Giáo trình An toàn vệ sinh công nghiệp (Nghề quản trị mạng máy tính)

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ  
GIÁO TRÌNH  
Môn học: An toàn vệ sinh công nghiệp  
NGHỀ: QUẢN TRỊ MẠNG MÁY TÍNH  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
( Ban hành kèm theo Quyết định số:120/QĐ-TCDN ngày 25 tháng 02 năm 2013  
của Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề)  
Hà Nội, năm 2013  
Trang 1  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể  
được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và  
tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
MÃ TÀI LIỆU: MH12  
Trang 2  
CHƯƠNG I -NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG  
I.1. Khái niệm chung  
1) Khái niệm về bảo hộ lao động  
Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu về hệ thống các văn bản pháp  
luật, các biện pháp về tổ chức, kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ để cải tiến  
điều kiện lao động nhằm:  
Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động.  
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.  
Bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung  
góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.  
2) Mục đích bảo hộ lao động  
Bảo đảm cho người lao động có những điều kiện làm việc an toàn, vệ  
sinh, thuận lợi và tiện nghi nhất.  
Giúp ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau  
làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao  
động.  
Tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động.  
Góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực lao  
động.  
3) Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động  
Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu  
của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất. Bảo hộ lao động mang lại niềm  
vui, hạnh phúc cho mọi người nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Mặt khác,  
nhờ chăm lo sức khoẻ của người lao động mà công tác BHLĐ mang lại hiệu quả  
xã hội và nhân đạo rất cao.  
BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ quan  
trọng không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản  
xuất. BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội. Lao động tạo  
ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Bất cứ dưới chế độ xã  
hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất. Xây dựng quốc  
gia giàu có, tự do, dân chủ cũng nhờ người lao động. Trí thức mở mang cũng  
nhờ lao động. Vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người.  
4) Tính chất của công tác bảo hộ lao động  
BHLĐ có 3 tính chất chủ yếu là: pháp lý, khoa học kỹ thuật và tính quần  
chúng. Chúng có liên quan mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau.  
a - BHLĐ mang tính chất pháp lý:  
Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành  
những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp  
Trang 3  
mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách,  
chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là  
luật pháp của Nhà nước. Xuất phát từ quan điểm: Con người là vốn quý nhất,  
nên luật pháp về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con  
người trong sản xuất, mọi cơ sở kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có  
trách nhiệm tham gia nghiên cứu, và thực hiện. Đó là tính pháp lý của công tác  
bảo hộ lao động.  
b - BHLĐ mang tính khoa học kỹ thuật:  
Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại,  
phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở  
của KHKT. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh  
giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp  
chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ  
thuật.  
Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác  
bảo hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia  
gamma, nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì  
không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an  
toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu  
mà còn nhiều vấn đề khác như sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển  
điện, tốc độ nâng chuyên; ...  
Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái,  
muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất phải giải quyết nhiều vấn  
đề tổng hợp phức tạp. Không những phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ  
thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá, ... mà còn cần phải có các kiến thức về  
tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động,... Vì vậy công tác  
bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp.  
c - BHLĐ mang tính quần chúng:  
Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối  
tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công tác  
BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác.  
BHLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Công nhân là  
những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui  
trình công nghệ, ...Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong  
công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp về kỹ thuật an toàn,  
tham gia góp ý kiến về mẫu mã, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc,  
…
Mặt khác, dù các qui trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu,  
nhưng công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý  
nghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm.  
Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo mọi  
Trang 4  
người tham gia. Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành  
quan tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các  
quy định, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làm việc, phòng  
chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  
BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và trước hết là người trực tiếp  
lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động. BHLĐ bảo vệ quyền lợi và  
hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế BHLĐ luôn mang  
tính quần chúng sâu rộng.  
I.2. Pháp luật bảo hộ lao động  
1) Luật pháp về BHLĐ ở Việt Nam  
Hệ thống luật pháp về BHLĐ ở Việt Nam gồm 3 phần:  
Phần I: Bộ luật lao động và các luật khác có liên quan.  
Phần II: Nghị định 06/2005/NĐ-CP của Chính Phủ và các nghị định khác  
liên quan.  
Phần III: Các thông tư, chỉ thị, tiêu chuẩn, qui phạm kỹ thuật.  
Có thể minh họa hệ thống luật pháp chế độ chính sách BHLĐ của Việt  
Nam bằng sơ đồ sau:  
HIẾN PHÁP  
Các Luật,  
Pháp lệnh có  
LAO ĐỘNG  
liên quan  
Bộ luật  
Các  
Nghị định  
Nghị định  
có liên quan  
06/1995/NĐ-CP  
Các tiêu chuẩn,  
Thông tư  
Chỉ thị  
quy phạm  
2) Phạm vi đối tượng của công tác bảo hộ lao động:  
a - Người lao động:  
Là những người làm việc, kể cả người học nghề, tập nghề, thử việc được  
làm trong điều kiện an toàn, vệ sinh, không bị tai nạn lao động, không bị bệnh  
nghề nghiệp; không phân biệt người lao động trong cơ quan, doanh nghiệp của  
Nhà nước hay trong các thành phần kinh tế khác; không phân biệt người Việt  
Nam hay người nước ngoài.  
b - Người sử dụng lao động:  
Trang 5  
Các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh  
doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác, các cá nhân có sử  
dụng lao động để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh.  
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị xí nghiệp, sản  
xuất kinh doanh, dịch vụ các sơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức  
chính trị xã hội, đoàn thể nhân dân, các doanh nghiệp thuộc lực lượng  
Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, các cơ quan tổ chức nước ngoài  
hoặc quốc tế tại Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.  
có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động trong đơn  
vị mình.  
3) Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động:  
a - Đối với người sử dụng lao động:  
Trách nhiệm:  
Hàng năm phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động và cải  
thiện điều kiện lao động.  
Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và các chế độ khác về an  
toàn, vệ sinh lao động theo quy định của Nhà nước.  
Có kế hoạch giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biên pháp an  
toàn, vệ sinh lao động. Phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì  
sự hoạt động của mạng lưới an toàn viên và vệ sinh viên.  
Xây dựng nội quy, quy trình an toàn, vệ sinh lao động.  
Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an  
toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động.  
Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn chế  
độ quy định.  
Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động,  
bệnh nghề nghiệp với Sở LĐ-TB và XH, Sở Y tế địa phương.  
Quyền hạn:  
Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội dung, biện pháp an  
toàn, vệ sinh lao động.  
Khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm  
thực hiện an toàn, vệ sinh lao động.  
Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của thanh tra viên an  
toàn lao động nhưng phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó.  
b - Đối với người lao động:  
Nghĩa vụ:  
Chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến  
công việc và nhiệm vụ được giao.  
Trang 6  
Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang  
bị, cấp phát.  
Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ  
gây tại nạn lao động, bênh nghề nghiệp hoặc các sự cố nguy hiểm, tham  
gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động.  
Quyền lợi:  
Yêu cầu bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh cũng như được cấp  
các thiết bị cá nhân, được huấn luyện biện pháp ATLĐ.  
Từ chối các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra  
tai nạn lao động, đe doạ nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của mình  
và sẽ không tiếp tục làm việc nếu như thấy nguy cơ đó vẫn chưa được  
khắc phục.  
Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi sử dụng  
lao động vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện các giao  
kết về an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng hoặc thoả ước lao động.  
I.3. Phân tích điều kiện lao động  
1) Một số khái niệm cơ bản  
a - Điều kiện lao động:  
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh  
tế, tổ chức thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao  
động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa  
chúng, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản  
xuất.  
Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người.  
Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó  
khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động. Đối với quá trình công  
nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ, lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn  
đến người lao động. Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi,  
thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức  
khỏe người lao động.  
b - Các yếu tố nguy hiểm và có hại:  
Yếu tố nguy hiểm có hại là các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy  
hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong  
điều kiện lao động. Cụ thể là:  
Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có  
hại, bụi, …  
Các yếu tố hóa học như hóa chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất  
phóng xạ, …  
Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký  
sinh trùng, côn trùng, rắn, …  
Trang 7  
Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chổ  
làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh, …  
Các yếu tố tâm lý không thuận lợi, ...  
c - Tai nạn lao động:  
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng  
nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong qúa trình lao động,  
gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động. Nhiễm độc đột  
ngột cũng là tai nạn lao động.  
Tai nạn lao động được phân ra: Chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và  
bệnh nghề nghiệp  
* Chấn thương: là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay huỷ  
hoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng  
lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong. Chấn thương có tác dụng đột ngột.  
* Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động  
có hại, bất lợi (tiếng ồn, rung động, ...) đối với người lao động. Bênh nghề  
nghiệp làm suy yếu dần dần sức khoẻ hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc  
và sinh hoạt của người lao động. Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ người  
lao động một cách dần dần và lâu dài.  
* Nhiểm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất  
độc xâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện SX.  
2) Phân tích điều kiện lao động - các nguyên nhân gây ra tai nạn.  
Mặc dù chưa có phương pháp chung nhất phân tích chính xác nguyên nhân  
tai nạn cho các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất nhưng có thể phân tích các nguyên  
nhân theo các nhóm sau:  
a - Nguyên nhân kỹ thuật:  
Thao tác kỹ thuật không đúng, không thực hiện nghiêm chỉnh những quy  
định về kỹ thuật an toàn, sử dụng máy móc không đúng đắn.  
Thiết bị máy móc, dụng cụ hỏng.  
Chổ làm việc và đi lại chật chội.  
Các hệ thống che chắn không tốt, thiếu hệ thống tín hiệu, thiếu cơ cấu an  
toàn hoặc cơ cấu an toàn bị hỏng  
Dụng cụ cá nhân hư hỏng hoặc không thích hợp, ...  
b - Nguyên nhân tổ chức:  
Thiếu hướng dẫn về công việc được giao, hướng dẫn và theo dõi thực  
hiện các quy tắc không được thấu triệt...  
Sử dụng công nhân không đúng nghề và trình độ nghiệp vụ.  
Thiếu và giám sát kỹ thuật không đầy đủ, làm các công việc không đúng  
quy tắc an toàn.  
Vi phạm chế độ lao động.  
Trang 8  
c - Nguyên nhân vệ sinh môi trường:  
Môi trường không khí bị ô nhiễm hơi, khí độc, có tiếng ồn và rung động  
lớn.  
Chiếu sáng chổ làm việc không đầy đủ hoặc quá chói mắt.  
Không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về vệ sinh cá nhân...  
Điều kiện vi khí hậu không tiện nghi.  
3) Khai báo điều tra và thống kê tai nạn lao động  
a - Khai báo điều tra:  
Khi xảy ra tai nạn lao động, người sử dụng lao động phải tổ chức việc  
điều tra, lập biên bản, có sự tham gia của BCH CĐ cơ sở. Biên bản phải  
ghi đầy đủ diễn biến của vụ tai nạn, thương tích nạn nhân, mức độ thiệt  
hại, nguyên nhân xảy ra, quy trách nhiệm để xảy ra tai nạn lao động.  
Biên bản có chữ ký của người lao động và đại diện BCH CĐ cơ sở.  
Tất cả các vụ tai nạn lao động, các trường hợp bị bênh nghề nghiệp đều  
phải được khai báo, thống kê và báo cáo theo quy định của Bộ LĐ-TB và  
XH, Bộ Y tế. Công tác khai báo, điều tra phải nắm vững, kịp thời, đảm  
bảo tính khách quan, cụ thể, chính xác.  
Khi tai nạn lao động nhẹ, công nhân nghỉ việc dưới 3 ngày:  
Quản đốc phân xưởng, đội trưởng đội sản xuất phải ghi sổ theo dõi tai  
nạn lao động của đơn vị mình, báo cáo cho cán bộ bảo hộ lao động  
của đơn vị để ghi vào sổ theo dõi tai nạn.  
Cùng với công đoàn phân xưởng, đội sản xuất tổ chức ngay việc kiểm  
điểm trong đơn vị mình để tìm nguyên nhân tai nạn, kịp thời có biện  
pháp phòng ngừa cần thiết.  
Khi tai nạn lao động nhẹ, công nhân nghỉ việc 3 ngày trở lên:  
Quản đốc phân xưởng, đội trưởng đội sản xuất báo ngay sự việc cho  
giám đốc đơn vị biết, ghi sổ theo dõi đồng thời báo cáo cho cán bộ  
bảo hộ lao động biết.  
Trong 24 giờ kể từ khi xảy ra tai nạn, cùng với công đoàn phân  
xưởng, đội sản xuất lập biên bản điều tra tai nạn gửi cho giám đốc đơn  
vị phê duyệt.  
Khi tai nạn lao động nặng, công nhân nghỉ việc 14 ngày trở lên:  
Quản đốc phân xưởng báo ngay sự việc cho giám đốc đơn vị biết.  
Giám đốc đơn vị có trách nhiệm báo cáo ngay cho cơ quan lao động  
và công đoàn địa phương biết.  
Trong 24 giờ kể từ khi xảy ra tai nạn, giám đốc đơn vị cùng với công  
đoàn cơ sở tổ chức điều tra trường hợp xảy ra tai nạn lao động,  
nguyên nhân tai nạn và xác định trách nhiệm gây tai nạn.  
Sau khi điều tra, giám đốc đơn vị phải lập biên bản điều tra: nêu rõ  
Trang 9  
hoàn cảnh và trường hợp xảy ra, nguyên nhân tai nạn, kết luận về  
trách nhiệm để xảy ra tai nạn và đề nghị xử lý, đề ra các biện pháp  
ngăn ngừa tương tự.  
Tai nạn chết người hoặc tai nạn nghiêm trọng (làm bị thương nhiều  
người cùng 1 lúc, trong đó có người bị thương nặng):  
Quản đốc phải báo ngay sự việc cho cơ quan lao động, công đoàn, y tế  
địa phương và cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp biết. Đối với tai nạn  
chết người phải báo cho công an, Viện Kiểm sát nhân dân địa phương,  
Bộ LĐ-TB và XH, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.  
Các cơ quan có trách nhiệm phải nhanh chóng tới nơi xảy ra tai nạn.  
Việc tổ chức điều tra nguyên nhân và xác định trách nhiệm để xảy ra  
tai nạn phải được tiến hành trong vòng 48 giờ và do tiểu ban điều tra  
thực hiện.  
Căn cứ vào kết quả điều tra, tiểu ban điều tra phải lập biên bản nêu rõ  
nêu rõ hoàn cảnh và trường hợp xảy ra, nguyên nhân tai nạn, kết luận  
về trách nhiệm để xảy ra tai nạn và đề nghị xử lý, đề ra các biện pháp  
ngăn ngừa tai nạn tái diễn.  
Biên bản điều tra tai nạn phải được gửi cho cơ quan lao động, y tế,  
công đoàn địa phương, cơ quan chủ quản, Bộ LĐ-TB và XH, Tổng  
Liên đoàn lao động VN.  
b - Phương pháp phân tích nguyên nhân  
Việc nghiên cứu, phân tích nguyên nhân nhằm tìm ra được những quy luật  
phát sinh nhất định, cho phép thấy được những nguy cơ tai nạn. Từ đó đề ra biện  
pháp phòng ngừa và loại trừ chúng. Thông thường có các biện pháp sau đây:  
Phương pháp phân tích thống kê:  
Dựa vào số liệu tai nạn lao động, tiến hành thống kê theo nghề nghiệp,  
theo công việc, tuổi đời, tuổi nghề, giới tính, thời điểm trong ca, tháng và  
năm. Từ đó thấy rõ mật độ của thông số tai nạn lao động để có kế hoạch  
tập trung chỉ đạo, nghiên cứu các biện pháp thích hợp để phòng ngừa.  
Sử dụng phương pháp này cần phải có thời gian thu thập số liệu và biện  
pháp đề ra chỉ mang ý nghĩa chung chứ không đi sâu phân tích nguyên  
nhân cụ thể của mỗi vụ tai nạn.  
Phương pháp địa hình:  
Dùng dấu hiệu có tính chất quy ước đánh dấu ở những nơi hay xảy ra tai  
nạn, từ đó phát hiện được các tai nạn do tính chất địa hình.  
Phương pháp chuyên khảo:  
Nghiên cứu các nguyên nhân thuộc về tổ chức và kỹ thuật theo các số  
liệu thống kê.  
Phân tích sự phụ thuộc của nguyên nhân đó với các phương pháp hoàn  
Trang 10  
thành các quá trình thi công và các biện pháp an toàn đã thực hiện.  
Nêu ra các kết luận trên cơ sở phân tích.  
4) Đánh giá tình hình tai nạn lao động:  
Đánh giá tình hình tai nạn lao động không thể căn cứ vào số lượng tuyệt  
đối tai nạn đã xảy mà chủ yếu căn cứ vào hệ số sau đây:  
Hệ số tần suất chấn thương Kts: là tỷ số giữa số lượng tai nạn xảy ra  
trong thời gian xác định và số lượng người làm việc trung bình trong đơn  
vị trong khoảng thời gian thống kê.  
1.000xS  
Kts   
(1.1)  
N
Trong đó:  
+ S: số người bị tai nạn.  
+ N: số người làm việc bình quân trong thời gian đó.  
Kts nói lên được mức độ tai nạn nhiều hay ít nhưng không cho biết đầy đủ  
tình trạng tai nạn nặng hay nhẹ.  
Hệ số nặng nhẹ Kn là số ngày bình quân mất khả năng công tác (nghỉ  
việc) tính cho mỗi lần bị tai nạn:  
D
Kn   
(1.2)  
S
Trong đó:  
D: tổng số ngày nghỉ việc do tai nạn lao động gây ra.  
Kn chưa phản ánh hết tai nạn chết người và thương vong nghiêm trọng làm  
cho nạn nhân mất hoàn toàn khả năng lao động.  
Hệ số tai nạn chung Ktn:  
Ktn Kts Kn  
(1.3)  
Ktn đặc trưng chính xác hơn về mức độ diễn biến tình hình chấn thương.  
CHƯƠNG II - KỸ THUẬT VỆ SINH LAO ĐỘNG  
II.1. Mở đầu  
1) Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học vệ sinh lao động  
Khoa học vệ sinh lao động nghiên cứu tác dụng sinh học của các yếu tố bất  
lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ và tổ chức cơ thể con người, cũng như các biện  
pháp đề phòng, làm giảm và loại trừ tác hại của chúng.  
Tất cả các yếu tố gây tác dụng có hại lên con người riêng lẽ hay kết hợp  
trong điều kiện sản xuất gọi là tác hại nghề nghiệp. Kết quả tác dụng của chúng  
lên cơ thể con người có thể gây ra các bệnh tật được gọi là bệnh nghề nghiệp.  
Đối tượng của vệ sinh lao động là nghiên cứu:  
Quá trình lao động và sản xuất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.  
Trang 11  
Nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm và vật thải ra có ảnh hưởng đến  
sức khoẻ con người.  
Quá trình sinh lý của con người trong thời gian lao động.  
Hoàn cảnh, môi trường lao động của con người.  
Tình hình sản xuất không hợp lý ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.  
Mục đích nghiên cứu là để tiêu diệt những nguyên nhân có ảnh hưởng  
không tốt đến sức khoẻ và khả năng lao động của con người.  
Nhiệm vụ chính của vệ sinh lao động là dùng biện pháp cải tiến lao động,  
quá trình thao tác, sáng tạo điều kiện sản xuất hoàn thiện để nâng cao trạng thái  
sức khoẻ và khả năng lao động cho người lao động.  
Những nhân tố ảnh hưởng và biện pháp phòng ngừa  
Tất cả những nhân tố ảnh hưởng có thể chia làm 3 loại:  
Nhân tố vật lý học: như nhiệt độ cao thấp bất thường của lò cao, ngọn  
lửa của hàn hồ quang, áp lực khí trời bất thường, tiếng động, chấn động  
của máy, ...  
Nhân tố hoá học: như khí độc, vật thể có chất độ, bụi trong sản xuất, ...  
Nhân tố sinh vật: ảnh hưởng của sinh vật, vi trùng mà sinh ra bệnh  
truyền nhiễm.  
b - Các biện pháp phòng ngừa chung:  
Các bệnh nghề nghiệp và nhiễm độc trong xây dựng cơ bản có thể đề  
phòng bằng cách thực hiện tổng hợp các biện pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm:  
Cải thiện chung tình trạng chỗ làm việc và vùng làm việc.  
Cải thiện môi trường không khí.  
Thực hiện chế độ vệ sinh sản xuất và biện pháp vệ sinh an toàn cá nhân.  
Tổng hợp các biện pháp trên bao gồm các vấn đề sau:  
Lựa chọn đúng đắn và đảm bảo các yếu tố vi khí hậu, tiện nghi khi thiết  
kế các nhà xưởng sản xuất.  
Loại trừ tác dụng có hại của chất độc và nhiệt độ cao lên người làm việc.  
Làm giảm và triệt tiêu tiếng ồn, rung động.  
Có chế độ lao động riêng đối với một số công việc nặng nhọc tiến hành  
trong các điều kiện vật lý không bình thường, trong môi trường độc  
hại,...  
Tổ chức chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo ở chỗ làm việc hợp lý theo tiêu  
chuẩn yêu cầu.  
Đề phòng bệnh phóng xạ có liên quan đến việc sử dụng các chất phóng  
xạ và đồng vị.  
Sử dụng các dụng cụ phòng hộ cá nhân để bảo vệ cơ quan thị giác, hô  
hấp, bề mặt da, ...  
Trang 12  
II.2. Ảnh hưởng của tình trạng mệt mỏi và tư thế lao động  
1) Mệt mỏi trong lao động  
a - Khái niệm mệt mỏi trong lao động:  
Mệt mỏi là trạng thái tạm thời của cơ thể xảy ra sau 1 thời gian lao động  
nhất định. Mệt mỏi trong lao đông thể hiện ở chỗ:  
Năng suất lao động giảm.  
Số lượng phế phẩm tăng lên.  
Dễ bị xảy ra tai nạn lao động.  
Khi mệt mỏi, người lao động cảm giác khó chịu, buồn chán công việc. Nếu  
được nghỉ ngơi, các biểu hiện trên mất dần, khả năng lao động được phục hồi.  
Nếu mệt mỏi kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng quá mệt mỏi thì không còn là  
hiện tượng sinh lý bình thường mà đã chuyển sang tình trạng bệnh lý do sự tích  
chứa mệt mỏi làm rối loạn các chức năng thần kinh và ảnh hưởng đến toàn bộ cơ  
thể.  
b - Nguyên nhân gây ra mệt mỏi trong lao động  
Lao động thủ công nặng nhọc và kéo dài, giữa ca làm việc không có thời  
gian nghỉ ngơi hợp lý.  
Những công việc có tính chất đơn điệu, đều đều gây buồn chán.  
Thời gian làm việc quá dài.  
Nơi làm việc có nhiều yếu tố độc hại như tiếng ồn, rung chuyển quá lớn,  
nhiệt độ ánh sáng không hợp lý, …  
Làm việc ở tư thế gò bó: đứng ngồi bắt buộc, đi lại nhiều lần, …  
Ăn uống không đảm bảo khẩu phần về năng lượng cũng như về sinh tố,  
các chất dinh dưỡng cần thiết, ...  
Những người mới tập lao động hoặc nghề nghiệp chưa thành thạo, ...  
Bố trí công việc quá khả năng hoặc sức khoẻ mà phải làm những việc  
cần gắng sức nhiều, ...  
Do căng thẳng quá mức của cơ quan phân tích như thị giác, thính giác.  
Tổ chức lao động thiếu khoa học.  
Những nguyên nhân về gia đình , xã hội ảnh hưởng đến tình cảm tư  
tưởng của người lao động.  
c - Biện pháp đề phòng mệt mỏi trong lao động:  
Cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất không những là biện  
pháp quan trọng để tăng năng suất lao động, mà còn là những biện pháp  
cơ bản đề phòng mỏi mệt.  
Tổ chức lao động khoa học, tổ chức dây chuyền lao động và ca kíp làm  
việc hợp lý để tạo ra những điều kiện tối ưu giữa con người và máy, giữa  
con người và môi trường lao động, ...  
Trang 13  
Cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm loại trừ các yếu tố  
có hại.  
Bố trí giờ giấc lao động và nghỉ ngơi hợp lý, không kéo dài thời gian lao  
động nặng nhọc quá mức quy định, không bố trí làm việc thêm giờ quá  
nhiều.  
Coi trọng khẩu phần ăn của người lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp  
lao động thể lực.  
Rèn luyện thể dục thể thao, tăng cường nghỉ ngơi tích cực.  
Xây dựng tinh thần yêu lao động, yêu ngành nghề, lao động tự giác, tăng  
cường các biện pháp động viên tình cảm, tâm lý nhằm loại những nhân tố tiêu  
cực dẫn đến mệt mỏi về tâm lý, tư tưởng.  
Tổ chức tốt các khâu về gia đình, xã hội nhằm tạo ra cuộc sống vui tươi  
lành mạnh để tái tạo sức lao động, đồng thời ngăn ngừa mệt mỏi.  
2) Tư thế lao động bắt buộc  
Do yêu cầu sản xuất, mỗi loại nghề nghiệp đều có một tư thế riêng. Người  
ta chia tư thế làm việc thành 2 loại:  
Tư thế lao động thoải mái là tư thế có thể thay đổi được trong quá trình lao  
động nhưng không ảnh hưởng đễn sản xuất.  
Tư thế lao động bắt buộc là tư thế mà người lao động không thay đổi được  
trong quá trình lao động.  
a - Tác hại lao động tư thế bắt buộc:  
Tư thế lao động đứng bắt buộc:  
Có thể làm vẹo cột sống, làm dãn tĩnh mạch ở kheo chân. Chân bẹt là  
một bệnh nghề nghiệp rất phổ biến do tư thế đứng bắt buộc gây ra.  
Bị căng thẳng do đứng quá lâu, khớp đầu gối bị biến dạng có thể bị bệnh  
khuỳnh chân dạng chữ O hoặc chữ X.  
Ảnh hưởng đến bộ phận sinh dục nữ, gây ra sự tăng áp lực ở trong khung  
chậu làm cho tử cung bị đè ép, nếu lâu ngày có thể dẫn đến vô sinh hoặc  
gây ra chứng rối loạn kinh nguyệt.  
Tư thế lao động ngồi bắt buộc:  
Nếu ngồi lâu ở tư thế bắt buộc sẽ dẫn đến biến dạng cột sống.  
Làm tăng áp lực trong khung chậu và cũng gây ra các biến đổi vị trí của  
tử cung và rối loạn kinh nguyệt.  
Tư thế ngồi bắt buộc còn gây ra táo bón, hạ trĩ.  
So với tư thế đứng thì ít tác hại hơn.  
b - Biện pháp đề phòng:  
Cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất là biện pháp tích cực nhất.  
Cải tiến thiết bị và công cụ lao động để tạo điều kiện làm việc thuận lợi  
Trang 14  
cho người lao động.  
Rèn luyện thân thể để tăng cường khả năng lao động và khắc phục mọi  
ảnh hưởng xấu do nghề nghiệp gây ra, còn có tác dụng chỉnh hình trong  
các trưưòng hợp bị gù vẹo cột sống và lấy lại sự thăng bằng do sự đè ép  
căng thẳng quá mức ở bụng.  
Tổ chức lao động hợp lý: bố trí ca kíp hợp lý, nghỉ ngơi thích hợp để  
tránh tư thế ngồi và đứng bắt buộc quá lâu ở một số ngành nghề.  
II.3. Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đối với cơ thể  
Điều kiện khí hậu của hoàn cảnh sản xuất là tình trạng vật lý của không khí  
bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm tương đối, tốc độ lưu chuyển không khí  
và bức xạ nhiệt trong phạm vi môi trường sản xuất của người lao động. Những  
yếu tố này tác động trực tiếp đến cơ thể con người, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ  
và ảnh hưởng đến khả năng lao động của công nhân.  
1) Nhiệt độ không khí  
a - Nhiệt độ cao:  
Nước ta ở vùng nhiệt đới nên mùa hè nhiệt độ có khi lên đến 400C. Lao  
động ở nhiệt độ cao đòi hỏi sự cố gắng cao của cơ thể, sự tuần hoàn máu mạnh  
hơn, tần suất hô hấp tăng, sự thiếu hụt ôxy tăng, dẫn đến cơ thể phải làm việc  
nhiều để giữ cân bằng nhiệt.  
Khi làm việc ở nhiệt độ cao, người lao động bị mất nhiều mồ hôi. Trong lao  
động nặng cơ thể phải mất 6 - 7 lít mồ hôi nên sau 1 ngày làm việc cơ thể có thể  
bị sút 2 - 4 kg.  
Mồ hôi mất nhiều sẽ làm mất 1 số lượng muối của cơ thể. Cơ thể con người  
chiếm 75% là nước, nên việc mất nước không được bù đắp kịp thời sẽ dẫn đến  
những rối loạn các chức năng sinh lý của cơ thể do rối loạn chuyển hoá muối và  
nước gây ra.  
Khi cơ thể mất nước và muối quá nhiều sẽ dẫn đến các hậu quả sau đây:  
Làm việc ở nhiệt độ cao, nếu không điều hoà thân nhiệt bị trở ngại sẽ  
làm thân nhiệt tăng lên. Khi thân nhiệt tăng 0,30 - 10C, trong người đã  
cảm thấy khó chịu, gây đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, gây trở ngại  
nhiều cho sản xuất và công tác. Nếu không có biện pháp khắc phục dẫn  
đến hiện tượng say nóng, say nắng, kinh giật, mất trí.  
Khi cơ thể mất nước, máu sẽ bị quánh lại, tim làm việc nhiều nên dễ bị  
suy tim. Khi điều hoà thân nhiệt bị rối loạn nghiêm trọng thì hoạt động  
của tim cũng bị rối loạn rõ rệt.  
Đối với cơ quan thận, bình thường bài tiết từ 50-70% tổng số nước của  
cơ thể. Nhưng trong lao động nóng, do cơ thể thoát mồ hôi nên thận chỉ  
bài tiết 10-15% tổng số nước nước tiểu cô đặc gây viêm thận.  
Khi làm việc ở nhiệt độ cao, công nhân uống nhiều nước nên dịch vị  
loãng, làm ăn kém ngon và tiêu hoá cũng kém sút. Do mất thăng bằng về  
Trang 15  
muối và nước nên ảnh hưởng đến bài tiết các chất dịch vị đến rối loạn về  
viêm ruột, dạ dày.  
Khi làm việc ở nhiệt độ cao, hệ thần kinh trung ương có những phản ứng  
nghiêm trọng. Do sự rối loạn về chức năng điều khiển của vỏ não sẽ dẫn  
đến giảm sự chú ý và tốc độ phản xạ sự phối hợp động tác lao động kém  
chính xác..., làm cho năng suất kém, phế phẩm tăng và dễ bị tai nạn lao  
động.  
b - Nhiệt độ thấp:  
Tác hại của nhiệt độ thấp đối với cơ thể ít hơn so với nhiệt độ cao. Tuy  
nhiên sự chênh lệch quá nhiều cũng gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể:  
Nhiệt độ thấp, đặc biệt khi có gió mạnh sẽ làm cho cơ thể quá lạnh gây  
ra cảm lạnh.  
Bị lạnh cục bộ thường xuyên có thể dẫn đến bị cảm mãn tính, rét run, tê  
liệt từng bộ phận riêng của cơ thể.  
Nhiệt độ quá thấp cơ thể sinh loét các huyết quản, đau các khớp xương,  
đau các bắp thịt.  
Nhiệt độ nơi làm việc lạnh có thể làm cho công nhân bị cóng, cử động  
không chính xác, năng suất giảm thấp.  
Những người làm việc dưới nước lâu, làm việc nơi quá lạnh cần phải được  
trang bị các phương tiện cần thiết để chống rét và chống các tác hại do lạnh gây  
ra.  
2) Độ ẩm không khí  
Độ ẩm không khí nói lên lượng hơi nước chứa trong không khí tại nơi sản  
xuất. Độ ẩm tương đối của không khí cao từ 75 - 80% trở lên sẽ làm cho sự điều  
hòa nhiệt độ khó khăn, làm giảm sự tỏa nhiệt bằng con đường bốc mồ hôi.  
Nếu độ ẩm không khí cao và khi nhiệt độ cao, lặng gió làm con người nóng  
bức, khó chịu.  
Nếu độ ẩm không khí thấp, có gió vừa phải thì thân nhiệt không bị tăng lên,  
con người cảm thấy thoả mái, nhưng không nên để độ ẩm thấp hơn 30%.  
3) Luồng không khí  
Luồng không khí biểu thị bằng tốc độ chuyển động của không khí. Tốc độ  
lưu chuyển không khí có ảnh hưởng trực tiếp đến sự toả nhiệt, nó càng lớn thì sự  
toả nhiệt trong 1 đơn vị thời gian càng nhiều.  
Gió có ảnh hưởng rất tốt đến với việc bốc hơi nên nơi làm việc cần thoáng  
mát.  
Luồng không khí có tốc độ đều hoặc có tốc độ và phương thay đổi nhanh  
chóng đều có ý nghĩa vệ sinh quan trọng trong sản xuất.  
4) Biện pháp chống nóng cho người lao động  
Cải tiến kỹ thuật, cơ giới hoá và tự động hoá các khâu sản xuất mà công  
Trang 16  
nhân phải làm việc trong nhiệt độ cao.  
Cách ly nguồn nhiệt bằng phương pháp che chắn. Nếu có điều kiện có  
thể làm láng di động có mái che để chống nóng.  
Bố trí hệ thống thông gió tự nhiên và nhân tạo để tạo ra luồng không khí  
thường xuyên nơi sản xuất, đồng thời phải có biện pháp chống ẩm để  
làm cho công nhân dễ bốc mồ hôi:  
Để tránh nắng và bức xạ mặt trời và lợi dụng hướng gió thì nhà xưởng  
nên xây dựng theo hướng bắc-nam, có đủ diện tích cửa sổ, cửa trời tạo  
điều kiện thông gió tốt.  
Ở những nơi cục bộ toả ra nhiều nhiệt như lò rèn, lò sấy hấp, ở phía trên  
có thể đặt nắp hoặc chụp hút tự nhiên hay cưỡng bức nhằm hút thải  
không khí nóng hoặc hơi độc ra ngoài không cho lan tràn ra khắp phân  
xưởng.  
Bố trí máy điều hòa nhiệt độ ở những bộ phận sản xuất đặc biệt.  
Hạn chế bớt ảnh hưởng từ các thiết bị, máy móc và quá trình sản xuất  
bức xạ nhiều nhiệt:  
Các thiết bị bức xạ nhiệt phải bố trí ở các phòng riêng. Nếu quá trình  
công nghệ cho phép, các loại lò nên bố trí ngoài nhà.  
Máy móc, đường ống, lò và các thiết bị toả nhiệt khác nên làm cách  
nhiệt bằng các vật liệu như bông, amiăng, vật liệu chịu lửa, bêtông  
bột. Nếu điều kiện không cho phép sử dụng chất cách nhiệt thì xung  
quanh thiết bị bức xạ nhiệt có thể làm 1 lớp vỏ bao và màn chắn hoặc  
màn nước.  
Sơn mặt ngoài buồng lái các máy xây dựng bằng sơn có hệ số phản  
chiếu tia năng lớn như sơn nhủ, sơn màu trắng, ...  
Tổ chức lao động hợp lý, cải thiện tốt điều kiện làm việc ở chỗ nắng,  
nóng. Tạo điều kiện nghỉ ngơi và bồi dưỡng hiện vật cho công nhân.  
Tăng cường nhiều sinh tố trong khẩu phần ăn, cung cấp đủ nước uống  
sạch và hợp vệ sinh (pha thêm 0.5% muối ăn), đảm bảo chỗ tắm rửa cho  
công nhân sau khi làm việc.  
Sử dụng các dụng cụ phòng hộ cá nhân, quần áo bằng vải có sợi chống  
nhiệt cao ở những nơi nóng, kính màu, kính mờ ngăn các tia có hại cho  
mắt.  
Khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân lao động ở chỗ nóng, không bố  
trí những người có bệnh tim mạch và thần kinh làm việc ở những nơi có  
nhiệt độ cao.  
II.4. Chống tiếng ồn và rung động trong sản xuất  
1) Những khái niệm chung  
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh khác nhau về cường độ và tần số  
Trang 17  
không có nhịp gây cho con người cảm giác khó chịu.  
Rung động là dao động cơ học của vật thể đàn hồi sinh ra khi trọng tâm  
hoặc trục đối xứng của chúng xê dịch trong không gian hoặc do sự thay đổi có  
tính chu kỳ hình dạng mà chúng có ở trạng thái tĩnh.  
Trong môi trường công nghiệp có nhiều công tác sinh ra tiếng ồn và rung  
động. Tiếng ồn và rung động trong sản xuất là các tác hại nghề nghiệp nếu  
cường độ của chúng vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép.  
2) Nguồn phát sinh tiếng ồn và rung động:  
a - Nguồn phát sinh tiếng ồn:  
Có nhiều nguồn phát sinh tiếng ồn khác nhau:  
Theo nơi xuất hiện tiếng ồn: phân ra tiếng ồn trong nhà máy sản xuất và  
tiếng ồn trong sinh hoạt.  
Theo nguồn xuất phát tiếng ồn: phân ra tiếng ồn cơ khí, tiếng ồn khí động  
và tiếng ồn các máy điện.  
Tiếng ồn cơ khí:  
Gây ra bởi sự làm việc của các máy móc do sự chuyển động của các cơ  
cấu phát ra tiếng ồn không khí trực tiếp.  
Gây ra bởi bề mặt cơ cấu hoặc bộ phận kết cấu liên quan với chúng.  
Gây ra bởi sự va chạm giữa các vật thể trong các thao tác đập búa khi  
rèn, gò, dát kim loại, ...  
Tiếng ồn khí động: Sinh ra do chất lỏng hoặc hơi, khí chuyển động vận tốc  
lớn (tiếng ồn quạt máy, máy khí nén, các động cơ phản lực, ...).  
Tiếng ồn của các máy điện:  
Do sự rung động của các phần tĩnh và phần quay dưới ảnh hưởng của lực  
từ thay đổi tác dụng ở khe không khí và ở ngay trong vật liệu của máy  
điện.  
Do sự chuyển động của các dòng không khí ở trong máy và sự rung động  
các chi tiết và các đầu mối do sự không cân bằng của phần quay.  
b - Nguồn phát sinh rung động:  
Từ các loại dụng cụ cơ khí với bộ phận chuyển động điện hoặc khí nén là  
những nguồn rung động gây tác dụng cục bộ lên cơ thể con người.  
c - Các thông số đặc trưng cho tiếng ồn và rung động:  
Đặc trưng cho tiếng ồn:  
Đặc trưng là các thông số vật lý như cường độ, tần số, phổ tiếng ồn và các  
thông số sinh lý như mức to, độ cao. Tác hại gây ra bởi tiếng ồn phụ thuộc vào  
cường độ và tần số của nó.  
Tiếng ồn mức 100 - 120dB với tần số thấp và 80 - 95dB với tần số trung  
bình và cao có thể gây ra sự thay đổi ở cơ quan thính giác. Tiếng ồn mức 130 -  
Trang 18  
150dB có thể gây huỷ hoại có tính chất cơ học đối với cơ quan thính giác (thủng  
màng nhĩ).  
Theo tần số, tiếng ồn chia thành tiếng ồn có tần số thấp dưới 300Hz, tần số  
trung bình 300-1.000Hz, tần số cao trên 3.000Hz. Tiếng ồn tần số cao có hại hơn  
tiếng ồn tần số thấp.  
Tuỳ theo đặc đIểm của tiếng ồn mà phổ của nó có thể là phổ liên tục, phổ  
gián đoạn (phổ thưa) và phổ hổn hợp. Hai loại sau gây ảnh hưởng đặc biệt xấu  
lên cơ thể con người.  
Đặc trưng cho rung động:  
Đặc trưng là biên độ dao động A, tần số f, vận tốc v, gia tốc .  
Đặc trưng cảm giác của con người chịu tác dụng rung động chung với biên  
bộ 1mm như sau:  
(mm/s2)  
với f = 1-10Hz  
v (mm/s)  
Tác dụng của rung động  
với f = 10-100Hz  
Không cảm thấy  
Cảm thấy ít  
10  
125  
0,16  
0,64  
2
Cảm thấy vừa, dễ chịu  
Cảm thấy mạnh, dễ chịu  
Có hại khi tác dụng lâu  
Rất hại  
140  
400  
6,4  
1000  
>1000  
16,4  
>16,4  
3) Tác hại của tiếng ồn:  
a - Đối với cơ quan thính giác:  
Khi chịu tác dụng của tiếng ồn, độ nhạy cảm của thính giác giảm xuống,  
ngưỡng nghe tăng lên. Khi rời môi trường ồn đến nơi yên tĩnh, độ nhạy cảm có  
khả năng phục hồi lại nhanh nhưng sự phục hồi đó chỉ có 1 hạn độ nhất định.  
Dưới tác dụng kéo dài của tiếng ồn, thính lực giảm đi rõ rệt và phải sau 1  
thời gian khá lâu sau khi rời nơi ồn, thính giác mới phục hồi lại được.  
Nếu tác dụng của tiếng ồn lặp lại nhiều lần, thính giác không còn khả năng  
phục hồi hoàn toàn về trạng thái bình thường được, sự thoái hoá dần dần sẽ phát  
triển thành những biến đổi có tính chất bệnh lý gây ra bệnh nặng tai và điếc.  
b - Đối với hệ thần kinh trung ương:  
Tiếng ồn cường độ trung bình và cao sẽ gây kích thích mạnh đến hệ thống  
thần kinh trung ương, sau 1 thời gian dài có thể dẫn tới huỷ hoại sự hoạt động  
của đầu não thể hiện đau đầu, chóng mặt, cảm giác sợ hãi, hay bực tức, trạng  
thái tâm thần không ổn định, trí nhớ giảm sút, ...  
c - Đối với hệ thống chức năng khác của cơ thể:  
Ảnh hưởng xấu đến hệ thống tim mạch, gây rối loạn nhịp tim.  
Làm giảm bớt sự tiết dịch vị, ảnh hưởng đến co bóp bình thường của dạ  
Trang 19  
dày.  
Làm cho hệ thống thần kinh bị căng thẳng liên tục có thể gây ra bệnh cao  
huyết áp.  
Làm việc tiếp xúc với tiếng ồn quá nhiều, có thể dần dần bị mệt mỏi, ăn  
uống sút kém và không ngủ được, nếu tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến  
bệnh suy nhược thần kinh và cơ thể.  
4) Tác hại của rung động:  
Khi cường độ nhỏ và tác động ngắn thì sự rung động này có ảnh hưởng tốt  
như tăng lực bắp thịt, làm giảm mệt mỏi, ...  
Khi cường độ lớn và tác dụng lâu gây khó chịu cho cơ thể. Những rung  
động có tần số thấp nhưng biên độ lớn thường gây ra sự lắc xóc, nếu biên độ  
càng lớn thì gây ra lắc xóc càng mạnh. Tác hại cụ thể:  
Làm thay đổi hoạt động của tim, gây ra di lệch các nội tạng trong ổ  
bụng, làm rối loạn sự hoạt động của tuyến sinh dục nam và nữ.  
Nếu bị lắc xóc và rung động kéo dài có thể làm thay đổi hoạt động chức  
năng của tuyến giáp trạng, gây chấn động cơ quan tiền đình và làm rối  
loạn chức năng giữ thăng bằng của cơ quan này.  
Rung động kết hợp với tiếng ồn làm cơ quan thính giác bị mệt mỏi quá  
mức dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp.  
Rung động lâu ngày gây nên các bệnh đâu xương khớp, làm viêm các hệ  
thống xương khớp. Đặc biệt trong điều kiện nhất định có thể phát triển  
gây thành bệnh rung động nghề nghiệp.  
Đối với phụ nữ, nếu làm việc trong điều kiện bị rung động nhiều sẽ gây  
di lệch tử cung dẫn đến tình trạng vô sinh. Trong những ngày hành kinh,  
nếu bị rung động và lắc xóc nhiều sẽ gây ứ máu ở tử cung.  
5) Biện pháp phòng và chống tiếng ồn:  
a - Loại trừ nguồn phát sinh ra tiếng ồn:  
Dùng quá trình sản xuất không tiếng ồn thay cho quá trình sản xuất có  
tiếng ồn.  
Làm giảm cường độ tiếng ồn phát ra từ máy móc và động cơ.  
Giữ cho các máy ở trạng thái hoàn thiện: siết chặt bulông, đinh vít, tra  
dầu mỡ thường xuyên.  
b - Cách ly tiếng ồn và hút âm:  
Lắp các thiết bị giảm tiếng động của máy. Bao phủ chất hấp thụ sự rung  
động ở các bề mặt rung động phát ra tiếng ồn bằng vật liệu có ma sát  
trong lớn; ngoài ra trong 1 số máy có bộ phận tiêu âm.  
Chọn vật liệu cách âm để làm nhà cửa. Làm nền nhà bằng cao su, cát,  
nền nhà phải đào sâu, xung quanh nên đào rãnh cách âm rộng 6-10 cm.  
Mức độ cách âm yêu cầu được xác định theo trị số cách âm D. Trị số D là  
Trang 20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 53 trang baolam 21300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình An toàn vệ sinh công nghiệp (Nghề quản trị mạng máy tính)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_an_toan_ve_sinh_cong_nghiep_nghe_quan_tri_mang_ma.doc