Tài liệu Mạng máy tính (Computer Networks)

Mạng máy tính (Computer Networks)  
Về cơ bản, một mạng máy tính là một số các máy tính được nối kết với nhau theo một cách  
nào đó. Khác với các trạm truyền hình chỉ gửi thông tin đi, các mạng máy tính luôn hai  
chiều, sao cho khi máy tính A gửi thông tin tới máy tính B thì B có thể trả lời lại cho A.  
Nói một cách khác, một số máy tính được kết nối với nhau và có thể trao đổi thông tin cho  
nhau gọi là mạng máy tính.  
Từ nhiều máy tính riêng rẽ, độc lập với nhau, nếu ta kết nối chúng lại thành mạng máy tính  
thì chúng có thêm những ưu điểm sau:  
•
•
Nhiều người có thể dùng chung một phần mềm tiện ích.  
Một nhóm người cùng thực hiện một đề án nếu nối mạng họ sẽ dùng chung dữ liệu của  
đề án, dùng chung tệp tin chính (master file) của đề án, họ trao đổi thông tin với nhau dễ  
dàng.  
•
Dữ liệu được quản lý tập trung nên an toàn hơn, trao đổi giữa những người sử dụng  
thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn.  
•
•
Có thể dùng chung thiết bị ngoại vi hiếm, đắt tiền (máy in, máy vẽ,...).  
Người sử dụng trao đổi với nhau thư tín dễ dàng (E-Mail) và có thể sử dụng hệ mạng  
như là một công cụ để phổ biến tin tức, thông báo về một chính sách mới, về nội dung  
buổi họp, về các thông tin kinh tế khác như giá cả thị trường, tin rao vặt (muốn bán hoặc  
muốn mua một cái gì đó), hoặc sắp xếp thời khoá biểu của mình chen lẫn với thời khoá  
biểu của những người khác,...  
•
•
Một số người sử dụng không cần phải trang bị máy tính đắt tiền (chi phí thấp mà chức  
nǎng lại mạnh).  
Mạng máy tính cho phép người lập trình ở một trung tâm máy tính này có thể sử dụng  
các chương trình tiện ích của một trung tâm máy tính khác đang rỗi, sẽ làm tǎng hiệu  
quả kinh tế của hệ thống.  
•
Rất an toàn cho dữ liệu và phần mềm vì phần mềm mạng sẽ khoá các tệp tin (files) khi  
có những người không đủ quyền hạn truy xuất các tệp tin và thư mục đó.  
Phân loại mạng máy tính theo phạm vi địa lý  
Mạng máy tính có thể phân bổ trên một vùng lãnh thổ nhất định và có thể phân bổ trong  
phạm vi một quốc gia hay quốc tế.  
Dựa vào phạm vi phân bổ của mạng người ta có thể phân ra các loại mạng như sau:  
•
•
GAN (Global Area Network) kết nối máy tính từ các châu lục khác nhau. Thông thường  
kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông và vệ tinh.  
WAN (Wide Area Network) - Mạng diện rộng, kết nối máy tính trong nội bộ các quốc gia  
hay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục. Thông thường kết nối này được thực  
hiện thông qua mạng viễn thông. Các WAN có thể được kết nối với nhau thành GAN hay  
tự nó đã là GAN.  
•
•
MAN (Metropolitan Area Network) kết nối các máy tính trong phạm vi một thành phố. Kết  
nối này được thực hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao (50-100  
Mbit/s).  
LAN (Local Area Network) - Mạng cục bộ, kết nối các máy tính trong một khu vực bán kính  
hẹp thông thường khoảng vài trǎm mét. Kết nối được thực hiện thông qua các môi  
trường truyền thông tốc độ cao ví dụ cáp đồng trục thay cáp quang. LAN thường được  
sử dụng trong nội bộ một cơ quan/tổ chức...Các LAN có thể được kết nối với nhau thành  
WAN.  
Trong các khái niệm nói trên, WAN và LAN là hai khái niệm hay được sử dụng nhất.  
Mạng cục bộ - LAN  
Mạng cục bộ (LAN) là hệ truyền thông tốc độ cao được thiết kế để kết nối các máy tính và  
các thiết bị xử lý dữ liệu khác cùng hoạt động với nhau trong một khu vực địa lý nhỏ như ở  
một tầng của toà nhà, hoặc trong một toà nhà.... Một số mạng LAN có thể kết nối lại với  
nhau trong một khu làm việc.  
Các mạng LAN trở nên thông dụng vì nó cho phép những người sử dụng (users) dùng  
chung những tài nguyên quan trọng như máy in mầu, ổ đĩa CD-ROM, các phần mềm ứng  
dụng và những thông tin cần thiết khác. Trước khi phát triển công nghệ LAN các máy tính là  
độc lập với nhau, bị hạn chế bởi số lượng các chương trình tiện ích, sau khi kết nối mạng rõ  
ràng hiệu quả của chúng tǎng lên gấp bội. Để tận dụng hết những ưu điểm của mạng LAN  
người ta đã kết nối các LAN riêng biệt vào mạng chính yếu diện rộng (WAN).  
Các thiết bị gắn với mạng LAN đều dùng chung một phương tiện truyền tin đó là dây cáp,  
cáp thường dùng hiện nay là: Cáp đồng trục (Coaxial cable), Cáp dây xoắn (shielded  
twisted pair), cáp quang (Fiber optic),....  
Mỗi loại dây cáp đều có tính nǎng khác nhau.  
Dây cáp đồng trục được chế tạo gồm một dây đồng ở giữa chất cách điện, chung quanh  
chất cách điện được quán bằng dây bện kim loại dùng làm dây đất. Giữa dây đồng dẫn điện  
và dây đất có một lớp cách ly, ngoài cùng là một vỏ bọc bảo vệ. Dây đồng trục có hai loại,  
loại nhỏ (Thin) và loại to (Thick). Dây cáp đồng trục được thiết kế để truyền tin cho bǎng tần  
cơ bản (Base Band) hoặc bǎng tần rộng (broadband). Dây cáp loại to dùng cho đường xa,  
dây cáp nhỏ dùng cho đường gần, tốc độ truyền tin qua cáp đồng trục có thể đạt tới 35  
Mbit/s.  
Dây cáp xoắn được chế tạo bằng hai sợi dây đồng (có vỏ bọc) xoắn vào nhau, ngoài cùng  
có hoặc không có lớp vỏ bọc bảo vệ chống nhiễu.  
Dây cáp quang làm bằng các sợi quang học, truyền dữ liệu xa, an toàn và không bị nhiễu và  
chống được han rỉ. Tốc độ truyền tin qua cáp quang có thể đạt 100 Mbit/s.  
Nhìn chung, yếu tố quyết định sử dụng loại cáp nào là phụ thuộc vào yêu cầu tốc độ truyền  
tin, khoảng cách đặt các thiết bị, yêu cầu an toàn thông tin và cấu hình của mạng,....Ví dụ  
mạng Ethernet 10 Base-T là mạng dùng kênh truyền giải tần cơ bản với thông lượng 10  
Mbit/s theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 8802.3 nối bằng đôi dây cáp xoắn không bọc kim  
(UTP) trong Topology hình sao.  
Việc kết nối các máy tính với một dây cáp được dùng như một phương tiện truyền tin chung  
cho tất cả các máy tính. Công việc kết nối vật lý vào mạng được thực hiện bằng cách cắm  
một card giao tiếp mạng NIC (Network Interface Card) vào trong máy tính và nối nó với cáp  
mạng. Sau khi kết nối vật lý đã hoàn tất, quản lý việc truyền tin giữa các trạm trên mạng tuỳ  
thuộc vào phần mềm mạng.  
Đầu nối của NIC với dây cáp có nhiều loại (phụ thuộc vào cáp mạng), hiện nay có một số  
NIC có hai hoặc ba loại đầu nối. Chuẩn dùng cho NIC là NE2000 do hãng Novell và Eagle  
dùng để chế tạo các loại NIC của mình. Nếu một NIC tương thích với chuẩn NE2000 thì ta  
có thể dùng nó cho nhiều loại mạng. NIC cũng có các loại khác nhau để đảm bảo sự tương  
thích với máy tính 8-bit và 16-bit.  
Mạng LAN thường bao gồm một hoặc một số máy chủ (file server, host), còn gọi là máy  
phục vụ) và một số máy tính khác gọi là trạm làm việc (Workstations) hoặc còn gọi là nút  
mạng (Network node) - một hoặc một số máy tính cùng nối vào một thiết bị nút.  
Máy chủ thường là máy có bộ xử lý (CPU) tốc độ cao, bộ nhớ (RAM) và đĩa cứng (HD) lớn.  
Trong một trạm mà các phương tiện đã được dùng chung, thì khi một trạm muốn gửi thông  
điệp cho trạm khác, nó dùng một phần mềm trong trạm làm việc đặt thông điệp vào "phong  
bì", phong bì này gọi là gói (packet), bao gồm dữ liệu thông điệp được bao bọc giữa tín hiệu  
đầu và tín hiệu cuối (đó là những thông tin đặc biệt) và sử dụng phần mềm mạng để chuyển  
gói đến trạm đích.  
NIC sẽ chuyển gói tín hiệu vào mạng LAN, gói tín hiệu được truyền đi như một dòng các bit  
dữ liệu thể hiện bằng các biến thiên tín hiệu điện. Khi nó chạy trong cáp dùng chung, mọi  
trạm gắn với cáp đều nhận được tín hiệu này, NIC ở mỗi trạm sẽ kiểm tra địa chỉ đích trong  
tín hiệu đầu của gói để xác định đúng địa chỉ đến, khi gói tín hiệu đi tới trạm có địa chỉ cần  
đến, đích ở trạm đó sẽ sao gói tín hiệu rồi lấy dữ liệu ra khỏi phong bì và đưa vào máy tính.  
Các kiểu (Topology) của mạng LAN  
Topology của mạng là cấu trúc hình học không gian mà thực chất là cách bố trí phần tử của  
mạng cũng như cách nối giữa chúng với nhau. Thông thường mạng có 3 dạng cấu trúc là:  
Mạng dạng hình sao (Star Topology), mạng dạng vòng (Ring Topology) và mạng dạng  
tuyến (Linear Bus Topology). Ngoài 3 dạng cấu hình kể trên còn có một số dạng khác biến  
tướng từ 3 dạng này như mạng dạng cây, mạng dạng hình sao - vòng, mạng hỗn hợp,v.v....  
Mạng dạng hình sao (Star topology)  
Mạng dạng hình sao bao gồm một trung tâm và các nút thông tin. Các nút thông tin là các  
trạm đầu cuối, các máy tính và các thiết bị khác của mạng. Trung tâm của mạng điều phối  
mọi hoạt động trong mạng với các chức nǎng cơ bản là:  
•
•
•
Xác định cặp địa chỉ gửi và nhận được phép chiếm tuyến thông tin và liên lạc với nhau.  
Cho phép theo dõi và sử lý sai trong quá trình trao đổi thông tin.  
Thông báo các trạng thái của mạng...  
Các ưu điểm của mạng hình sao:  
•
Hoạt động theo nguyên lý nối song song nên nếu có một thiết bị nào đó ở một nút thông  
tin bị hỏng thì mạng vẫn hoạt động bình thường.  
•
•
Cấu trúc mạng đơn giản và các thuật toán điều khiển ổn định.  
Mạng có thể mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng.  
Nhược điểm của mạng hình sao:  
•
•
Khả nǎng mở rộng mạng hoàn toàn phụ thuộc vào khả nǎng của trung tâm . Khi trung  
tâm có sự cố thì toàn mạng ngừng hoạt động.  
Mạng yêu cầu nối độc lập riêng rẽ từng thiết bị ở các nút thông tin đến trung tâm.  
Khoảng cách từ máy đến trung tâm rất hạn chế (100 m).  
Nhìn chung, mạng dạng hình sao cho phép nối các máy tính vào một bộ tập trung (HUB)  
bằng cáp xoắn, giải pháp này cho phép nối trực tiếp máy tính với HUB không cần thông qua  
trục BUS, tránh  
được các yếu tố  
gây ngưng trệ  
mạng. Gần đây,  
switching hub, mô  
trở nên phổ biến  
mạng mới lắp.  
cùng với sự phát triển  
hình này ngày càng  
và chiếm đa số các  
Mạng hình tuyến (Bus  
Topology)  
Theo cách bố trí hành  
như hình vẽ thì máy  
lang các đường  
chủ (host) cũng  
như tất cả các máy tính khác (workstation) hoặc các nút (node) đều được nối về với nhau  
trên một trục đường dây cáp chính để chuyển tải tín hiệu.  
Tất cả các nút đều sử dụng chung đường dây cáp chính này. Phía hai đầu dây cáp được bịt  
bởi một thiết bị gọi là terminator. Các tín hiệu và gói dữ liệu (packet) khi di chuyển lên hoặc  
xuống trong dây cáp đều mang theo điạ chỉ của nơi đến.  
Loại hình mạng này dùng dây cáp ít nhất, dễ lắp đặt. Tuy vậy cũng có những bất lợi đó là sẽ  
có sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lưu lượng lớn và khi có sự hỏng hóc ở  
đoạn nào đó thì rất khó phát hiện, một sự ngừng trên đường dây để sửa chữa sẽ ngừng  
toàn bộ hệ thống.  
Mạng dạng vòng (Ring Topology)  
Mạng dạng này, bố trí theo dạng xoay vòng, đường dây cáp được thiết kế làm thành một  
vòng khép kín, tín hiệu chạy quanh theo một chiều nào đó. Các nút truyền tín hiệu cho nhau  
mỗi thời điểm chỉ được một nút mà thôi. Dữ liệu truyền đi phải có kèm theo địa chỉ cụ thể  
của mỗi trạm tiếp nhận.  
Mạng dạng vòng có thuận lợi là có thể nới rộng ra xa, tổng đường dây cần thiết ít hơn so  
với hai kiểu trên. Nhược điểm là đường dây phải khép kín, nếu bị ngắt ở một nơi nào đó thì  
toàn bộ hệ thống cũng bị ngừng.  
Mạng dạng kết hợp  
•
Kết hợp hình sao và tuyến (star/Bus Topology)  
Cấu hình mạng dạng này có bộ phận tách tín hiệu (spitter) giữ vai trò thiết bị trung tâm, hệ  
thống dây cáp mạng có thể chọn hoặc Ring Topology hoặc Linear Bus Topology.  
Lợi điểm của cấu hình này là mạng có thể gồm nhiều nhóm làm việc ở cách xa nhau,  
ARCNET là mạng dạng kết hợp Star/Bus Topology. Cấu hình dạng này đưa lại sự uyển  
chuyển trong việc bố trí đường dây tương thích dễ dàng đối với bất cứ toà nhà nào.  
•
Kết hợp hình sao và vòng (Star/Ring Topology)  
Cấu hình dạng kết hợp Star/Ring Topology, có một "thẻ bài" liên lạc (Token)  
được chuyển vòng quanh một cái HUB trung tâm. Mỗi trạm làm việc  
(workstation) được nối với HUB - là cầu nối giữa các trạm làm việc và để  
tǎng khoảng cách cần thiết.  
Các giao thức (Protocol)  
Một tập các tiêu chuẩn để trao đổi thông tin giữa hai hệ thống máy tính hoặc hai thiết bị máy  
tính với nhau được gọi là giao thức (Protocol).  
Các giao thức (Protocol) còn được gọi là nghi thức hoặc định ước của mạng máy tính.  
Để đánh giá khả nǎng của một mạng được phân chia bởi các trạm như thế nào. Hệ số này  
được quyết định chủ yếu bởi hiệu quả sử dụng môi trường truy xuất (medium access) của  
giao thức, môi trường này ở dạng tuyến tính hoặc vòng.... Một trong các giao thức được sử  
dụng nhiều trong các LAN là:  
1. Giao thức tranh chấp (Contention Protocol) CSMA/CD  
CSMA là viết tắt từ tiếng Anh: Carrier Sense Multiple Access, còn CD là viết tắt từ:  
Conllision Detect.  
Sử dụng giao thức này các trạm hoàn toàn có quyền truyền dữ liệu trên mạng với số  
lượng nhiều hay ít và một cách ngẫu nhiên hoặc bất kỳ khi nào có nhu cầu truyền dữ liệu  
ở mỗi trạm. Mối trạm sẽ kiểm tra tuyến và chỉ khi nào tuyến không bận mới bắt đầu  
truyền các gói dữ liệu.  
CSMA/CD có nguồn gốc từ hệ thống radio đã phát triển ở trường đại học Hawai vào  
khoảng nǎm 1970, gọi là ALOHANET.  
Với phương pháp CSMA, thỉnh thoảng sẽ có hơn một trạm đồng thời truyền dữ liệu và  
tạo ra sự xung đột (collision) làm cho dữ liệu thu được ở các trạm bị sai lệch. Để tránh  
sự tranh chấp này mỗi trạm đều phải phát hiện được sự xung đột dữ liệu. Trạm phát phải  
kiểm tra Bus trong khi gửi dữ liệu để xác nhận rằng tín hiệu trên Bus thật sự đúng, như  
vậy mới có thể phát hiện được bất kỳ xung đột nào có thể xẩy ra. Khi phát hiện có một  
sự xung đột, lập tức trạm phát sẽ gửi đi một mẫu làm nhiễu (Jamming) đã định trước để  
báo cho tất cả các trạm là có sự xung đột xẩy ra và chúng sẽ bỏ qua gói dữ liệu này. Sau  
đó trạm phát sẽ trì hoãn một khoảng thời gian ngẫu nhiên trước khi phát lại dữ liệu. Ưu  
điểm của CSMA/CD là đơn giản, mềm dẻo, hiệu quả truyền thông tin cao khi lưu lượng  
thông tin của mạng thấp và có tính đột biến. Việc thêm vào hay dịch chuyển các trạm  
trên tuyến không ảnh hưởng đến các thủ tục của giao thức. Điểm bất lợi của CSMA/CD  
là hiệu suất của tuyến giảm xuống nhanh chóng khi phải tải quá nhiều thông tin.  
2. Giao thức truyền token (Token passing protocol)  
Đây là giao thức thông dụng sau CSMA/CD được dùng trong các LAN có cấu trúc vòng  
(Ring). Trong phương pháp này, khối điều khiển mạng hoặc token được truyền lần lượt  
từ trạm này đến trạm khác. Token là một khối dữ liệu đặc biệt. Khi một trạm đang chiếm  
token thì nó có thể phát đi một gói dữ liệu. Khi đã phát hết gói dữ liệu cho phép hoặc  
không còn gì để phát nữa thì trạm đó lại gửi token sang trạm kế tiếp.  
Trong token có chứa một địa chỉ đích và được luân chuyển tới các trạm theo một trật tự  
đã định trước. Đối với cấu hình mạng dạng xoay vòng thì trật tự của sự truyền token  
tương đương với trật tự vật lý của các trạm xung quanh vòng.  
Giao thức truyền token có trật tự hơn nhưng cũng phức tạp hơn CSMA/CD, có ưu điểm  
là vẫn hoạt động tốt khi lưu lượng truyền thông lớn. Giao thức truyền token tuân thủ  
đúng sự phân chia của môi trường mạng, hoạt động dựa vào sự xoay vòng tới các trạm.  
Việc truyền token sẽ không thực hiện được nếu việc xoay vòng bị đứt đoạn. Giao thức  
phải chứa các thủ tục kiểm tra token để cho phép khôi phục lại token bị mất hoặc thay  
thế trạng thái của token và cung cấp các phương tiện để sửa đổi logic (thêm vào, bớt đi  
hoặc định lại trật tự của các trạm).  
Các chuẩn của mạng máy tính  
Để mạng đạt khả nǎng tối đa, các tiêu chuẩn được chọn phải cho phép mở rộng mạng để  
có thể phục vụ những ứng dụng không dự kiến trước trong tương lai tại lúc lắp đặt hệ thống  
và điều đó cũng cho phép mạng làm việc với những thiết bị được sản xuất từ nhiều hãng  
khác nhau.  
Hội đồng tiêu chuẩn quốc tế là ISO (International Standards Organization), do các nước  
thành viên lập nên. Công việc ở Bắc Mỹ chịu sự điều hành của ANSI (American National  
Standards Institude) ở Hoa Kỳ. ANSI đã uỷ thác cho IEEE (Institude of Electrical and  
Electronics Engineers) phát triển và đề ra những tiêu chuẩn kỹ thuật cho LAN.  
ISO đã đưa ra mô hình 7 mức (layers, còn gọi là lớp hay tầng) cho mạng, gọi là kiểu hệ  
thống kết nối mở hoặc mô hình OSI (Open System Interconnection).  
Chức nǎng của mức thấp bao gồm cả việc chuẩn bị cho mức cao hơn hoàn thành chức  
nǎng của mình. Một mạng hoàn chỉnh hoạt động với mọi chức nǎng của mình phải đảm bảo  
có 7 mức cấu trúc từ thấp đến cao.  
•
Mức 1: Mức vật lý (Physical layer)  
Thực chất của mức này là thực hiện nối liền các phần tử của mạng thành một hệ thống  
bằng các phương pháp vật lý, ở mức này sẽ có các thủ tục đảm bảo cho các yêu cầu về  
chuyển mạch hoạt động nhằm tạo ra các đường truyền thực cho các chuỗi bit thông tin.  
Mức 2: Mức móc nối dữ liệu (Data Link Layer)  
•
Nhiệm vụ của mức này là tiến hành chuyển đổi thông tin dưới dạng chuỗi các bit ở mức  
mạng thành từng đoạn thông tin gọi là frame. Sau đó đảm bảo truyền liên tiếp các frame  
tới mức vật lý, đồng thời xử lý các thông báo từ trạm thu gửi trả lại.  
Nói tóm lại, nhiệm vụ chính của mức 2 này là khởi tạo và tổ chức các frame cũng như xử  
lý các thông tin liên quan tới nó.  
•
Mức 3: Mức mạng (Network Layer)  
Mức mạng nhằm bảo đảm trao đổi thông tin giữa các mạng con trong một mạng lớn,  
mức này còn được gọi là mức thông tin giữa các mạng con với nhau. Trong mức mạng  
các gói dữ liệu có thể truyền đi theo từng đường khác nhau để tới đích. Do vậy, ở mức  
này phải chỉ ra được con đường nào dữ liệu có thể đi và con đường nào bị cấm tại thời  
điểm đó. Thường mức mạng được sử dụng trong trường hợp mạng có nhiều mạng con  
hoặc các mạng lớn và phân bổ trên một không gian rộng với nhiều nút thông tin khác  
nhau.  
•
•
Mức 4: Mức truyền (Transport Layer)  
Nhiệm vụ của mức này là xử lý các thông tin để chuyển tiếp các chức nǎng từ mức trên  
nó (mức tiếp xúc) đến mức dưới nó (mức mạng) và ngược lại. Thực chất mức truyền là  
để đảm bảo thông tin giữa các máy chủ với nhau. Mức này nhận các thông tin từ mức  
tiếp xúc, phân chia thành các đơn vị dữ liệu nhỏ hơn và chuyển chúng tới mức mạng.  
Mức 5: Mức tiếp xúc (Session Layer)  
Mức này cho phép người sử dụng tiếp xúc với nhau qua mạng. Nhờ mức tiếp xúc những  
người sử dụng lập được các đường nối với nhau, khi cuộc hội thoại được thành lập thì  
mức này có thể quản lý cuộc hội thoại đó theo yêu cầu của người sử dụng. Một đường  
nối giữa những người sử dụng được gọi là một cuộc tiếp xúc. Cuộc tiếp xúc cho phép  
người sử dụng được đǎng ký vào một hệ thống phân chia thời gian từ xa hoặc chuyển  
một file giữa 2 máy.  
•
•
Mức 6: Mức tiếp nhận (Presentation Layer)  
Mức này giải quyết các thủ tục tiếp nhận dữ liệu một cách chính quy vào mạng, nhiệm vụ  
của mức này là lựa chọn cách tiếp nhận dữ liệu, biến đổi các ký tự, chữ số của mã ASCII  
hay các mã khác và các ký tự điều khiển thành một kiểu mã nhị phân thống nhất để các  
loại máy khác nhau đều có thể thâm nhập vào hệ thống mạng.  
Mức 7: Mức ứng dụng (Application Layer)  
Mức này có nhiệm vụ phục vụ trực tiếp cho người sử dụng, cung cấp tất cả các yêu cầu  
phối ghép cần thiết cho người sử dụng, yêu cầu phục vụ chung như chuyển các file, sử  
dụng các terminal của hệ thống,.... Mức sử dụng bảo đảm tự động hoá quá trình thông  
tin, giúp cho người sử dụng khai thác mạng tốt nhất.  
Hệ thống kết nối mở OSI là hệ thống cho phép truyền thông tin với các hệ thống khác, trong  
đó các mạng khác nhau, sử dụng những giao thức khác nhau, có thể thông báo cho nhau  
thông qua chương trình Pastren để chuyển từ một giao thức này sang một giao thức khác.  
Chuẩn IEEE  
Tiêu chuẩn IEEE LAN được phát triển dựa vào uỷ ban IEEE 802. Tiêu chuẩn IEEE 802.3  
liên quan tới mạng CSMA/CD bao gồm cả 2 version bǎng tần cơ bản và bǎng tần mở rộng.  
Tiêu chuẩn IEEE 802.4 liên quan tới sự sắp xếp tuyến token và IEEE 802.5 gồm các vòng  
truyền token.  
Theo chuẩn 802 thì móc nối dữ liệu được chia thành 2 mức con: mức con điều khiển logic  
LLC (Logical Link Control Sublayer) và mức con điều khiển xâm nhập mạng MAC (Media  
Access Control Sublayer). Mức con LLC giữ vai trò tổ chức dữ liệu, tổ chức thông tin để  
truyền và nhận. Mức con MAC chỉ làm nhiệm vụ điều khiển việc xâm nhập mạng. Thủ tục  
mức con LLC không bị ảnh hưởng khi sử dụng các đường truyền dẫn khác nhau, nhờ vậy  
mà linh hoạt hơn trong khai thác.  
Chuẩn 802.2 ở mức con LLC tương đương với chuẩn HDLC của ISO hoặc X.25 của CCITT.  
Chuẩn 802.3 xác định phương pháp thâm nhập mạng tức thời có khả nǎng phát hiện lỗi  
chồng chéo thông tin CSMA/CD. Phương pháp CSMA/CD được đưa ra từ nǎm 1993 nhằm  
mục đích nâng cao hiệu quả mạng. Theo chuẩn này các mức được ghép nối với nhau thông  
qua các bộ ghép nối.  
Chuẩn 802.4 thực chất là phương pháp thâm nhập mạng theo kiểu phát tín hiệu thǎm dò  
token qua các trạm và đường truyền bus.  
Chuẩn 802.5 dùng cho mạng dạng xoay vòng và trên cơ sở dùng tín hiệu thǎm dò token.  
Mỗi trạm khi nhận được tín hiệu thǎm dò token thì tiếp nhận token và bắt đầu quá trình  
truyền thông tin dưới dạng các frame. Các frame có cấu trúc tương tự như của chuẩn  
802.4. Phương pháp xâm nhập mạng này quy định nhiều mức ưu tiên khác nhau cho toàn  
mạng và cho mỗi trạm, việc quy định này vừa cho người thiết kế vừa do người sử dụng tự  
quy định.  
Mạng ETHERNET  
Ethernet là mạng cục bộ do các công ty Xerox, Intel và Digital equipment xây dựng và phát  
triển. Ethernet là mạng thông dụng nhất đối với các mạng nhỏ hiện nay. Ethernet LAN được  
xây dựng theo chuẩn 7 lớp trong cấu trúc mạng của ISO, mạng truyền số liệu Ethernet cho  
phép đưa vào mạng các loại máy tính khác nhau kể cả máy tính mini. Ethernet có các đặc  
tính kỹ thuật chủ yếu sau đây:  
•
•
Có cấu trúc dạng tuyến phân đoạn, đường truyền dùng cáp đồng trục, tín hiệu truyền  
trên mạng được mã hoá theo kiểu đồng bộ (Manchester), tốc độ truyền dữ liệu là 10  
Mb/s.  
Chiều dài tối đa của một đoạn cáp tuyến là 500m, các đoạn tuyến này có thể được kết  
nối lại bằng cách dùng các bộ chuyển tiếp và khoảng cách lớn nhất cho phép giữa 2 nút  
là 2,8 km.  
Sử dụng tín hiệu bǎng tần cơ bản, truy xuất tuyến (bus access) hoặc tuyến token (token bus),  
giao thức là CSMA/CD, dữ liệu chuyển đi trong các gói. Gói (packet) thông tin dùng trong mạng  
có độ dài từ 64 đến 1518 byte.  
Mạng TOKEN RING  
Ngoài Ethernet LAN một công nghệ LAN chủ yếu khác đang được dùng hiện nay là Token  
Ring. Nguyên tắc của mạng Token Ring được định nghĩa trong tiêu chuẩn IEEE 802.5.  
Mạng Token Ring có thể chạy ở tốc độ 4Mbps hoặc 16Mbps. Phương pháp truy cập dùng  
trong mạng Token Ring gọi là Token passing . Token passing là phương pháp truy nhập xác  
định, trong đó các xung đột được ngǎn ngừa bằng cách ở mỗi thời điểm chỉ một trạm có thể  
được truyền tín hiệu. Điều này được thực hiện bằng việc truyền một bó tín hiệu đặc biệt gọi  
là Token (mã thông báo) xoay vòng từ trạm này qua trạm khác. Một trạm chỉ có thể gửi đi  
bó dữ liệu khi nó nhận được mã không bận.  
Các thiết bị kết nối chính của LAN  
Hub  
Hub là một trong những yếu tố quan trọng nhất của LAN, đây là điểm kết nối dây trung tâm  
của mạng, tất cả các trạm trên mạng LAN được kết nối thông qua HUB. Một hub thông  
thường có nhiều cổng nối với người sử dụng để gắn máy tính và các thiết bị ngoại vi. Mỗi  
cổng hỗ trợ một bộ kết nối dùng cặp dây xoắn 10BASET từ mỗi trạm của mạng. Khi bó tín  
hiệu Ethernet được truyền từ một trạm tới hub, nó được lặp lại trên khắp các cổng khác của  
hub. Các hub thông minh có thể định dạng, kiểm tra, cho phép hoặc không cho phép bởi  
người điều hành mạng từ trung tâm quản lý hub.  
Có ba loại hub:  
•
•
•
Hub đơn (stand alone hub)  
Hub phân tầng (stackable hub, có tài liệu gọi là HUB sắp xếp)  
Hub modun (modular hub)  
Modular hub rất phổ biến cho các hệ thống mạng vì nó có thể dễ dàng mở rộng và luôn có  
chức nǎng quản lý, modular có từ 4 đến 14 khe cắm, có thể lắp thêm các modun Ethernet  
10BASET.  
Stackable hub là lý tưởng cho những cơ quan muốn đầu tư tối thiểu ban đầu nhưng lại có  
kế hoạch phát triển LAN sau này.  
Chú ý: Uỷ ban kỹ thuật điện tử (IEEE) đề nghị dùng các tên sau đây để chỉ 3 loại dây cáp  
dùng với mạng Ethernet chuẩn 802.3.  
•
•
•
•
Dây cáp đồng trục sợi to (thick coax) thì gọi là 10BASE5 (Tốc độ 10 Mbps, tần số cơ sở,  
khoảng cách tối đa 500m).  
Dây cáp đồng trục sợi nhỏ (thin coax) gọi là 10BASE2 (Tốc độ 10 Mbps, tần số cơ sở,  
khoảng cách tối đa 200m).  
Dây cáp đôi xoắn không vỏ bọc (twisted pair) gọi là 10BASET (Tốc độ 10 Mbps, tần số  
cơ sở, sử dụng cáp sợi xoắn).  
Dây cáp quang (Fiber Optic Inter-Repeater Link) gọi là FOIRL  
Liên mạng (internetworking)  
Việc kết nối các LAN riêng lẻ thành một liên mạng chung được gọi là Internetworking.  
Internetworking sử dụng ba công cụ chính là: bridge, router và switch.  
Cầu nối (bridge):  
Là cầu nối hai hoặc nhiều đoạn (segment) của một mạng. Theo mô hình OSI thì bridge  
thuộc mức 2. Bridge sẽ lọc những gói dữ liệu để gửi đi (hay không gửi) cho đoạn nối, hoặc  
gửi trả lại nơi xuất phát. Các bridge cũng thường được dùng để phân chia một mạng lớn  
thành hai mạng nhỏ nhằm làm tǎng tốc độ. Mặc dầu ít chức nǎng hơn router, nhưng bridge  
cũng được dùng phổ biến.  
Bộ dẫn đường (router)  
Chức nǎng cơ bản của router là gửi đi các gói dữ liệu dựa trên địa chỉ phân lớp của mạng  
và cung cấp các dịch vụ như bảo mật, quản lý lưu thông...  
Giống như bridge, router là một thiết bị siêu thông minh đối với các mạng thực sự lớn.  
router biết địa chỉ của tất cả các máy tính ở từng phía và có thể chuyển các thông điệp cho  
phù hợp. Chúng còn phân đường-định truyền để gửi từng thông điệp có hiệu quả.  
Theo mô hình OSI thì chức nǎng của router thuộc mức 3, cung cấp thiết bị với thông tin  
chứa trong các header của giao thức, giúp cho việc xử lý các gói dữ liệu thông minh.  
Dựa trên những giao thức, router cung cấp dịch vụ mà trong đó mỗi packet dữ liệu được  
đọc và chuyển đến đích một cách độc lập.  
Khi số kết nối tǎng thêm, mạng theo dạng router trở nên kém hiệu quả và cần suy nghĩ đến  
sự thay đổi.  
Bộ chuyển mạch (switch)  
Chức nǎng chính của switch là cùng một lúc duy trì nhiều cầu nối giữa các thiết bị mạng  
bằng cách dựa vào một loại đường truyền xương sống (backbone) nội tại tốc độ cao.  
Switch có nhiều cổng, mỗi cổng có thể hỗ trợ toàn bộ Ethernet LAN hoặc Token Ring.  
Bộ chuyển mạch kết nối một số LAN riêng biệt và cung cấp khả nǎng lọc gói dữ liệu giữa  
chúng.  
Các switch là loại thiết bị mạng mới, nhiều người cho rằng, nó sẽ trở nên phổ biến nhất vì nó là bước đầu  
tiên trên con đường chuyển sang chế độ truyền không đồng bộ ATM.  
Hệ điều hành mạng - NOS (Network Operating System)  
Cùng với sự nghiên cứu và phát triển mạng máy tính, hệ điều hành mạng đã được nhiều  
công ty đầu tư nghiên cứu và đã công bố nhiều phần mềm quản lý và điều hành mạng có  
hiệu quả như: NetWare của công ty NOVELL, LAN Manager của Microsoft dùng cho các  
máy server chạy hệ điều hành OS/2, LAN server của IBM (gần như đồng nhất với LAN  
Manager), Vines của Banyan Systems là hệ điều hành mạng dùng cho server chạy hệ điều  
hành UNIX, Promise LAN của Mises Computer chạy trên card điều hợp mạng độc quyền,  
Widows for Workgroups của Microsoft, LANtastic của Artisoft, NetWare Lite của Novell,....  
Một trong những sự lựa chọn cơ bản mà ta phải quyết định trước là hệ điều hành mạng nào  
sẽ làm nền tảng cho mạng của ta, việc lựa chọn tuỳ thuộc vào kích cỡ của mạng hiện tại và  
sự phát triển trong tương lai, còn tuỳ thuộc vào những ưu điểm và nhược điểm của từng hệ  
điều hành.  
Một số hệ điều hành mạng phổ biến hiện nay:  
•
Hệ điều hành mạng UNIX: Đây là hệ điều hành do các nhà khoa học xây dựng và được  
dùng rất phổ biến trong giới khoa học, giáo dục. Hệ điều hành mạng UNIX là hệ điều  
hành đa nhiệm, đa người sử dụng, phục vụ cho truyền thông tốt. Nhược điểm của nó là  
hiện nay có nhiều Version khác nhau, không thống nhất gây khó khǎn cho người sử  
dụng. Ngoài ra hệ điều hành này khá phức tạp lại đòi hỏi cấu hình máy mạnh (trước đây  
chạy trên máy mini, gần đây có SCO UNIX chạy trên máy vi tính với cấu hình mạnh).  
Hệ điều hành mạng Windows NT: Đây là hệ điều hành của hãng Microsoft, cũng là hệ  
điều hành đa nhiệm, đa người sử dụng. Đặc điểm của nó là tương đối dễ sử dụng, hỗ  
trợ mạnh cho phần mềm WINDOWS. Do hãng Microsoft là hãng phần mềm lớn nhất thế  
giới hiện nay, hệ điều hành này có khả nǎng sẽ được ngày càng phổ biến rộng rãi. Ngoài  
•
ra, Windows NT có thể liên kết tốt với máy chủ Novell Netware. Tuy nhiên, để chạy có  
hiệu quả, Windows NT cũng đòi hỏi cấu hình máy tương đối mạnh.  
•
•
Hệ điều hành mạng Windows for Worrkgroup: Đây là hệ điều hành mạng ngang hàng  
nhỏ, cho phép một nhóm người làm việc (khoảng 3-4 người) dùng chung ổ đĩa trên máy  
của nhau, dùng chung máy in nhưng không cho phép chạy chung một ứng dụng. Hệ dễ  
dàng cài đặt và cũng khá phổ biến.  
Hệ điều hành mạng NetWare của Novell: Đây là hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay ở  
nước ta và trên thế giới trong thời gian cuối, nó có thể dùng cho các mạng nhỏ (khoảng  
từ 5-25 máy tính) và cũng có thể dùng cho các mạng lớn gồm hàng trǎm máy tính. Trong  
những nǎm qua, Novell đã cho ra nhiều phiên bản của Netware: Netware 2.2, 3.11. 4.0  
và hiện có 4.1. Netware là một hệ điều hành mạng cục bộ dùng cho các máy vi tính theo  
chuẩn của IBM hay các máy tính Apple Macintosh, chạy hệ điều hành MS-DOS hoặc  
OS/2.  
Hệ điều hành này tương đối gọn nhẹ, dễ cài đặt (máy chủ chỉ cần thậm chí AT386) do đó  
phù hợp với hoàn cảnh trang thiết bị hiện tại của nước ta. Ngoài ra, vì là một phần mềm  
phổ biến nên Novell Netware được các nhà sản xuất phần mềm khác hỗ trợ (theo nghĩa  
các phân mềm do các hãng phần mềm lớn trên thế giới làm đều có thể chạy tốt trên hệ  
điều hành mạng này).  
Các Phương tiện Kết nối mạng  
liên khu vực (WAN)  
Bên cạnh phương pháp sử dụng đường điện thoại thuê bao để kết nối các mạng cục bộ hoặc  
mạng khu vực với nhau hoặc kết nối vào Internet, có một số phương pháp khác:  
•
Đường thuê bao (leased line). Đây là phương pháp cũ nhất, là phương pháp truyền  
thống nhất cho sự nối kết vĩnh cửu. Bạn thuê đường dây từ công ty điện thoại (trực tiếp  
hoặc qua nhà cung cấp dịch vụ). Bạn cần phải cài đặt một "Chanel Service Unit" (CSU)  
để nối đến mạng T, và một "Digital Service Unit" (DSU) để nối đến mạng chủ (primary)  
hoặc giao diện mạng.  
•
ISDN (Integrated Service Digital Nework). Sử dụng đường điện thoại số thay vì đường  
tương tự. Do ISDN là mạng dùng tín hiệu số, bạn không phải dùng một modem để nối  
với đường dây mà thay vào đó bạn phải dùng một thiết bị gọi là "codec" với modem có  
khả nǎng chạy ở 14.4 kbit/s. ISDN thích hợp cho cả hai trường hợp cá nhân và tổ chức.  
Các tổ chức có thể quan tâm hơn đến ISDN có khả nǎng cao hơn ("primary" ISDN) với  
tốc độ tổng cộng bằng tốc độ 1.544 Mbit/s của đường T1. Cước phí khi sử dụng ISDN  
được tính theo thời gian, một số trường hợp tính theo lượng dữ liệu được truyền đi và  
một số thì tính theo cả hai.  
•
•
CATV link. Công ty dẫn cáp trong khu vực của bạn có thể cho bạn thuê một "chỗ" trên  
đường cáp của họ với giá hấp dẫn hơn với đường điện thoại. Cần phải biết những thiết  
bị gì cần cho hệ thống của mình và độ rộng của dải mà bạn sẽ được cung cấp là bao  
nhiêu. Cũng như việc đóng góp chi phí với những khách hàng khác cho kênh liên lạc đó  
là như thế nào. Một dạng kỳ lạ hơn được đưa ra với tên gọi là mạng "lai" ("hybrid"  
Network), với một kênh CATV được sử dụng để lưu thông theo một hướng và một  
đường ISDN hoặc gọi số sử dụng cho đường trở lại. Nếu muốn cung cấp thông tin trên  
Internet, bạn phải xác định chắc chắn rằng "kênh ngược" của bạn đủ khả nǎng phục vụ  
cho nhu cầu thông tin của khách hàng của bạn.  
Frame relay. Frame relay "uyển chuyển" hơn đường thuê bao. Khách hàng thuê đường  
Frame relay có thể mua một dịch vụ có mức độ xác định - một "tốc độ thông tin uỷ thác"  
("Committed Information Rale" - CIR). Nếu như nhu cầu của bạn trên mạng là rất "bột  
phát" (burty), hay người sử dụng của bạn có nhu cầu cao trên đường liên lạc trong suốt  
một khoảng thời gian xác định trong ngày, và có ít hoặc không có nhu cầu vào ban đêm -  
Frame relay có thể sẽ kinh tế hơn là thuê hoàn toàn một đường T1 (hoặc T3). Nhà cung  
cấp dịch vụ của bạn có thể đưa ra một phương pháp tương tự như là phương pháp thay  
thế đó là Switched Multimegabit Data Service.  
•
•
Chế độ truyền không đồng bộ (Asynchoronous Trangfer Mode - ATM). ATM là một  
phương pháp tương đối mới đầu tiên báo hiệu cùng một kỹ thuật cho mạng cục bộ và  
liên khu vực. ATM thích hợp cho real-time multimedia song song với truyền dữ liệu  
truyền thống. ATM hứa hẹn sẽ trở thành một phần lớn của mạng tương lai.  
Đường vi sóng (Microware links). Nếu cần kết nối vĩnh viễn đến nhà cung cấp dịch vụ  
nhưng lại thấy rằng đường thuê bao hay những lựa chọn khác là quá đắt, bạn sẽ thấy  
microware như là một lựa chọn thích hợp. Bạn không cần trả quá đắt cho cách này của  
microware, tuy nhiên bạn cần phải đầu tư nhiều tiền hơn vào lúc đầu, và bạn sẽ gặp một  
số rủi ro như tốc độ truyền đến mạng của bạn quá nhanh.  
•
Đường vệ tinh (satellite links). Nếu bạn muốn được chuyển một lượng lớn dữ liệu đặc  
biệt là từ những địa điểm từ xa thì đường vệ tinh là câu trả lời. Tầm hoạt động của  
những vệ tinh cùng vị trí địa lý với trái đất cũng tạo ra một sự chậm trễ (hoặc "bị che  
dấu") mà những người sử dụng Telnet có thể cảm nhận được  
doc 12 trang baolam 26940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Mạng máy tính (Computer Networks)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • doctai_lieu_mang_may_tinh_computer_networks.doc