Bài giảng Văn học Trung Quốc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG  
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI  
Bài giảng học phần  
VĂN HỌC TRUNG QUỐC  
Chương trình Đại học ngành Sư phạm Ngữ văn  
Giảng viên: Lê Văn Mẫu  
Khoa: Sư phạm Xã hội  
Quảng Ngãi, tháng 3 năm 2021  
VĂN HỌC TRUNG QUỐC  
中国文学  
A. MỤC TIÊU HỌC PHẦN  
Giúp sinh viên lĩnh hội được các kiến thức cơ bản sau đây:  
- Diện mạo văn học Trung Quốc, một bộ phận rất quan trọng trong bộ môn  
văn học thế giới. Sinh viên nắm bắt cơ bản về văn học tiêu biểu của một nước  
phương Đông như: một nền văn học lâu đời, phong phú, đa dạng và nhiều tinh  
hoa.  
- Văn học Trung Quốc trong quá trình vận động, sáng tạo và cách tân về  
hình thức nghệ thuật lẫn thể tài. Dựa vào trên hai trục tiến trình thời gian (từ  
thời cổ đại đến đương đại) và thể loại (tiêu biểu: thơ Đường, từ Tống, kịch  
Nguyên, tiểu thuyết Minh – Thanh...), văn học Trung Quốc dần tương thông ra  
thế giới.  
- Thông qua diện rộng và những điểm chính (những tác gia và tác phẩm  
tiêu biểu), thông qua bề dày của văn học Trung Quốc tiêu biểu cho tư tưởng và  
triết học phương Đông, ảnh hưởng sâu rộng đến các nước châu Á và thế giới,  
giúp sinh viên có kiến thức và thao tác tư duy dưới góc độ văn học so sánh.  
- Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tác phẩm, dạy tốt các  
tác phẩm văn học Trung Quốc có trong chương trình phổ thông.  
B. HỌC LIỆU  
Học liệu bắt buộc  
[1] Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ (1998), Văn học Trung Quốc, Nxb Giáo  
dục, Hà Nội.  
[2] Lương Duy Thứ (1994), Văn học Trung Quốc, Huế.  
[3] Chương Bồi Hoàn, Lạc Minh Ngọc (2000), Văn học Trung Quốc (3  
tập), Nxb Phụ nữ.  
Học liệu tham khảo:  
[1] Việt Cường, Truyện dân gian Trung Quốc (2006), Nxb Lao động- XH.  
[2] Lâm Ngữ Đường, Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa (1970), Nxb Ca  
dao.  
[3] Huỳnh Minh Đức (biên dịch), Văn học Trung Quốc (1975), Nxb Minh Tâm,  
Sài Gòn.  
1
[4] Cao Hữu Công- Mai Tổ Lân, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (2000), Trần  
Đình Sử, Lê Tẩm dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.  
[5] Trần Xuân Đề, Tiểu thuyết cổ điển Minh- Thanh (1994), Nxb Giáo dục, Hà  
Nội.  
[6] Trần Xuân Đề, Khuất Nguyên-nhà thơ yêu nước (1976), Nxb Giáo dục, Hà  
Nội.  
[7]. Lê Giảng , Đến với thơ Đỗ Phủ (1999), Nxb Thanh Niên.  
[8] Nguyễn Thị Bích Hải, Văn học châu Á trong trường phổ thông (2002), Nxb  
Giáo dục.  
[9] Nguyễn Thị Bích Hải, Bình giảng thơ Đường (2003), Nxb Giáo dục.  
[10] Nguyễn Thị Bích Hải, Tiến trình văn học Trung Quốc đương đại (2001), Đề  
tài khoa học cấp Bộ.  
[11] Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường (1995), Nxb Thuận Hóa.  
[12] Dư Hóa, Gào thét trong mưa bụi (2008), Nxb Công an nhân dân.  
[13] Cao Hành Kiện, Thánh kinh của một con người (2007), Nxb Văn học.  
[14] Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học Trung Quốc (1964), Nxb Sài Gòn.  
[15] Phương Lưu, Tinh hoa lý luân văn học Trung Quốc (1976), Nxb Giáo dục,  
Hà Nội.  
[16] Phương Lưu, Lỗ Tấn- nhà lý luận văn học (1997), Nxb Đại học và Trung  
học chuyên nghiệp, Hà Nội.  
[17] Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị (1992), Nxb Văn học, Hà Nội.  
[18] Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện (1998), Nxb Hải Phòng.  
[19] Nguyễn Khắc Phi, Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ (1998),  
Nxb Giáo dục.  
[20] Nguyễn Khắc Phi, Lưu Đức Trung, Trần Lê Bảo, Lịch sử văn học Trung  
Quốc (2002), Nxb ĐHSP Hà Nội.  
[21] Nguyễn Khắc Phi-Trần Đình Sử, Về thi pháp thơ Đường (1997), Nxb Đà  
Nẵng.  
[22] Ngô Văn Phú, Thơ Đường ở Việt Nam (2001), Nxb Hội Nhà văn.  
[23] Trương Quốc Phong, Tiểu thuyết sử thoại các thời đại Trung Quốc  
(1998), Nxb Văn nghệ Tp HCM.  
[24] Trần Trọng San, Văn hoc Trung Quốc (tập 3) (1969), Nxb Bắc Đẩu, Sài  
Gòn.  
[25] Kim Thánh Thán, Luận bàn Thủy hử (1998), Nxb Văn học, Hà Nội.  
2
[26] Lã Thâm Thìn, Bình giảng thơ nôm Đường Luật (2002), Nxb Giáo dục.  
[27] Lỗ Tấn, Truyện ngắn Lỗ Tấn , (2000), Nxb Văn học.  
[28] Lỗ Tấn, Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung quốc (Lương Duy Tâm dịch)  
(1996), Nxb Văn hóa, Hà Nội.  
[29] La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa (3 tập) (2004), Nxb Văn học,  
Hà Nội.  
[30] Lương Duy Thứ, Thi pháp thơ Đường (2004), Nxb Đại học Sư phạm.  
[31] Lương Duy Thứ, Thi pháp truyện ngắn Lỗ Tấn (1990), ĐHSP Huế.  
[32] Lương Duy Thứ, Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc (1992), Nxb  
Mũi Cà Mau.  
[33] Lương Duy Thứ,( biên soạn), Lỗ Tấn- Tác phẩm và tư liệu (1998), Nxb  
Giáo dục.  
[34] Tư Mã Thiên, Sử ký tinh hoa (2005), Nxb Phương Đông.  
[35] Lão Xá, Truyện ngắn Lão Xá (2011), Nxb Văn học.  
[36] Lisevich, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc (Trần Đình Sử dịch) (1993), Nxb  
ĐHSP Tp HCM.  
[37] Yu Dan, Khổng Tử tinh hoa ( Những điều kỳ diệu từ tư tưởng và triết lý sống  
của Khổng Tử) (2009) , Nxb Trẻ.  
[38] Yu Dan, Trang Tử tâm đắc, (2012), Nxb Trẻ.  
[39] Kinh thi (2012), Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.  
[40]郭志刚,孙中田主编,中国现在文学 (两册) (2007 年),高等教育出版  
社。  
[41]绕芃子主编,中国文学在东南亚(1999 年), 暨南大学出版社。  
[42]黎文亩,杜甫诗歌在越南的接受与传播 (博士学位论文)(2014 年),  
华南师范大学。  
[43]唐诗鉴常辞典,上海辞典出版社, 2004 年。  
3
Chương 1  
VĂN HỌC CỔ ĐẠI  
1.1. Khái quát văn học tiên Tần  
1.1.1. Bꢀi cảnh xꢁ hội thꢂi tiên Tần  
Nói văn học tiên Tần (先秦文学) tức là nói văn học Trung Quốc từ thời thương  
cổ đến những năm đầu đời Tần ở thế kꢀ III tr.CN, trải qua ba chế độ xã hội. Chế độ  
công xã nguyên thủy, chế độ nô lệ và chế độ phong kiến phân quyền địa phương.  
Xã hội thị tộc ở Trung Quốc được hình thành từ thời Thần Nông, Hoàng Đế,  
Nghiêu, Thuấn, Vũ trong truyền thuyết. Với vua Vũ đời Hạ (TK XXI- XVII tr.CN),  
Trung Quốc bước sang xã hội nô lệ, bꢁ chế độ bầu cử của xã hội thị tộc mà đꢂt ra chế  
độ cha truyền con nối. Thời kỳ sau nhà Thương (TK XVII- XI tr.CN) chế độ nô lệ phát  
triển càng mạnh. Những năm cuối đời Thương, bọn quý tộc vô cùng đồi bại, tàn ác  
khiến nô lệ vùng dậy. Khi bộ tộc Chu dấy binh thì nô lệ trở giáo giúp Chu. Chu diệt  
Thương lập vương triều mới. Nhà Chu (TK XI- 256 tr.CN) chia ra hai thời kỳ, Tây Chu  
(TK XI- 778 tr.CN) và Đông Chu (770- 256 tr.CN). Đông Chu và thời gian từ khi Chu  
mất đến khi Tần thống nhất Trung Quốc lại chia làm 2 giai đoạn: Xuân thu (770-455 tr  
CN) và Chiến Quốc (475-221 tr.CN). Thời Xuân thu nền kinh tế phong kiến nẩy mầm,  
chế độ nô lệ dần dần suy yếu và duyệt vong, vì thế người ta ghꢃp Xuân thu vào thời nô  
lệ và Chiến quốc vào thời phong kiến.  
Thời kỳ đầu Chu, các nước chư hầu sống hòa bình với nhau, cứu giúp nhau khi  
có giꢂc ngoại xâm. Nhưng về sau thì họ thôn tính lẫn nhau. Đầu Chu có khoảng 1000  
nước, đến Xuân thu còn lại hơn 100 nước. Có 14 nước tương đối lớn, trong đó Tần,  
Tấn, Tề, Sở tranh nhau làm bá chủ. Thế lực vua Chu ngày càng suy, nhà vua mất uy tín  
đối với các chư hầu. Các nước lớn nắm bá quyền cũng bắt các nước nhꢁ cống hiến lễ  
vật. Đó là thời kỳ “Ngũ bá tranh hùng” (Tề, Tần, Sở, Ngô, Việt). Sang Chiến quốc, chꢄ  
còn 7 nước tạo thành cục diện “Thất hùng tương địch” (Tề, Tần, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy,  
Yên).  
Trong thất hùng thì Tần lạc hậu về mọi mꢂt nhưng từ TK IV tr.CN, vua Tần cho  
Thương Ưởng thi hành nhiều cải cách xã hội. Tần giàu mạnh thì các nước kia bị uy  
hiếp. Các thuyết khách thừa cơ hoạt động, hoꢂc thuyết phục sáu nước kia liên minh  
chống Tần, đó là thuyết “hợp tung”, hoꢂc thuyết phục Tần chia rꢅ các nước kia cho yếu  
đi, đó là thuyết “liên hoành”. Nhưng đầu TK III tr.CN, Tần đánh bại hai nước Hàn,  
Ngụy, tiếp đó phá liên minh Tề- Sở, đưa quân đánh Sính Đô của Sở. Sau đó, Tần trở  
thành vô địch, kết thúc cục diện tương tranh giữa thất hùng, thống nhất Trung Quốc  
(221 tr.CN).  
4
Văn học tiên Tần chủ yếu tập trung vào thời kỳ Chiến quốc.  
1.1.2. Thꢃnh tꢄu văn học thꢂi tiên Tần  
Văn học tiên Tần đạt nhiều thành tựu rực rꢆ như: chữ viết, văn học truyền  
miệng, hai thành tựu thơ giá trị như: Kinh thi và Sở tꢀ, văn xuôi trong sách Thượng  
thư, tản văn Xuân thu – Chiến quốc.  
- Chữ viết Trung Quốc xuất hiện khá sớm (khoảng TK XIV tr.CN, đời Thương).  
Dùng văn tự để viết sách là bắt đầu từ thời Thương. Văn xuôi cổ nhất được tìm thấy là  
sách Thượng thư, tức Kinh thư.  
- Văn học truyền miệng thời nguyên thủy phong phú: thơ ca, thần thoại và  
truyền thuyết. Thơ ca thời nguyên thủy phong phú nhưng đến nay chꢄ còn giữ lại được  
một số câu trong các sách cổ như sách Lã Thị Xuân Thu, sách Đại học. Thí dụ, thiên cổ  
nhạc trong sách Lã Thị Xuân Thu có đoạn nói: “Ngày xưa nhạc của họ Cát Thiên (tên  
gọi một ông vua trong truyền thuyết) là ba người nắm đuôi trâu dꢁm chân mà hát tám  
khꢂc… Khꢂc thꢃ nhất là Tải dân (ca ngợi nguꢄn gốc của tổ tiên), hai là khꢂc Huyền  
điểu (cꢅ lꢆ là dꢇa vào một truyền thuyết về một con chin thꢈn kꢉ nào đꢅ), ba là Toại  
thảo mộc (đốn cây), bốn là Phấn ngꢊ cốc (trꢄng ngꢊ cốc), năm là Kinh thiên thường  
(theo đạo trời), sáu là Kiến đế công (lập công cho nhà vua), bảy là Y địa đꢃc (theo đꢃc  
của đất), tám là Tống cꢈm thꢂ chi cꢇc (dꢄn muông thꢂ)”. Bài thơ “Cẩu nhật tân, nhật  
nhật tân, hꢇu nhật tân” [ 茍日新, 日日新, 又日新 ] ghi trong sách Đại học vốn là bài minh  
khắc ở chậu tắm vua Thang (Mỗi ngày mới, ngày ngày mới, ngày lại càng thêm mới)…  
Thần thoại, truyền thuyết cũng rất phong phú: Bà Nữ oa, Hậu Nghệ bắn mꢋt  
trời, Tinh vệ lấp biển, Ngưu Lang Chꢂc Nữ, Vua Vꢊ trị thủy, vua Thuấn… Thần thoại,  
truyền thuyết giải thích các hiện tượng thiên nhiên, ca ngợi những nhân vật lịch sử anh  
hùng, khát vọng một cuộc sống no ấm, tình yêu thương của đồng loại…  
- Kinh thi. Kinh thi tập hợp các bài thơ thời Tây Chu, Đông Chu. Phần lớn là  
dân ca miền Bắc Trung Quốc do nhạc sư các nước sưu tầm dâng lên thiện tử nhà Chu.  
Kinh thi vốn có 3000 bài thơ hay nhất Trung Quốc (TK XII- VI tr.CN). Dân ca là phần  
quan trọng nhất, 160 bài, tập hợp thơ ca của giới quý tộc.  
- Sở tꢀ. Từ khi Kinh thi xuất hiện cho đến khi có Sở tꢀ, khoảng 400 năm, tức đầu  
Xuân thu đến cuối Chiến quốc. Người ta gọi Sở tꢀ là muốn phiếm chꢄ thơ ca của nước  
Sở ở lưu vực sông Trường Giang, miền Nam Trung Quốc. Sở tꢀ thiên về tính chất lãng  
mạn, phóng khoáng, hình thức tương đối tự do, câu dài ngắn không đều nhau. Nói đến  
Sở tꢀ là nói tới 2 nhà thơ tiêu biểu: Tống Ngọc với 16 bài phú, Khuất Nguyên với tập  
Ly Tao.  
5
- Văn xuôi, tản văn.  
Văn xuôi cổ nhất được tim thấy trong sách Thượng thư. Tuy nhiên những bài  
ghi chꢃp trong sách Thượng thư chꢄ là văn chương hành chính, phải đến tản văn Xuân  
thu Chiến quốc mới có tính chất văn học. Văn đàn lúc này như vườn xuân “trăm hoa  
đua nở”. Về văn xuôi lịch sử có những tác phẩm như tác phẩm Xuân thu (Khổng Tử),  
Tả truyện (Tả Khâu Minh), Cốc Dương truyện (Công Dương Cao), Cốc Lương truyện  
(Cốc Lương Xích), sách Quốc ngữ, Chiến quốc sách (không biết của ai, ghi chꢃp lịch  
sử các nước). Về văn xuôi chư tử (văn xuôi triết lý) có những tác phẩm như: Luận ngữ,  
sách Mạnh Tử, sách Tuân Tử của phái Nho gia; sách Mꢋc Tử của phái Mꢂc gia; sách  
Đạo đꢃc kinh của Lão Tử, sách Trang Tử của Trang Chu thuộc phái Đạo gia; sách  
Hàn Phi Tử của Hàn Phi thuộc phái Pháp gia.  
1.2. Kinh thi 《诗经》  
1.2.1. Khꢅi quꢅt vꢆ Kinh thi  
1.2.1.1. Khái niệm Kinh thi  
Kinh thi là tập thơ cổ của nhân dân phương Bắc, tiêu biểu cho văn hóa phương  
Bắc (cùng với triết học Khổng Mạnh). So sánh với Kinh thi, thì Sở tꢀ của Khuất  
Nguyên tiêu biểu cho văn hóa phương Nam (cùng với triết học Lão Trang).  
Kinh thi là gì? Chữ Kinh có hai nghĩa: kinh điển, chuẩn mực, Kinh thi là chuẩn  
mực của thơ ca, đạo thường; nghĩa là trường tồn bất biến, là đạo muôn đời.  
Trước đời Hán, nó được gọi là Thi hay Thi tam bách. Từ đời Hán trở về sau các  
sách vở Nho gia dung để dạy học trò đều được suy tôn là Kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc,  
Xuân thu) nên mới gọi là Kinh thi.  
1.2.1.2. Thời đại  
Kinh thi ra đời cách đây 2500 năm, vào khoảng thế kꢀ VI tr.CN. Nó là sáng tác  
của nhiều người (đa số là nhân dân lao động, số ít quý tộc và sĩ đại phu) trong khoảng  
thời gian 500 năm, từ đầu Tây Chu (TK XI tr.CN) đến giữa Xuân Thu (TK VI tr.CN).  
Chế độ xã hội trong thời kỳ hình thành Kinh thi là cuối chế độ nô lệ đầu phong  
kiến. Theo ý kiến chung, Xuân Thu (770- 475 tr.CN) là giai đoạn quá độ từ chế độ nô  
lệ chuyển sang chế độ phong kiến. Còn Chiến quốc (475- 221 tr.CN) là giai đoạn chế  
độ phong kiến đã được xác lập ở Trung Quốc. Trong các giai đoạn Xuân Thu- Chiến  
quốc, chiến tranh giữa các chư hầu xảy ra liên miên, thiên tử nhà chu chꢄ còn là hư vị…  
Cần có ý thức khi phân tích những vấn đề như ꢃp bức bóc lột, vấn đề lễ giáo  
phong kiến… trong Kinh thi. Vì đây là thời kỳ cuối nô lệ đầu phong kiến nên chủ yếu  
là áp bức bóc lột kiểu nô lệ, lễ giáo phong kiến chưa sâu như sau này.  
6
1.2.1.3. Biên soạn, phân loại  
- Biên soạn có 3 thuyết:  
+ Khổng Tử biên soạn. Sách Sử ký viết: Từ 3000 bài Kinh thi, Khổng Tử soạn  
lại thành 300 bài để dạy học trò. Không đúng, vì trước đây Khổng Tử đã có quyển  
Kinh thi 305 bài.  
+ Các quan “thái thi” (hái thơ) đời Chu làm để dâng vua. Có một phần nhưng  
không phải tất cả.  
+ Công lao chính của các nhạc quan thu thập âm nhạc vì nghề nghiệp.  
Biên soạn là công lao của nhiều thế hệ. Khổng Tử chꢄ có thể là một trong số rất  
nhiều người đã tham gia vào quá trình tuyển chọn, chꢄnh lý tập thơ.  
- Về phân loại: Kinh thi gồm có ba bộ phận như Phong 風, Nhã 雅, Tụng 頌. Sự  
phân loại này dựa trên tiêu chí là nhạc điệu.  
+ Phong hay quốc phong, là âm nhạc địa phương của các nước. Tất cả có 160  
bài thuộc 15 quốc phong (thập ngũ quốc phong).  
+ Tụng là loại nhạc kết hợp với vũ, tán tụng ca ngợi- nhạc dùng trong tế lễ, gồm  
31 thiên Chu tụng, 4 thiên Lỗ tụng và 5 thiên Thương tụng.  
+ Nhã là âm nhạc của các vùng đất trực thuộc triều Chu. Nhã là để phân biệt với  
tục. Nếu “phong” cơ bản là dân ca thì “nhã” mang hàm nghĩa nhạc chính thống của  
cung đình: “nhã nhạc”. Nhã lại gồm có đại nhã và tiểu nhã. Có 31 thiên đại nhã, chủ  
yếu mang nội dung ca tụng công đức, dùng các lễ hội, yến tiệc cung đình. Có 74 thiên  
tiểu nhã, phần lớn là sáng tác của quý tộc và kẻ “sĩ” (các phần tử trí thức).  
Cách chia đó không hoàn toàn chính xác. Người ta thường theo cách chia mới:  
Thơ ca quý tộc và thơ ca dân gian.  
1.2.2. Nội dung tư tưꢇng Kinh thi  
- Cuộc sống bị áp bꢃc bóc lột và tinh thꢈn phản kháng của nhân dân lao động  
+ Kinh thi là một bức tranh còn nguyên vẹn về cuộc sống của nhân dân lao động  
dưới chế độ nô lệ. Tiêu biểu cho nội dung này là Thất nguyệt.  
+ Nỗi cay đắng vì phu phen tạp dịch. Tiêu biểu cho nội dung này là các bài Bão  
vꢊ (chim bão), Quân tử vu dịch (chàng đi lao dịch)...  
+ Lòng oán hờn phẩn nộ và tinh thần phản kháng. Những bài thơ tiêu biểu cho  
nội dung này là Phạt đàn, Thạc thử…  
- Phản đối chiến tranh bành trướng thế lꢇc, thôn tính đất đai của giai cấp thống  
trị.  
7
Bên cạnh những bài phê phán sự áp bức bóc lột là những bài thơ nói lên nỗi khổ  
của nhân dân trong chiến tranh. Xuân thu là thời kỳ chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa  
các chư hầu diễn ra liên miên và Kinh thí là ngọn nguồn thơ ca phản chiến ở Trung  
Quốc. Có thể thấy tâm trạng đau buồn của người lính giải ngũ trên đường về quê trong  
Đông Sơn (Núi Đông); cũng có thể thấy nguyện vọng hòa bình, lòng thủy chung cả  
người chinh phụ qua nhiều bài thơ hay như Bá hề (Hꢆi chàng), Quân tử vu dịch, Bão  
vꢊ. Có thể thấy thái độ chán chường cao độ của người lính bại trận trong bài Kích cổ  
(Đánh trống).  
- Kinh thi phản ảnh quan niệm về tình yêu và hôn nhân của người lao động.  
Có thể thấy nhiều trạng thái của tình yêu và hôn nhân, những biểu hiện lành  
mạnh trong sáng trong quan hệ tình cảm giữa những người lao động qua hàng loạt bài  
thơ hay như Quan thư, Tình nữ, Nữ viết kê minh (vợ bảo gà gáy rꢄi), Phiến hữu mai  
(quả mơ rụng)… Tuy nhiên cũng có nhiều bài dựng lên một cách sinh động hình ảnh  
của người phụ nữ gꢂp nhiều đau khổ trong tình yêu và hôn nhân Phiến hữu mai (Quả  
mơ rụng), Xin anh Hai…  
1.2.3. Nghệ thuꢈt Kinh thi  
- Điểm nổi bật trong Kinh thi là tính chân thực.  
- Thi pháp nghệ thuật nổi bật của Kinh thi là: Phú 赋, tꢄ 比, hứng 興. (Đọc thêm  
Văn học sử Trung Quốc, T1. Nxb Phụ Nữ, tr.149).  
+ Phú là phô bày, nói thẳng sự việc ra, nghĩ thế nào nói thế đó. Thất nguyệt, Phạt  
đàn cơ bản là dùng thể phú.  
+ Tꢄ là ví, so sánh, mượn cái này nói cái kia. Thạc thử- mượn con chuột nói kẻ bóc  
lột; Quả mơ rụng- dung hình ảnh mơ rụng để hình dung sự trôi nhanh của thời gian và  
khát vọng hôn nhân ngày càng mãnh liệt.  
+ Hứng là khêu gợi, mượn sự vậ bên ngoài để khêu gợi tình cảm bên trong. Quan  
thư- từ tiếng chim gù đến lứa đôi, là tꢄ mà cũng là hứng, tꢄ trực tiếp, hứng gián tiếp.  
- Về kết cấu, Kinh thi thường sử dụng hình thức nổi bật là lối trùng chương, điệp  
cú. Tiêu biểu như Phạt đàn, Thạc thử. (Xem thêm Văn học sử Trung Quốc, T1. Nxb  
Phụ Nữ, tr.147).  
1.2.4. Đặc điểm và ảnh hưꢇng của Kinh thi  
Đꢂc điểm và ảnh hưởng của Kinh thi chủ yếu biểu hiện ở các mꢂt sau:  
- Thứ nhất, Kinh thi lấy thi ca trữ tình làm chủ lưu. Hơn nữa xét từ trình độ trưởng  
thành của thi ca, mức độ trưởng thành của thơ trữ tình cũng rõ ràng cao hơn kể chuyện  
(tự sự). Sử thi Home của Hy Lạp đại để cùng thời đại với Kinh thi, thì hoàn toàn là thơ  
8
kể chuyện. Thế nên, nếu như Home đã đꢂt nền tảng kể chuyện là hướng phát triển chủ  
yếu cho VHPT thì Kinh thi đã đꢂt truyền thống trữ tình làm phương hướng phát triển  
chủ yếu cho sự phát triển của Văn học Trung Quốc.  
- Thứ hai, thi ca trong Kinh thi phần lớn đều phản ánh thế giới hiện thực của nhân  
gian, cũng như sinh hoạt và kinh nghiệm hằng ngày của con người. Thi ca sau này của  
Trung Quốc và kể cả những dạng thức văn học khác, nội dung của nó đều mang đꢂc  
trưng cơ bản trong sinh hoạt hằng ngày và sinh hoạt hiện thực.  
- Thứ ba, xét về mꢂt tổng thể, Kinh thi có màu sắc chính trị và đạo đức rất rõ rệt.  
Việc các thi nhân hậu thế đã kế thừa đꢂc điểm chính trị, đạo đức trên cũng nên phân  
tích theo hai mꢂt. Một mꢂt, uốm nꢃn văn học đừng quá nghiêng về “du hí” và “duy mĩ”.  
Mꢂt khác nếu quá cường điệu đꢂc điểm này sꢅ làm phương hại đến sự phát triển đa  
dạng của văn học, đè nꢃn sự thổ lộ tự do về mꢂt tình cảm.  
- Kinh thi ảnh hưởng rất lớn đến Khuất Nguyên, các nhà thơ Đường và nói chung  
đối với thơ ca Trung Quốc. Về sau, mỗi khi thơ ca rơi vào hình thức chủ nghĩa, người  
ta lại đề cao việc học tập Quốc phong, tức là học tập cái chân thực, cái hồn hậu của  
Kinh thi.  
- Các nhà thơ Việt Nam vận dụng điển cố Kinh thi một phần do sách giáo khoa  
phong kiến quy định (lục kinh), nhưng một phần do nó chân thực sinh động, xứng đáng  
được coi là những điển cố văn học như Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều.  
1.3. Khuất Nguyên và Ly tao (屈原与离骚 )  
1.3.1. Khái quát  
1.3.1.1. Thời đại- thân thế và lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ  
- Khuất Nguyên (khoảng 340- 277 tr.CN), tên Bình, tự Nguyên, là quý tộc cùng  
một họ với vua Sở, sống vào nửa sau thời Chiến quốc. Quê hương ông là nước Sở, là  
một trong bảy nước mạnh nhất thời Chiến quốc (thất hùng: Tần, Tề, Sở, Hàn, Ngụy,  
Triệu, Yên). (Xem thêm Cuộc đời và tác phẩm của Khuất Nguyên- Văn học sử Trung  
Quốc, T1, Nxb Phụ Nữ, tr.201).  
- Khuất Nguyên đề ra “biến pháp” trong đối ngoại và đối nội. Về đối ngoại “hợp  
tung” (liên kết sáu nước) chống đường lối “liên hoành” của Tần. Về đối nội, hạn chế  
quý tộc, cất dùng người tài, giảm nhẹ hình phạt. Vì chủ trương yêu nước và tiến bộ đó  
mà cuộc đời ông long đong lận đận. Khi vua thực hiện “biến pháp”, ông được trọng  
dụng, làm đến Tả đồ (Phó thủ tướng). Khi vua nghe lời xúc xiển, theo “liên hoành”,  
ông bị thất sủng, bị lưu đày ở Hán Bắc (thời Sở Hoài Vương thứ 25). Lần thứ 2 (thời  
9
Khoảnh Tương Vương), sau 14 năm lưu đày, khi Tần diệt Sở, ông đau khổ tuyệt vọng,  
nhảy xuống sông Mịch La để tự tận (5.5.278 tr.CN).  
1.3.1.2. Sꢇ nghiệp sáng tác của Khuất Nguyên  
- Tác phẩm của Khuất Nguyên gồm từ, phú, thơ, gọi chung là Sở tꢀ《楚辞》(thơ  
từ theo điệu Sở). Ngoài Ly tao còn có Cửu chương,《九章》gồm 9 bài: Tích tụng (Tiếc  
làm thơ), Thiệp giang (Qua sông), Ai Sính (Thương nhớ kinh đô Sính), Trꢀu tư (bày tꢁ  
tâm sự), Hoài Sa (nhớ Trường Sa), Tư mỹ nhân (nhớ người đẹp), Tích vãng nhật (nhớ  
xưa), Quất tụng (ca ngợi cây quất), Bi hồi phong (buồn gió xoáy).  
- Cửu ca 《九歌》gồm 11 bài dân ca được Khuất Nguyên cải biên, nói về tế thần  
mꢂt trời, thần núi, thần mây, thần coi việc nối dõi, thần sông Hoàng Hà, thần Trường  
Giang… Đꢂc biệt có bài Quốc thương (Hồn liệt sĩ) mang âm hưởng tế các chiến sĩ trận  
vọng.  
- Thiên vấn《天问》(hꢁi trời) là một bài thơ lạ, đề xuất hơn 130 câu hꢁi về  
truyền thuyết, lịch sử. Bài thơ thể hiện tư tưởng khai sáng của nhà thơ, cũng là dấu ấn  
của thời đại “trăm nhà đua tiếng”.  
- Nội dung thơ Khuất Nguyên tập trung thể hiện tấn bi kịch của ông của thời đại.  
Bi kịch của một nhà chính trị sáng suốt muốn cho nước Sở hùng mạnh, xã hội tốt đẹp.  
Bi kịch của một con người trong sạch, đạo cao đức trọng phải sống giữa những kẻ tầm  
thường. Bi kịch của ông còn là bi kịch của một nhân cách “phú quý bất năng dâm, bần  
tiện bấtt năng di, uy vũ bất năng khuất” ( “富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈 - giàu  
sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể lung luy, uy vũ không thể khuất phục)  
bị bọn tiểu nhân nắm vận mệnh quốc gia hãm hại.  
1.3.2. Giá trị nội dung và nghệ thuꢈt của Ly tao  
1.3.2.1. Giá trị nội dung Ly tao  
- Nhan đề Ly tao  
Ly tao là tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên là bài thơ trữ tình đầu tiên, bài thơ  
dài đầu tiên trong lịch sử văn hóa Trung Quốc (373 câu, 2490 chữ). Người xưa coi viên  
ngọc quý và lạ “Tiền thế vị văn, hậu thế mạc kế” (đời trước chưa nghe thấy đời sau  
không ai theo kịp).  
Theo Tư Mã Thiên (Sử ký) “Ly tao giả, ly ưu dã” (离骚者,离忧也- Ly tao là lo  
buồn trong chia ly). Theo Ban Cố “Ly là gꢂp phải, tao là lo âu; bản thân nhà thơ gꢂp  
những điều lo âu mà viết nên bài từ”. Vương Dật thì nói:Li tức là li biệt, tao tức buồn,  
cho nên Li tao là nỗi buồn li biệt. Vậy Ly tao là nỗi đau buồn chia ly, ở đây là chia ly  
với Sở Vương, Sính đô và nước Sở.  
10  
Dù cho niên đại viết ra, cũng như ý nghĩa của đầu đề bài Li tao có những cách  
cắt nghĩa khác nhau nhưng ta có thể khái quát một cách xác đáng: Li tao đꢅ là tꢇ  
truyện của một tâm hꢄn đau khổ như Khuất Nguyên, sau khi gꢋp phải trắc trở về mꢋt  
chính trị, đꢃng trước vận mệnh nguy nan của cá nhân và quốc gia, nên có sꢇ suy nghĩ  
về qua khꢃ cꢊng như về tương lai, và chủ yếu là thông qua phương thꢃc ảo tưởng (Văn  
học sử Trung Quốc, T1. Nxb Phụ Nữ, tr.205).  
- Bố cục Ly tao  
Có nhiều cách chia khác nhau. Tuy nhiên, cách chia của các học giả đời Thanh  
là dễ chấp nhận nhất, chia Li tao làm 2 phần (trừ lời văn: 4 câu cuối bài). Phần trên là  
thực (có hư), phần dưới là hư (có thực). Phần trên tác giả trình bày ý tưởng muốn đưa  
nước Sở vượt Thuấn Nghiêu nhưng Sở vương không nghe; phần dưới trình bày với linh  
hồn vua Nghiêu Thuấn. Nếu phần trên tác giả ra sức chăm bón “chín vườn lan lại nghìn  
sào huệ” nhằm xây dựng một đội ngủ nhân tài cho đất nước, nhưng rốt cuộc đều bị  
phản bội (lan ta tưởng là nơi tin cậy, có ngờ đâu bong bẩy mà hư…) thì ở phần sau ông  
lên cõi hư ảo tìm người đẹp mà không gꢂp (kẻ vì không mối lái, kẻ gꢂp nhưng “mất  
nết”).  
- Cảm hứng chủ đạo Ly tao  
Ly tao là bài thơ trữ tình, tác giả bộc bạch tâm sự. ꢇ đây tác giả nói đến lịch sử,  
đến hoa thơm cꢁ lạ, đến thế giới thần tiên… nhưng đó chꢄ là mượn ngoài để nói trong,  
mượn người để nói mình. Mọi hình tượng trong Ly tao đều muốn nói chung một màu  
sắc, đều bị chi phối bởi cảm hứng chủ đạo đó là: Nỗi niềm cay đắng trong tình trạng  
thꢈn tượng bị đổ vꢌ, khát vọng bị vꢍi dập, nhân cách bị bôi nhọ song song với ý chí  
kiên trinh bất khuất quyết không bꢎ chính theo tà, thà chết để bảo toàn khí tiết.  
- Diễn biến tâm trạng  
+ Nỗi niềm cay đắng của nhà thơ được diễn tả dưới dạng tâm trạng của một  
“người đẹp” đi tìm “bạn lòng”. Người đẹp tự hào về gia thế, phẩm cách vì sợ “muộn  
màng lꢆ duyên”. Đây không phải là cái duyên thông thường mà là khát vọng vươn tới  
cái chân- thiện- mỹ. Khát vọng đó bị thói đời xuyên tạc, bôi nhọ.  
Từ câu thứ nhất “Đế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm Hoàng khảo việt bá  
dung”- 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸. (Tôi nguyên là con cháu của nhà vua thời cổ là  
Cao Dương) thi nhân đã sử dụng rất nhiều ngôn từ, từ nhiều gốc độ, kể lại nhân cách  
tốt đẹp của bản thân. Ông nói tự hào rằng, mình là một bề tôi cùng họ với Sở Vương,  
vừa nêu lên thân thế cao quý của mình, vừa thể hiện trách nhiệm của mình đối với sự  
hưng vong của nước Sở là một trách nhiệm không thể chối bꢁ được. Ông kể lại mình  
11  
đã hạ sinh vào một thời điểm rất tốt (ngày Dần, tháng Dần, năm Dần), được đꢂt cho cái  
tên rất đẹp qua sự bói toán. Ông lại nhấn mạng mình là người có thiên phú khác thường.  
Trên cơ sở đó, thi nhân kể lại việc mình đã kịp thời lo tu thân, bồi dưꢆng phẩm chất  
đạo đức tốt đẹp, rèn luyện một tài năng xuất chúng, tha thiết muốn hiến thân cho nước  
cho vua, để giúp cho nước Sở được hưng thịnh, giúp cho Sở Vương trở thành một nhà  
vua như Nghiêu Thuấn (Văn học sử Trung Quốc, T1. Nxb Phụ Nữ, tr.206).  
+ Từ tâm trạng tự hào về gia thế, phẩm cách, Người đẹp chuyển sang tâm trạng  
đau đớn vì sinh ra lỗi thời, do không gꢂp “minh chúa”, vì gꢂp thói đời a dua xu nịnh.  
Sở Vương là tên hôn quân, vô đạo “Tình ta mình chẳng xét cùng, nghe lời ton hót đem  
lòng giận ta”. Bọn “đảng nhân”: “Chꢂng chen chꢂc trên đường vụ lợi, Tấm lòng tham,  
tham mãi, tham hoài, Đem dạ mình đọ bụng người…”.  
Bọn “đảng nhân” tức là bọn tiểu nhân, kết bè kết cánh để mưu lợi riêng, bọn này  
đối địch với thi nhân “Duy phù đảng nhân chi thâu lạc hề, lộ u muội dĩ hiểm ải”. Hơn  
nữa, bọn chúng chẳng những “Cánh tiến dĩ tham lam, bằng bất yếm hồ cầu sách” (càng  
lúc càng tham lam, vơ vꢃt không biết chán), mà còn “Nội thứ dĩ kꢀ lượng nhân, các  
hưng tâm nhi tập đố” (suy bụng ta ra bụng người, ganh gét lẫn nhau). Cho rằng thi  
nhân được trọng dụng là một trở ngại đối với chúng. Do vậy, chúng đã đứng lên “vị dư  
dĩ thiên dâm” (为余以天淫), vu cáo thi nhân là một kẻ tiểu nhân dâm tà (Văn học sử  
Trung Quốc, T1. Nxb Phụ Nữ, tr.206).  
Sở Vương là người có quyền lực tối cao có thể quyết định sự thành bại giữa đôi  
bên, quyết định vận mệnh nước Sở. Ông ta hồ đồ, u mê. Thi nhân đối với nhà vua có  
một tấm lòng trung thành tuyệt đối: “Chỉ cửu thiên dĩ vi chính hꢆ, phù duy linh tu chi  
cꢀ dã” (指九天以为正兮,夫唯灵修之故也- có trời cao làm chứng, những lời nói trung  
thành của tôi đều vì nhà vua cả). Nhà vua có một dạo cũng trọng dụng và tín nhiệm thi  
nhân, nhưng cuối cùng bị bọn “đảng nhân” bưng bít dối gạt: “Thuyên bất sꢅt dư chi  
trung tình hꢆ, phản tín sꢃm dĩ tể nộ” (荃不察余之中情兮,反信谗以齌怒- vua không  
nhận thấy lòng trung thành của tôi, trái lại nghe theo lời dèm pha mà giận giữ đối với  
tôi). Chính vì vậy mà dẫn đến sự thất bại của thi nhân, sự suy sụp của nước Sở (Văn  
học sử Trung Quốc, T1. Nxb Phụ Nữ, tr.207).  
+ Từ không chịu đựng nỗi một nhân cách cao cả trước thực tế tối tâm, bẩn thiểu,  
ông nghĩ đến phương châm “độc thiện kỳ thân” (独善其身- chꢄ lo giữ mình đức tốt, mꢂc  
kệ kẻ khác tốt xấu) của nhà Nho.  
+ Có lúc nhà thơ nghĩ đến lời khuyên “mꢂc đời”. “Đời đều bè đảng gian tà, Một  
mình ta nói, nói mà ai hay”. Nghĩ tới lời khuyên đi tìm đất hứa (Đường xa xin chớ ngại  
12  
ngùng, Người xinh ai chẳng đem long khát khao). Nghĩ đến lời khuyên náu mình chờ  
thời theo gương Phó Duyện, Lã Vọng ngày xưa. Cuối cùng ông nghe theo quẻ bói linh  
phân: tiêu dao cho khuây khꢁa (Linh phân dạy quẻ coi tốt lắm, Chọn ngày lành ta sắm  
sửa đi).\  
+ Tổ quốc quê hương níu chân ông lại. Ông chꢄ chọn con đường “theo chân  
Bành Hàm” để giữ trọn khí tiết. Bành Hàm là một hiền sĩ đời Ân, can vua mà vua  
không nghe mới ôm đá mà tự trầm. Vậy là ông đã quyết định tự tử sau khi viết xong  
thiên Ly Tao.  
- Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Ly tao  
+ Ly tao là sự thể hiện đầy đủ xúc động bi kịch Khuất Nguyên. Đó là bi kịch của  
một nhà chính trị sáng suốt nhưng không gꢂp thời. Là bi kịch của một nhân cách cao cả  
bị đày đọa giữa chốn bùn nhơ. Cũng là bi kịch của phẩm giá dưới chế độ chính trị đen  
tối, bi kịch của thời đại thất hung.  
+ Tác phẩm nghệ thuật đạt đến độ chân thiện mỹ. “Sức tưởng của ông cũng rất dồi  
dào: ông nhân cách hóa cây cꢁ, vạn vật, ví những cꢁ lau, cꢁ chꢄ với hạng người quân tử,  
dùng chim trẫm, chim tu hú làm mối mai, lại muốn sai khiến cả thần gió, thần trăng,  
thần sấm, thần sét. Ngọn bút thực phóng lãng, lợi dụng tất cả các thần thoại của Trung  
Quốc (nên có nhà đã ví Ly Tao của ông với Divine Comédie của Dante); để diễn tả tất  
cả nỗi u uất trong hằng chục năm của ông, lưu lại cho muôn thuở một lời nức nở nghẹn  
ngào, bất tuyệt.” (Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Xuân Thu xuất bản, tr.105-  
106).  
- Ảnh hưởng của Khuất Nguyên (Xem Giáo trình Văn học Trung Quốc, Lương  
Duy Thứ, Huế.1994, tr.31)  
+ Khuất Nguyên được các thời đại thừa nhận là bậc thầy của thơ ca.  
+ Nhân cách và tài năng Khuất Nguyên có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà thơ cổ  
điển Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Du.  
1.4. Tản văn tiên Tần  
1.4.1. Tản văn lịch sử, tản văn chư tử  
1.4.1.1. Tản văn lịch sử (văn xuôi lịch sử)  
- Thời Xuân thu, Chiến quốc, các nước thôn tính lẫn nhau tàn khốc. Bọn quý tộc  
cũ suy tàn, mọt lớp người mới ngóc đầu dậy. Sự thịnh suy đó diễn ra mọt cách kịch  
liệt. Thần giết vua, con giết cha là chuyện thường thấy. Có người ghi chꢃp những sự  
việc đó để bày tꢁ quan điểm của mình. Xꢃt về văn học có bốn tác phẩm được nhắc đến:  
Xuân thu, tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách.  
13  
- Xuân thu là một cuốn sử biên niên đầu tiên của Trung Quốc, lấy các sự kiện  
của nước Lỗ làm trọng tâm (722- 481 tr.CN), đồng thời đề cập đến việc nhà Chu và các  
nước chư hầu trong vòng 242 năm. Xuân thu là sách của các sử quan nước Lỗ ghi  
chꢃp. Khổng Tử có sửa chữa ít nhiều, đem ra dạy học học trò coi là một tác phẩm kinh  
điển của Nho gia. Văn chương Xuân thu thường rất vắn tắt. Khổng Tử dùng bộ sách  
này để truyền cái “đại nghĩa” của ông về lý luận chính trị chứ không chú trọng đến sự  
kiện lịch sử. Hành văn sách xuân thu rất đꢂc biệt (dùng từ định rõ kẻ ngay người gian,  
bꢁ quên việc, quên tên tꢁ ý chê bai, gọi tên tục những người có lỗi...  
- Tả truyện là tác phẩm lịch sử do người họ Tả biên soạn, chꢃp về thời Xuân thu,  
có phụ lục một số chuyện sau Xuân thu một thời gian, cho nên còn có tên là “Tả thị  
Xuân Thu” (sách Xuân thu của họ Tả). So với Xuân thu, Tả truyện miêu tả các chi tiết  
cꢂn kẻ, công phu. Về mꢂt tư tưởng, tác giả Tả truyện đứng trên tư tưởng Nho gia đề  
cao đạo đức, luân lý phong kiến, đồng cảm nổi khổ của nhân dân và thảm họa chiến  
tranh.  
- Chiến quốc sách ra đời sau Tả truyện, do các sử gia, chính khách thời Chiến  
quốc soạn. Lưu Hường đời Hán sắp xếp lại được 33 thiên. Bộ sách này chꢃp những sự  
việc xảy ra từ đầu Chiến quốc cho tới khi 6 nước bị duyệt vong (khoảng 452- 220  
Tr.CN). Tề, Tần, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Yên. Bộ sách tái hiện lịch sử bằng những đoạn  
biện thuyết hùng hồn, khꢃo lꢃo vận dụng những mẫu truyền thuyết ngụ ngôn và những  
tꢄ dụ rất hay để thuyết minh cho những lí lꢅ trừu tượng.  
1.4.1.2. Tản văn chư tử (tản văn triết lý)  
Xꢃt về mꢂt văn học, tản văn triết lý có ba tác phẩm có giá trị nổi bật: Luận ngữ,  
Mạnh Tử và Trang Tử.  
- Luận ngữ là bộ sách ghi lời nói việc làm của Khổng Tử, của môn đệ ông, biên  
soạn khoảng đầu Chiến quốc. Luận ngữ không phải được truyền tụng, chꢄ bởi vì nó là  
sách kinh điển của Nho gia mà còn vì giá trị văn học. Lời lꢅ ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc,  
giàu hình ảnh, sinh động.  
- Mạnh Tử là sách kinh điển quan trọng của Nho gia, gồm 7 thiên, do Mạnh Tử  
và học trò biên soạn. Văn chương trong Mạnh Tử giàu tính hùng biện, hình tượng rõ  
nꢃt.  
- Trang Tử là bộ sách do Trang Tử và các học trò của ông biên soạn, còn có tên  
là Nam hoa kinh, gồm 30 thiên, tư tưởng xuất thế. Văn chương Trang Tử hấp dẫn, hư  
hư thực thực, vừa có tính trí tuệ, tính trữ tình, giàu sức tưởng tượng, giàu chất thơ.  
14  
1.4.2. Nội dung vꢃ hꢉnh thꢊc tản văn tiên Tần  
1.4.2.1. Nội dung  
Tính thiết thực và tính phê phán trong tản văn thể hiện rất rõ. Người làm sử hay  
viết văn, bất cứ đứng trên lập trường giai cấp nào, đều bất mãn với tình trạng xã hội lúc  
bấy giờ và đồng cảm với nỗi khổ cực của nhân dân. Họ có những chủ trương khác  
nhau, trái ngược nhau về chính trị, về thái độ trước cuộc sống, về luân lý đạo đức, về  
bản tính của con người, nhưng ai nấy đều mong mꢁi sống bình yên, không phải trông  
thấy cảnh giết hại lẫn nhau và nhân dân thì được an cư lạc nghiệp, nhẹ bớt gánh phu  
đài tạp dịch, dù vẫn phải cứ làm nô lệ nuôi bọn thống trị.  
1.4.2.2. Nghệ thuật  
- Sự xuất hiện trong cùng một giai đoạn những tác phẩm như: Tả truyện, Chiến  
quốc sách, Luận ngữ, Mạnh Tử, Trạng Tử….đánh dấu một bước tiến vượt bậc của tản  
văn Trung Quốc. Mỗi tác giả đều có một phong cách riêng, ngôn ngữ sử dụng đều tinh  
luyện, khai thác kho tàng phong phú của văn học truyền miệng thần thoại, truyền  
thuyết, ngụ ngôn, thơ ca dể diễn đạt tư tưởng, làm cho tác phẩm dễ đọc, dễ tiếp nhận.  
- Trong tản văn Xuân thu- Chiến quốc đã có mầm móng các thể loại văn học về  
sau sꢅ nở hoa kết quả. Thơ, truyện ký, tiểu thuyết, từ phú, văn chính luận, kể cả những  
đoạn đối thoại dài như trong lịch sử đều có trong tản văn.  
- Tản văn có sự thống nhất giữa chính luận và nghệ thuật, giữa văn và sử. Có thể  
nói tản văn là một thể loại hỗn hợp giữa văn và sử, cho nên tác phẩm nào cũng đều là  
văn học cả. “văn sử bất phân” là như thế, khác hẳn với đời sau.  
1.5. Văn học Tần Hán  
1.5.1. Khꢅi quꢅt văn học Tần Hꢅn  
1.5.1.1. Bối cảnh xã hội  
Giai đoạn Tần- Hán tồn tại khoảng năm thế kꢀ, từ thế kꢀ III tr.CN đến thế kꢀ III  
sau CN. Tần tương đối ngắn, chꢄ 26 năm. Như vậy, văn học giai đoạn này chủ yếu là  
Hán.  
Tần là triều đại thống nhất Trung Quốc (năm 221 tr.CN), đã dựng lên một  
vương triều phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền to lớn đầu tiên trong lịch sử.  
Chính sách cai trị của Tần dã man, tàn phá văn hóa: đốt sách, chôn học trò, cho nên  
Tần gần như không có văn học.  
Sự thống nhất của Tần tạo điều kiện cho sự thành lập và củng cố chế độ phong  
kiến tập quyền của nhà Hán. Hán lại là triều đại bành trướng nhất Trung Quốc. Tần  
15  
cũng như Hán đều phát động nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm các nước láng giềng  
(Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên).  
Tần cũng như Hán đều bị các cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ, đời Tần do Trần  
Hiệp và Ngô Quảng lãnh đạo, đời Hán thì do anh em Trương Giác lãnh đạo (cuộc khởi  
nghĩa khăn vàng). Cuối Hán thì chính quyền tan rã, các địa phương đánh chiếm lẫn  
nhau, tạo thành cục diện hỗn chiến đầu thế kꢀ III, tức là thời Tam quốc: Ngụy, Thục,  
Ngô.  
Đế quốc tập quyền trung ương xuất hiện thì tình trạng “trăn nhà đua tiếng” thời  
Chiến quốc chấm dứt. Lý Tư là đại thần triều Tần chủ mưu việc đốt sách chôn nho, bác  
bꢁ các thứ chính trị dựa vào nhân nghĩa tài trí; thủ tiêu quyền tham gia chính trị của các  
học giả và thuyết khách. Nhưng đầu Hán, học thuyết “bách gia chư tử” còn tranh nhau  
địa vị. Tình trạng đó không có lợi cho vương triều thống nhất, Hán Vũ Đế bèn chꢄ tôn  
sùng đạo Nho, trọng dụng Đổng Trọng Thư. Sự thống trị tư tưởng đó có ảnh hưởng  
không tốt đến văn học thời bấy giờ (Ủng hộ hành động quân sự, chính trị của Hán Vũ  
Đế, hoꢂc cổ động tuyên truyền và mua vui cung đình…).  
1.5.1. 2. Tình hình văn học Tꢈn Hán  
Triều Tần tồn tại rất ngắn lại xem khinh văn hóa nên những gì có thể nói về mꢂt  
văn học rất ít. Đại để chꢄ có một bộ Lã Thị Xuân Thu (sáng tác tập thể từ các môn  
khách của Lã Bất Vi, gồm 12 kꢀ, 8 lãm, 6 luận) và một bài Gián Trục Khánh Thư của  
Lý Tư. Lã Thị Xuân Thu lấy Nho học làm trung tâm, lại gom thêm các học thuyết thời  
tiên Tần, lấy chính trị làm chủ yếu, phản ánh rộng; lập luận trước rồi mới dẫn chứng  
qua sự thật lịch sử và những câu chuyện ngụ ngôn; văn tự giản dị, rõ ràng, có tính hình  
tượng.  
Phꢂ đời Hán là thể loại phát triển rꢇc rꢌ nhất. Nó là một thứ văn học quý tộc,  
đại bộ phận phục vụ cho giai cấp thống trị phong kiến.  
Thơ ca đời Hán có các thể loại như Nhạc phủ (phần dân ca trong nhạc phủ), thơ  
Cổ thi (bắt chước dân ca nhạc phủ trong phạm vi những bài nói tình yêu, chứ không  
phản ánh được những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội). Đꢋc biệt nhất là sꢇ xuất hiện và  
trưởng thành của thể loại thơ ngꢊ ngôn. Bài ngũ ngôn của văn nhân đời Hán có sớm  
nhất là bài Vịnh sử thi của Ban Cố, sau đó là thơ của Tô Vũ và Lí Lăng...  
Văn xuôi đáng chú ý nhất là Sử ký của Tư Mã Thiên. Phê bình văn học tiêu biểu  
như Vương Sung.  
1.5.2. Tꢅc giả Tư Mꢁ Thiên  
1.5.2.1. Giới thiệu nội dung, nghệ thuật của Sử ký  
16  
- Cuộc đời tác giả Tư Mã Thiên  
Tác giả Sử ký là Tư Mã Thiên, tự Tử Trường, sinh năm 145 trước công nguyên,  
mất khoảng năm 86 trước công nguyên, thọ 60 tuổi (theo Vương Quốc Duy: Thái Sử  
công hành niên khảo).  
Về cuộc đời và tư tưởng Tư Mã Thiên có mấy điều đáng chú ý:  
+ Tư Mã Thiên là con Tư Mã Đàm, Thái sử lệnh của nhà Hán. Chức quan này lo  
việc chép sử cho triều đại mình sống, ngoài ra còn coi thiên văn, làm lịch, bói toán  
v.v... (Việc chép sử, nhất là chép sử thời mình sống đòi hꢁi lòng dũng cảm bảo vệ sự  
thật. Ví dụ: nhà chép sử nước Tề vì chép việc Thôi Trữ giết vua mà bị chém, nguời em  
lên thay vẫn chép "Thôi Trữ giết vua mình là Trang Công lại bị chꢃm, người em thứ ba  
lên thay vẫn chép thế, Thôi Trữ không dám giết).  
Tư Mã Đàm có ý định viết sử nhà Hán, nhưng chưa kịp làm thì chết. Ông dꢂn con  
phải thực hiện ý định đó của mình.  
Để bắt tay vào viết bộ Sử ký, Tư Mã Thiên đã hai lần di du lịch hầu khắp đất nước  
Trung Quốc.  
Năm 20 tuổi ông đi du lịch miền Trung du hạ du sông Trường giang và các tꢄnh  
Sơn đông, Hà Nam, ông lên núi Cốii Kê khảo sát sự tích vua Vũ Thông cửu giang,  
nghe chuyện Việt Vương Câu Tiễn, đến sông Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông  
Thương thăm mộ vua Thuấn, đến Tây Hồ sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi.  
Rồi lên miền Bắc thăm quê Khổng Tử, xem "miếu, xe cộ, quần áo, lễ khí", trong miếu  
đường ở Khúc Phụ, nghe kể chuyện Trần Thiệp, thăm di tích Mạnh Thường Quân.  
Thăm quê Lưu Bang… Chuyến du lịch kꢃo dài ba tháng, đi lại hàng vạn cây số.  
Năm 35 tuổi ông lại đi du lịch lần thứ hai, về phía Tây Nam, đến các tꢄnh Tứ  
Xuyên, Vân Nam.  
Ngoài hai lần du lịch đó, ông thường theo Hán Vũ để đi kinh lý các nơi. Đến đâu  
ông cũng hꢁi han, ghi chép về hình thể sông núi, phong thổ, nhân tình, truyền thuyết.  
Có thể nói dấu chân Tư Mã Thiên còn lưu lại trên khắp đất nước Trung Quốc (trừ  
Quảng Đông, Quảng Tây). Thời bấy giờ, giao thông khó khăn, trộm cướp như ong,  
việc đi du lịch của ông là một hành động dũng cảm của người làm công tác khoa học.  
Có thể dùng danh từ ngày nay "đi thực tế" để khẳng định thái độ khoa học của Tư Mã  
Thiên.  
+ Họa Lý Lăng. Sau khi cha chết, Tư Mã Thiên được nối nghiệp cha làm Thái sử  
lệnh của Hán Vũ đế. Ông có điều kiện "thu thập các sách sử trong nhà đá, rương vàng"  
chuẩn bị viết Sử ký. Ông viết miệt mài được sáu năm thì xảy ra họa Lý Lăng. Lý Lăng  
17  
cháu của danh tướng Lý Quảng (Lý tướng quân liệt truyện) cầm 5000 quân đánh dẹp  
Hung nô, bị 8 vạn quân Hung nô bao vây. Chiến đấu suốt mười ngày, giết hơn vạn  
địch, Lăng bị bắt và đầu hàng. Hán Vũ đế nổi giận định trừng phạt Lăng. Nhân vua hꢁi,  
Tư Mã Thiên đã phân trần hộ Lý Lăng. (Lý Lăng dũng cảm, có thể sánh với các danh  
tuớng, nay thất thế nhưng chắc chắn còn tìm cơ hội báo đáp) không ngờ Vũ đế nổi  
giận, bắt giam Tư Mã Thiên, giao pháp quan xꢃt xử. Ông bị cung hình (cắt bộ phận  
sinh dục) một trong năm hình phạt thảm khốc thời cổ (khắc vào mꢂt, xẻo mũi, cắt  
dương vật, chꢂt chân, cắt đầu...). Luật nhà Hán có thể dùng tiền chuộc, nhưng nhà  
nghèo, bạn bè không ai giúp, ông không có cách gì khác. Trong nhà giam bị hành hạ,  
nhiều phen ông định tự tử, nhưng nhớ đến tác phẩm chưa thành, ông noi gương Khổng  
Tử (giữa thời loạn vẫn viết Kinh Xuân Thu), Khuất Nguyên (bị đi đày vẫn viết Ly tao)  
quyết tâm hoàn thành bộ Sử ký. Ông mất vào đấy 6,7 năm nữa, cộng tất cả 12 năm để  
hoàn thành tác phẩm vĩ đại này.  
Sử ký là trước tác duy nhất của Tư Mã Thiên (ông chủ trì việc sửa lại lịch Thái Sơ  
tức là nông lịch bây giờ. Đó là toàn bộ tâm huyết của ông.  
- Giá trị nội dung  
+ Giá trị sử học của Sử ký  
Sử ký là sách lịch sử, là tác phẩm lịch sử vĩ đại của nhân loại. Đó là bộ sử đồ sộ  
đầu tiên của loài người viết về một dân tộc, về một nước, trong một thời gian gần 3000  
năm từ Hoàng đế đến Hán Vũ đế. Đó cũng là bộ sử đꢂc biệt vì nó bao gồm mọi  
mꢂt về đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, luật pháp...Những thiên như  
Hà cꢀ thư, Bình chuẩn thư có thể nói là sách kinh tế học. Ông đánh giá các chế độ  
chính trị, có ý kiến về các thiết chế lễ, nhạc, về tư tuởng và trước tác các nhà  
văn... Sꢃ ký là bộ bách khoa toàn thư của Trung Quốc về thời cổ. Quách Mạt  
Nhược nói: "Công lao của Tư Mã Thiên so với Khổng Tử không hơn không  
kém".  
Sử ký là một tác phấm đồ sộ 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm 5 phần: bản kꢀ,  
biểu, thư, thế gia, liệt truyện.  
Bản kỷ ghi chꢃp sự tích các đế vương (ngũ đế: Hoàng đế, Chuyên, Húc,  
Cốc, Nghiêu, Thuấn; Hạ, Thương Chu; Tân; Hạng Vũ, Hán Cao tổ, Lữ hậu,  
Hiếu văn, Hiếu cảnh, Hiếu vũ) tất cả 12 bản kꢀ. Đꢂc biệt ông làm bản kꢀ của  
Hạng Vũ mꢂc dù Hạng Vũ chưa làm đế nhưng là người có công lớn nhất trong  
việc tiêu diệt Tần, là người phong đất cho các chư hầu cai trị trong vòng năm  
năm; làm bản kꢀ Lữ hậu mà không làm bản kꢀ Huệ đế vì trên thực tế Lữ thái  
18  
hậu thao túng mọi quyền. Bản kꢀ không chꢄ ghi chꢃp niên biểu mà còn đi sâu  
vào các sự kiện, tính cách các nhân vật. Nó là sử nhưng cũng là văn học, là  
mội loại truyện ký.  
Biểu: là bảng đối chiếu các sự kiện căn cứ vào niên đại. Có mười biểu  
(niên biếu sáu nước thời Chiến quốc, niên biểu mười hai nước chư hầu...). Đây  
là những công trình sử học rất nghiêm túc và có giá trị.  
Thư: Nói về các chế độ chính sách- gồm tám thư như lễ thư, nhạc thư, luật  
thư, lịch thư, phong thiện thư (cúng bái), Hà cừ thư (sông đào), Bình chuẩn  
thư.  
Nhìn chung, với tư cách một bộ sử, Sử ký có những ưu điểm sau:  
* Quan điểm của Tư Mã Thiên là duy vật và khoa học. Ông không thần bí  
hoá vua chúa. Không coi việc trị vì của giòng họ là mệnh trời. Theo ông, sự  
thay đổi các triều đại là có quy luật, đó là sự vận động của lịch sử, "như dòng  
sông chảy, sóng xô mù nên". Các sử gia đời sau đã huyền bí hoá sự xuất hiện  
của Hán cao tổ Lưu Bang. (Trong Sử ký chúng ta thấy rõ cuộc đời thực của Lưu  
Bang từ một anh đình trưởng tꢈm thường ở vùng sông Tứ, nhân đưa những người  
đi đày đến Lịch Sơn, quá hạn, tội chꢃm nên cùng họ khởi nghĩa, rồi nhân có cuộc  
khởi nghĩa nông dân của Trần Thiệp mà cướp lấy huyện Bái gây dꢇng cơ đꢄ.  
Cách lý giải việc dꢇng nghiệp của Lưu Bang là thực và có sức thuyết phục.  
* Nói về một triều đại, Tư Mã Thiên cũng biết đꢂt nó trong tương quan  
một chê độ chính trị, một chế độ kinh tế và văn hoá. Cách nhìn này khoa học  
hơn các nhà biên niên sử chi ghi chꢃp sự tích các vua chúa.  
Bằng quan điếm duy vật và khoa học, Sử ký là một bộ sử có giá trị mà đến  
nay vẫn được dùng làm căn cứ khi nghiên cứu lịch sử xã hội cổ đại Trung  
Quốc.  
Tư Mã Thiên có quan điểm nhân dân khi ông viết sử. Đối với ông, lịch sử  
không phải do vua chúa làm ra. Ông chú ý đến tác dụng của quảng đại quần  
chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử. Ông ca ngợi Trần Thiệp Ngô  
Quảng, những lãnh tụ khởi nghĩa nông dân đời Tần, và chꢄ rõ chính cuộc khởi  
nghĩa của họ đã là nguyên nhân đầu tiên đưa đến sự sụp đổ của đế quốc Tần.  
Ông đưa Trần Thiệp vào "thế gia" (Ban Cố (Hán thư) lại đưa xuống liệt  
truyện). Ông chú ý đến tác dụng của con người bình thường và đưa họ vào sử  
sách như các nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ, hiệp khách v.v... Bởi vậy, đọc Sử  
ký chꢂng ta thấy được bộ mꢋt thꢇc của xã hội hơn.  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 126 trang baolam 65843 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Văn học Trung Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_van_hoc_trung_quoc.pdf