Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng ứng dụng trong hệ thống MDM

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 1 (2019)  
THIẾT KẾ BỘ GHÉP/PHÂN KÊNH PHÂN CHIA THEO MODE SỬ DỤNG  
CẤU TRÚC CHỮ Y BẤT ĐỐI XỨNG ỨNG DỤNG TRONG HỆ THỐNG MDM  
*
Đào Duy Từ, Nguyễn Chánh Tín, Hồ Đức Tâm Linh  
Khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
*
Ngày nhận bài: 20/5/2019; ngày hoàn thành phản biện: 30/5/2019; ngày duyệt đăng: 02/7/2019  
TÓM TẮT  
Chúng tôi đề xuất một chip quang học dựa trên vật liệu Silic có khả năng ghép  
kênh/phân kênh phân chia theo mode bằng cách ghép tầng các ống dẫn sóng Y –  
Junctions bất đối xứng. Tín hiệu đầu v|o l| c{c mode cơ bản phân cực điện TE0  
được ghép kênh và chuyển đổi thành các mode bậc cao hơn TE0, TE1, TE2, TE3 và  
TE4 ở cổng đầu ra. Thiết bị được thiết kế và tối ưu dựa trên phần mềm mô phỏng  
số truyền chùm tia 3 chiều (BPM-3D – Beam Propagation Method) kết hợp với  
phương ph{p chỉ số hiệu dụng (EIM - Effective Index Method). Thiết bị thực hiện  
thành công việc ghép kênh 5 mode trên một dải băng rộng từ 1.05 µm đến 1.6 µm  
với suy hao chèn luôn nhỏ hơn 0.1 dB và nhiễu xuyên kênh luôn dưới -10 dB. Với  
c{c đặc điểm nổi trội nêu trên, chúng tôi hy vọng, thiết bị sẽ được ứng dụng rộng  
rãi trong các hệ thống ghép kênh phân chia theo mode tốc độ cao cũng như trong  
các mạch tích hợp quang tử trên chip.  
Từ khóa: Bộ ghép/phân kênh theo mode, BPM, EIM, Silic, Y - Junctions.  
1. GIỚI THIỆU  
Lưu lượng dữ liệu trong các mạng thông tin đang tăng lên nhanh chóng do sự  
phát triển không ngừng của các ứng dụng băng rộng như video chất lượng cao hay  
điện to{n đ{m m}y (cloud computing) trong c{c trung t}m dữ liệu (datacenter). Xu  
hướng n|y đặt ra một yêu cầu cấp thiết về dung lượng dữ liệu trên khắp cơ sở hạ tầng  
mạng mà các mạng này đang phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ truyền dẫn sợi quang.  
Trong các hệ thống thông tin quang ngày nay, kỹ thuật ghép kênh ph}n chia bước  
sóng WDM (Wavelength-Division Multiplexing) đang được dùng để truyền tải dữ liệu  
trên c{c bước sóng khác nhau nhằm tăng dung lượng truyền dẫn [1]. Tuy nhiên, do  
băng thông hữu hạn của sợi quang, các hệ thống thông tin quang ngày nay ngày càng  
cạn kiệt nguồn bước sóng, gây ra tình trạng nghẽn mạch mạng thông tin. Điều n|y đặt  
ra một nhu cầu cấp thiết cần phải phát triển một kỹ thuật ghép kênh mới bên cạnh kỹ  
85  
Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng …  
thuật WDM để tăng một c{ch đ{ng kể dung lượng truyền dẫn cho các hệ thống thông  
tin quang thế hệ mới.  
Ghép kênh phân chia theo mode quang MDM (Mode Division Multiplexing) là  
công nghệ ghép kênh quang rất hứa hẹn để gia tăng dung lượng hệ thống thông tin  
quang, công nghệ n|y đang được nghiên cứu trong những năm gần đ}y [2]–[5]. Trong  
MDM, thông tin được điều chế trên các mode quang trực giao với nhau, giúp truyền  
thông tin trên các mode khác nhau có cùng một bước sóng mà không bị nhiễu xuyên  
kênh. Vậy, nếu sử dụng kỹ thuật MDM với M mode quang trên một bước sóng kết hợp  
với kỹ thuật WDM với N bước sóng, tổng số kênh truyền của hệ thống sẽ l| MxN, tăng  
M lần so với các hệ thống WDM thông thường.  
Trước đ}y, một số bộ ghép kênh ph}n chia mode đã được đề xuất sử dụng các  
cấu trúc ống dẫn sóng khác nhau như bộ tách ghép chữ Y (Y –Junctions), giao thoa đa  
mode – MMI (Multimode Interference), bộ ghép nối định hướng không đối xứng –  
ADCs (Asymmetrical Directional Couplers), bộ ghép nối định hướng được hỗ trợ cách  
tử - GACCs (Grating Assisted Contra - Directional Couplers). Bộ ghép kênh phân chia  
mode dựa trên bộ chia Y và MMI chỉ dừng lại với việc xử lý hai mode quang có cùng  
độ phân cực [6]. Ngoài ra, bộ ghép kênh phân chia mode dựa trên ADCs thì yêu cầu sự  
chính xác giữa độ dài v| độ rộng của các khớp nối [7], và bộ ghép dựa trên GACC có  
nhược điểm là băng thông hạn chế [8]. Riêng đối với cấu trúc ống dẫn sóng hình dạng  
chữ Y thì được ứng dụng khá rộng rãi trong các ứng dụng. Cụ thể chúng được sử  
dụng làm bộ chia công suất băng thông rộng [9], bộ ghép kênh bước sóng [10] hoặc bộ  
chia công suất biến đổi [11]. Chúng đôi khi được sử dụng làm bộ tách phân cực, bộ sắp  
xếp mode và bộ ghép kênh phân chia mode không gian (MDM) của sợi quang [12]–  
[18]. Các mối nối Y không đối xứng cũng được đề xuất cho việc ghép kênh không gian  
của sợi quang duy trì phân cực để truyền dữ liệu dung lượng cực cao [19].  
Tận dụng ưu điểm băng thông rộng của cấu trúc ống dẫn sóng chữ Y, chúng tôi  
đề xuất một bộ ghép kênh phân chia mode với khả năng ghép 5 luồng tín hiệu mode  
cơ bản TE0 và chuyển đổi thành 1 luồng tín hiệu với 5 mode trực giao từ TE0 đến TE4.  
Quá trình tối ưu hóa v| mô phỏng hoạt động được thực hiện bằng phương ph{p tính  
toán số truyền chùm tia 3D (BPM -3D) v| phương ph{p chỉ số hiệu dụng (EIM). Qua  
quá trình mô phỏng và khảo sát, bộ ghép kênh phân chia mode này đạt được kết quả  
với hiệu suất ở các cổng đầu ra lên đến 98% trong một dải băng rộng từ 1.05 µm đến  
1.6 µm, đồng thời nhiễu xuyên kênh luôn thấp hơn -10 dB trong toàn bộ băng được xét.  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 1 (2019)  
2. THIẾT KẾ THIẾT BỊ  
2.1. Tổng quan thiết bị  
Cấu trúc của bộ ghép/phân kênh phân chia 5 mode được ghép từ 4 tầng của  
cấu Y – Junction bất đối xứng. Các tầng thứ   (  = 1,2,3,4) được hình thành bằng cách  
ghép thêm một ống dẫn sóng truy cập đầu vào hẹp để kích thích các mode bậc cao  
trong ống dẫn sóng trung tâm. Liên kết giữa các tầng là các ống dẫn sóng hình búp  
măng, mục đích của việc thêm các ống dẫn sóng búp măng n|y để tăng cường hiệu  
suất ghép quang giữa các tầng. Để thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia mode thì các  
ống dẫn sóng truy cập đủ nhỏ để đảm bảo rằng các mode khi truyền trên đường đi qua  
thiết bị không bị ảnh hưởng bởi các ống dẫn sóng khác. Mỗi ống dẫn sóng truy cập chỉ  
hỗ trợ mode cơ bản (mode TE0) và ống dẫn sóng trung tâm có kích thước lớn có thể hỗ  
trợ đa mode. Khi ph{t mode cơ bản vào một trong những ống dẫn sóng truy cập, tín  
hiệu sẽ lan truyền giao thoa tới ống dẫn sóng trung tâm làm xuất hiện các mode bậc  
cao hơn.  
Bộ ghép/phân kênh phân chia mode với cấu trúc ống dẫn sóng dạng kênh được  
hiển thị như hình 1, với độ cao thiết bị là h = 0.22 µm. Vật liệu của lớp vỏ và lớp phủ là  
SiO có chiết suất là 1.44. Trong khi đó, vật liệu của lớp lõi được làm bằng Si với chiết  
2
suất là 3.47.  
Hình 1. (a) Sơ đồ của bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode, (b) Mặt cắt ngang của thiết bị.  
87  
Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng …  
2.2. Mô tả và phân tích cấu trúc thiết bị  
Hình 2. Khảo s{t độ rộng ống dẫn sóng theo chiết suất hiệu dụng.  
Hình 2 mô tả sự hỗ trợ các mode theo độ rộng ống dẫn sóng của thiết bị, ống  
dẫn sóng đầu vào với độ rộng được lựa chọn là 0.2 µm để hỗ trợ mode cơ bản TE0 và  
độ rộng ống dẫn sóng bằng 1.6 µm sẽ hỗ trợ tối đa được 5 mode TE0, TE1, TE2, TE3 và  
TE4.  
Đối với tầng 1, để tránh sự xuất hiện của các mode bậc cao không mong muốn  
trong ống dẫn sóng, chúng tôi tiến hành khảo s{t độ rộng của ống dẫn sóng truy cập  
đầu vào bao gồm một ống dẫn sóng rộng ở trung tâm với độ rộng là W1 và một ống  
dẫn sóng uốn cong hẹp với độ rộng là W2. Độ rộng n|y được chọn thích hợp sao cho  
chỉ hỗ trợ mode cơ bản (mode TE0). Để tạo ra các mode mong muốn thì hiện tượng  
ghép ánh sáng giữa các ống dẫn sóng sẽ được thực hiện. Độ rộng đầu ra là W1 + W2,  
nó chính là tổng độ rộng của hai ống dẫn sóng truy cập đầu vào và chỉ hỗ trợ tối đa hai  
mode TE0 và TE1. Dựa vào sự khảo sát chiết suất hiệu dụng của thiết bị, chúng tôi  
chọn chiều rộng của ống dẫn sóng trung tâm là W1 = 0.35 µm sao cho khi phát mode  
TE0 v|o đầu vào này, tại đầu ra thì cũng thu được mode TE0. Tương tự, độ rộng của  
ống dẫn sóng truy cập của đầu vào 2 là W2 = 0.2 µm, tức là khi phát mode TE0 vào ống  
dẫn sóng hẹp thì một phần năng lượng của mode TE0 này sẽ ghép qua ống dẫn sóng  
trung tâm và tạo ra mode TE1 (hình 3). Đ}y l| hiện tượng ghép ánh sáng của các ống  
dẫn sóng khi chúng được đặt cạnh nhau tại một khoảng cách thích hợp. Dựa vào hiện  
tượng này, chúng tôi sẽ tiến hành ghép tầng để tạo ra các mode bậc cao hơn.  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 1 (2019)  
(a)  
(b)  
Hình 3. Sự hình thành mode TE0 (a) và TE1 (b) khi phát các mode TE0 ở đầu vào 1 v| 2, tương ứng.  
Cũng như tầng 1, tầng 2 cũng có hai ống dẫn sóng đầu vào với một ống dẫn  
sóng rộng đặt ở vị trí trung tâm có độ rộng là W4 và một ống dẫn sóng uốn cong hẹp  
có độ rộng là W2. Độ rộng đầu ra của tầng n|y l| W2 + W4, nó cũng chính l| tổng độ  
rộng của hai ống dẫn sóng đầu vào hỗ trợ tối đa ba mode TE0, TE1, TE2. Dựa vào hình  
2, chiều rộng W4 được chọn là 0.7 µm để dẫn hai mode TE0 và TE1 của tầng 1 (hình 4).  
Độ rộng của ống dẫn sóng hẹp của tầng 2 cũng được chọn là W2 = 0.2 µm sao cho khi  
ph{t mode TE0 v|o đầu vào này, một phần năng lượng của mode TE0 sẽ ghép với ống  
dẫn sóng rộng trung tâm và kích thích tạo ra mode TE2.  
Hình 4. Sự hình thành mode TE2 khi phát mode TE0 ở đầu vào 3 tương ứng.  
Tương tự với hai tầng ở trên, tầng 3 được hình thành bởi một ống dẫn sóng  
rộng có độ rộng là W5 nằm chính giữa trung tâm và một ống dẫn sóng hẹp uốn cong  
có độ rộng W2. Tổng độ rộng của hai ống dẫn sóng này hỗ trợ tối đa bốn mode TE0,  
TE1, TE2 và TE3. Chúng tôi chọn độ rộng W5 = 1.1 µm đảm bảo dẫn đồng thời ba  
mode TE0, TE1 và TE2 của tầng 2. Khi phát mode TE0 vào ống dẫn sóng hẹp uốn cong  
có độ rộng W2 = 0.2 µm này, thì một phần năng lượng của mode TE0 sẽ ghép nối lại  
với ống dẫn sóng trung tâm và phát triển tạo ra mode TE3 (hình 5).  
Hình 5. Sự hình thành mode TE3 khi phát mode TE0 ở đầu vào 3 tương ứng.  
89  
Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng …  
Tầng 4 là tầng cuối cùng của thiết bị, gồm một ống dẫn sóng uốn cong hẹp với  
độ rộng là W3 và một ống dẫn sóng rộng đặt tại vị trí trung tâm với độ rộng là W6.  
Tổng độ rộng đầu ra W6 + W3 của tầng 4 chỉ hỗ trợ tối đa năm mode l| TE0, TE1, TE2,  
TE3 và TE4. Theo khảo sát, chúng tôi chọn độ rộng ống dẫn sóng W6 = 1.45 µm để có  
thể dẫn bốn mode TE0, TE1, TE2 và TE3 của tầng 3 cùng một lúc. Độ rộng của ống dẫn  
sóng truy cập đầu vào W3 = 0.15 µm sao cho khi phát mode TE0 vào ống dẫn sóng uốn  
cong hẹp này, một phần năng lượng của mode TE0 này ghép qua ống dẫn sóng trung  
tâm tạo ra mode TE4 (hình 6).  
Hình 6. Sự hình thành mode TE4 khi phát mode TE0 ở đầu vào 3 tương ứng.  
3. MÔ PHỎNG VÀ THẢO LUẬN  
Phương ph{p mô phỏng truyền chùm tia BPM – 3D v| phương ph{p EIM được  
sử dụng để đ{nh gi{ công suất chuyển đổi quang của thiết bị ghép/phân kênh phân  
chia mode. Chúng tôi thực hiện khảo sát các mode TE0 khi chúng được truyền vào bộ  
ghép kênh và giải ghép kênh tại đầu ra.  
Hình 7. Phân bố trường của thiết bị khi phát mode TE0 ở đầu vào và nhận được mode TE0 ở  
đầu ra.  
Để đ{nh gi{ hiệu năng của thiết bị chúng tôi sử dụng hai thông số Suy hao chèn  
(IL) và Nhiễu xuyên kênh (CT), nó được định nghĩa như sau:  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 1 (2019)  
 
             
(1)  
           (  
)
 
    
 
                   
(2)  
           (  
)
 
             
Hình 8. Suy hao chèn và nhiễu xuyên kênh như một hàm của bước sóng.  
Trong đó Pvào là công suất phát ở ngõ vào, Pra mong muốn là công suất đo được tại  
ngõ ra mong muốn nhận tín hiệu và Pra không mong muốn là công suất ảnh hưởng lên các ngõ  
ra không mong muốn. Hình 8 thể hiện sự suy hao chèn và nhiễu xuyên kênh của bộ  
ghép kênh mode khi phát lần lượt các mode TE0 vào các ống dẫn sóng đầu vào tương  
ứng. Trong toàn bộ dải tần số 550 nm (từ 1.05 µm đến 1.6 µm) suy hao chèn luôn nhỏ  
hơn 0.1 dB và nhiễu xuyên kênh luôn nhỏ hơn -10 dB, đặc biệt tại hai bước sóng 1.15  
µm và 1.55 µm thì suy hao chèn và nhiễu xuyên kênh của cả 5 mode có hiệu suất  
chuyển đổi quang và nhiễu lên các kênh là nhỏ nhất. Tuy nhiên, tại bước sóng 1.65 µm  
thì suy hao đạt giá trị lớn nhất, suy hao chèn gần bằng -3.8 dB và nhiễu xuyên kênh  
quá lớn, thậm chí có với ngõ ra 4 thì giá trị còn đạt giá trị dương, điều n|y có nghĩa l|  
tín hiệu nhận được ở cổng không mong muốn còn cao hơn công suất ở công mong  
muốn nhận.  
4. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, chúng tôi đã thiết kế v| đề xuất một bộ ghép/phân kênh  
phân chia mode với tổn thất suy hao chèn thấp v| băng thông hoạt động lên đến 550  
91  
Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng …  
nm, đồng thời nhiễu xuyên kênh cho bộ ghép/phân kênh phân chia mode nằm trong  
khoảng -10 dB đến -38 dB trong dải tần được xét ở trên. Chúng tôi cũng mô tả quá  
trình chuyển đổi c{c mode cơ bản đầu vào thành các mode bậc cao ở đầu ra của bộ  
ghép kênh 5 mode từ TE0 đến TE4. Với các kết quả đạt được về băng thông, suy hao  
chèn, nhiễu xuyên kênh, kích thước nhỏ gọn, chúng tôi hy vọng thiết bị sẽ là một ứng  
cử viên đầy hứa hẹn cho hệ thống WDM – MDM tốc độ cao cũng như c{c mạch tích  
hợp quang tử trên chip.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. N. S. Bergano and C. R. Davidson (1996), “Wavelength Division Multiplexing in Long-  
Haul Transmission Systems,” J. Light. Technol., vol. 14, no. 6, pp. 1299–1308.  
[2]. R. Ryf et al. (2012), “Mode-division multiplexing over 96 km of few-mode fiber using  
coherent 6×6 MIMO processing,” J. Light. Technol., vol. 30, no. 4, pp. 521–531.  
[3]. S. Randel et al. (2011), “6×56-Gb/s mode-division multiplexed transmission over 33-km  
few-mode fiber enabled by 6×6 MIMO equalization,” Opt. Express, vol. 19, no. 17, pp.  
16697–16707.  
[4]. M. Salsi et al. (2012), “Mode-division multiplexing of 2 × 100 Gb/s channels using an LCOS-  
based spatial modulator,” J. Light. Technol., vol. 30, no. 4, pp. 618–623.  
[5]. N. Bai et al. (2012), “Mode-Division Multiplexed Transmission with Inline Few-Mode Fiber  
Amplifier,” Opt. Express, vol. 20, no. 3, pp. 2668.  
[6]. T. Uematsu, Y. Ishizaka, Y. Kawaguchi, and K. Saitoh (2012), “Design of a Compact Two-  
Mode Multi / Demultiplexer Consisting of Multimode Interference Waveguides and a  
Wavelength-Insensitive Phase Shifter for Mode-Division Multiplexing Transmission,” J.  
Light. Technol., vol. 30, no. 15, pp. 2421–2426.  
[7]. J. B. Driscoll, R. R. Grote, B. Souhan, J. I. Dadap, M. Lu, and R. M. Osgood (2013),  
“Asymmetric Y junctions in silicon waveguides for on-chip mode-division multiplexing,”  
Opt. Lett., vol. 38, no. 11, pp. 1854.  
[8]. D. Dai (2012), “Silicon mode-( de )multiplexer for a hybrid multiplexing system to achieve  
ultrahigh capacity photonic networks-on-chip with a single-wavelength-carrier light,” ACP  
Tech. Dig., pp. 7–9.  
[9]. H. Qiu et al. (2013), “Silicon mode multi / demultiplexer based on multimode grating-  
assisted couplers,” Opt. Express, vol. 21, no. 15, pp. 6–8.  
[10]. M. Izutsu, Y. Nakai, and T. Sueta (1982), “Operation mechanism of the single-mode optical-  
waveguide Y junction,” Opt. Lett., vol. 7, no. 3, pp. 136–138.  
[11]. J. . L. and A. Ankiewicz (2003), “Purely geometrical coarse wavelength multiplexer/  
demultiplexer,” Electron. Lett., vol. 39, no. 19, pp. 898–899.  
[12]. K. Shirafuji and S. Kurazono (1991), “Transmission Characteristics of Optical Asymmetric  
Y Junction with a Gap Region,” J. Light. Technol., vol. 9, no. 4, pp. 40–40.  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 1 (2019)  
[13]. N. Riesen and J. D. Love (2012), “Design of mode-sorting asymmetric Y-junctions,” Appl.  
Opt., vol. 51, no. 15, pp. 2778.  
[14]. T. Diffusion (1991), “A Polarization Splitter on L i m o 3 Using Only Titanium Diffusion,” J.  
Light. Technol., vol. 9, no. 7, pp. 879–886.  
[15]. W. Chen, P. Wang, and J. Yang (2013), “Mode multi/demultiplexer based on cascaded  
asymmetric Y-junctions,” Opt. Express, vol. 21, no. 21, pp. 25113.  
[16]. W. M. Henry and J. D. Love (1997), “Asymmetric multimode Y-junction splitters,” Opt.  
Quantum Electron., vol. 29, no. 3, pp. 379–392.  
[17]. J. M. Castro, D. F. Geraghty, B. R. West, and S. Honkanen (2004), “Fabrication and  
comprehensive modeling of ion-exchanged Bragg optical add – drop multiplexers,” Appl.  
Opt., vol. 43, no. 33.  
[18]. J. M. Castro, D. F. Geraghty, S. Honkanen, C. M. Greiner, D. Iazikov, and T. W. Mossberg  
(2006), “Optical add – drop multiplexers based on the antisymmetric waveguide Bragg  
grating,” Appl. Opt., vol. 45, no. 6.  
[19]. N. Riesen, J. D. Love, and J. W. Arkwright (2012), “Few-mode elliptical-core fiber data  
transmission,” IEEE Photonics Technol. Lett., vol. 24, no. 5, pp. 344–346.  
FIVE-MODE MULTIPLEXER AND DEMULTIPLEXER UTILIZING ASYMMETRIC  
Y - JUNCTION COUPLERS IN MDM SYSTEMS  
*
Dao Duy Tu, Nguyen Chanh Tin, Ho Duc Tam Linh  
Faculty of Electronics and Telecommunications, University of Sciences, Hue University  
*
ABSTRACT  
We propose an optical chip based on silicon material that is capable of  
multiplexing/demultiplexing five mode by cascading asymmetric Y - Junction  
couplers. The input signal is the fundamental modes of transverse electric (TE)  
polarization which is multiplexed and converted into higher order modes from  
TE0 to TE4 at the output ports. The device is designed, optimized and based on 3-  
dimensional beam propagation method (BPM - 3D) combined with effective  
indexing method (EIM). The device successfully performs five-mode multiplexing  
on a wide band between 1.05µm and 1.6µm with insertion loss always less than  
0.1dB and crosstalk below -10dB. With the above outstanding features, we hope the  
device will be widely used in high-speed mode division multiplexing (MDM)  
systems as well as in photonic integrated circuits on the chip.  
Keywords: BPM, EIM, Mode (de)multiplexer, Silicon, Y – Junctions.  
93  
Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng …  
Đào Duy Từ sinh ngày 04/09/1996 tại L}m Đồng. Năm 2019, ông tốt  
nghiệp kỹ sư ng|nh Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông tại Trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: mạng máy tính và mạch tích hợp quang tử.  
Nguyễn Chánh Tín sinh ngày 21/06/1996 tại Huế. Năm 2019, ông tốt  
nghiệp kỹ sư ng|nh Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông tại Trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: mạng máy tính và mạch tích hợp quang tử.  
Hồ Đức Tâm Linh sinh ngày 03/02/1986 tại Huế. Năm 2009, ông tốt  
nghiệp kỹ sư ng|nh Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông tại trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế. Năm 2014, ông tốt nghiệp thạc sĩ chuyên  
ngành Kỹ thuật điện tử tại trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia  
Hà Nội. Từ năm 2014 đến nay, ông là giảng viên tại trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: xử lý tín hiệu toàn quang, mạch tích hợp quang tử.  
94  
pdf 10 trang baolam 23340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiết kế bộ ghép/phân kênh phân chia theo mode sử dụng cấu trúc chữ Y bất đối xứng ứng dụng trong hệ thống MDM", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthiet_ke_bo_ghepphan_kenh_phan_chia_theo_mode_su_dung_cau_tr.pdf