòng ngừa deadlock sử dụng tem  
thời gian khác nhau được đề nghị:  
1. Sơ đồ Wait-Die dựa trên kỹ thuật không ưu tiên. Khi giao dịch Ti yêu cầu một hạng  
mục dữ liệu bị chiếm bởi Tj , Ti được phép chờ chỉ nếu nó có tem thời gian nhỏ hơn  
của Tj nếu không Ti bị cuộn lại (die).  
2. Sơ đồ Wound-Wait dựa trên kỹ thuật ưu tiên. Khi giao dịch Ti yêu cầu một hạng mục  
dữ liệu hiện đang bị giữ bởi Tj , Ti được phép chờ chỉ nếu nó có tem thời gian lớn hơn  
của Tj , nếu không Tj bị cuộn lại (Wounded).  
Một điều quan trọng là phải đảm bảo rằng, mỗi khi giao dịch bị cuộn lại, nó không bị chết  
đói (starvation) có nghĩa là nó sẽ không bị cuộn lại lần nữa và được phép tiến triển.  
Cả hai sơ đồ Wound-Wait và Wait-Die đều tránh được sự chết đói: tại một thời điểm, có  
một giao dịch với tem thời gian nhỏ nhất. Giao dịch này không thể bị yêu cầu cuộn lại trong cả  
hai sơ đồ. Do tem thời gian luôn tăng và do các giao dịch không được gán tem thời gian mới khi  
chúng bị cuộn lại, một giao dịch bị cuộn lại sẽ có tem thời gian nhỏ nhất (vào thời gian sau) và sẽ  
không bị cuộn lại lần nữa.  
Tuy nhiên, có những khác nhau lớn trong cách thức hoạt động của hai sơ đồ:  
• Trong sơ đồ Wait-Die, một giao dịch già hơn phải chờ một giao dịch trẻ hơn giải  
phóng hạng mục dữ liệu. Như vậy, giao dịch già hơn có xu hướng bị chờ nhiều hơn.  
Ngược lại, trong sơ đồ Wound-Wait, một giao dịch già hơn không bao giờ phải  
chờ một giao dịch trẻ hơn.  
• Trong sơ đồ Wait-Die, nếu một giao dịch Ti chết và bị cuộn lại vì nó đòi hỏi một  
hạng mục dữ liệu bị giữ bởi giao dịch Tj , khi đó Ti có thể phải tái phát ra cùng dãy  
các yêu cầu khi nó khởi động lại. Nếu hạng mục dữ liệu vẫn bị chiếm bởi Tj , Ti bị  
chết lần nữa. Như vậy, Ti có thể bị chết vài lần trước khi tậu được hạng mục dữ liệu  
cần thiết. Trong sơ đồ Wound-Wait, Giao dịch Ti bị thương và bị cuộn lại do Tj  
yêu cầu hạng mục dữ liệu nó chiếm giữ. Khi Ti khởi động lại, và yêu cầu hạng mục  
dữ liệu, bây giờ, đang bị Tj giữ, Ti chờ. Như vậy, có ít cuộn lại hơn trong sơ đồ  
Wound-Wait.  
Một vấn đề nổi trội đối với cả hai sơ đồ là có những cuộn lại không cần thiết vẫn xảy ra.  
113  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU  
V.4.2. SƠ ĐỒ DỰA TRÊN TIMEOUT  
Một cách tiếp cận khác để quản lý deadlock được dựa trên lock timeout. Trong cách tiếp  
cận này, một giao dịch đã yêu cầu một chốt phải chờ nhiều nhất một khoảng thời gian xác định.  
Nếu chốt không được cấp trong khoảng thời gian này, giao dịch được gọi là mãn kỳ (time out),  
giao dịch tự cuộn lại và khởi động lại. Nếu có một deadlock, một hoặc một vài giao dịch dính líu  
đến deadlock sẽ time out và cuộn lại, để các giao dịch khác tiến triển. Sơ đồ này nằm trung gian  
giữa phòng ngừa deadlock và phát hiện và khôi phục deadlock.  
Sơ đồ timeout dễ thực thi và hoạt động tốt nếu giao dịch ngắn và nếu sự chờ đợi lâu là do  
deadlock. Tuy nhiên, khó quyết định được khoảng thời gian timeout. Sơ đồ này cũng có thể đưa  
đến sự chết đói.  
V.4.3. PHÁT HIỆN DEADLOCK VÀ KHÔI PHỤC  
Nếu một hệ thống không dùng giao thức phòng ngừa deadlock, khi đó sơ đồ phát hiện và  
khôi phục phải được sử dụng. Một giải thuật kiểm tra trạng thái của hệ thống được gọi theo một  
chu kỳ để xác định xem deadlock có xẩy ra hay không. Nếu có, hệ thống phải khôi phục lại từ  
deadlock, muốn vậy hệ thống phải:  
• Duy trì thông tin về sự cấp phát hiện hành các hạng mục dữ liệu cho các giao dịch  
cũng như các yêu cầu hạng mục dữ liệu chưa được chưa được giải quyết.  
• Cung cấp một thuật toán sử dụng các thông tin này để xác định hệ thống đã đi vào  
trạng thái deadlock chưa.  
• Phục hồi từ deadlock khi phát hiện được deadlock đã xảy ra.  
V.4.3.1 PHÁT HIỆN DEADLOCK  
Deadlock có thể mô tả chính xác bằng đồ thị định hướng được gọi là đồ thị chờ (wait for  
graph). Đồ thị này gồm một cặp G = < V, E >, trong đó V là tập các đỉnh và E là tập các cung.  
Tập các đỉnh gồm tất cả các giao dịch trong hệ thống. Mỗi phần tử của E là một cặp Ti → Tj , nó  
chỉ ra rằng Ti chờ Tj giải phóng một hạng mục dữ liệu nó cần.  
Khi giao dịch Ti yêu cầu một hạng mục dữ liệu đang bị giữ bởi giao dịch Tj khi đó  
cung Ti → Tj được xen vào đồ thị. Cạnh này bị xoá đi chỉ khi giao dịch Tj không còn giữ hạng  
mục dữ liệu nào mà Ti cần.  
Deadlock tồn tại trong hệ thống nếu và chỉ nếu đồ thị chờ chứa một chu trình. Mỗi giao  
dịch tham gia vào chu trình này được gọi là bị deadlock. Để phát hiện deadlock, hệ thống phải  
duy trì đồ thị chờ và gọi theo một chu kỳ thủ tục tìm kiếm chu trình. Ta xét ví dụ sau:  
T26  
T28  
T25  
T27  
Đồ thị chờ (phi chu trình)  
figure V- 19  
114  
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH  
Trang  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang baolam 26440 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hệ quản trị cơ sở dữ liệu - Chương V: Điều khiển cạnh tranh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_he_quan_tri_co_so_du_lieu_chuong_v_dieu_khien_can.pdf