Bài giảng Lý luận và phương pháp dạy học văn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG  
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI  
Bài giảng học phần  
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN  
Chương trình đại học ngành Sư phạm Ngữ văn  
Giảng viên: HUỲNH THỊ NGỌC KIỀU  
Khoa: Sư phạm Xã hội  
QUẢNG NGÃI, THÁNG 3/2021  
1
Chương 1. KHOA HỌC VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN  
1.1. Những vấn đề khái quát chung về dạy học văn  
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học  
1.1.1.1. Phương pháp là gì?  
- Theo Từ điển Triết học thì phương pháp là cách thức thực hiện chung nhất để đạt tới  
mục tiêu. Từ điển Tiếng Việt thì cho rằng: “Phương pháp là hệ thống cách sử dụng để tiến  
hành một hoạt động nào đó”.  
Như vậy, phương pháp là hệ thống cách thức để thực hiện theo một logic nhất định  
nhằm đạt tới mục tiêu cụ thể.  
- Mỗi việc làm sẽ có nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, phương pháp tốt nhất là  
phương pháp hợp lý nhất, hiệu quả nhất.  
- Phương pháp có một tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống. Vì thế, Max đã từng nói:  
“Đặc trưng của mỗi thời đại không phải là một sản phẩm làm ra mà là phương pháp làm ra sản  
phẩm đó”. LepTonxtoi nói: “Vấn đề không phải là biết quả đất tròn mà làm thế nào để biết quả  
đất tròn”. Nhà bác học Poplop nói: “Mỗi tiến bộ về phương pháp cho ta nhìn xa thêm một chân  
trời mới”. Ngày nay, lý luận dạy học hiện đại đã khẳng định: tri thức gồm có ba cấp độ: tri  
thức khái niệm, tri thức tư liệu và tri thức phương pháp. Như vậy, phương pháp là một bộ phận  
tri thức của mỗi người.  
1.1.1.2. Phương pháp giảng dạy  
Thuật ngữ phương pháp giảng dạy được hình thành từ trong quá trình dạy học truyền  
thống theo tư tưởng dạy học truyền thụ. Giảng dạy nhấn mạnh công việc của người giáo viên  
mà coi nhẹ công việc của người học sinh. Giảng dạy, chưa phản ánh đúng bản chất dạy học.  
Do đó, khi chuyển nền giáo dục sang vận hành theo tư tưởng dạy học hiện đại thì khái niệm  
giảng dạy được thay đổi thành khái niệm dạy học tức là phương pháp dạy học.  
1.1.1.3. Phương pháp dạy học  
Phương pháp dạy học là hoạt động dạy và hoạt động học được tiến hành đồng thời  
trong một mối quan hệ biện chứng. Hai hoạt động này khác nhau về đối tượng nhưng thống  
nhất về mục đích. Trong sự thống nhất này, phương pháp dạy có vai trò chủ đạo còn phương  
pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy và ảnh hưởng  
2
ngược lại phương pháp dạy. Phương pháp dạy có hai chức năng cơ bản là truyền đạt và chỉ  
đạo, còn phương pháp học cũng có hai chức năng cơ bản là lĩnh hội và tự chỉ đạo. Không  
những các chức năng có quan hệ mật thiết với nhau mà cả hai hệ thống chức năng cũng quan  
hệ biện chứng với nhau.  
- Các mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học:  
+ Quan hệ giữa dạy và học.  
+ Quan hệ giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài của phương pháp dạy học.  
+ Quan hệ giữa phương pháp dạy học với các thành tố khác của quá trình dạy học.  
+ Quan hệ giữa mặt chủ quan và khách quan của ngôn ngữ.  
1.1.2. Xác định tên gọi của hợp phần Đọc văn  
- Từ lâu đời, hợp phần Đọc văn trong chương trình môn Văn ở phổ thông được gọi là  
giảng văn.  
- Dùng tên gọi Đọc văn thay cho khái niệm Giảng văn không chỉ đơn thuần là chuyện  
chữ nghĩa, tên gọi mà là một sự thay đổi cơ bản về quan điểm nhận thức, về mục tiêu giáo dục  
đào tạo, về nội dung và phương pháp dạy học một hợp phần quan trọng của bộ phận văn học  
trong chương trình Ngữ văn THPT.  
- Tên gọi Đọc văn thể hiện:  
+ Tư tưởng dạy học hướng vào người học, chú trọng tích cực hóa hoạt động của người  
học, giải phóng tiềm năng sáng tạo của người học.  
+ Sự thay đổi mục tiêu dạy học văn.  
1.1.3. Phương pháp – khâu đột phá cho chất lượng đào tạo  
- “Điều qua trọng không phải là dạy cái gì mà là dạy như thế nào. Diện mạo tinh thần  
của đất nước ra sao tùy thuộc vào việc nhà trường giảng dạy như thế nào” (Mi Khancop).  
- Khoảng cách giữa lý thuyết với ứng dụng kỹ thuật đã được rút ngắn là một đặc trưng  
của khoa học công nghệ thời đại ngày nay. Chính vì vậy, nhà trường không thể chỉ là một nơi  
nhồi nhét lý thuyết không định hướng nghề nghiệp.  
- Một chuẩn mực mới về tri thức đã được hình thành theo ba cấp độ: kiến thức tư liệu,  
kiến thức khái quát và quan trọng hơn cả là kiến thức phương pháp. Kiến thức phương pháp là  
kiến thức công cụ giúp cho sự thăng hoa kiến thức và phát triển tiềm năng của người sử dụng  
kiến thức.  
3
1.2. Phương pháp dạy học Văn là một khoa học  
1.2.1. Khái niệm  
Phương pháp dạy học văn là hệ thống tác động liên tục của giáo viên văn nhằm tổ chức  
hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các phần nội  
dung văn học nhằm đạt được mục đích của giờ dạy học văn.  
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của khoa học phương pháp dạy học văn  
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra cho nhà trường và khoa học giáo dục  
những tiền đề cơ bản để phát triển lý luận về phương pháp dạy học Văn ở nước ta.  
- Phương pháp dạy học Văn với tư cách là một khoa học ở Việt Nam còn rất trẻ.  
- Tuy mới được hình thành nhưng ngành phương pháp dạy học Văn ở nước ta đã phát  
triển vững vàng từng bước trên cơ sở vận dụng phương pháp luận Mac Lenin và kinh nghiệm  
dạy văn trong nước.  
1.2.3. Đối tượng của khoa học phương pháp dạy học Văn  
Phương pháp dạy học văn lấy quá trình dạy học văn ở nhà trường trung học phổ thông  
làm đối tượng chính của mình. Quá trình đó bao gồm các yếu tố cơ sở: nội dung dạy và học  
văn, hoạt động của người giáo viên và hoạt động của học sinh.  
1.2.4. Nhiệm vụ của khoa phương pháp dạy học văn  
- Nghiên cứu những cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình văn trong nhà  
trường và cấu tạo khóa trình văn của mỗi cấp, mỗi lớp khác nhau một cách nhất quán, hệ thống  
và được phân chia theo những mức độ hợp lý.  
- Khoa phương pháp dạy học văn có nhiệm vụ nghiên cứu và giải thích cơ sở lý luận  
khoa học của phương pháp giảng dạy văn học, hệ thống hóa và khái quát hóa kinh nghiệm  
giảng dạy văn tiên tiến, trong chính khóa và ngoại khóa để hoàn thiện dần những phương pháp  
dạy học Ngữ văn.  
- Xác định một hệ thống lý luận để nghiên cứu bộ môn phương pháp cũng như các đề  
tài về khoa học này. Có thể nói, từng bước đưa bộ môn phương pháp thoát khỏi chủ nghĩa kinh  
nghiệm và vươn tới chân trời khoa học tốt đẹp hơn.  
- Bắt đầu nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển bộ môn khoa học và phương pháp  
dạy học văn ở nước ta.  
1.3. Phương pháp học tập và nghiên cứu bộ môn PPDH Văn  
1.3.1. Phương pháp điều tra cơ bản dựa vào số liệu thống kê  
4
Ý nghĩa chính của nó là đưa ra những chỉ số để phát hiện tình hình và định hướng  
nghiên cứu những vấn đề cụ thể và sâu hơn trong quá trình dạy học văn. Cách nghiên cứu thực  
tiễn tốt nhất là trực tiếp đi vào công tác giảng dạy của giáo viên bám trường lớp hàng ngày.  
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu ứng dụng  
Quá trình dạy học một bài cụ thể là một quá trình giao tiếp xã hội nhằm nhiều mục  
đích, sử dụng nhiều biện pháp, cách thức, huy động nhiều tài liệu, cần định hướng vào cái cơ  
bản, tập trung vào trọng tâm và lựa chọn phương pháp tốt nhất. Do đó, phải xử lý nhiều mối  
quan hệ trong một thời điểm. Phương pháp nghiên cứu này nhằm củng cố và làm sáng tỏ hơn  
những quan điểm lý thuyết của phương pháp dạy học văn được xây dựng từ những giả thuyết  
khoa học cần kiểm chứng.  
1.3.3. Phương pháp quan sát tự nhiên  
Phương pháp quan sát tự nhiên phát hiện ra những biến đổi tinh tế khách quan trong  
thái độ của học sinh đối với môn học, với giờ học, với giáo viên bộ môn, với tác phẩm văn  
chương và tác giả của nó cũng như đối với các sự kiện văn học trong đời sống và trong nhà  
trường. Phương pháp này có ưu thế là nó đảm bảo tính tự nhiên và khách quan. Học sinh  
không biết mình là đối tượng đang bị quan sát nên tự bộc lộ hết những cảm nghĩ thực, cách cư  
xử thực. Tuy nhiên, do đây là phương pháp gián tiếp nên nó vẫn mang những nhược điểm của  
sự lệ thuộc và đối tượng quan sát.  
1.3.4. Phương pháp điều tra  
Đây là phương pháp thường được thực hiện trên giấy. Tùy từng vấn đề được trưng cầu  
mà cần trả lời công khai hoặc kín đáo. Phương pháp này được bổ sung bằng phương pháp  
phỏng vấn. Đó là dạng trưng cầu ý kiến trực tiếp bằng lời. Do tính bất ngờ, nhanh chóng trong  
phỏng vấn, phương pháp này đã cho ta nhận ra những ấn tượng mạnh mẽ, nổi bật, cảm tính, ít  
suy luận ở người được phỏng vấn nên nó vẫn nghiêng về những vấn đề thuộc cá nhân. Tuy  
nhiên, cả hai phương pháp này nếu được định hướng và có nội dung tốt vẫn có thể khám phá  
và đi sâu vào những vấn đề trọng tâm mà phương pháp dạy học văn nghiên cứu.  
1.3.5. Phương pháp khảo sát tiết dạy học văn trên lớp  
Phương pháp khảo sát những tiết dạy học văn trên lớp là phương pháp đảm bảo điều  
kiện sư phạm tự nhiên và tương đối thống nhất từ quy mô, tiêu chuẩn, trình độ, lứa tuổi, không  
gian, thời gian, nội dung, phương pháp….Do đó, phương pháp này có khả năng tập trung vào  
các vấn đề khảo sát cao hơn và sai số cũng ít hơn. Phương pháp này có thể nghiên cứu chi tiết,  
5
tổng hợp các quá trình xảy ra trong giờ văn, nhìn nhận được các mối liên hệ tất yếu trong một  
khâu hoàn chỉnh, nhờ đó phát hiện ra được những đổi thay đáng kể về mặt nội dung và các  
phương pháp đạt tới mục đích nghiên cứu.  
1.3.6. Phương pháp thực nghiệm  
Phương pháp này đảm bảo sự thống nhất từ chỉ đạo đến thực nghiệm, từ thiết kế đến thi  
công và có giá trị nghiên cứu khoa học sâu sắc. Nó được phép vạch hướng, dự kiến, điều  
chỉnh, bổ sung, sửa đổi những điều kiện sư phạm ổn định và chủ động.  
Phương pháp thực nghiệm có nhiều hình thức và mức độ. Và đây là phương pháp đáng  
tin cậy nhất trong nghiên cứu của khoa học dạy học văn.  
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP  
1. Phương pháp là gì? Phân biệt phương pháp giảng dạy và phương pháp dạy học.  
2. Đọc văn là gì? Tại sao trong dạy học hiện nay, khái niệm dạy Đọc văn được dùng để thay  
thế cho khái niệm Giảng văn?  
3. Tại sao nói: phương pháp là khâu đột phá cho chất lượng đào tạo? Cho ví dụ minh họa.  
4. Đối tượng và nhiệm vụ của khoa phương pháp dạy học văn?  
5. Phân tích các phương pháp học tập và nghiên cứu bộ môn PPDH văn.  
6
Chương 2. BẢN CHẤT VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VĂN  
Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
2.1. Bản chất của quá trình dạy học văn  
2.1.1. Văn học như một môn học  
- Văn học như một môn học, là một thành phần cấu tạo của chương trình văn hóa cơ  
bản trong nhà trương phổ thông.  
- Môn Ngữ văn cùng với các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những  
hiểu biết và những kỹ năng nhất định…  
2.1.2. Văn như một nghệ thuật ngôn từ  
- Dạy học văn trong nhà trường chịu sự chi phối của phương thức phản ánh bằng hình  
tượng ngôn ngữ được thể hiện qua sự sáng tạo của nhà văn.  
- Tiếp cận và chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương trong nhà trường cũng chịu sự chi  
phối của những quy luật tiếp nhận văn chương.  
- Hiệu quả của việc dạy học văn trong nhà trường phải tính dến tác động về mặt tâm  
hồn, tình cảm thẩm mỹ.  
- Mục đích của việc dạy học văn trong nhà trường là tạo được sự phát triển cân đối,  
toàn diện về tâm hồn, trí tuệ, về thẩm mỹ và hiểu biết để xây dựng nhân cách cho học sinh.  
Lưu ý: Từ hai bản chất cơ bản Văn học, chúng ta có thể thấy rằng dạy học văn là:  
- Bám sát văn bản => khái quát hóa những cái hay, cái đẹp của TPVH => HS: cảm và  
hiểu.  
- Màu sắc khoa học + màu sắc nghệ thuật => đòi hỏi năng khiếu thẩm mỹ.  
- Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng => HS tưởng tượng, cảm thụ, đánh giá, soi chiếu  
với hình tượng nhân vật.  
=> Bản chất của quá trình DH văn: bản chất nghệ thuật.  
2.1.3. Ý nghĩa sư phạm từ nhận thức đúng đắn bản chất của môn Văn  
- Trong môi trường sư phạm, những quy luật văn học, những nguyên tắc, phương pháp  
nghiên cứu chiếm lĩnh tác phẩm văn chương sẽ bị khúc xạ khá nhiều. Nếu máy móc vận dụng  
những quy luật và nguyên tắc nghiên cứu văn học nói chung vào thực tiễn dạy và học môn  
Văn trong nhà trường, giáo viên nhất định sẽ không đạt được những kết quả như mong muốn.  
7
- Hoạt động tiếp nhận văn chương của học sinh trong nhà trường không hoàn toàn  
giống với bạn đọc ngoài xã hội.  
+ Tác phẩm văn chương một khi đã nằm trong chương trình, sách giáo khoa tự nhiên sẽ  
biến đổi về nhiều mặt so với chính tác phẩm ấy trong tay một bạn đọc ngoài xã hội. Nếu không  
có sự thay đổi về dung lượng, quy mô tác phẩm thì nhất thiết cũng khác đi về yêu cầu chức  
năng và cả một sự thay đổi tương đối về vị trí trong lịch sử văn học.  
+ Việc tiếp nhận một tác phẩm văn học ngoài xã hội hoàn toàn có tính chất tự do, độc  
lập và mang tính cá nhân là chủ yếu.  
+ Tiếp nhận một tác phẩm văn học trong nhà trường lại mang tính tập thể và có sự  
hướng dẫn trực tiếp của của giáo viên.  
Nói tóm lại, nếu không ý thức thật rõ văn học như một môn học thì giáo viên sẽ xem  
nhẹ vai trò là người tổ chức hướng dẫn quá trình học tập của học sinh. Và nhiệm vụ phát triển  
về tri thức, về kỹ năng cũng không được chú ý.  
- Lao động của người giáo viên văn học vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính sư  
phạm. Hai tính chất này bắt nguồn từ hai thuộc tính cơ bản của môn Văn: vừa là môn học, vừa  
là một môn khoa học có tính nghệ thuật ngôn từ.  
2.2. Cấu trúc giờ dạy học văn ở trường phổ thông (cơ chế dạy học văn)  
2.2.1. Khái niệm cơ chế dạy học văn  
Cơ chế dạy học văn là phương thức tổ chức và vận động trong sự tương tác qua lại giữa  
các thành tố và các mối liên hệ của chúng trong cấu trúc dạy học văn nhằm đạt được hiệu quả  
tối ưu theo mục đích giáo dục và phát triển của bộ môn.  
2.2.2. Phân tích cơ chế dạy học văn  
2.2.2.1. Vai trò, chức năng của các yếu tố trong cơ chế dạy học văn  
a. Học sinh trong cơ chế dạy học văn  
- Trong cơ chế cũ:  
+ Học sinh chỉ được nhìn nhận như là khách thể thụ động của quá trình dạy học, là đối  
tượng giáo dục chịu tác động một chiều từ phía giáo viên.  
+ Học sinh chưa được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học văn, bị cô lập gián  
cách trong quan hệ với các yếu tố khác của cấu trúc giờ học, nhất là với tác phẩm.  
8
+ Học sinh trong cơ chế cũ chưa được quan tâm chú ý đến như là những thực thể cá thể  
cụ thể với đặc điểm nhân cách, vốn sống, trình độ, kinh nghiệm riêng; vì vậy, học sinh chỉ hiện  
hữu như những cái bóng trong lớp học, như một khái niệm trừu tượng.  
+ Hoạt động chức năng chủ yếu của học sinh là lắng nghe, ghi nhớ, lặp lại, tái hiện lại  
những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, trong lời giảng của giáo viên.  
+ Học sinh chưa được tham gia trực tiếp vào quá trình tiếp cận, chiếm lĩnh bài văn một  
cách hứng thú, tích cực sáng tạo.  
- Trong cơ chế mới:  
+ Học sinh được nhìn nhận không chỉ là một đối tượng để giáo dục mà là một chủ thể  
tích cực năng động sáng tạo trong quá trình dạy học một tác phẩm văn chương.  
+ Học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, trong quan hệ tướng tác  
đa chiều với các thành tố hữu cơ khác trong cấu trúc giờ văn.  
+ Học sinh được trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động tiếp cận, chiếm lĩnh bài văn  
với tư cách là chủ thể tiếp nhận, là bạn đọc sáng tạo.  
+ Học sinh được tổ chức, hướng dẫn, kích thích khơi gợi tìm tòi sáng tạo, tự thân vận  
động tâm lý cảm thụ, huy động những năng lực chủ quan, kinh nghiệm cá nhân để thâm nhập,  
chiếm lĩnh bài văn, qua đó tự nhận thức, tự giáo dục, tự phát triển về mọi mặt theo định hướng  
giáo dục của giáo viên.  
+ Học sinh được đặt trong mối quan hệ giao tiếp, đối thoại với nhà văn, với giáo viên  
và tập thể lớp học, qua đó phát biểu, bộc lộ những cảm thụ, lý giải riêng mang màu sắc chủ  
quan trên cơ sở nhận thức chung của tập thể lớp học và định hướng sư phạm của giáo viên.  
b. Giáo viên trong cơ chế dạy học văn  
- Trong cơ chế cũ:  
+ Giáo viên giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy học.  
+ Giáo viên được độc tôn, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa.  
+ Hoạt động chức năng chủ yếu của người giáo viên là truyền đạt kiến thức một chiều  
có sẵn trong sách giáo khoa, trong bài giảng đến với học sinh.  
+ Giáo viên chỉ chú trọng đến văn bản trong quan hệ duy nhất và đơn phương với giáo  
viên.  
- Trong cơ chế mới:  
9
+ Giáo viên chịu nhiều thử thách nặng nề hơn về trình độ năng lực chuyên môn và tài  
năng sư phạm.  
+ Giáo viên là người thiết kế, tổ chức hệ thống các hoạt động, việc làm, vật chất hóa  
hoạt động tâm lý bên trong bằng các hành động, thao tác cụ thể để tổ chức, hướng dẫn học  
sinh tự mình hoạt động tìm tòi sáng tạo, chiếm lĩnh kiến thức.  
+ Giáo viên là nhân tố thiết lập, thúc đẩy và duy trì các mối quan hệ tương tác đa chiều  
giữa các thành tố GV – HS – TP trong cấu trúc giờ dạy học văn.  
c. Tác phẩm văn chương trong cơ chế dạy học văn  
- Trong cơ chế cũ:  
+ Tác phẩm văn chương (TPVC) chỉ được xem như một phương tiện nhận thức, một  
công cụ giáo dục, một cơ sở để hình thành cho HS những hiểu biết về văn học và đời sống.  
+ TPVC chỉ được đặt trong quan hệ duy nhất và đơn phương với GV, là đối tượng độc  
nhất cho sự khám phá, phân tích của GV.  
+ TPVC bị tách biệt, cô lập với bạn đọc HS, chưa thực sự trở thành đối tượng thẩm mỹ  
được HS quan tâm, hứng thú khám phá, phát hiện, sáng tạo.  
+ TPVC chủ yếu được tiếp cận, phân tích trên phương diện lịch sử phát sinh, nội dung  
phản ánh mà coi nhẹ mặt chủ quan biểu hiện của nhà văn, chưa chú ý tiếp cận trên quan điểm  
“hướng vào đáp ứng của HS”.  
- Trong cơ chế mới:  
+ TPVC được nhìn nhận một cách cân đối, đồng bộ và toàn diện hơn.  
+ TPVC không chỉ là một phương tiện để nhận thức, giáo dục mà còn là phương tiện để  
tự nhận thức, tự giáo dục, tự phát triển cấu trúc nhân cách văn hóa của HS.  
+ TPVC được tiếp cận một cách cân đối, đồng bộ cả trên ba phương diện: lịch sử phát  
sinh, cấu trúc bản thể và hướng vào sự đáp ứng của học sinh.  
+ TPVC được đưa vào trong quan hệ qua lại, nhiều chiều với các thành tố khác trong  
cấu trúc giờ dạy học văn.  
2.2.2.2. Về mối quan hệ của các yếu tố trong cấu trúc giờ dạy học văn  
Các thành tố GV – HS – TP trong cơ chế dạy học văn không tồn tại một cách riêng rẽ,  
biệt lập mà nằm trong những mối liên hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau.  
- Trong cơ chế dạy học văn cũ:  
+ Mối liên hệ GV – TP được coi là mối liên hệ cơ bản, quan trọng nhất.  
10  
+ Mối liên hệ HS – TP bị cắt đứt, bị thủ tiêu. HS bị gián cách với tác phẩm. TP trở nên  
khách quan, xa lạ với HS.  
+ Mối liên hệ GV – HS tuy được xác lập và chú trọng ít nhiều nhưng cũng chỉ được  
nhìn nhận như là mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng của quá trình dạy học.  
- Trong cơ chế dạy học văn mới:  
+ Mối liên hệ GV – TP không bị khép kín như trong cơ chế cũ. GV tiếp cận, phân tích  
tác phẩm để tìm kiếm những con đường để dẫn dắt, định hướng HS tự mình đi vào TP, giúp  
HS tự phát hiện, chiếm lĩnh những giá trị phù hợp với nhu cầu, sự quan tâm và nguyện vọng  
của HS.  
+ Mối liên hệ HS – TP được nhìn nhận là mối liên hệ cơ bản, quan trọng nhất, là đầu  
mối quy định các mối liên hệ khác.  
+ Mối liên hệ GV – HS là mối liên hệ song phương, tương tác qua lại với nhau.  
2.2.2.3. Về sự vận hành của cấu trúc giờ dạy học văn  
Một quan điểm nhận thức đúng hay sai, cũ hay mới về cơ chế dạy học TPVC còn thể  
hiện ở cách nhìn nhận hay quan điểm nhận thức như thế nào về sự vận động của cơ chế. Nếu  
nhận thức về sự vận hành của cấu trúc giờ dạy học văn là nhờ phương thức tác động từ ngoài  
thì sẽ tức khắc phá hủy ngay bản thân cơ chế đó, vì đó là một cơ chế có tính hình thức giả tạo.  
Ngược lại, nếu nhìn nhận cơ chế giờ dạy học văn vận động trên phương thức hoạt động tâm lý  
cảm thụ bên trong hay sự tự thân vận động của chủ thể học sinh thì đó mới thực sự là một cơ  
chế vận hành hợp lý và tối ưu, đem lại hiệu quả cao cho quá trình dạy học tác phẩm văn  
chương ở phổ thông.  
- Cơ chế dạy học văn cũ vận động nhờ những tác động bên ngoài, đơn phương từ phía  
GV vì thế đó là một cơ chế giả tạo, mất cân đối, không phù hợp với cấu trúc giờ dạy học văn  
vốn là một quan hệ tương tác năng động, nhiều chiều giữa các yếu tố GV – HS – TP.  
- Cơ chế dạy học văn mới vận động dựa trên phương thức tự thân vận động tâm lý bên  
trong của chủ thể HS, cho nên đó thực sự là một cơ chế hợp lý và tối ưu. Nói cách khác, cơ  
chế tối ưu của quá trình dạy học một tác phẩm văn chương là một cơ chế vận động trong  
những quan hệ tương tác đa phương, nhiều chiều giữa các yếu tố GV – HS – TP.  
- Để tác động, thúc đẩy cơ chế giờ dạy học văn vận hành một cách phù hợp, tối ưu, cần  
phải bảo đảm những điều kiện sau:  
11  
+ Giáo viên giữ vai trò cố vấn, trọng tài, thực hiện chức năng tổ chức, định hướng HS  
tự mình tiếp cận, phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm một cách tích cực sáng tạo.  
+ GV phải xác lập và tôn trọng vai trò chủ thể, tư cách bạn đọc sáng tạo của HS,  
chuyển học sinh từ khách thể thụ động, đối tượng giáo dục trở thành chủ thể tích cực sáng tạo  
trong quá trình tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm.  
+ GV phải chuyển từ lối dạy tái hiện sang lối dạy sáng tạo, chuyển từ phương pháp  
thuyết giảng bằng lời nói sang thiết kế, tổ chức các hình thức hoạt động của HS, chuyển từ giờ  
học độc thoại sang giờ học đối thoại với một bầu không khí giao cảm, tự do, dân chủ và cởi  
mở, tránh sự áp đặt quyền uy, độc đoán, tránh lối suy nghĩ có tính chất giáo điều, sách vở.  
2.3. Ý nghĩa sư phạm của sự nhận thức đúng đắn cơ chế dạy học văn  
- Về mặt phương pháp luận: nhận thức đúng đắn cơ chế dạy học văn sẽ giúp chúng ta  
nhìn nhận sáng rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của quá trình dạy học văn trong nhà trường phổ  
thông.  
- Về mặt thực tiễn sư phạm: một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về cơ chế giờ dạy học  
văn sẽ đưa đến những đổi thay triệt để về phương pháp và hình thức tổ chức giờ học, về thiết  
kế giáo án cũng như xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả một giờ giảng văn ở phổ thông.  
+ Về phương pháp: cơ chế dạy học văn mới đòi hỏi một sự chuyển đổi từ lối dạy thông  
báo – tái hiện sang lối dạy tìm tòi sáng tạo, từ phương pháp truyền thụ một chiều sang tổ chức  
cho HS hoạt động bằng một hệ thống việc làm, thao tác để HS tự mình tiếp cận, phân tích,  
chiếm lĩnh tác phẩm.  
+ Về hình thức tổ chức lớp học: phải chuyển từ hình thức giờ học độc thoại, truyền thụ  
kiến thức sang giờ học hoạt động, tổ chức cho HS trao đổi, đối thoại tự do, dân chủ và cởi mở.  
+ Về thiết kế giáo án: phải chuyển từ hình thức giáo án là một bản đề cương kiến thức  
cần truyền thụ cho HS sang hình thức giáo án là một bản thiết kế hoạt động của thầy và trò,  
trong đó song song tương ứng với một hệ thống tình huống học tập được đặt ra từ nội dung tác  
phẩm là một hệ thống các hoạt động, việc làm, thao tác được vật chất hóa nhằm tổ chức,  
hướng dẫn cho học sinh tự mình tiếp cận, khám phá, phân tích tác phẩm một cách hứng thú,  
tích cực, sáng tạo.  
+ Về tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả một giờ dạy văn: không chỉ đòi hỏi bảo đảm yêu cầu  
cung cấp kiến thức cho HS mà quan trọng hơn là trong giờ học HS phải thực sự hoạt động, tự  
12  
thân vận động tâm lý bên trong để thâm nhập, khám phá, chiếm lĩnh bài văn dưới sự tổ chức,  
dẫn dắt của GV.  
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP  
1. Phân tích bản chất của quá trình dạy học văn ở nhà trường phổ thông.  
2. Phân tích ý nghĩa sư phạm từ nhận thức đúng đắn bản chất của môn Văn.  
3. Phân tích cơ chế dạy học văn truyền thống.  
4. Phân tích cơ chế dạy học văn hiện đại.  
5. So sánh cơ chế dạy học văn truyền thống và cơ chế dạy học văn hiện đại.  
6. Phân tích ý nghĩa sư phạm của sự nhận thức đúng đắn cơ chế dạy học văn.  
7. Tại sao trong dạy học hiện nay, chúng ta phải tuân theo cơ chế dạy học văn hiện đại  
không được sử dụng cơ chế dạy học văn truyền thống?  
13  
Chương 3. HỆ THỐNG NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN  
3.1. Hệ thống nguyên tắc dạy học văn  
3.1.1. Khái quát chung  
- Nguyên tắc là những quy định bắt buộc phải thực hiện để đảm bảo tính khoa học, tính  
thống nhất sư phạm của một lĩnh vực hoạt động.  
- Tùy theo mức độ nhận thức chính xác và phong phú về đối tượng khoa học cũng như  
cơ chế hoạt động của môn học trong mỗi giai đoạn và thời kỳ lịch sử, các nhà phương pháp lại  
đề ra những nguyên tắc dạy học không giống nhau.  
- Nguyên tắc dạy học Ngữ văn được xây dựng trên ba cơ sở:  
+ Giáo viên (trình độ, khả năng truyền đạt…)  
+ Học sinh (nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý, trình độ…)  
+ Môn Ngữ văn (nội dung dạy và học).  
3.1.2. Dạy học văn theo đặc trưng bộ môn  
3.1.2.1. Đặc trưng thứ nhất của môn học là đặc trưng nghệ thuật: tác phẩm văn chương  
là một công trình được xây dựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật với đặc trưng bản chất của nó là  
sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật về cuộc sống. Tác phẩm văn chương tồn tại bằng quy luật  
tình cảm để thỏa mãn những xúc động thẩm mỹ bởi phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo  
của nhà văn. Ngoài ra, trong tác phẩm văn chương, nhà văn có thể dung nạp cách xây dựng tác  
phẩm bằng những thủ pháp của các ngành nghệ thuật khác như: nhạc, họa, điện ảnh, vũ đạo …  
3.1.2.2. Đặc trưng thứ hai của môn học là tính khoa học: đặc trưng của môn Văn còn  
là đặc trưng khoa học với tư cách là môn học trong nhà trường. Môn học nào cũng có nội dung  
tri thức khoa học của nó. Môn Văn chứa đựng trong nó khoa học về sự hình thành, phát triển  
của nền văn học dân tộc theo tiến trình nội tại của nó. Tri thức về tác phẩm với đề tài, chủ đề,  
tư tưởng chủ đề, kết cấu, cảm hứng sáng tác, giọng điệu, yếu tố nội dung, yếu tố hình thức và  
sự thống nhất biện chứng giữa chúng đều là những sự đúc kết khoa học mà nên.  
3.1.2.3. Đặc trưng thứ ba của môn học là đặc trưng tích hợp: đặc trưng tích hợp thể  
hiện ở tính tư tưởng, tính công cụ và tính nghệ thuật hòa nhập vào trong môn học, thể hiện trên  
hai phương diện tích hợp cơ bản: tích hợp ngang và tích hợp dọc.  
14  
3.1.2.4. Đặc trưng thứ tư là đặc trưng giao tiếp: thể hiện ở tính chất đối thoại dựa vào  
công cụ ngôn ngữ: ngôn ngữ thông dụng trong xã hội, ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn  
chương…  
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính chỉnh thể toàn vẹn trong dạy học văn  
- TPVC là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố dùng để biểu hiện nhiều nội dung, nhiều  
chủ đề bộ phận và nó có quan hệ với nhau chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau.  
- Phải lấy chủ đề tư tưởng làm mốc xuyên suốt vào từng ý, vào từng tiểu chủ đề của tác  
phẩm, từng chi tiết của bài văn.  
- Phải đặt hình tượng vào bài văn để phân tích.  
- TPVC là một thể thống nhất, nó có cấu trúc đặc biệt: nội dung và hình thức thống nhất  
với nhau cao độ.  
3.1.4. Dạy học văn theo quan điểm tích hợp  
3.1.4.1. Khái niệm tích hợp  
Trong lý luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ có hệ thống, ở  
những mức độ khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất dựa  
trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các  
hợp phần của bộ môn đó.  
3.1.4.2. Các hình thức tích hợp  
- Tích hợp ngang: là thuật ngữ dùng để chỉ sự tích hợp trong việc xử lý mối quan hệ  
hàng ngang giữa ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn trong một bài học. Đây là  
phương diện tích hợp có thể nói là mới nhất và khó nhất khi tích hợp các phân môn của môn  
học trong phạm vi thời gian dạy học một bài trong một tuần.  
- Tích hợp dọc: là thuật ngữ dùng để chỉ sự tích hợp trong nội bộ bản thân của phân  
môn. Đó là sự tích hợp trong sự phát triển theo chiều dọc của phân môn dựa trên hệ thống  
khoa học, logic nội tại của nó.  
3.1.4.3. Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT  
- Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức để khắc phục hạn  
chế lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống nhằm  
nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kỹ năng mà HS lĩnh hội được, bảo đảm cho  
mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kỹ năng của mình để giải quyết  
những tình huống có ý nghĩa.  
15  
- Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm lấy HS làm trung  
tâm của quá trình dạy học.  
- Việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý đảm bảo các yêu cầu  
sau:  
+ Giúp HS tích hợp các kiến thức và kỹ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các  
tri thức và kỹ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình  
huống tích hợp để HS vận dụng phối hợp các tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các phân môn  
vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực kỹ năng thực  
hành.  
+ Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để HS học cách sử dụng phối hợp những  
kiến thức và kỹ năng đã thụ đắc trong nội bộ các phân môn.  
+ Đặt HS vào trung tâm của quá trình dạy học.  
+ Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS.  
- Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung  
kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm  
tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học,  
đồng thời hình thành và phát triển năng lực kỹ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy  
nhất.  
3.1.4.4. Hoạt động dạy học đọc hiểu TPVC theo quan điểm tích hợp  
- Dạy học TPVC theo quan điểm tích hợp đòi hỏi phải biến giờ giảng văn thành giờ dạy  
kỹ năng đọc hiểu cho HS hướng tới làm cho các em có năng lực đọc hiểu bất kỳ văn bản nào.  
- Dạy học TPVC theo quan điểm tích hợp đòi hỏi giáo viên phải thay đổi cách dạy học.  
- Dạy học TPVC theo quan điểm tích hợp đòi hỏi giáo viên phải chú trọng hình thành  
cho HS cách đọc có phương pháp, phát huy năng lực cảm thụ thẩm mỹ trực tiếp, khêu gợi  
tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo, liên tưởng hình tượng và liên tưởng ý niệm, bồi  
dưỡng năng lực cảm thụ tinh tế, nhanh nhạy, phát triển năng lực tư duy, cắt nghĩa, khái quát,  
tránh suy diễn máy móc tùy tiện…  
3.1.4.5. Thiết kế giáo án giờ dạy học TPVC theo quan điểm tích hợp  
- Giáo án giờ dạy học là bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho HS thực  
hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo  
dục và giáo dưỡng của bộ môn.  
16  
- Thiết kế giáo án giờ học TPVC phải bám chặt vào những giá trị tư tưởng và nghệ  
thuật vốn có và ổn định của tác phẩm trong đời sống văn hóa lịch sử đầy biến động của nó.  
- Nội dung dạy học của thiết kế giáo án giờ học TPVC phải làm rõ những tri thức và kỹ  
năng cần hình thành, tích lũy cho HS qua phân tích, chiếm lĩnh bài văn.  
- Giáo án giờ học TPVC theo quan điểm tích hợp phải chú trọng thiết kế các tình huống  
tích hợp và tương ứng là các hoạt động phức hợp để HS vận dụng phối hợp các tri thức và kỹ  
năng của các phân môn vào xử lý các tình huống đặt ra, qua đó chẳng những lĩnh hội được  
những tri thức và kỹ năng riêng rẽ của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển  
năng lực tích hợp.  
3.1.4.6. Tổ chức giờ học TPVC trên lớp theo quan điểm tích hợp  
- Tổ chức giờ học TPVC trên lớp theo quan điểm tích hợp là tiến trình thực thi bản kế  
hoạch phối hợp hữu cơ hoạt động của GV và HS theo một cơ cấu sư phạm hợp lý, khoa học.  
- Tổ chức hoạt động đọc hiểu TPVC trên lớp theo quan điểm tích hợp, GV phải chú  
trọng mối quan hệ giữa HS và văn bản, phải coi đây là mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất  
trong cơ chế giờ học.  
- Quan điểm dạy học tích hợp hay dạy cách học, dạy tự học, tự đọc không coi nhẹ việc  
cung cấp tri thức cho HS.  
3.1.4.7. Đặc điểm giờ Văn theo quan điểm tích hợp  
- Giờ Văn theo quan điểm tích hợp là giờ học ở đó GV và HS tập trung khai thác một  
cách tận cùng vai trò giá trị chất liệu ngôn từ trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác  
phẩm.  
- Giờ văn theo quan điểm tích hợp là giờ học mà GV và HS biết vận dụng và phối hợp  
các hiểu biết về lịch sử văn học, lý luận văn học để soi sáng cho những khám phá về nội dung  
và nghệ thuật của TPVC.  
- Giờ Văn theo quan điểm tích hợp là giờ học mà GV và HS phải biết vận dụng tổng  
hợp nhiều tri thức văn hóa nghệ thuật liên quan để soi sáng nhận biết tác phẩm.  
- Giờ Văn theo quan điểm tích hợp là giờ học mà GV và HS phải huy động tối đa vốn  
sống, sự từng trải của mỗi cá nhân để soi sáng việc phát hiện, phân tích, cảm thụ tác phẩm.  
- Giờ Văn theo quan điểm tích hợp là giờ học mà GV và HS phải thực hiện theo  
phương pháp tích hợp.  
17  
Tóm lại: Một giờ Văn theo quan điểm tích hợp là giờ học phải vận dụng một cách tổng  
hợp nhuần nhuyễn nhiều tri thức và kỹ năng nhằm làm sáng lên giá trị nội dung và nghệ thuật  
tiềm ẩn trong TPVC.  
3.1.5. Nguyên tắc phát huy tính tích cực năng động, sáng tạo của HS  
- Tính tích cực, năng động của HS là sự nỗ lực hoạt động trong nhận thức của HS.  
Quá trình nhận thức bao gồm ba yếu tố: nguồn nhận thức, hoạt động nhận thức và kết quả của  
hoạt động nhận thức.  
- Thực hiện tốt nguyên tắc này cũng là cách góp phần làm sáng tỏ thêm nguyên lý dạy  
học hướng vào HS, yêu cầu cao hơn về trình độ hiện có, tạo ra sức bật khích lệ được khát vọng  
học tập, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực vượt qua khó khăn mà nỗ lực chính là vượt qua bản thân  
mình.  
- Dạy HS biết cách đọc văn để HS hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu các thể  
loại và văn bản.  
- Để phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, giáo viên cần biết rõ và tác  
động vào thái độ, động cơ cũng như hứng thú học tập của học sinh.  
- Tính tích cực chủ động của học sinh còn được thể hiện ở sự tập trung chú ý có chủ  
đích, sự cần mẫn, tính ham hiểu biết, óc tò mò và hoài nghi khoa học cũng như lòng say mê  
học tập…  
- Nguyên tắc này còn được biểu hiện ở sự tin tưởng vào tiềm năng học sinh, sự đối xử  
bình đẳng và thái độ dân chủ, tôn trọng nhân cách học sinh trong quá trình hợp tác dạy học.  
3.1.6. Nguyên tắc dạy học tác phẩm văn chương gắn liền với năng lực tiếp nhận  
của học sinh  
- Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn chương.  
- Năng lực tái hiện hình tượng.  
- Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học.  
- Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật  
của tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó.  
- Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận.  
- Năng lực cảm xúc thẩm mỹ.  
- Năng lực tự nhận thức.  
- Năng lực đánh giá.  
18  
Nói chung, để phát huy năng lực tiếp nhận của học sinh, giáo viên cần:  
- Phát huy năng lực đọc hiểu của bạn đọc học sinh.  
- Bồi dưỡng hài hòa năng lực nhận thức, năng lực đánh giá và năng lực thưởng thức  
giá trị của tác phẩm cho học sinh.  
3.1.7. Đảm bảo quan điểm tiếp cận đồng bộ trong dạy học văn  
Quan điểm tiếp cận đồng bộ là sự vận dụng kết hợp hài hòa các quan điểm tiếp cận lịch  
sử phát sinh, cấu trúc bản thể và tác động chức năng khi dạy học văn ở nhà trường THPT.  
-Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh hay là sự vận dụng một cách thích hợp những  
hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hóa, nhà văn …) để cắt nghĩa tác phẩm.  
+ Mỗi TP thường ra đời trong một bối cảnh lịch sử lịch sử XH nhất định, trong môi  
trường truyền thống văn hóa, văn học cụ thể, trong hoàn cảnh riêng và chủ định của tác giả.  
+ Phải đặt TP vào hoàn cảnh lịch sử phát sinh mới hiểu được một cách sâu sắc tác phẩm  
đó.  
+ Cần tránh quan điểm đồng nhất thực tại đời sống với hiện thực sáng tạo, đồng nhất sự  
thật và chân lý đời sống với sự thật và chân lý nghệ thuật.  
-Quan điểm tiếp cận cấu trúc bản thể  
+ TP là một cấu trúc nghệ thuật hết sức phức tạp.  
+ Tiếp cận, phân tích TP theo quan điểm cấu trúc bản thể là tập trung khảo sát, phân  
tích, giải mã các yếu tố thuộc các cấp độ cấu trúc TP nhằm rút ra những giá trị về nội dung  
thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật của các yếu tố cũng như của chỉnh thể TP.  
+ Nội dung thẩm mỹ của TP bao gồm nhiều phương diện.  
+ Trong TP, những yếu tố văn hóa càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mỹ của văn bản.  
+ Thiếu vốn sống văn hóa cần thiết thì việc cảm thụ văn thơ cũng dễ sai lệch và thiếu  
sâu sắc.  
+ Tiếp cận cấu trúc bản thể cần tránh khuynh hướng tách rời nội dung với hình thức của  
TP, khuynh hướng phân tích, lý giải các yếu tố, chi tiết nghệ thuật thoát ly chỉnh thể TP.  
+ Phải nhìn nhận TP theo quan điểm động, xem TP như một hệ thống mở, như một đại  
lượng thẩm mỹ vừa bất biến vừa khả biến.  
- Quan điểm tiếp cận hướng vào sự đáp ứng của HS  
19  
+ Quan điểm này tập trung khảo sát hoạt động hành chức xã hội và mỹ học của TP qua  
các thời đại lịch sử, xem xét đời sống vận động lịch sử và sự tác động, ảnh hưởng của TP trong  
ý thức thẩm mỹ của công chúng.  
+ Lấy “đáp ứng của HS” làm trung tâm trong phân tích TP.  
+ Cần tập trung khai thác trong trường khả năng tác động của TP, những tác động nhằm  
thỏa mãn đáp ứng nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của HS.  
3.1.8. Kết hợp hữu cơ nội dung và hình thức khi dạy học TP  
- Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự thống  
nhất giữa nội dung và hình thức của sự vật trong thế giới khách quan.  
- Một TP có giá trị bao giờ cũng là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn và sinh động  
mang tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức.  
- Kết hợp phân tích nội dung và hình thức trong nghiên cứu và dạy học TP có thể được  
tiến hành theo hai con đường sau:  
+ Từ nghệ thuật đến nội dung.  
+ Từ nội dung đến nghệ thuật.  
- Kết hợp hữu cơ nội dung và hình thức trong dạy học TP cần quán triệt quan điểm,  
cách nhìn biện chứng đối với mối quan hệ nội dung và hình thức của TP.  
3.1.9. Kết hợp trực cảm thẩm mỹ tinh nhạy với phân tích, khái quát khoa học khi  
dạy TPVH  
- Nguyên tắc này có cơ sở từ đặc trưng bản chất của hình tượng VH, của phương thức  
phản ánh nghệ thuật, từ đặc điểm quy luật cảm thụ, tiếp nhận VH.  
- Nguyên tắc này nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp trực cảm thẩm mỹ tinh nhạy với  
phân tích, khái quát khoa học hay kết hợp giữa cảm và hiểu trong dạy học TP ở trường PT.  
- Nguyên tắc này đòi hỏi phải tạo được trong cảm thụ, tiếp nhận của HS một sự cân đối,  
hài hòa giữa trực cảm, cảm, cảm xúc, rung động thẩm mỹ tinh nhạy với sự thông hiểu, lý giải,  
đánh giá mang tính khoa học khi dạy học TP.  
- Quán triệt nguyên tắc này, trong dạy học TP, GV cần tìm kiếm, lựa chọn, vận dụng  
các PP, biện pháp, hình thức tác động sao cho vừa khơi gợi được ở HS sự đồng sáng tạo, đồng  
thể nghiệm, đồng cảm với TP, TG vừa kích thích hoạt động phân tích, cắt nghĩa, khái quát  
theo một tinh thần KH và sáng tạo …  
3.2. Hệ thống các phương pháp dạy học văn truyền thống  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 60 trang baolam 20300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Lý luận và phương pháp dạy học văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_ly_luan_va_phuong_phap_day_hoc_van.pdf