Giáo trình Tin học lý thuyết - Chương V: Văn phạm phi ngữ cảnh
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Chương V
VĂN PHẠM PHI NGỮ CẢNH
Nội dung chính : Trong chương này, ta sẽ nghiên cứu một loại văn phạm khá quan
trọng, gọi là văn phạm phi ngữ cảnh (CFG) và lớp ngôn ngữ mà chúng mô tả - ngôn
ngữ phi ngữ cảnh (CFL). CFL, cũng như tập hợp chính quy, có nhiều ứng dụng thực
tế rất quan trọng, đặc biệt trong việc biểu diễn ngôn ngữ lập trình. Chẳng hạn, CFG
dùng hữu ích để mô tả các biểu thức số học trong các dấu ngoặc lồng nhau hay những
cấu trúc khối trong ngôn ngữ lập trình (cấu trúc khối begin-end). Sau khi định nghĩa
văn phạm phi ngữ cảnh, một số cách biến đổi văn phạm phi ngữ cảnh nhằm giản lược
nó và đưa nó về một trong những dạng chuẩn sẽ được trình bày. Cuối chương, bổ đề
bơm cho ngôn ngữ CFL và một số tính chất nhằm xác định tập ngôn ngữ này cũng sẽ
được giới thiệu.
Mục tiêu cần đạt: Cuối chương, sinh viên cần phải nắm vững:
¾ Khái niệm CFG, xác định các thành phần của một CFG.
¾ Nhận dạng được lớp ngôn ngữ mà một văn phạm CFG đặc tả.
¾ Xây dựng các luật sinh cho một CFG đặc tả một lớp ngôn ngữ.
¾ Các bước giản lược văn phạm CFG không chứa các giá trị vô ích.
¾ Chuẩn hóa CFG về các dạng chuẩn Chomsky hoặc Greibach.
¾ Ứng dụng bổ đề bơm cho CFL để chứng tỏ một ngôn ngữ không là ngôn
ngữ phi ngữ cảnh.
¾ Xác định một ngôn ngữ có thuộc lớp ngôn ngữ phi ngữ cảnh hay không theo
các tính chất của CFL.
¾ Kiểm tra tính rỗng, hữu hạn hoặc vô hạn của một CFL.
Kiến thức cơ bản: Để tiếp thu tốt nội dung của chương này, trước hết sinh viên cần
hiểu rõ cấu trúc cú pháp của một số ngôn ngữ lập trình cấp cao như Pascal, C; nắm
vững lý thuyết đồ thị và cây; phương pháp chứng minh phản chứng và sự phân cấp
các lớp văn phạm theo Noam Chomsky; …
Tài liệu tham khảo :
[1] John E. Hopcroft, Jeffrey D.Ullman – Introduction to Automata Theory,
Languages and Computation – Addison – Wesley Publishing Company, Inc –
1979 (Chapter 4 : Context – Free Grammars).
[2] V.J. Rayward-Smith – A First course in Formal Language Theory (Second
Editor) – McGraw-Hill Book Company Europe – 1995 (Chapter 5: Context-Free
Languages )
62
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
[3] From Wikipedia, the free encyclopedia – Context-Free Grammar:
I. VĂN PHẠM PHI NGỮ CẢNH (CFG : Context Free
Grammar)
Xuất xứ của văn phạm phi ngữ cảnh là sự mô tả thông qua các ngôn ngữ tự nhiên. Ta
có thể viết các quy tắc cú pháp để diễn tả câu “An là sinh viên giỏi“ như sau :
< câu đơn > → < chủ ngữ > < vị ngữ >
< chủ ngữ > → < danh từ >
< vị ngữ > → < động từ > < bổ ngữ >
< bổ ngữ > → < danh từ > < tính từ >
< danh từ > → An
< danh từ > → sinh viên
< động từ > → là
< tính từ > → giỏi
Các từ trong dấu móc nhọn như < câu đơn >, < chủ ngữ >, < vị ngữ >, ... là các phạm
trù cú pháp, cho ta vai trò của các bộ phận hợp thành câu. Ta thấy một câu sinh ra qua
các bước triển khai dần dần theo các quy tắc cú pháp. Đây cũng chính là dạng của các
luật sinh trong văn phạm phi ngữ cảnh. Và như vậy, văn phạm phi ngữ cảnh cũng có
thể chọn làm mô hình cho các văn phạm của các ngôn ngữ tự nhiên.
Tuy nhiên, trong khoa học máy tính, với nhu cầu biểu diễn các ngôn ngữ lập trình,
văn phạm phi ngữ cảnh CFG còn được thiết kế thành một dạng tương đương gọi là
văn phạm BNF (Backus - Naur Form). Đây cũng là văn phạm CFG với những thay
đổi nhỏ về dạng thức và một số ký hiệu viết tắt mà các nhà khoa học máy tính thường
ứng dụng trong việc diễn tả cú pháp của các ngôn ngữ lập trình cấp cao (như
ALGOL, PASCAL, ... ). Trong dạng thức của văn phạm BNF, ký hiệu ::= được dùng
thay cho ký hiệu →. Chẳng hạn, để định nghĩa một biểu thức số học (expression) bao
gồm các danh biểu (identifier) tham gia vào các phép toán +, * hoặc biểu thức con
lồng trong dấu ngoặc đơn , ta viết :
<expression> ::= <expression> + <expression>
<expression> ::= <expression> * <expression>
<expression> ::= ( <expression> )
<expression> ::= <identifier>
Việc nghiên cứu các văn phạm phi ngữ cảnh đã tạo nên một cơ sở lý luận vững chắc
cho việc biểu diễn ngôn ngữ lập trình, việc tìm kiếm các giải thuật phân tích cú pháp
vận dụng trong chương trình dịch và cho nhiều ứng dụng khác về xử lý chuỗi. Chẳng
hạn, nó rất hữu ích trong việc mô tả các biểu thức số học với nhiều dấu ngoặc lồng
nhau hoặc cấu trúc khối trong ngôn ngữ lập trình mà biểu thức chính quy không thể
đặc tả.
63
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
1.1. Định nghĩa
Văn phạm phi ngữ cảnh là một tập hợp hữu hạn các biến (còn gọi là các ký hiệu chưa
kết thúc), mỗi biến biểu diễn một ngôn ngữ. Ngôn ngữ được biểu diễn bởi các biến
được mô tả một cách đệ quy theo thuật ngữ của một khái niệm khác gọi là ký hiệu kết
thúc. Quy tắc quan hệ giữa các biến gọi là luật sinh. Mỗi luật sinh có dạng một biến ở
vế trái sinh ra một chuỗi có thể gồm biến lẫn các ký hiệu kết thúc trong văn phạm.
Văn phạm phi ngữ cảnh (CFG) là một hệ thống gồm bốn thành phần, ký hiệu là văn
phạm G (V, T, P, S), trong đó :
. V là tập hữu hạn các biến (hay ký tự chưa kết thúc)
. T là tập hữu hạn các ký tự kết thúc, V ∩ T = ∅
. P là tập hữu hạn các luật sinh mà mỗi luật sinh có dạng A → α với A là biến
và α là chuỗi các ký hiệu ∈ (V ∪ T)*
. S là một biến đặc biệt gọi là ký hiệu bắt đầu văn phạm.
Thí dụ 5.1 : Văn phạm G ({S, A, B}, {a, b}, P, S ), trong đó P gồm các luật sinh sau:
S → AB
A → aA
A → a
B → bB
B → b
Quy ước ký hiệu:
- Các chữ in hoa A, B, C, D, E, ... và S ký hiệu các biến (S thường được dùng
làm ký hiệu bắt đầu ).
- Các chữ nhỏ a, b, c, d, e, ...; các chữ số và một số ký hiệu khác ký hiệu cho
các ký hiệu kết thúc.
- Các chữ in hoa X, Y, Z là các ký hiệu có thể là ký hiệu kết thúc hoặc biến.
- Các chữ Hi-lạp α, β, γ, ... biểu diễn cho chuỗi các ký hiệu kết thúc và biến.
Ta sẽ biểu diễn văn phạm một cách tóm tắt bằng cách chỉ liệt kê các luật sinh của nó.
Nếu A → α1, A → α2 , ... , A → αk là các luật sinh của biến A trong văn phạm nào
đó, ta sẽ ghi ngắn gọn là A → α1 | α2 | ... | αk
Thí dụ 5.2 : Văn phạm trong Thí dụ 5.1 trên có thể viết gọn là :
S → AB
A → aA | a
B → bB | b
Câu hỏi :
Bạn nghĩ gì về lớp ngôn ngữ có thể được sinh bởi văn phạm trong ví dụ trên ? Cơ
chế nào có thể được sử dụng cho văn phạm để phát sinh ngôn ngữ ?
64
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
1.2. Dẫn xuất và ngôn ngữ
Dẫn xuất: Để định nghĩa ngôn ngữ sinh bởi văn phạm CFG G (V, T, P, S), ta dẫn
nhập khái niệm dẫn xuất. Trước hết ta giới thiệu hai quan hệ ⇒G và ⇒* giữa hai
G
chuỗi trong tập (V ∪ T)*. Nếu A → β là một luật sinh trong văn phạm và α, γ là hai
chuỗi bất kỳ trong tập (V ∪ T)* thì αAγ ⇒G αβγ, hay ta còn nói luật sinh A → β áp
dụng vào chuỗi αAγ để thu được chuỗi αβγ, nghĩa là αAγ sinh trực tiếp αβγ trong
văn phạm G. Hai chuỗi gọi là quan hệ nhau bởi ⇒G nếu chuỗi thứ hai thu được từ
chuỗi thứ nhất bằng cách áp dụng một luật sinh nào đó.
Giả sử α1, α2, ..., αm là các chuỗi thuộc (V ∪ T)* với m ≥ 1 và :
α1 ⇒G α2, α2 ⇒G α3, …, αm -1 ⇒G αm
thì ta nói α1⇒* αm hay α1 dẫn xuất ra αm trong văn phạm G.
G
Như vậy, ⇒* là bao đóng phản xạ và bắc cầu của ⇒G. Nói cách khác, α ⇒* β nếu
G
G
β được dẫn ra từ α bằng không hoặc nhiều hơn các luật sinh của P. Chú ý rằng α ⇒*
α với mọi chuỗi α.
G
Thông thường nếu không có nhầm lẫn ta sẽ dùng các ký hiệu ⇒ và ⇒* thay cho ký
hiệu ⇒G và ⇒* . Nếu α dẫn ra β bằng i bước dẫn xuất thì ta ký hiệu α ⇒i β.
G
Ngôn ngữ sinh bởi văn phạm phi ngữ cảnh
Cho văn phạm CFG G(V, T, P, S), ta định nghĩa :
L(G) = {w⏐w ∈ T * và S ⇒* w}
G
Nghĩa là, một chuỗi thuộc L(G) nếu:
1) Chuỗi gồm toàn ký hiệu kết thúc.
2) Chuỗi được dẫn ra từ ký hiệu bắt đầu S.
Ta gọi L là ngôn ngữ phi ngữ cảnh (CFL) nếu nó là L(G) với một CFG G nào đó.
Chuỗi α gồm các ký hiệu kết thúc và các biến, được gọi là một dạng câu sinh từ G
nếu S ⇒*α. Hai văn phạm G1, G2 được gọi là tương đương nếu L(G1) = L(G2)
Thí dụ 5.3 : Xét văn phạm G (V, T, P, S), trong đó :
V = {S}, T = {a, b}, P = {S → aSb, S → ab}.
Bằng cách áp dụng luật sinh thứ nhất n -1 lần và luật sinh thứ hai 1 lần, ta có:
S ⇒ aSb ⇒ aaSbb ⇒ a3Sb3 ⇒ ... ⇒ an-1bn-1 ⇒ anbn
Vậy, L(G) chứa các chuỗi có dạng anbn, hay L(G) = {anbn | n ≥ 1}.
1.3. Cây dẫn xuất
Để dễ hình dung sự phát sinh ra các chuỗi trong văn phạm phi ngữ cảnh, ta thường
diễn tả một chuỗi dẫn xuất qua hình ảnh một cây. Một cách hình thức, ta định nghĩa
như sau:
65
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Định nghĩa : Cho văn phạm G (V, T, P, S). Cây dẫn xuất (hay cây phân tích cú pháp)
của G được định nghĩa như sau :
i) Mỗi nút (đỉnh) có một nhãn, là một ký hiệu ∈ (V ∪ T ∪ {ε})
ii) Nút gốc có nhãn là ký hiệu bắt đầu S.
iii) Nếu nút trung gian có nhãn A thì A ∈ V
iv) Nếu nút n có nhãn A và các đỉnh n1, n2, ..., nk là con của n theo thứ tự từ
trái sang phải có nhãn lần lượt là X1, X2, ..., Xk thì A → X1X2 ... Xk là một luật sinh
trong tập luật sinh P.
v) Nếu nút n có nhãn là từ rỗng ε thì n phải là nút lá và là nút con duy nhất của
nút cha của nó.
Thí dụ 5.4 : Xét văn phạm G ({S, A}, {a, b}, P, S), trong đó P gồm:
S → aAS | a
A → SbA | SS | ba
Một cây dẫn xuất từ văn phạm có dạng như hình 5.1 sau :
Ta thấy, nút 1 có nhãn S và các con của nó lần lượt là a, A, S (chú ý S → aAS là một
luật sinh). Tương tự, nút 3 có nhãn A và các con của nó là S, b, A (từ luật sinh A →
SbA). Nút 4, 5 có cùng nhãn S và có nút con nhãn a (luật sinh S → a). Cuối cùng nút
7 có nhãn A và có các nút con b, a (luật sinh A → ba).
Trên cây dẫn xuất, nếu ta đọc các lá theo thứ tự từ “trái sang phải“ thì ta có một dạng
câu trong G. Ta gọi chuỗi này là chuỗi sinh bởi cây dẫn xuất.
1
2
5
9
3
6
4
7
8
11
10
Hình 5.1 - Cây dẫn xuất từ văn phạm
Một cây con (subtree) của cây dẫn xuất có nút gốc nhãn là A còn được gọi là A-cây
con (hoặc A-cây). Cây con cũng giống như cây dẫn xuất, chỉ khác là nhãn của nút gốc
không nhất thiết phải là ký hiệu bắt đầu S.
66
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Thí dụ 5.5 : Xét văn phạm và cây dẫn xuất trong Hình 5.1. Đọc các lá theo thứ tự từ
trái sang phải ta có chuỗi aabbaa, trong trường hợp này tất cả các lá đều là ký hiệu
kết thúc, nhưng nói chung cũng không bắt buộc như thế, lá có thể có nhãn là ε hoặc
biến. Ta thấy dẫn xuất S ⇒* aabbaa bằng chuỗi dẫn xuất :
S ⇒ aAS ⇒ aSbAS ⇒ aabAS ⇒ aabbaS ⇒ aabbaa
A-cây có nút đỉnh là 3 tạo ra chuỗi con abba theo chuỗi dẫn xuất :
S ⇒ SbA⇒ abA ⇒ abba
Câu hỏi :
Các cây dẫn xuất được sinh từ những chuỗi dẫn xuất khác nhau cho cùng một
chuỗi nhập có là những cây dẫn xuất khác nhau không ?
1.4. Quan hệ giữa dẫn xuất và cây dẫn xuất
ĐỊNH LÝ 5.1 : Nếu G (V, T, P, S) là một văn phạm phi ngữ cảnh thì S ⇒* α nếu
và chỉ nếu có cây dẫn xuất trong văn phạm sinh ra α.
Chứng minh
Ta chứng minh rằng với biến A bất kỳ, A ⇒*α nếu và chỉ nếu có một A-cây sinh ra α.
Nếu: Giả sử α được sinh bởi A-cây, ta chứng minh quy nạp theo số nút trung
gian của cây dẫn xuất rằng A ⇒*α.
Nếu có 1 nút trung gian thì cây phải có dạng như hình sau :
Khi đó X1X2 ... Xn là chuỗi α và A → α là một luật sinh trong P theo định nghĩa cây
dẫn xuất.
A
X1
X2
Xn
. . .
Hình 5.2(a) - A-cây với một nút trong
Giả sử kết quả đúng tới k -1 nút trung gian ( k > 1)
Ta chứng minh kết quả cũng đúng với k nút.
Xét α được sinh ra bởi A-cây có k nút trung gian. Rõ ràng các nút con của nút
gốc không phải tất cả đều là lá, ta gọi chúng từ trái sang phải là X1, X2, ..., Xn thì
chắc chắn rằng A → X1X2 ... Xn là một luật sinh. Xét nút Xi bất kỳ :
- Nếu Xi không là nút lá thì Xi phải là một biến và Xi - cây con sẽ sinh ra một
chuỗi αi nào đó.
- Nếu Xi là nút lá, ta đặt αi = Xi. Dễ thấy rằng nếu j < i thì các αj ở bên trái
αj, do vậy chuỗi đọc từ lá vẫn có dạng α = α1α2 ... αn. Mỗi Xi - cây con phải có ít nút
67
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
trung gian hơn cây ban đầu, vì thế theo giả thiết quy nạp, với mỗi đỉnh i không phải
là lá thì Xi ⇒*αi.
Vậy A ⇒ X1X2 ... Xn ⇒* α1X2 ... Xn ⇒* α1α2X3 ... Xn ⇒* ... ⇒* α1α2 ... αn = α
Hay ta có A ⇒* α . Chú ý rằng đây chỉ là một trong nhiều cách dẫn xuất ra α.
Chỉ nếu : Ngược lại, giả sử A ⇒* α ta cần chỉ ra một A - cây sinh ra α.
Nếu A ⇒* α bằng một bước dẫn xuất thì A → α là một luật sinh trong P và có
cây dẫn xuất sinh ra α như trong hình trên.
Giả sử kết quả đúng tới k-1 bước dẫn xuất
Xét A ⇒* α bằng k bước dẫn xuất, gọi bước đầu tiên là A → X1X2 ... Xn.
Rõ ràng, một ký hiệu trong α phải được dẫn ra từ một biến Xi nào đó. Vì vậy,
ta có thể viết α = α1α2 ... αn, trong đó mỗi 1 ≤ i ≤ n thoả mãn :
- αi = Xi nếu Xi là ký hiệu kết thúc.
- Xi ⇒* αi nếu Xi là một biến.
Nếu Xi là biến thì dẫn xuất của αi từ Xi phải có ít hơn k bước. Vì vậy, theo giả
thiết quy nạp ta có Xi - cây sinh ra αi, đặt cây này là Ti
Bây giờ ta dựng A - cây có n lá X1X2 ... Xn. Mỗi Xi không là ký hiệu kết thúc ta
thay bằng cây Ti tương ứng. Cuối cùng, ta có cây dẫn xuất sinh ra có dạng như sau :
A
. . .
X1
X2
T2
X3
T3
Xn-1
Xn
Tn
Hình 5.2(b) - A-cây
Thí dụ 5.6 : Xét chuỗi dẫn xuất S ⇒* aabbaa cho văn phạm ở Thí dụ 5.4.
Bước đầu tiên trong dẫn xuất đó là S → aAS. Theo dõi các bước suy dẫn sau đó, ta
thấy biến A được thay bởi SbA, rồi trở thành abA và cuối cùng thành abba, đó chính
là kết quả của cây T2 (A - cây). Còn biến S thì được thay bởi a và đó là kết quả của
cây T3 (S -cây). Ghép nối lại, ta được cây dẫn xuất mà kết quả là chuỗi aabbaa như
dưới đây.
S
A
S
a
a
S
A
S
b
A
T2
T3
A
b
a
T2
T3
68
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
[
Hình 5.3 - Ghép nối các cây dẫn xuất
1.5. Dẫn xuất trái nhất, dẫn xuất phải nhất
Nếu tại mỗi bước dẫn xuất, luật sinh được áp dụng vào biến bên trái nhất thì ta gọi đó
là dẫn xuất trái nhất (leftmost) hay dẫn xuất trái. Tương tự, nếu biến bên phải nhất
được thay thế ở mỗi bước dẫn xuất, đó là dẫn xuất phải nhất (rightmost) hay dẫn xuất
phải. Nếu chuỗi w ∈ L(G) với CFG G thì w sẽ có ít nhất một cây dẫn xuất ra nó và
tương ứng với các cây này, w chỉ có duy nhất một dẫn xuất trái nhất và duy nhất một
dẫn xuất phải nhất. Dĩ nhiên, w có thể có nhiều dẫn xuất trái (phải) nhất vì nó có thể
có nhiều cây dẫn xuất.
Thí dụ 5.7 : Xét cây dẫn xuất ở Hình 5.1
. Dẫn xuất trái nhất của cây :
S ⇒ aAS ⇒ aSbAS ⇒ aabAS ⇒ aabbaS ⇒ aabbaa.
. Dẫn xuất phải nhất tương ứng là :
S ⇒ aAS ⇒ aAa ⇒ aSbAa ⇒ aSbbaa ⇒ aabbaa.
1.6. Văn phạm mơ hồ
Một văn phạm phi ngữ cảnh G có nhiều hơn một cây dẫn xuất cho cùng một chuỗi w,
thì G được gọi là văn phạm mơ hồ (ambiguity). Dĩ nhiên, cũng có thể nói rằng văn
phạm G là mơ hồ nếu có một chuỗi w được dẫn ra từ ký hiệu bắt đầu S với hai dẫn
xuất trái hoặc hai dẫn xuất phải.
Thí dụ 5.8 : Xét văn phạm G với các luật sinh như sau :
E → E + E | E * E | ( E ) | a
Văn phạm này sinh ra các chuỗi biểu thức số học với 2 phép toán + và * . Với
chuỗi a + a * a, ta có thể vẽ đến hai cây dẫn xuất khác nhau như sau :
69
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
(a)
(b)
Hình 5.4 - Các cây dẫn xuất khác nhau cho cùng chuỗi nhập
Điều này có nghĩa là biểu thức a + a * a có thể hiểu theo hai cách khác nhau: thực
hiện phép cộng trước hay phép nhân trước ? Để khắc phục sự mơ hồ này, ta có thể :
- Hoặc quy định rằng các phép cộng và nhân luôn luôn được thực hiện theo thứ
tự từ trái sang phải (trừ khi gặp ngoặc đơn). Ta viết văn phạm G1 không mơ hồ tương
đương như sau :
E → E + T | E * T | T
T → ( E ) | a
- Hoặc quy định rằng khi không có dấu ngoặc đơn ngăn cách thì phép nhân
luôn luôn được ưu tiên hơn phép cộng. Ta viết văn phạm G2 không mơ hồ tương
đương như sau :
E → E + T | T
T → T * F | F
F → ( E ) | a
II. GIẢN LƯỢC CÁC VĂN PHẠM PHI NGỮ CẢNH
Thường thì một văn phạm phi ngữ cảnh có thể còn chứa đựng một vài yếu tố thừa, vô
ích. Chẳng hạn như theo các đặc tính trên, có những ký hiệu không thực sự tham gia
vào quá trình dẫn xuất ra câu, hoặc sẽ có những luật sinh dạng A → B làm kéo dài
chuỗi dẫn xuất một cách không cần thiết. Vì vậy, việc giản lược văn phạm phi ngữ
cảnh là nhằm loại bỏ những yếu tố vô ích đó mà không làm giảm bớt khả năng sản
sinh ngôn ngữ của văn phạm.
Nếu L là một CFL, nó có thể tạo ra văn phạm CFG với các đặc tính sau :
1) Mỗi biến và mỗi ký hiệu kết thúc của G đều xuất hiện trong dẫn xuất của
một số chuỗi trong L.
2) Không có luật sinh nào dạng A → B, mà trong đó A, B đều là biến.
Hơn nữa, nếu ε ∉ L thì không cần luật sinh A → ε. Thực tế, nếu ε ∉ L, ta có mọi luật
sinh trong G đều có một trong hai dạng :
A → BC
A → a
hoặc
A → aα
(α là chuỗi các biến hoặc ε)
Hai dạng đặc biệt này gọi là dạng chuẩn Chomsky và dạng chuẩn Greibach.
2.1. Các ký hiệu vô ích
70
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Một ký hiệu X gọi là có ích nếu có một dẫn xuất S ⇒* αXβ ⇒* w với các chuỗi α, β
bất kỳ và w ∈ T *. Ngược lại X gọi là vô ích.
Vậy, có 2 đặc điểm cho ký hiệu có ích:
- X phải dẫn ra một chuỗi ký hiệu kết thúc.
- X phải nằm trong dẫn xuất từ S.
Tuy nhiên 2 dấu hiệu trên không đủ để đảm bảo X có ích vì X có thể nằm
trong dạng câu chứa một biến nhưng từ đó không có ký hiệu kết thúc được sinh ra.
BỔ ĐỀ 1: (Dùng loại bỏ các biến không dẫn ra chuỗi ký hiệu kết thúc)
Cho CFG G (V, T, P, S) với L(G) ≠ ∅, có một CFG G’ (V’, T’, P’, S) tương
đương sao cho mỗi A ∈ V’ tồn tại w ∈ T* để A ⇒* w.
Chứng minh
Mỗi biến A với luật sinh A → w trong P thì rõ ràng A ∈ V’. Nếu A → X1X2 ... Xn là
một luật sinh, trong đó mỗi Xi hoặc là ký hiệu kết thúc hoặc là một biến đã có sẵn
trong V’ thì một chuỗi các ký hiệu kết thúc có thể được dẫn ra từ A bằng dẫn xuất bắt
đầu A ⇒ X1X2 ... Xn, vì vậy A ∈ V’. Tập V’ có thể tính được bằng cách lặp lại giải
thuật trên. P’ là tập tất cả các luật sinh mà các ký hiệu của nó thuộc V’ ∪ T.
Giải thuật tìm V' như sau:
Begin
(1) OLDV:= ∅;
(2) NEWV:= {A | A → w với w ∈ T *};
(3) While OLDV ≠ NEWV do
begin
(4)
(5)
OLDV := NEWV;
NEWV := OLDV ∪ {A | A → α với α ∈ (T ∪ OLDV)*}
end;
(6) V' := NEWV;
end;
Rõ ràng rằng nếu biến A được thêm vào V’ tại bước (2) hoặc (5) thì A sẽ dẫn ra được
chuỗi ký hiệu kết thúc. Ta chứng minh rằng nếu A dẫn ra được một chuỗi ký hiệu kết
thúc thì A được thêm vào tập NEWV.
Dùng chứng minh quy nạp theo độ dài của dẫn xuất A ⇒* w.
Nếu độ dài bằng 1 thì A → α là một luật sinh trong P. Vậy A được đưa vào V’
tại bước (2).
Giả sử kết quả đúng tới k -1 bước dẫn xuất ( k >1)
Nếu A ⇒ X1X2 ... Xn ⇒* w bằng k bước thì ta có thể viết w = w1w2 ... wn, trong
đó Xi ⇒* wi, với 1 ≤ i ≤ n bằng ít hơn k bước dẫn xuất. Theo giả thiết quy nạp thì các
71
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
biến Xi này được thêm vào V’. Khi Xi cuối cùng được thêm vào V’ thì vòng lặp (3) vẫn
tiếp tục lặp một lần nữa và A sẽ được thêm vào V’ tại (5).
Ta chứng minh L(G’) = L(G) :
Chọn V’ là tập hợp tại (6) và P' là tập tất cả các luật sinh mà các ký hiệu của
nó thuộc (V’ ∪ T) thì chắc chắn rằng có tồn tại văn phạm G’ (V’, T, P’, S) thoả mãn
tính chất: nếu A ∈ V’ thì A ⇒* w với w nào đó thuộc T *. Hơn nữa, mỗi luật sinh của
P’ đều là luật sinh của P nên ta có L(G’) ⊆ L(G).
Ngược lại giả sử một từ w ∈ L(G) - L(G’) thì một dẫn xuất bất kỳ của w phải
liên quan đến các biến thuộc V – V’ hoặc luật sinh thuộc P – P’ (các dẫn xuất này
đưa ra các biến thuộc V – V’), nhưng do không có biến nào trong V – V’ dẫn đến
chuỗi kết thúc, điều này dẫn đến mâu thuẫn.
Vậy L(G’) = L(G).
Hay có thể nói 2 ngôn ngữ được cho từ 2 văn phạm G và G’ là tương đương
nhau, hay nói cách khác: nếu có một văn phạm G thì luôn luôn có một văn phạm G’
tương ứng mà trong đó mỗi biến của G’ đều cho ra ký hiệu kết thúc.
BỔ ĐỀ 2: (Dùng loại bỏ các biến không được dẫn ra từ ký hiệu bắt đầu văn phạm)
Nếu G (V, T, P, S) là CFG thì ta có thể tìm được CFG G’ (V’, T’, P’, S) tương
đương sao cho mỗi X ∈ V’ ∪ T’ tồn tại α, β ∈ (V’ ∪ T’)* để S ⇒* αXβ.
Chứng minh
Tập V’ ∪ T’ gồm các ký hiệu xuất hiện trong dạng câu của G được xây dựng bởi giải
thuật lặp như sau :
. Đặt V’ = {S}; T’ = ∅;
. Nếu A ∈ V’ và A → α1| α2 | ... | αn là các luật sinh trong P thì thêm tất cả các
biến của α1, α2, ... , αn vào V’ và các ký hiệu kết thúc của α1, α2 ,..., αn vào T’.
. Lặp lại giải thuật cho đến khi không còn biến hoặc ký hiệu kết thúc nào được
thêm vào nữa.
Dễ thấy, X ∈ V’ ∪ T’ thì tồn tại α, β ∈ (V’ ∪ T’)* để S ⇒* αXβ, trong đó P’ là tập
hợp tất cả các luật sinh của P chỉ chứa các ký hiệu thuộc (V’ ∪ T’).
Ta dễ dàng chứng minh L(G’) = L(G) .
ĐỊNH LÝ 5.2: Mỗi ngôn ngữ phi ngữ cảnh (CFL) không rỗng được sinh ra từ
một văn phạm phi ngữ cảnh (CFG) không có ký hiệu vô ích.
Chứng minh
Đặt L = L(G) là CFL không rỗng.
Đặt G1 là kết quả của việc áp dụng bổ đề 1 vào G và G2 là kết quả của việc áp
dụng bổ đề 2 vào G1.
72
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Giả sử G2 có ký hiệu vô ích là X. Theo bổ đề 2 ta có S ⇒*G2 αXβ. Vì tất cả các
ký hiệu trong G2 đều có trong G1 nên theo bổ đề 1: S ⇒* αXβ ⇒* w với w là
G1
G1
chuỗi ký hiệu kết thúc. Vì vậy không có ký hiệu nào trong dẫn xuất αXβ ⇒* w bị
G1
loại bỏ bởi bổ đề 2, vậy X dẫn ra ký hiệu kết thúc trong G2 . Suy ra X là ký hiệu có
ích (mâu thuẫn).
Vậy văn phạm G2 không có ký hiệu vô ích nào.
Thí dụ 5.9 : Xét văn phạm có các luật sinh sau :
S → AB | a
A → a
Áp dụng bổ đề 1, ta thấy không có ký hiệu kết thúc được nào dẫn ra từ B nên
ta loại bỏ B và luật sinh S → AB. Tiếp tục, áp dụng bổ đề 2 cho văn phạm :
S → a
A → a
Ta thấy chỉ có S xuất hiện trong dạng câu. Vậy ({S}, {a}, {S → a}, S) là văn
phạm tương đương với văn phạm đã cho và không có ký hiệu vô ích.
Câu hỏi :
Bạn hãy cho nhận xét về thứ tự áp dụng Bổ đề 1 và Bổ đề 2 trong quá trình loại
bỏ các ký hiệu vô ích trong văn phạm ?
2.2. Luật sinh ε
Một luật sinh có dạng A → ε gọi là luật sinh ε.
Ta xét đến việc loại bỏ các luật sinh này. Nếu ε ∈ L(G) thì không thể loại được tất cả
các luật sinh ε, nhưng nếu ε ∉ L(G) thì có thể. Phương pháp loại bỏ dựa trên việc xác
định liệu một biến A có dẫn xuất A ⇒* ε hay không ? Nếu có, ta gọi A là biến rỗng
(nullable). Ta có thể thay thế mỗi luật sinh B → X1X2 ... Xn bằng tất cả các luật sinh
được định dạng bởi việc xóa bỏ tập hợp con các biến Xi rỗng, nhưng không bao gồm
luật sinh B → ε, ngay cả khi tất cả các Xi đều là biến rỗng.
ĐỊNH LÝ 5.3 : Nếu L = L(G) với CFG G (V, T, P, S) thì L - { ε } là L(G’) với
CFG G’ không có ký hiệu vô ích và không có luật sinh ε.
Chứng minh
Ta có thể xác định tập hợp các biến rỗng (nullable) của G bằng giải thuật lặp như sau
: Bắt đầu, nếu A → ε là một luật sinh thì A là biến rỗng. Kế tiếp, nếu B → α, trong đó
α gồm toàn các ký hiệu là các biến rỗng đã được tìm thấy trước đó thì B cũng là biến
rỗng. Lặp lại cho đến khi không còn biến rỗng nào được tìm thấy nữa.
73
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Tập luật sinh P’ được xây dựng như sau : Nếu A → X1X2 ... Xn là một luật sinh trong
P thì ta thêm tất cả các luật sinh A → α1α2 ... αn vào P’ với điều kiện :
1) Nếu Xi không là biến rỗng thì αi = Xi;
2) Nếu Xi là biến rỗng thì αi là Xi hoặc ε;
3) Không phải tất cả αi đều bằng ε.
Đặt G’’ = (V, T, P’, S). Ta sẽ chứng minh rằng với mọi A ∈ V và w ∈ T *, A ⇒*G’’ w
nếu và chỉ nếu w ≠ ε và A ⇒* w.
G
Nếu: Đặt A ⇒ i w và w ≠ ε, ta chứng minh quy nạp rằng A ⇒*G’’ w.
G
Nếu i = 1 ta có A → w là một luật sinh trong P, và vì w ≠ ε nên luật sinh này
cũng thuộc P’.
Giả sử kết quả đúng tới i - 1 (i >1)
Xét A ⇒G X1X2 ...Xn ⇒ i -1G w. Ta viết w = w1w2 ...wn sao cho ∀j, Xj ⇒*wj.
Nếu wj ≠ ε và Xj là biến thì theo giả thiết quy nạp, ta có Xj ⇒* wj (vì dẫn
G’’
xuất Xj ⇒* wj có ít hơn i bước). Nếu wj = ε thì Xj là biến rỗng, vậy A → β1β2 ...βn là
một luật sinh trong P', trong đó βj = Xj nếu wj ≠ ε và βj = ε nếu wj = ε.
Vì w ≠ ε nên không phải tất cả βj là ε. Vậy, ta có dẫn xuất :
A ⇒ β1β2 ...βn ⇒* w1β2 ...βn ⇒* w1w2β3 ...βn ⇒* ... ⇒* w1w2 ...wn = w trong
G’’.
Chỉ nếu: Giả sử A ⇒ iG’’ w. Chắc chắn rằng w ≠ ε vì G’’ không có luật sinh ε.
Ta quy nạp theo i rằng A ⇒ G w.
Nếu i = 1: Ta thấy A → w là một luật sinh trong P’, do đó cũng phải có luật
sinh A → w trong P sao cho bằng việc loại bỏ các ký hiệu rỗng trong α, ta có w. Vậy,
có tồn tại dẫn xuất A ⇒ G α ⇒* w, trong đó α ⇒* w liên quan đến các dẫn xuất ε từ
G
các biến rỗng của α mà chúng ta đã loại bỏ khỏi w.
Giả sử kết quả đúng tới i - 1 (i >1)
Xét A ⇒G’’ X1X2 ... Xn ⇒ i - 1G’’ w. Phải có luật sinh A → β trong P sao cho X1X2
... Xn tìm được khi loại bỏ các biến rỗng của β. Vậy A ⇒* X1X2 ...Xn (chứng minh
G
tương tự như ở trên). Ta viết w = w1w2 ...wn sao cho ∀j ta có Xj ⇒ *G’’ wj (bằng ít hơn
i bước). Theo giả thiết quy nạp Xj ⇒ *G’’ wj nếu Xj là biến. Nếu Xj là ký hiệu kết thúc
thì wj = Xj và Xj ⇒ *G wj là hiển nhiên. Vậy A ⇒ *G w.
Cuối cùng ta áp dụng bổ đề 2 vào G’’ ta thu được G’ không có ký hiệu vô ích.
Vì bổ đề 1 và bổ đề 2 không đưa ra thêm luật sinh mới nào nên G’ không có chứa ký
hiệu là biến rỗng hay ký hiệu vô ích.
Hơn nữa S ⇒ *G’ w nếu và chỉ nếu S ⇒ * w. Vậy L(G’) = L(G) - {ε}.
G
Thí dụ 5.10 : Loại bỏ luật sinh ε trong văn phạm sau :
S → AB
A → aA | ε
B → bB | ε
Trước hết, ta xác định tập các biến rỗng trong văn phạm: A, B là các biến rỗng vì có
các luật sinh A → ε và B → ε. S cũng là biến rỗng vì có luật sinh S → AB với A, B
đều là các biến rỗng.
74
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
⇒ Tập biến rỗng Nullable = {A, B, S}
Theo quy tắc xây dựng tập luật sinh P’ trong định lý , ta có tập luật sinh mới như sau :
S → AB | A | B
A → aA | a
B → bB | b
Lưu ý rằng văn phạm mới G’ không sản sinh ra ε, trong khi G lại có sinh ra từ rỗng ε.
Vậy muốn có một văn phạm thực sự tương đương với văn phạm G thì ta phải bổ sung
thêm luật sinh S → ε vào tập luật sinh của G’. Ta có, văn phạm G’ tương đương G.
2.3. Luật sinh đơn vị
Một luật sinh có dạng A → B với A, B đều là biến gọi là luật sinh đơn vị.
ĐỊNH LÝ 5.4 : Mỗi CFL không chứa ε được sinh ra bởi CFG không có ký hiệu
vô ích, luật sinh ε hoặc luật sinh đơn vị .
Chứng minh
Đặt L là CFL không chứa ε và L = L(G) với G (V, T, P, S) là một CFG nào đó.
Theo định lý 3 ta có thể giả sử G không có luật sinh ε. Xây dựng tập hợp mới P’ gồm
các luật sinh từ P như sau:
Đầu tiên đưa các luật sinh không là luật sinh đơn vị vào P’.
Sau đó, nếu có luật sinh đơn vị dạng A ⇒* B với A, B ∈ V thì thêm vào P’ tất
cả các luật sinh dạng A → α, với B→ α không phải là luật sinh đơn vị của P.
Chú ý rằng ta có thể dễ dàng kiểm tra có hay không A ⇒ *G B vì G không có luật sinh
ε và nếu A ⇒ G B1 ⇒ G B2 ... ⇒ G Bm ⇒ G B (trong đó một vài biến nào đó có thể xuất
hiện 2 lần) thì ta có thể tìm một chuỗi rút ngắn hơn A ⇒ * B, vì vậy ta chỉ xét các
G
luật sinh đơn vị không có biến lặp lại.
Bây giờ ta sửa lại văn phạm G’ (V, T, P’, S). Chắc chắn rằng nếu A → α là một luật
sinh trong P’ thì A ⇒ * α. Vậy nếu có dẫn xuất trong G’ thì có dẫn xuất trong G. Giả
G
sử rằng w ∈ L(G). Xét dẫn xuất trái của w trong G:
S ⇒ G α0 ⇒ G α1 ⇒ G ... ⇒ G αn = w.
Nếu 0 ≤ i < n thì nếu trong G có αi ⇒ G αi+1 bằng luật sinh không là luật sinh đơn vị
thì trong G’ cũng có αi ⇒ G’ αi+1 không là luật sinh đơn vị. Giả sử αi ⇒ G αi+1 bằng
luật sinh đơn vị, nhưng bước dẫn xuất trước đó αi - 1 ⇒ αi không phải bằng luật sinh
đơn vị hoặc i = 0. Và chuỗi dẫn xuất trong G từ αi + 1 ⇒ G αi + 2 ⇒ G ... ⇒ G αj tất cả
đều bằng luật sinh đơn vị, còn từ αj ⇒ G αj+1 không là luật sinh đơn vị thì ta thấy tất
cả các αi, αi+1, …, αj sẽ có cùng độ dài và vì chuỗi dẫn xuất là dẫn xuất trái nên các
ký hiệu thay thế phải ở cùng một vị trí. Do vậy, tại vị trí này αj ⇒ G αj+1 bằng một
luật sinh nào đó thuộc P’- P hay có nghĩa là một luật sinh không thuộc văn phạm G.
Điều này sinh ra mâu thuẫn. Vậy L(G) = L(G’).
75
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Ta còn có G’ không có chứa luật sinh đơn vị (theo chứng minh trên) nên G
cũng sẽ không chứa luật sinh đơn vị (do G ⇔ G’).
Việc áp dụng bổ đề 1, bổ đề 2 để loại các ký hiệu vô ích không đưa ra thêm
luật sinh nào chứng tỏ G không chứa ký hiệu vô ích.
Vậy, kết quả ta được một văn phạm thỏa điều kiện định lý.
Thí dụ 5.11 : Loại bỏ các luật sinh đơn vị trong văn phạm sau :
E → E + T | T
T → T * F | F
F → ( E ) | a
Gọi tập ΔA = {B | A ⇒ * B}, xét các biến trong văn phạm, ta có :
Δ E = { E, T, F }
Δ T = { T, F }
Δ F = { F }
Vậy tập luật sinh mới, theo định lý sẽ chứa các luật sinh không là luật sinh đơn
vị trong P, bổ sung thêm các luật sinh mới thay cho luật sinh đơn vị như sau :
E → E + T | T * F | ( E ) | a
T → T * F | ( E ) | a
F → ( E ) | a
III. CHUẨN HÓA VĂN PHẠM PHI NGỮ CẢNH
Phần này sẽ giới thiệu hai định lý dùng chuẩn hóa CFG về một trong hai dạng chuẩn
Chomsky và Greibach.
3.1. Dạng chuẩn Chomsky - CNF (Chomsky Normal Form)
ĐỊNH LÝ 5.5 : (Dạng chuẩn Chomsky, hay CNF )
Một ngôn ngữ phi ngữ cảnh bất kỳ không chứa ε đều được sinh ra bằng một văn
phạm nào đó mà các luật sinh có dạng A → BC hoặc A → a, với A, B, C là biến
còn a là ký hiệu kết thúc.
Chứng minh
Đặt G là CFG sinh ra CFL không chứa ε. CFG tương đương có dạng chuẩn Chomsky
có thể xây dựng từ G theo giải thuật sau :
Bước 1 : Thay thế tất cả các luật sinh có độ dài vế phải bằng 1 (luật sinh đơn
vị dạng A → B, với A, B là biến )
76
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Theo định lý 4.4, ta có thể tìm được CFG tương đương G1(V, T, P, S) không
có luật sinh đơn vị và luật sinh ε. Vậy nếu luật sinh mà vế phải chỉ có một ký hiệu thì
đó phải là ký hiệu kết thúc và luật sinh này là luật sinh có dạng đúng trong định lý.
Bước 2 : Thay thế các luật sinh có độ dài vế phải >1 và có chứa ký hiệu kết
thúc.
Xét luật sinh trong P có dạng A → X1X2 ... Xm (m >1). Nếu Xi là ký hiệu kết
thúc a thì ta đưa thêm một biến mới Ca và luật sinh mới Ca → a. Thay thế Xi bởi Ca,
gọi tập các biến mới là V’ và tập luật sinh mới là P’.
Xét CFG G2 (V’, T, P’, S). Nếu α ⇒ G1 β thì α ⇒*G2 β. Vậy L(G1) ⊆ L(G2). Ta
chứng minh quy nạp theo số bước dẫn xuất rằng nếu A ⇒*G2 w, với A ∈ V và w ∈ T*
thì A ⇒*G1 w.
Kết quả hiển nhiên với 1 bước dẫn xuất.
Giả sử kết quả đúng tới k bước dẫn xuất.
Xét A ⇒*G2 w bằng k +1 bước dẫn xuất.
Bước đầu tiên có dạng A → B1B2 ... Bm (m > 1). Ta có thể viết w = w1w2 ...wm
trong đó Bi ⇒*G2 wi, 1 ≤ i ≤ m. Nếu Bi là ký hiệu kết thúc ai nào đó thì wi là ai. Theo
cách xây dựng P’ ta có luật sinh A → X1X2 ... Xm của P trong đó Xi = Bi nếu Bi ∈V và
Xi = ai nếu Bi ∈V’- V. Với Bi ∈ V, ta đã biết rằng có dẫn xuất Bi ⇒*G1 wi bằng ít hơn
k bước, do vậy theo giả thiết quy nạp Xi ⇒*G1 wi. Vậy A ⇒*G1 w.
Ta đã có kết quả là một CFL bất kỳ được sinh ra từ một CFG mà mỗi luật
sinh có dạng A → a hoặc A → B1B2 ... Bm (m ≥ 2) với A, B1, ... ,Bm là các biến và a là
ký hiệu kết thúc. Ta sửa G2 bằng cách thêm vào P’ một số luật sinh.
Bước 3 : Thay thế các luật sinh có độ dài vế phải > 2 ký hiệu chưa kết thúc.
Xét luật sinh trong P’có dạng A → B1B2 ... Bm (m > 2) . Ta thay bằng tập hợp
các luật sinh :
A → B1D1
D1 → B2D2
...
Dm - 3 → Bm - 2Dm - 2
Dm - 2 → Bm - 1Bm
Đặt V’’ là tập các biến mới, P’’ là tập các luật sinh mới và văn phạm mới G3
(V’’, T, P’’, S). Ta có G3 chứa các luật sinh thoả mãn định lý.
Hơn nữa, nếu A ⇒* β thì A ⇒* β, vậy L(G2) ⊆ L(G3). Ngược lại cũng
G2
G3
đúng tức là, L(G3) ⊆ L(G2). Chúng ta cũng đã có L(G2) ⊆ L(G1) và L(G1) ⊆ L(G2).
Vậy G3 là văn phạm thoả mãn dạng chuẩn CNF.
Thí dụ 5.12 : Tìm văn phạm có dạng CNF tương đương văn phạm sau :
S → A | ABA
A → aA | a | B
B → bB | b
Bước 1 :
Thay thế các luật sinh có độ dài vế phải = 1 (luật sinh đơn vị)
Gọi tập ΔA = {B | A ⇒ * B }, xét các biến trong văn phạm, ta có :
Δ S = { S, A, B }
77
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Δ A = { A, B}
Δ B = { B }
Vậy tập luật sinh mới, theo định lý sẽ chứa các luật sinh không là luật sinh đơn
vị trong P, bổ sung thêm các luật sinh mới thay cho luật sinh đơn vị như sau :
S → aA | a | bB | b | ABA
A → aA | a | bB | b
B → bB | b
Bước 2 :
Thay thế các luật sinh có độ dài vế phải > 1 và có chứa ký hiệu kết thúc.
Ta thấy, a và b đều xuất hiện ở vế phải một số luật sinh, do đó ta tạo thêm 2
biến mới Ca, Cb và 2 luật sinh mới Ca → a và Cb → b.
Văn phạm tương đương có tập luật sinh như sau :
S → CaA | a | CbB | b | ABA
A → CaA | a | CbB | b
B → CbB | b
Ca → a
Cb → b
Bước 3 :
Thay thế các luật sinh có độ dài vế phải > 2
Chỉ còn duy nhất một luật sinh cần xét ở bước này : S → ABA và tập luật sinh
mới được thay thế có dạng như sau :
S → CaA | a | CbB| b | AD
1
A → CaA | a | CbB| b
B → CbB| b
Ca → a
C → b
b
D → BA
1
Cuối cùng, ta sẽ thu được văn phạm có dạng chuẩn Chomsky như trên tương
đương với văn phạm đã cho.
3.2. Dạng chuẩn Greibach GNF (Greibach Normal Form)
Ta gọi luật sinh với biến A ở bên trái là A - luật sinh.
BỔ ĐỀ 3 : (Dùng thay thế các luật sinh trực tiếp)
Cho G (V, T, P, S) là một CFG, đặt A → α1Bα2 là luật sinh trong P và B → β1 |
β2 | ... | βr là các B - luật sinh; văn phạm G1 (V, T, P1, S) thu được từ G bằng
cách loại bỏ luật sinh A → α1Bα2 và thêm vào luật sinh A → α1β1α2 | α1β2α2 | ... |
α1βrα2 thì L(G) = L(G1)
Chứng minh
. Hiển nhiên L(G1) ⊆ L(G) vì nếu A → α1βiα2 được dùng trong dẫn xuất của
G1 thì ta dùng A ⇒G α1Bα2 ⇒G α1βiα2
78
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
. Để chỉ ra L(G) ⊆ L(G1) ta cần chú ý rằng A → α1Bα2 là luật sinh trong P - P1
(có trong G và không có trong G1). Bất cứ khi nào luật sinh A → α1Bα2 được dùng
trong dẫn xuất của G thì phải viết lại tại bước sau đó dùng luật sinh dạng B → βi. Hai
bước dẫn xuất này có thể được thay thế bằng một bước dẫn xuất duy nhất, hay :
A → α1Bα2
A ⇒G1 α1βiα2
⇔
B → βi
Vậy L(G) = L(G1)
BỔ ĐỀ 4 : (Dùng loại bỏ luật sinh dạng đệ quy trái trong văn phạm)
Đặt G (V, T, P, S) là CFG; A → Aα1 | Aα2 | ... | Aαr là tập các A - luật sinh có A
là ký hiệu trái nhất của vế phải (luật sinh đệ quy trái). Đặt A → β1 | β2 | ... | βs là
các A - luật sinh còn lại; G1 (V ∪ {B}, T, P1, S) là CFG được tạo thành bằng cách
thêm biến mới B vào V và thay các A - luật sinh bằng các luật sinh dạng:
1)
A → βi
A → βi B
B → αi
B → αi B
với 1 ≤ i ≤ s
với 1 ≤ i ≤ r
2)
thì L(G) = L(G1).
Chứng minh
Trong một chuỗi dẫn xuất trái, một chuỗi luật sinh dạng A → Aαi phải kết
thúc bằng A → βj. Tức là:
A ⇒ Aαi1 ⇒ Aαi2αi1 ⇒ ... ⇒ Aαipαip-1…αi1 ⇒ βjαipαip-1…αi1
Chuỗi dẫn xuất trong G có thể thay bằng chuỗi dẫn xuất trong G1 bởi :
A ⇒ βj B⇒ βj αipB ⇒ βjαipαip-1…B ⇒ ... ⇒ βjαipαip-1…αi2B
⇒ βjαipαip-1…αi1.
Sự chuyển đổi ngược lại cũng có thể được.
Vậy L(G) = L(G1).
ĐỊNH LÝ 5.6 : (Dạng chuẩn Greibach, hay GNF )
Mỗi CFL bất kỳ không chứa ε được sinh ra bởi một CFG mà mỗi luật sinh có
dạng A → aα với A là biến, a là một ký hiệu kết thúc, và α là một chuỗi các biến
(có thể rỗng).
Chứng minh
Bước 1: Đặt G là CFG sinh ra CFL không chứa ε. Xây dựng văn phạm tương
đương G’ có dạng chuẩn Chomsky.
Bước 2: Đổi tên các biến trong tập của G’ thành A1, A2, ..., Am (m ≥ 1) với A1
là ký hiệu bắt đầu. Đặt V = {A1, A2, ..., Am}.
79
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Bước 3: Thay thế các luật sinh sao cho nếu Ai → Ajγ là một luật sinh thì j > i
Bắt đầu từ A1 và tiến tới Am, ta thay thế các Ak - luật sinh :
Nếu Ak → Ajγ là luật sinh với j < k: sinh ra một tập luật sinh mới bằng cách
thay thế Aj bên vế phải của mỗi Aj - luật sinh theo bổ đề 3. Lặp lại không quá k - 1 lần
ta thu được tập luật sinh dạng Ak → Alγ với l ≥ k.
Sau đó, các luật sinh với l = k được thay thế theo bổ đề 4 bằng cách đưa vào
các biến mới Bk.
Giải thuật cụ thể như sau:
Begin
(1) For k := 1 to m do begin
(2) for j := 1 to k-1 do
(3)
for Mỗi luật sinh dạng Ak → Ajα do
begin
(4)
(5)
(6)
for Tất cả luật sinh Aj → β do
Thêm luật sinh Ak → βα;
Loại bỏ luật sinh Ak → Ajα
end;
(7) for Mỗi luật sinh dạng Ak → Akα do
begin
(8)
(9)
Thêm các luật sinh Bk → α và Bk → αBk;
Loại bỏ luật sinh Ak → Akα
end;
(10) for Mỗi luật sinh Ak → β trong đó β không bắt đầu bằng Ak do
(11) Thêm luật sinh Ak → βBk
end;
end;
Bằng cách lặp lại bước xử lý trên cho mỗi biến nguồn, trong P chỉ chứa các
luật sinh có dạng như sau :
1) Ai → Ajγ
với j > i
với a ∈ T
γ ∈ (V ∪ {B1, B2 , ..., Bi - 1})*
2) Ai → aγ
3) Bk → γ
Bước 4: Thay thế các Ai - luật sinh về đúng dạng.
Gọi V’ là tập biến mới phát sinh sau bước 3.
Chú ý rằng ký hiệu trái nhất của vế phải trong một luật sinh bất kỳ đối với biến
Am phải là một ký hiệu kết thúc, vì Am là biến có chỉ số cao nhất. Ký hiệu trái nhất
của vế phải của một Am-1- luật sinh bất kỳ phải là Am hoặc một ký hiệu kết thúc. Nếu
là Am, ta tạo ra tập luật sinh mới bằng cách thay thế Am bởi chuỗi vế phải của các Am-
luật sinh theo bổ đề 3. Tiếp tục quá trình này cho các luật sinh từ Am-2, ..., A2, A1 cho
tới khi vế phải của tất cả các Ai - luật sinh có dạng bắt đầu bằng một ký hiệu kết thúc.
Bước 5: Thay thế các Bk -luật sinh về đúng dạng.
Bước cuối cùng, ta khảo sát các luật sinh với tập các biến mới B1, B2, ..., Bm.
80
Chương V : Văn phạm phi ngữ cảnh
Vì ta bắt đầu từ văn phạm đã có dạng chuẩn Chomsky, nên dễ dàng chứng
minh quy nạp theo số lần áp dụng bổ đề 3 và bổ đề 4 rằng vế phải của mỗi Ai -luật
sinh, với 1 ≤ i ≤ n, bắt đầu bằng ký hiệu kết thúc hoặc AjAk với j, k nào đó. Vậy α
(trong bước (7)) không khi nào có thể rỗng hoặc bắt đầu bằng một Bj khác, hay tất cả
Bi - luật sinh đều có vế phải bắt đầu bằng ký hiệu kết thúc hoặc Ai. Một lần nữa, lại
áp dụng bổ đề 3 cho mỗi Bi - luật sinh.
Ta thu được tập luật sinh trong văn phạm sau cùng thỏa đúng dạng chuẩn
Greibach.
Thí dụ 5.13 : Tìm văn phạm có dạng GNF tương đương văn phạm G sau :
A1 → A2A1 | A2A3
A2 → A3A1 | a
A3 → A2A2 | b
Bước 1 :
Bước 2 :
Bước 3 :
G thỏa dạng chuẩn CNF sinh ra CFL không chứa ε
Ta có V = {A1, A2, ..., A3}
Thay thế các luật sinh sao cho nếu Ai → Aj γ là một luật sinh thì j > i.
Ta thấy trong tập luật sinh, các luật sinh cho A1 và A2 đã thỏa điều kiện j > i.
Chỉ có luật sinh A3 → A2A2 cần sửa đổi. Áp dụng bổ đề 3 để thay thế luật sinh này, ta
có:
A3 → A3A1A2 | aA2
Sau đó, dùng bổ đề 4 để loại bỏ đệ quy trái, ta được tập luật sinh mới có dạng
như sau :
A1 → A2A1 | A2A3
A2 → A3A1 | a
A3 → aA2 | b | aA2B | bB
B → A1A2 | A1A2 B
Thay thế các Ai -luật sinh về đúng dạng.
Bước 4 :
Ở bước này, ta có thể thấy tất cả các A3 - luật sinh đã có dạng chuẩn. Tiếp tục,
áp dụng bổ đề 3 để thay thế các A3 - luật sinh vào A2, A1, thu được tập luật sinh mới
như sau:
A1 → aA2A1A1 | bA1A1 | aA2BA1A1 | bBA1A1 | aA1|
aA2A1A3 | bA1A3 | aA2BA1A3 | bBA1A3 | aA3
A2 → aA2A1 | bA1 | aA2BA1| bBA1| a
A3 → aA2 | b | aA2B | bB
B → A1A2 | A1A2 B
Bước 5 : Thay thế các Bk - luật sinh về đúng dạng.
B → aA2A1A1A2 | bA1A1A2 | aA2BA1A1A2 | bBA1A1A2 | aA1A2
| aA2A1A3A2 | bA1A3A2 | aA2BA1A3A2 | bBA1A3A2 | aA3A2
| aA2A1A1A2B | bA1A1A2B | aA2BA1A1A2B | bBA1A1A2B | aA1A2 B
| aA2A1A3A2B | bA1A3A2B | aA2BA1A3A2B | bBA1A3A2B | aA3A2B
Cuối cùng, ta thu được văn phạm có dạng GNF với 39 luật sinh.
81
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tin học lý thuyết - Chương V: Văn phạm phi ngữ cảnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_tin_hoc_ly_thuyet_chuong_v_van_pham_phi_ngu_canh.pdf

