Giáo trình Tin học lý thuyết - Chương III: Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy

Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
CHƯƠNG III  
ÔTÔMÁT HỮU HẠN VÀ BIỂU THỨC  
CHÍNH QUY  
Nội dung chính: Trong chương này, ta sẽ nghiên cứu một loại "máy trừu tượng" gọi  
là ôtômát hữu hạn. Chúng là công cụ dùng đoán nhận một lớp ngôn ngữ khá đơn giản  
gọi là lớp ngôn ngữ chính quy. Trước hết, hai dạng của ôtômát hữu hạn sẽ lần lượt  
được trình bày và có sự chứng minh rằng chúng tương đương nhau về khả năng đoán  
nhận ngôn ngữ. Tiếp đó, ta sẽ đề cập đến biểu thức chính quy - một phương tiện khác  
để xác định ngôn ngữ và ta lại thấy rằng lớp ngôn ngữ do các ôtômát hữu hạn chấp  
nhận chính là lớp ngôn ngữ chính quy. Phần tiếp theo của chương sẽ đề cập đến mối  
quan hệ giữa cơ chế ôtômát và các biểu thức chính quy dùng ký hiệu cho ngôn ngữ.  
Cuối chương này, một vài ứng dụng cụ thể của ôtômát hữu hạn sẽ được trình bày.  
Mục tiêu cần đạt: Kết thúc chương này, sinh viên cần nắm vững :  
¾ Khái niệm ôtômát hữu hạn, các thành phần, các dạng và sự khác biệt cơ bản  
giữa hai dạng.  
¾ Cách thức chuyển đổi tương đương từ dạng đơn định sang không đơn định  
và ngược lại.  
¾ Viết biểu thức chính quy ký hiệu cho tập ngôn ngữ chính quy.  
¾ Mối liên quan giữa ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy.  
¾ Vẽ sơ đồ chuyển trạng thái (đơn định hoặc không đơn định) từ một biểu  
thức chính quy.  
¾ Tìm các ứng dụng thực tế khác từ mô hình ôtômát hữu hạn.  
Kiến thức cơ bản: Để tiếp thu tốt nội dung của chương này, sinh viên cần có một số  
các kiến thức liên quan về lý thuyết đồ thị, lý thuyết mạch; hiểu các khái niệm cơ bản  
về kiến trúc máy tính; có sử dụng qua một số trình soạn thảo văn bản thông thường …  
Tài liệu tham khảo :  
[1] John E. Hopcroft, Jeffrey D.Ullman – Introduction to Automata Theory,  
Languages and Computation – Addison – Wesley Publishing Company, Inc –  
1979 (Chapter 2 : Finite Automata and Regular Expressions).  
[2] Phan Thị Tươi – Trình biên dịch – Nhà xuất bản Giáo dục – 1986 (Chương 3 :  
Bộ phân tích từ vựng).  
20  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
[3] J.A.Garcia and S.Moral- Theory of Finite Automata :  
[4] Donald R. Biggar - Regular Expression Matching Using Finite Automata:  
I. ÔTÔMÁT HỮU HẠN (FA : Finite Automata)  
Ôtômát hữu hạn FA là một mô hình tính toán của hệ thống với sự mô tả bởi các input  
và output. Tại mỗi thời điểm, hệ thống có thể được xác định ở một trong số hữu hạn  
các cấu hình nội bộ gọi là các trạng thái (states). Mỗi trạng thái của hệ thống thể hiện  
sự tóm tắt các thông tin liên quan đến những input đã chuyển qua và xác định các  
phép chuyển kế tiếp trên dãy input tiếp theo.  
Trong khoa học máy tính, ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ về hệ thống trạng thái hữu  
hạn, và lý thuyết về ôtômát hữu hạn là một công cụ thiết kế hữu ích cho các hệ thống  
này. Chẳng hạn, một hệ chuyển mạch như bộ điều khiển (Control Unit) trong máy  
tính. Một chuyển mạch thì bao gồm một số hữu hạn các cổng (gate) input, mỗi cổng  
có 2 giá trị 0 hoặc 1. Các giá trị đầu vào này sẽ xác định 2 mức điện thế khác nhau ở  
cổng output. Mỗi trạng thái của một mạng chuyển mạch với n cổng bất kỳ sẽ là một  
trường hợp trong 2n phép gán của 0 và 1 đối với các cổng khác nhau. Các chuyển  
mạch thì được thiết kế theo cách này, vì thế chúng có thể được xem như hệ thống  
trạng thái hữu hạn. Các chương trình sử dụng thông thường, chẳng hạn trình sọan  
thảo văn bản hay bộ phân tích từ vựng trong trình biên dịch máy tính cũng được thiết  
kế như các hệ thống trạng thái hữu hạn. Ví dụ bộ phân tích từ vựng sẽ quét qua tất cả  
các dòng ký tự của chương trình máy tính để tìm nhóm các chuỗi ký tự tương ứng với  
một tên biến, hằng số, từ khóa, …Trong quá trình xử lý này, bộ phân tích từ vựng cần  
phải nhớ một số hữu hạn thông tin như các ký tự bắt đầu hình thành những chuỗi từ  
khóa. Lý thuyết về ôtômát hữu hạn thường được dùng đến nhiều cho việc thiết kế các  
công cụ xử lý chuỗi hiệu quả.  
Máy tính cũng có thể được xem như một hệ thống trạng thái hữu hạn. Trạng thái hiện  
thời của bộ xử lý trung tâm, bộ nhớ trong và các thiết bị lưu trữ phụ ở mỗi thời điểm  
bất kỳ là một trong những số rất lớn và hữu hạn của số trạng thái. Bộ não con người  
cũng là một hệ thống trạng thái hữu hạn, vì số các tế bào thần kinh hay gọi là neurons  
là số có giới hạn, nhiều nhất có thể là 235.  
Lý do quan trọng nhất cho việc nghiên cứu các hệ thống trạng thái hữu hạn là tính tự  
nhiên của khái niệm và khả năng ứng dụng đa dạng trong nhiều lĩnh vực thực tế.  
Ôtômát hữu hạn (FA) được chia thành 2 loại: đơn định (DFA) và không đơn định  
(NFA). Cả hai loại ôtômát hữu hạn đều có khả năng nhận dạng chính xác tập chính  
quy. Ôtômát hữu hạn đơn định có khả năng nhận dạng ngôn ngữ dễ dàng hơn ôtômát  
hữu hạn không đơn định, nhưng thay vào đó thông thường kích thước của nó lại lớn  
hơn so với ôtômát hữu hạn không đơn định tương đương.  
21  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
1.1. Ôtômát hữu hạn đơn định - DFA (Deterministic Finite Automata)  
Một ôtômát hữu hạn đơn định (DFA) - gọi tắt là FA -gồm một tập hữu hạn các trạng  
thái và một tập các phép chuyển từ trạng thái này tới trạng thái khác trên các ký hiệu  
nhập (input symbols) được chọn từ một bộ chữ cái Σ nào đó. Mỗi ký hiệu nhập có  
đúng một phép chuyển khỏi mỗi trạng thái (có thể chuyển trở về chính nó). Một trạng  
thái, thường ký hiệu là q0, gọi là trạng thái bắt đầu (trạng thái ôtômát bắt đầu). Một số  
trạng thái được thiết kế như là các trạng thái kết thúc hay trạng thái chấp nhận.  
Một đồ thị có hướng, gọi là sơ đồ chuyển (transition diagram) tương ứng với một  
DFA như sau: các đỉnh của đồ thị là các trạng thái của DFA; nếu có một đường  
chuyển từ trạng thái q đến trạng thái p trên input a thì có một cung nhãn a chuyển từ  
trạng thái q đến trạng thái p trong sơ đồ chuyển. DFA chấp nhận một chuỗi x nếu như  
tồn tại dãy các phép chuyển tương ứng trên mỗi ký hiệu của x dẫn từ trạng thái bắt  
đầu đến một trong những trạng thái kết thúc.  
Chẳng hạn, sơ đồ chuyển của một DFA được mô tả trong hình 3.1. Trạng thái khởi  
đầu q0 được chỉ bằng mũi tên có nhãn "Start". Chỉ có duy nhất một trạng thái kết thúc,  
cũng là q0 trong trường hợp này, được chỉ ra bằng hai vòng tròn. Ôtômát này chấp  
nhận tất cả các chuỗi số 0 và số 1 với số số 0 và số số 1 là số chẵn.  
Thí dụ 3.1 :  
c
1
Start  
q1  
q0  
1
0
0
a
b
0
0
1
q2  
q3  
1
d
Hình 3.1 - Sơ đồ chuyển của một DFA  
Một điều cần lưu ý, DFA sử dụng mỗi trạng thái của nó để giữ chỉ một phần của  
chuỗi số 0 và 1 chứ không phải chứa một số thực sự, vì thế DFA cần dùng một số hữu  
hạn trạng thái.  
Định nghĩa  
22  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Một cách hình thức ta định nghĩa ôtômát hữu hạn là bộ gồm năm thành phần (Q, Σ, δ,  
q0, F), trong đó :  
. Q là tập hợp hữu hạn các trạng thái.  
. Σ là bộ chữ cái nhập hữu hạn.  
. δ là hàm chuyển ánh xạ từ Q × Σ → Q, tức là δ(q, a) là một trạng thái được  
cho bởi phép chuyển từ trạng thái q trên ký hiệu nhập a.  
. q0 ∈ Q là trạng thái bắt đầu  
. F ⊆ Q là tập các trạng thái kết thúc.  
Ta vẽ DFA như là bộ điều khiển hữu hạn, với mỗi trạng thái thuộc Q, DFA đọc một  
chuỗi các ký hiệu a từ Σ viết trên băng (như hình vẽ).  
Input  
0
1
1
0
0
1
0
1
Bộ điều khiển  
Hình 3.2 - Mô tả một DFA  
Trong một lần chuyển, DFA đang ở trạng thái q đọc ký hiệu nhập a trên băng, chuyển  
sang trạng thái được xác định bởi hàm chuyển δ(q, a), rồi dịch đầu đọc sang phải một  
ký tự. Nếu δ(q, a) chuyển đến một trong những trạng thái kết thúc thì DFA chấp nhận  
chuỗi được viết trên băng input phía trước đầu đọc, nhưng không bao gồm ký tự tại vị  
trí đầu đọc vừa dịch chuyển đến. Trong trường hợp đầu đọc đã dịch đến cuối chuỗi  
trên băng, thì DFA mới chấp nhận toàn bộ chuỗi trên băng.  
Hàm chuyển trạng thái mở rộng  
Để có thể mô tả một cách hình thức hoạt động của một DFA trên chuỗi, ta mở rộng  
hàm chuyển δ để áp dụng đối với một trạng thái trên chuỗi hơn là một trạng thái trên  
từng ký hiệu. Ta định nghĩa hàm chuyển δ như một ánh xạ từ Q × Σ* → Q với ý  
nghĩa δ(q, w) là trạng thái DFA chuyển đến từ trạng thái q trên chuỗi w. Một cách  
hình thức, ta định nghĩa :  
1. δ (q, ε) = q  
2. δ (q, wa) = δ(δ (q, w), a), với mọi chuỗi w và ký hiệu nhập a.  
Một số quy ước về ký hiệu :  
- Q là tập các trạng thái. Ký hiệu q và p (có hoặc không có chỉ số) là các  
trạng thái, q0 là trạng thái bắt đầu.  
- Σ là bộ chữ cái nhập. Ký hiệu a, b (có hoặc không có chỉ số) và các chữ số  
là các ký hiệu nhập.  
- δ là hàm chuyển.  
- F là tập các trạng thái kết thúc.  
23  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
- w, x, y và z (có hoặc không có chỉ số) là các chuỗi ký hiệu nhập.  
Ngôn ngữ được chấp nhận bởi DFA  
Một chuỗi w được chấp nhập bởi ôtômát hữu hạn M (Q, Σ, δ, q0, F) nếu δ(q0, w) = p  
với p ∈ F. Ngôn ngữ được chấp nhận bởi M, ký hiệu L(M) là tập hợp:  
L(M) = { w | δ (q0, w) ∈ F }  
Thí dụ 3.2 : Xét sơ đồ chuyển ở hình 3.1. Theo khái niệm hình thức, ta có DFA  
được xác định bởi M (Q, Σ, δ, q0, F) với Q = {q0, q1, q2, q3}, Σ = {0, 1}, F = {q0} và  
hàm chuyển δ như sau:  
Inputs  
δ
Trạng thái  
0
1
q0  
q1  
q2  
q3  
q2  
q3  
q0  
q1  
q1  
q0  
q3  
q2  
Giả sử chuỗi w = 110101 được nhập vào M.  
Ta có δ(q0, 1) = q1 và δ(q1, 1) = q0 ,vậy δ(q0, 11) = δ(δ(q0,1),1) = δ(q1, 1) = q0.  
Tiếp tục δ(q0, 0) = q2, vậy δ(q0, 110) = δ(δ(q0, 11), 0) = q2.  
Tiếp tục ta có δ(q0, 1101) = q3, δ(q0, 11010) = q1  
Và cuối cùng δ(q0, 110101) = q0 ∈ F.  
(Hay δ(q0, 110101) = δ(q1, 10101) = δ(q0, 0101) = δ(q2, 101) = δ(q3, 01) = δ(q1, 1) =  
q0 ∈ F)  
Vậy 110101 thuộc L(M). Ta có thể chứng minh rằng L(M) là tập mọi chuỗi có  
số chẵn số 0 và số chẵn số 1.  
Theo mô tả DFA như trên, ta thấy cũng có thể dùng bảng hàm chuyển (transition  
table) để mô tả các phép chuyển trạng thái của một ôtômát hữu hạn. Trong bảng hàm  
chuyển, hàng chứa các trạng thái thuộc tập trạng thái của ôtômát và cột là các ký hiệu  
thuộc bộ chữ cái nhập. Bảng hàm chuyển gợi ý cho chúng ta một cấu trúc dữ liệu để  
mô tả cho một ôtômát hữu hạn, đồng thời cũng cho thấy có thể dễ dàng mô phỏng  
hoạt động của DFA thông qua một chương trình máy tính, chẳng hạn dùng cấu trúc  
vòng lặp.  
Giải thuật mô phỏng hoạt động của một DFA  
. Input : Chuỗi nhập x kết thúc bởi $  
. Output : Câu trả lời "YES" nếu DFA chấp nhận chuỗi x và "NO" nếu  
ngược lại.  
. Giải thuật :  
q := q0 ;  
c := nextchar ;  
While c < > $ do  
begin  
{ c là ký hiệu nhập được đọc tiếp theo }  
24  
q := δ(q, c);  
c := nextchar ;  
end  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Nhận xét :  
Một cách tổng quát, ta thấy tập Q của DFA thể hiện các trạng thái lưu trữ của ôtômát  
trong quá trình đoán nhận ngôn ngữ, và như vậy khả năng lưu trữ của ôtômát là hữu  
hạn. Mặt khác, hàm chuyển δ là hàm toàn phần và đơn trị, cho nên các bước chuyển  
của ôtômát luôn luôn được xác định một cách duy nhất. Chính vì hai đặc điểm này mà  
DFA mô tả như trên được gọi là ôtômát hữu hạn đơn định.  
1.2. Ôtômát hữu hạn không đơn định - NFA (Nondeterministic Finite  
Automata)  
Xét một dạng sửa đổi mô hình DFA để chấp nhận không, một hoặc nhiều hơn một  
phép chuyển từ một trạng thái trên cùng một ký hiệu nhập. Mô hình mới này gọi là  
ôtômát hữu hạn không đơn định (NFA).  
Một chuỗi ký hiệu nhập a1 a2 ... an được chấp nhận bởi một NFA nếu có tồn tại một  
chuỗi các phép chuyển, tương ứng với chuỗi nhập, từ trạng thái bắt đầu đến trạng thái  
kết thúc. Chẳng hạn, chuỗi 01001 được chấp nhận bởi ôtômát trong hình dưới đây vì  
có chuỗi phép chuyển qua các trạng thái q0, q0, q0, q3, q4, q4 có nhãn tương ứng là 0,  
1, 0, 0, 1. NFA này chấp nhận tất cả các chuỗi có hai số 0 liên tiếp hoặc hai số 1 liên  
tiếp.  
Thí dụ 3.3 :  
1
1
0
0
Start  
0
0
q0  
q3  
q4  
1
1
q1  
q2  
25  
0
1
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Hình 3.3 - Sơ đồ chuyển của một NFA  
Chú ý rằng có thể xem ôtômát hữu hạn đơn định - DFA (hay gọi tắt là FA) là một  
trường hợp đặc biệt của NFA, trong đó mỗi trạng thái chỉ có duy nhất một phép  
chuyển trên mỗi ký hiệu nhập. Vì thế trong DFA, với một chuỗi nhập w và trạng thái  
q, chỉ có đúng một đường đi nhãn w bắt đầu từ q. Để xác định chuỗi w có được chấp  
nhận bởi DFA hay không chỉ cần kiểm tra đường đi này. Nhưng đối với NFA, có thể  
có nhiều đường đi có nhãn là w, và do đó tất cả phải được kiểm tra để thấy có hay  
không có đường đi tới trạng thái kết thúc.  
Tương tự như DFA, NFA cũng hoạt động với một bộ điều khiển hữu hạn đọc trên  
băng nhập. Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm, bộ điều khiển có thể chứa một số bất kỳ  
trạng thái. Khi có sự lựa chọn trạng thái kế tiếp, chẳng hạn như từ trạng thái q0 trên ký  
hiệu nhập 0 ở hình 3.3, ta phải tưởng tượng như có các bản sao của ôtômát đang thực  
hiện đồng thời. Mỗi trạng thái kế tiếp mà ôtômát có thể chuyển đến sẽ tương ứng với  
một bản sao của ôtômát mà tại đó bộ điều khiển đang chứa trạng thái đó.  
Chẳng hạn, với chuỗi 01001, ta có :  
0
1
0
0
1
1
q0  
q0  
q3  
q0  
q1  
q0  
q3  
q0  
q0  
0
1
0
0
1
q3  
q4  
q1  
q4  
0
Định nghĩa  
Một cách hình thức ta định nghĩa ôtômát hữu hạn không đơn định NFA là một bộ 5  
thành phần (Q, Σ, δ, q0, F) trong đó Q, Σ, q0 và F có ý nghĩa như trong DFA, nhưng δ  
là hàm chuyển ánh xạ từ Q × Σ → 2Q.  
Khái niệm δ(q, a) là tập hợp tất cả các trạng thái p sao cho có phép chuyển trên nhãn  
a từ trạng thái q tới p.  
Hàm chuyển trạng thái mở rộng  
Để thuận tiện trong việc mô tả hoạt động ôtômát trên chuỗi, ta mở rộng hàm chuyển δ  
ánh xạ từ Q × Σ* → 2Q như sau :  
26  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
1. δ(q, ε) = {q}  
2. δ(q, wa) = { p | có một trạng thái r trong δ(q, w) mà p thuộc δ(r, a)}  
= δ(δ(q, w), a)  
3. δ(P, w) = ∪q ∈ P δ(q, w) , ∀P ⊆ Q.  
Ngôn ngữ được chấp nhận bởi NFA  
Ngôn ngữ L(M), với M là ôtômát hữu hạn không đơn định NFA (Q, Σ, δ, q0, F) là tập  
hợp :  
L(M) = {w | δ(q0, w) có chứa một trạng thái trong F }  
Thí dụ 3.4 : Xét sơ đồ chuyển của hình 3.3. Theo khái niệm hình thức, ta có :  
NFA M ({q0, q1, q2, q3, q4}, {0, 1}, δ, q0, {q2, q4}) với hàm chuyển δ như sau :  
Inputs  
δ
Trạng thái  
q0  
0
1
{q0,q3}  
{q0,q1}  
q1  
q2  
q3  
q4  
{q2}  
{q2}  
∅
∅
{q2}  
{q4}  
{q4}  
{q4}  
Xét chuỗi nhập w = 01001  
Ta có : δ (q0, 0) = {q0, q3}  
δ (q0, 01) = δ(δ(q0, 0),1) = δ({q0, q3},1) = δ (q0, 1) ∪ δ (q3, 1) = {q0, q1}  
Tương tự , ta có thể tính :  
δ (q0, 010) = {q0, q3}  
δ (q0, 0100) = {q0, q3, q4}  
δ (q0, 01001) = {q0, q1, q4}  
và  
Do q4 ∈ F nên w ∈ L (M).  
Câu hỏi :  
1. Hãy cho nhận xét về điểm khác biệt quan trọng giữa DFA và NFA ?  
2. Theo bạn, dạng đơn định hay không đơn định sẽ dùng nhận dạng một chuỗi  
dễ dàng hơn ?  
1.3. Sự tương đương giữa DFA và NFA  
Vì mỗi DFA là một NFA, nên rõ ràng lớp ngôn ngữ được chấp nhận bởi NFA cũng  
bao gồm các tập chính quy (đây chính là ngôn ngữ được chấp nhận bởi DFA ). Tuy  
nhiên, không có cơ sở để nói rằng NFA chỉ chấp nhận duy nhất các tập hợp này. Điều  
đó cho thấy DFA có thể mô phỏng được hoạt động của NFA, nghĩa là với mỗi NFA,  
27  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
ta có thể xây dựng một DFA tương đương (chấp nhận cùng một ngôn ngữ với nó).  
Đặt một DFA mô phỏng hoạt động của NFA là cho phép các trạng thái của DFA  
tương ứng với tập các trạng thái của NFA. Tại mỗi thời điểm, DFA lưu giữ trong bộ  
điều khiển tất cả các trạng thái mà NFA có thể chuyển đến khi đọc cùng một input  
như DFA.  
ĐỊNH LÝ 3.1 : Nếu L là tập được chấp nhận bởi một NFA thì tồn tại một DFA  
chấp nhận L.  
Chứng minh  
Đặt M (Q, Σ, δ, q0, F) là NFA chấp nhận L.  
Ta xây dựng DFA M' (Q’, Σ, δ’, q0’, F’) tương đương như sau:  
- Các trạng thái của M’ là tất cả các tập hợp con của tập trạng thái của M, hay  
Q’= 2Q. Tại mỗi thời điểm, M’ sẽ lưu giữ trong trạng thái của nó tất cả các trạng thái  
có thể của M. Một phần tử trong Q’ được ký hiệu là [q1, q2,..., qi], trong đó các trạng  
thái q1, q2,..., qi ∈ Q. Ta xem [q1, q2,..., qi] là một trạng thái đơn của DFA tương ứng  
với một tập trạng thái của NFA.  
- q0’ = [q0].  
- F' là tập hợp các trạng thái của Q’ có chứa ít nhất một trạng thái kết thúc  
trong tập F của M.  
- Ta định nghĩa hàm chuyển δ’ như sau :  
δ’ ([q1, q2,..., qi], a) = [p1, p2,..., pj] nếu và chỉ nếu δ ({q1, q2,..., qi }, a) = {p1, p2,..., pj}  
Bây giờ ta chứng minh quy nạp theo độ dài của chuỗi nhập x rằng:  
δ’(q0’, x) = [q1, q2,..., qi] ⇔ δ(q0, x) = {q1, q2,..., qi} (1)  
Với ⏐x⏐= 0 , ta có x = ε và q0’ = [q0] nên (1) hiển nhiên đúng  
Giả sử (1) đúng với các chuỗi nhập có độ dài tới m.  
Xét chuỗi nhập có độ dài m + 1, đặt chuỗi này là xa với a ∈ Σ, ta có :  
δ’(q0’, xa) = δ’(δ’(q0’, x), a)  
Theo định nghĩa :  
δ’([p1, p2,..., pi], a) = [r1, r2,..., rk] ⇔ δ({p1, p2,..., pj}, a) = {r1, r2,..., rk}.  
Mặt khác theo giả thiết quy nạp δ’(q0’, x) = [p1, p2,..., pj] ⇔ δ(q0, x) = {p1, p2,..., pj},  
nên thay vào ta có : δ’(q0’, xa) = [r1, r2,..., rk] ⇔ δ(q0, xa) = {r1, r2,..., rk}.  
Dễ thấy rằng δ’(q0’, x) ∈ F' khi và chỉ khi δ(q0, x) có chứa ít nhất một trạng thái ∈ F.  
Vậy L(M) = L(M’)  
Vì NFA và DFA chấp nhận cùng các tập hợp, nên ta sẽ không phân biệt chúng trừ khi  
điều đó thật sự cần thiết, sẽ đơn giản hơn để hiểu cả hai cùng là ôtômát đơn định.  
Thí dụ 3.5 : Cho NFA M ({q0, q1}, {0, 1}, δ, q0, {q1}) với hàm chuyển δ như sau :  
δ(q0, 0) = {q0, q1}, δ(q0,1) = {q1},  
δ(q1, 0) = ∅,  
δ(q1, 1) = {q0, q1}  
Ta xây dựng DFA tương đương M’ (Q’, {0, 1}, δ’, [q0], F’) chấp nhận L(M) như sau :  
. Q’ : chứa tất cả các tập con của {q0, q1}, vậy Q’ = {[q0], [q1], [q0, q1], ∅}  
. Hàm chuyển δ’ :  
28  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Vì δ(q0, 0) = {q0, q1} nên δ’([q0], 0) = [q0, q1]  
Tương tự : δ’([q0], 1) = [q1]  
δ’([q1], 0) = ∅  
δ’([q1], 1) = [q0, q1]  
Mặt khác : δ’(∅, 0) = δ’(∅, 1) = ∅  
Cuối cùng : δ’([q0, q1],0) = [q0, q1]  
( vì δ({q0, q1},0) = δ(q0, 0) ∪ δ(q1, 0) = {q0, q1} ∪ ∅ = {q0, q1})  
δ’([q0, q1], 1) = [q0, q1]  
( vì δ({q0, q1},1) = δ(q0, 1) ∪ δ(q1, 1) = {q1} ∪ {q0, q1} = {q0, q1})  
. Tập trạng thái kết thúc F' = {[q1], [q0, q1]}  
Thực tế, có rất nhiều trạng thái của NFA không có hàm chuyển đến từ trạng thái bắt  
đầu [q0]. Do đó, thông thường, cách tốt nhất là ta nên xây dựng DFA tương đương bắt  
đầu từ trạng thái [q0] và thêm vào các trạng thái mới cho DFA chỉ khi có các hàm  
chuyển từ một trạng thái đã được thêm vào trước đó.  
Câu hỏi :  
Bạn có nhận xét gì về kích thước giữa một DFA và một NFA tương đương với nó  
chấp nhận cùng một tập ngôn ngữ ?  
1.4. NFA với ε-dịch chuyển (NFAε)  
Ta mở rộng mô hình NFA cho phép các phép chuyển trên nhãn rỗng ε. Sơ đồ chuyển  
sau đây của một NFA chấp nhận chuỗi gồm một số bất kỳ (có thể là 0) chữ số 0 sau  
đó là một số bất kỳ chữ số 1 và sau nữa là một số bất kỳ chữ số 2. Thông thường, ta  
nói NFA chấp nhận một chuỗi w nếu có đường truyền nhãn w từ trạng thái bắt đầu  
đến một trạng thái kết thúc. Chẳng hạn, chuỗi 002 được chấp nhận bởi đường truyền  
q0, q0, q0, q1, q2, q2 với các cung nhãn 0, 0, ε, ε, 2.  
Thí dụ 3.6 : Sơ đồ chuyển của một NFA với ε-dịch chuyển :  
0
1
2
Start  
ε
ε
q0  
q1  
q2  
Hình 3.4 - NFA với ε-dịch chuyển  
Định nghĩa: Một cách hình thức ta định nghĩa NFA với ε-dịch chuyển là bộ 5 thành  
phần (Q, Σ, δ, q0, F) với tất cả các thành phần có ý nghĩa như trên, nhưng hàm chuyển  
δ là ánh xạ từ Q × (Σ ∪ {ε}) → 2Q.  
29  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Khái niệm δ(q, a) gồm tất cả các trạng thái p sao cho có phép chuyển nhãn a từ q tới  
p, trong đó a là một ký hiệu thuộc Σ hoặc là ε.  
Hàm chuyển trạng thái mở rộng: Ta mở rộng hàm chuyển δ thành hàm chuyển δ*  
ánh xạ từ Q × Σ* → 2Q. δ*(q,w) chứa tất cả các trạng thái p sao cho có thể đi từ q tới p  
theo đường đi nhãn w (có thể chứa cạnh nhãn ε).  
Ta sử dụng ε-CLOSURE(q) để xác định tập tất cả các đỉnh p sao cho có đường đi từ q  
tới p với nhãn ε.  
Thí dụ 3.7 : Trong hình 3.4, ε-CLOSURE(q0) = {q0, q1, q2}.  
Vì đường đi chỉ có một đỉnh q0 (không có cung trên đường đi) là đường đi từ q0 tới q0  
có tất cả các cạnh nhãn là ε. Đường đi q0, q1 chỉ ra rằng q1 thuộc ε-CLOSURE(q0). Và  
đường đi q0, q1, q2 chỉ ra rằng q2 thuộc ε-CLOSURE(q0).  
Đặt ε-CLOSURE(P) = ∪q∈P ε-CLOSURE(q), trong đó P là một tập các trạng thái và  
q là một trạng thái. Ta định nghĩa hàm δ* như sau:  
1. δ*(q, ε) = ε-CLOSURE(q)  
2. δ*(q, wa) = ε-CLOSURE(P),  
trong đó tập P = {p | có r trong δ*(q, w) sao cho p ∈ δ(r, a)}, ∀w ∈ Σ* và a ∈ Σ  
Hay δ*(q, wa) = ε-CLOSURE(δ(δ*(q, w), a)  
Ta mở rộng δ và δ* trên tập hợp các trạng thái R như sau :  
3. δ (R, a) = ∪ q∈R δ(q, a), và  
4. δ*(R, w) = ∪q∈R δ*(q, w)  
Câu hỏi :  
y so sánh sự khác biệt giữa hàm chuyển δ và δ* ?  
Nhận xét : δ*(q, a) và δ(q, a) không nhất thiết bằng nhau vì δ*(q, a) gồm tất cả các  
trạng thái có thể chuyển đến được từ q trên nhãn a gồm cả đường đi nhãn ε, trong khi  
đó δ(q, a) chỉ gồm các trạng thái có thể đến được từ q chỉ bằng các cung nhãn a.  
Tương tự δ*(q, ε) có thể cũng không bằng δ(q, ε). Vì vậy ta phải phân biệt ký hiệu δ  
và δ* đối với NFA với ε-dịch chuyển.  
Ngôn ngữ được chấp nhận bởi NFAε:  
Ta định nghĩa L(M), ngôn ngữ được chấp nhận bởi NFAε M = (Q, Σ, δ, q0, F) là tập  
hợp các chuỗi :  
L(M) = {w | δ*(q0, w) có chứa ít nhất một trạng thái trong F}  
Thí dụ 3.8 : Xét sơ đồ chuyển của hình 3.4.  
30  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Theo khái niệm hình thức, ta có NFA M ({q0, q1, q2}, {0, 1, 2}, δ, q0, {q2}) với hàm  
chuyển δ như sau :  
Inputs  
δ
Trạng thái  
0
{q0 }  
∅
1
2
ε
q0  
q1  
q2  
{ q1}  
{q1}  
∅
{q1}  
∅
∅
{q2}  
∅
∅
∅
Xét chuỗi nhập w = 012.  
Ta cần tính δ*(q0, 012)  
Ta có : δ*(q0, ε) = ε-CLOSURE(q0) = {q0, q1, q2}  
vậy δ*(q0, 0) = ε-CLOSURE(δ(δ*(q0, ε), 0)  
= ε-CLOSURE(δ({q0, q1, q2}, 0))  
= ε-CLOSURE(δ(q0, 0) ∪ δ(q1, 0) ∪ δ(q2, 0))  
= ε-CLOSURE({q0} ∪ ∅ ∪ ∅ )  
= ε-CLOSURE({q0}) = {q0, q1, q2}  
và δ*(q0, 01) = ε-CLOSURE(δ(δ*(q0, 0), 1))  
= ε-CLOSURE(δ({q0, q1, q2}, 1))  
= ε-CLOSURE(δ(q0, 1) ∪ δ(q1, 1) ∪ δ(q2, 1))  
= ε-CLOSURE(∅ ∪ {q1} ∪∅ )  
= ε-CLOSURE({q1}) = {q1, q2}  
⇒ δ*(q0, 012) = ε-CLOSURE(δ( δ*(q0, 01), 2))  
= ε-CLOSURE(δ({q1, q2}, 2))  
= ε-CLOSURE(δ(q1, 2) ∪ δ(q2, 2))  
= ε-CLOSURE(∅ ∪ {q2})  
= ε-CLOSURE({q2}) = {q2}  
Do δ*(q0, 012) có chứa trạng thái q2 ∈ F nên chuỗi w ∈ L(M).  
Giải thuật mô phỏng hoạt động của một NFAε :  
. Input : Chuỗi nhập x được kết thúc bởi $.  
. Output : Câu trả lời "YES" nếu NFA chấp nhận chuỗi x và "NO" nếu  
ngược lại.  
. Giải thuật :  
q := ε-CLOSURE(q0);  
c := nextchar ;  
While c <> $ do  
begin  
{ c là ký hiệu nhập được đọc tiếp theo }  
q := ε-CLOSURE(δ(q, c));  
c := nextchar ;  
end  
31  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
If q in F then write ("YES") else write ("NO");  
1.5. Sự tương đương giữa NFA có và không có ε-dịch chuyển  
Tương tự như NFA, khả năng có thể thực hiện phép chuyển trên nhãn ε của NFAε  
cũng không làm cho NFAε chấp nhận được các tập hợp không chính quy. Ta có thể  
dẫn chứng điều này bằng cách mô phỏng hoạt động của một NFAε bởi một NFA  
không có ε-dịch chuyển.  
ĐỊNH LÝ 3.2 : Nếu L được chấp nhận bởi một NFA có ε-dịch chuyển thì L cũng  
được chấp nhận bởi một NFA không có ε-dịch chuyển.  
Chứng minh  
Đặt M (Q, Σ, δ, q0, F) là NFA với ε-dịch chuyển.  
Ta xây dựng NFA M’(Q, Σ, δ’, q0, F’) tương đương không có ε-dịch chuyển,  
trong đó:  
F ∪ {q0} nếu ε-CLOSURE(q0) chứa một trạng thái thuộc F  
. F’ =  
F
trong các trường hợp còn lại  
. δ’(q, a) là δ*(q, a) với q ∈ Q và a ∈ Σ. Chú ý rằng M’ không có ε-dịch chuyển nên  
ta có thể dùng δ’ thay cho δ*’, nhưng phải phân biệt δ và δ*.  
Ta chứng minh bằng quy nạp trên | x | rằng δ’(q0, x) = δ *(q0, x). Tuy nhiên, điều đó  
có thể không đúng với x = ε vì δ’(q0, ε) = {q0} trong khi δ *(q0, ε) = ε-CLOSURE(q0).  
Do đó, cơ sở quy nạp bắt đầu với độ dài chuỗi là 1.  
Với | x | = 1 thì x là một ký hiệu a và δ’(q, a) = δ *(q, a) theo định nghĩa δ’.  
Xét | x | > 1: đặt x = wa với a là một ký hiệu trong Σ.  
Ta có δ’(q, wa) = δ’(δ’(q0, w), a)  
Theo giả thiết quy nạp thì δ’(q0, w) = δ *(q0, w). Đặt δ *(q0, w) = P, ta cần chỉ  
ra rằng δ(P, a) = δ *(q0, wa).  
Ta có δ’(P, a) = ∪q∈P δ’(q, a) = ∪q∈P δ *(q, a).  
Hơn nữa vì P = δ *(q0, w) nên ∪q∈P δ *(q, a) = δ *(q0, wa) ( theo quy tắc 2  
trong định nghĩa δ *).  
Vậy δ’(q0, wa) = δ *(q0, wa)  
Để đầy đủ chứng minh ta còn phải chỉ ra rằng δ’(q0, x) chứa một trạng thái  
trong F’ nếu và chỉ nếu δ *(q0, x) chứa một trạng thái trong F.  
Nếu x = ε thì điều đó hiển nhiên đúng (theo định nghĩa của F’)  
Nếu x ≠ ε thì ta đặt x = wa với a ∈ Σ.  
32  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
*
Nếu δ (q0, x) chứa một trạng thái trong F thì chắc chắn δ’(q0, x) chứa cùng  
trạng thái trong F’. Ngược lại, nếu δ’(q0, x) chứa một trạng thái trong F’ khác hơn q0  
thì δ(q0, x) phải chứa một trạng thái trong F (vì tập F và F’ chỉ chênh lệch nhau  
trạng thái q0). Nếu δ’(q0, x) có chứa trạng thái q0 và q0 cũng là một trạng thái thuộc  
*
*
tập trạng thái kết thúc F thì vì δ (q0, x) = ε-CLOSURE(δ(δ (q0, w),a)), nên trạng  
thái chung trong ε-CLOSURE(q0) và trong F phải ở trong δ *(q0, x).  
Thí dụ 3.9 : Chuyển NFA với ε-dịch chuyển ở hình 3.4 sang dạng NFA không có  
chứa ε-dịch chuyển.  
Ta xây dựng NFA tương đương M’(Q, Σ, δ’, q0, F’) chấp nhận L(M) với các thành  
phần : . Q = {q0, q1, q2}  
. ∑ = {0, 1, 2}  
. Trạng thái bắt đầu : q0  
. F' = {q0, q2} do ε-CLOSURE(q0) = {q0, q1, q2} có chứa q2 ∈ F  
. Hàm chuyển δ’ của M’ được xác định theo công thức :  
δ’(q, a) = δ*(q, a) = ε-CLOSURE(δ(δ*(q0, ε), a)  
Kết quả được chỉ ra trong bảng hàm chuyển sau :  
Inputs  
1
δ’  
Trạng thái  
0
2
q0  
q1  
q2  
{q0, q1, q2}  
{q1, q2}  
{q1, q2}  
{q2}  
{q2}  
{q2}  
∅
∅
∅
Sơ đồ chuyển trạng thái:  
0
1
2
Start  
0, 1  
1, 2  
q1  
q0  
q2  
0, 1, 2  
Hình 3.5 - NFA tương đương cho thí dụ 3.9  
1.6. Giải thuật xây dựng DFA từ NFA  
Qua khảo sát các dạng mở rộng từ mô hình ôtômát hữu hạn ban đầu, ta thấy DFA  
thực chất là một trường hợp đặc biệt của NFA, nhưng :  
- Nó không có sự truyền rỗng (truyền trên nhãn ε)  
33  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
- Với mỗi trạng thái q và ký hiệu nhập a, chỉ có duy nhất một đường truyền  
đến một trạng thái khác.  
Giả sử mỗi trạng thái của DFA là một tập trạng thái của NFA, DFA dùng trạng thái  
của mình để lưu giữ tất cả các trạng thái của NFA đạt được sau khi NFA đọc một ký  
tự nhập. Như vậy sau khi đọc các ký tự nhập a1, a2, ... , an, DFA ở trạng thái là tập  
con của các trạng thái thuộc NFA, đạt được khi NFA đi từ trạng thái bắt đầu theo một  
con đường nào đó có tên a1a2 ... an. Số trạng thái của DFA lúc đó phải bằng số phần tử  
trong tập lũy thừa của số trạng thái NFA. Song, trên thực tế trường hợp xấu nhất này  
ít khi xảy ra. Các trạng thái thực sự được dùng trong sơ đồ chuyển cho một DFA sẽ  
được xác định theo các phép chuyển trạng thái trên nhãn là mọi ký hiệu từ trạng thái  
bắt đẩu của DFA, và sau đó lần lượt được bổ sung thêm vào tập trạng thái nếu như nó  
chưa có trong đó.  
Giải thuật chi tiết được trình bày như sau :  
Input: Một ôtômát hữu hạn không đơn định NFA.  
Output: Một ôtômát hữu hạn đơn định DFA nhận dạng cùng ngôn ngữ như  
NFA.  
Phương pháp: Xây dựng bảng hàm chuyển cho DFA mô phỏng đồng thời tất  
cả các chuyển dịch của NFA trên chuỗi nhập cho trước.  
Ta dùng các tác vụ sau để lưu giữ các tập trạng thái của NFA :  
(q : là một trạng thái của NFA, T : là tập trạng thái của NFA)  
a) ε-closure(q) : là tập trạng thái của NFA đạt được từ trạng thái q trên sự  
truyền rỗng.  
b) ε-closure(T) : là tập trạng thái của NFA đạt được từ tất cả các trạng thái q  
thuộc tập T trên sự truyền rỗng.  
c) δ(T, a) : là tập trạng thái của NFA đạt được từ tất cả các trạng thái q thuộc  
tập T trên sự truyền bằng ký hiệu a.  
Phân tích:  
Trước khi đọc vào một ký tự nhập, DFA có thể ở một trạng thái bất kỳ trong  
các trạng thái thuộc ε-closure(q0) với q0 là trạng thái bắt đầu của NFA. Gọi trạng thái  
này là T. Giả sử các trạng thái của T là các trạng thái đạt được từ q0 trên các ký hiệu  
nhập và giả sử a là ký hiệu nhập kế tiếp. Khi đọc a, NFA có thể chuyển đến một trạng  
thái bất kỳ trong tập trạng thái δ(T, a). Khi chúng ta cho phép sự truyền rỗng, NFA có  
thể ở bất kỳ trạng thái nào trong ε-closure(δ(T, a)) sau khi đã đọc a.  
Giải thuật :  
Trạng thái bắt đầu ε-closure(q0) chỉ là một trạng thái trong các trạng thái  
của DFA và trạng thái này chưa được đánh dấu;  
While Có một trạng thái T của DFA chưa được đánh dấu do  
Begin  
Đánh dấu T;  
{ xét trạng thái T}  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
For Với mỗi ký hiệu nhập a do  
begin  
U:= ε-closure(δ(T, a))  
If U không có trong tập trạng thái của DFA then  
begin  
Thêm U vào tập các trạng thái của DFA và trạng thái  
này chưa được đánh dấu;  
δ[T, a] := U; {δ[T, a] là phần tử của bảng chuyển DFA}  
end;  
end;  
End;  
Ta xây dựng các trạng thái và bảng hàm chuyển cho DFA theo cách như sau :  
- Mỗi trạng thái của DFA tượng trưng bởi một tập trạng thái của NFA mà NFA  
có thể chuyển đến sau khi đọc một chuỗi ký hiệu nhập gồm: tất cả sự truyền rỗng có  
thể xảy ra trước hoặc sau các ký hiệu được đọc.  
- Trạng thái bắt đầu của DFA là ε-closure(q0)  
- Các trạng thái và hàm chuyển sẽ được thêm vào D bằng giải thuật trên.  
- Một trạng thái của DFA là trạng thái kết thúc nếu nó là tập các trạng thái của  
NFA chứa ít nhất một trạng thái kết thúc của NFA.  
Việc tính toán ε-closure(T) có thể xem như quá trình tìm kiếm một đồ thị của các nút  
từ các nút cho trước và đồ thị bao gồm toàn những cạnh có nhãn ε của NFA. Giải  
thuật đơn giản để tìm ε-closure(T) là dùng Stack để lưu giữ các trạng thái mà cạnh  
của chúng chưa được kiểm tra cho sự truyền rỗng.  
Thí dụ 3.10 : Tạo DFA từ NFAε sau  
ε
a
2
4
3
5
ε
ε
ε
ε
a
b
b
Start  
0
1
6
7
8
9
10  
ε
ε
b
ε
Hình 3.6 – Thí dụ chuyển NFA có ε-dịch chuyển  
Các bước xây dựng tập trạng thái cho DFA :  
1) Trạng thái bắt đầu của DFA : ε-closure(0) = {0, 1, 2, 4, 7} = A*  
35  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
2) ε-closure(δ(A, a)) = ε-closure({3, 8}) = {1, 2, 3, 4, 6, 7, 8} = B*  
3) ε-closure(δ(A, b)) = ε-closure({5}) = {1, 2, 4, 5, 6, 7} = C*  
4) ε-closure(δ(B, a)) = ε-closure({3, 8}) = B  
5) ε-closure(δ(B, b)) = ε-closure({5, 9}) = {1, 2, 4, 5, 6, 7, 9} = D*  
6) ε-closure(δ(C, a)) = ε-closure({3, 8}) = B  
7) ε-closure(δ(C, b)) = ε-closure({5}) = C  
8) ε-closure(δ(D, a)) = ε-closure({3, 8}) = B  
9) ε-closure(δ(D, b)) = ε-closure({5, 10}) = {1, 2, 4, 5, 6, 7, 10} = E*  
10) ε-closure(δ(E, a)) = ε-closure({3, 8}) = B  
11) ε-closure(δ(E, b)) = ε-closure({5}) = C  
Từ các tập trạng thái này, ta xác định được A là trạng thái bắt đầu, E là trạng thái kết  
thúc (vì trong E có chứa trạng thái 10 là trạng thái kết thúc của NFA) và bảng hàm  
chuyển của DFA như sau :  
Ký hiệu nhập  
Trạng thái  
a
b
C
D
C
E
C
A
B
C
D
E
B
B
B
B
B
Từ bảng hàm chuyển như trên, ta xây dựng sơ đồ chuyển trạng thái cho DFA tương  
đương nhận dạng cùng ngôn ngữ có dạng như sau :  
b
C
a
b
b
Start  
b
A
B
D
E
b
a
a
a
a
Hình 3.7 – DFA tương đương cho thí dụ 3.10  
Nhận xét : Mặc dù có sự khác nhau trong định nghĩa, ta thấy dạng không đơn định  
NFA được định nghĩa tổng quát hơn dạng đơn định DFA, nhưng rõ ràng khả năng  
nhận dạng cùng lớp ngôn ngữ của chúng là tương đương nhau. Trong thực tế, các  
máy tính số hoàn toàn là đơn định, trạng thái của chúng tại mỗi thời điểm là xác định  
được duy nhất từ một chuỗi nhập bất kỳ và trạng thái bắt đầu.  
36  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Câu hỏi :  
i sao cần định nghĩa dạng không đơn định ?  
Một số gợi ý câu trả lời:  
1. Trong một số các bài toán mang tính chọn lựa, có nhiều hướng giải quyết  
(nhiều cách đi) như trong các chương trình trò chơi (games) thì thông thường  
hướng giải quyết tốt nhất (cách đi tốt nhất) là không biết trước được, nhưng có  
thể tìm thấy được bằng cách sử dụng chiến lược tìm kiếm quay lui (back-  
tracking). Khi có một vài khả năng chọn lựa có thể, ta chọn một khả năng  
trong chúng và đi theo hướng đó cho đến khi xác định hướng đó là tốt nhất hay  
chưa. Nếu chưa phải là hướng tốt nhất, ta phải quay về điểm quyết định cuối  
cùng trước đó và thử khảo sát theo một hướng khác. Một giải thuật mô phỏng  
quá trình tìm kiếm quay lui này là một giải thuật không đơn định.  
2. Không đơn định đôi khi còn rất hữu hiệu trong việc giúp giải quyết các bài  
toán dễ dàng. Chẳng hạn, trong một số bài toán thì việc xây dựng một NFA có  
vẻ tự nhiên và đơn giản hơn việc tìm một DFA cho chúng. Tương tự như vậy,  
không đơn định còn là một cơ chế hiệu quả dùng mô tả văn phạm sinh ra ngôn  
ngữ một cách súc tích (sự chọn lựa các luật sinh sinh từ cùng một biến).  
3. Trong thực tế, một vài kết quả là dễ dàng được chứng minh đối với NFA hơn  
là DFA. Vì vậy việc cho phép cơ chế không đơn định thường làm đơn giản hóa  
các lý luận hình thức mà không ảnh hưởng đến tính tổng quát của kết luận.  
II. BIỂU THỨC CHÍNH QUY (RE : Regular  
Expressions)  
Lớp ngôn ngữ được chấp nhận bởi một ôtômát hữu hạn cũng có thể được mô tả thông  
qua một dạng biểu thức ngắn gọn và súc tích gọi là biểu thức chính quy. Trong phần  
này, chúng ta sẽ giới thiệu sự kết hợp của các phép toán hợp, nối kết và bao đóng  
Kleene trên các tập hợp chuỗi để định nghĩa biểu thức chính quy và chứng tỏ rằng lớp  
ngôn ngữ được chấp nhận bởi một ôtômát hữu hạn thì thực sự là lớp ngôn ngữ được  
mô tả bởi biểu thức chính quy.  
2.1. Định nghĩa  
Cho Σ là một bộ chữ cái. Biểu thức chính quy trên Σ và các tập hợp mà chúng mô tả  
được định nghĩa một cách đệ quy như sau:  
1) ∅ là biểu thức chính quy ký hiệu cho tập rỗng  
37  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
2) ε là biểu thức chính quy ký hiệu cho tập {ε}  
3) ∀a ∈ Σ, a là biểu thức chính quy ký hiệu cho tập {a}  
4) Nếu r và s là các biểu thức chính quy ký hiệu cho các tập hợp R và S thì (r + s),  
(rs) và ( r*) là các biểu thức chính quy ký hiệu cho các tập hợp R ∪ S, RS, R* tương  
ứng.  
Trong khi viết biểu thức chính quy ta có thể bỏ bớt các dấu ngoặc đơn với lưu ý rằng  
thứ tự ưu tiên của các phép toán xếp theo thứ tự giảm dần là: phép bao đóng, phép  
nối kết, phép hợp.  
Chẳng hạn : Biểu thức ((0(1*)) + 1) có thể viết là 01*+ 1.  
Câu hỏi :  
Như trên ta nói, biểu thức chính quy dùng ký hiệu cho một lớp ngôn ngữ. Bạn  
hãy thử liệt kê một vài chuỗi và hình dung lớp ngôn ngữ được ký hiệu bởi biểu  
thức chính quy r = 01*+ 1 trên ?  
Phép toán bao đóng dương cũng có thể được sử dụng khi viết biểu thức chính quy. Ta  
có thể viết rút gọn rr* hay r*r thành r+.  
Nếu cần thiết phân biệt thì ta sẽ dùng ký hiệu r cho biểu thức chính quy r và L(r) cho  
ngôn ngữ được ký hiệu bởi biểu thức chính quy r; ngược lại một cách tổng quát, ta có  
thể dùng r cho cả hai.  
Thí dụ 3.11 : Một số biểu thức chính quy ký hiệu cho các ngôn ngữ :  
. 00 là biểu thức chính quy biểu diễn tập {00}.  
. (0+1)* ký hiệu cho tập hợp tất cả các chuỗi số 0 và số 1, kể cả chuỗi rỗng  
= {ε, 0, 1, 00, 01, 10, 11, 010, 011, 0010 ... }  
. (0+1)*00(0+1)* ký hiệu cho tập hợp tất cả các chuỗi 0,1 có ít nhất hai số 0  
liên tiếp.  
= {00, 000, 100, 0000, 0001, 1000, 1001, 011001, ... }  
. (1+10)* ký hiệu cho tất cả các chuỗi 0, 1 bắt đầu bằng số 1 và không có hai số  
0 liên tiếp  
= {ε, 1, 10, 11, 1010, 111, 101010, ... }  
. (0+ε)(1+10)* ký hiệu cho tất cả các chuỗi không có hai số 0 liên tiếp.  
= {ε, 0, 01, 010, 1, 10, 01010, 0111, ... }  
. (0+1)*011 ký hiệu cho tất cả các chuỗi 0, 1 tận cùng bởi 011.  
= {011, 0011, 1011, 00011, 11011, ... }  
. 0*1*2* ký hiệu cho tất cả các chuỗi có một số bất kỳ các số 0, theo sau là một  
số bất kỳ số 1 và sau nữa là một số bất kỳ số 2.  
= {ε, 0, 1, 2, 01, 02, 12, 012, 0012, 0112, ... }  
. 00*11*22* ký hiệu cho tất cả các chuỗi trong tập 0*1*2* với ít nhất một trong  
mỗi ký hiệu. 00*11*22* có thể được viết gọn thành 0+1+2+  
Thí dụ 3.12 : Biểu thức chính quy ký hiệu cho tập hợp các chuỗi tên biến đúng trong  
ngôn ngữ lập trình Pascal :  
38  
Chương III : Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy  
Một chuỗi tên biến (identifiers) được gọi là hợp lệ trong một chương trình  
Pascal nếu như nó bắt đầu bằng ít nhất một chữ cái và theo sau đó là các chữ cái, số,  
ký hiệu underline hoặc một vài ký hiệu cho phép khác trên bàn phím máy tính.  
Biểu thức chính quy có dạng như sau :  
r = (A + …+ Z + a + … + z) (A + …+ Z + a + … + z + 0 + … + 9 + _ + … )*  
Thí dụ 3.13 : Biểu thức chính quy ký hiệu cho tập hợp các số nguyên trong ngôn ngữ  
lập trình Pascal :  
Một chuỗi số nguyên trong một chương trình Pascal có thể bắt đầu bằng dấu  
âm (-) hoặc dấu dương (+) hay không chứa ký hiệu dấu, và theo sau đó là một chuỗi  
các ký hiệu số với ít nhất là một số.  
Biểu thức chính quy có dạng như sau :  
r = ( ‘+’ + ‘-‘ + ε) ( 0 + … + 9 (0 + … +9 )*  
Nhận xét : Thông thường, việc tìm một biểu thức chính quy ký hiệu cho một ngôn  
ngữ khó hơn việc xác định ngôn ngữ được ký hiệu bởi một biểu thức chính quy vì  
không có giải thuật cho loại bài toán này.  
2.2. Một số tính chất đại số của biểu thức chính quy  
Dễ dàng chứng minh rằng, nếu cho r, s, t là các biểu thức chính quy thì ta có các đẳng  
thức sau :  
1.  
3.  
5.  
7.  
9.  
11.  
13.  
r + s = s + r  
r + (s+t) = (r+s) + t  
r (s+t) = rs + rt  
rε = ε r = r  
2.  
4.  
6.  
8.  
10.  
12.  
14.  
r + r = r  
r (st) = (rs) t  
(r+s) t = rt + st  
∅r = r∅ = ∅  
∅* = ∅  
r + ∅ = r  
(ε + r)* = r*  
( r* )* = r*  
r + r* = r*  
( r* s* )* = (r+s)*  
Trong đó, ta có r = s có nghĩa là L(r) = L(s).  
III. SỰ TƯƠNG ĐƯƠNG GIỮA ÔTÔMÁT HỮU HẠN  
VÀ BIỂU THỨC CHÍNH QUY  
Như trên đã nói, các ngôn ngữ được chấp nhận bởi ôtômát hữu hạn cũng là các ngôn  
ngữ được mô tả bởi biểu thức chính quy. Chính vì sự tương đương này, mà người ta  
gọi ngôn ngữ chấp nhận bởi ôtômát hữu hạn là các tập chính quy. Trong phần này,  
thông qua hai định lý, ta sẽ chỉ ra bằng quy nạp theo kích thước của (số phép toán  
trong) biểu thức chính quy rằng có tồn tại một NFA với ε-dịch chuyển chấp nhận  
cùng ngôn ngữ; đồng thời với mỗi DFA cũng có một biểu thức chính quy xác định  
chính ngôn ngữ của nó.  
39  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang baolam 24640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tin học lý thuyết - Chương III: Ôtômát hữu hạn và biểu thức chính quy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tin_hoc_ly_thuyet_chuong_iii_otomat_huu_han_va_bi.pdf