Họ tên người Nga và người Việt

HỌ TÊN NGƯỜI NGA VÀ NGƯỜI VIỆT  
Đỗ Thị Nhung – Lớp 2N-08  
Đã bao giờ bạn tự hỏi hay muốn biết về nguồn gốc và ý nghĩa tên họ của  
mình chưa? Hay có bao giờ bạn muốn tìm hiểu về cách ngôn ngữ bạn đang nói,  
ngôn ngữ bạn đang học biểu đạt những cái tên tưởng như thân quen mà lại mang  
trong nó một lịch sử lâu đời hay một ý nghĩa sâu sắc nào? Và thứ tiếng mà tôi  
muốn nói ở đây là tiếng Vịêt và tiếng Nga hay hai quốc gia Việt Nam và Nga.  
Tôi xin trình bày một số ý kiến của các học giả, các nhà nghiên cứu, cũng như  
những gì mà tôi biết về tên họ của hai đất nước này.  
I. Lịch sử, nguồn gốc họ người Nga và người Việt  
Trong một số nghiên cứu về đế hiệu Hùng Vương đã đưa ra quan điểm  
cho rằng đế hiệu Hùng Vương là do người sau đặt cho các vị lãnh đạo ban đầu  
của nước ta, nên không thể nói Việt Nam đã có tên họ từ thời Hùng Vương, tức  
cách đây hơn 5000 năm. Giai đoạn này, dân ta chưa có ý niệm về dòng họ theo  
lối phụ hệ như kiểu Trung Quốc. Đến thời Thục Phán và Triệu Đà (257-111  
TCN), ta không thể nói Việt Nam đã có tên họ. Hai ông này là người Trung  
Quốc vì chống Tần, Hán mà sang nước ta. Đến thời Hai Bà Trưng, xã hội Việt  
Nam vẫn còn trong thời kỳ mẫu hệ. Theo các nhà tính danh học, tên họ xuất hiện  
đồng thời với sự ra đời của chế độ phụ hệ. Chỉ khi xã hội Việt Nam đã tiến hóa,  
cộng với ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, và có những cuộc hôn nhân dị  
chủng Hán Việt, thì lúc đó Việt Nam mới chính thức có tên họ và các tên họ này  
giống với tên họ Trung Quốc. Kết luận này có thể chấp nhận được vì nhiều đồng  
bào Thượng ở Việt Nam, ít bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, đến giữa thế kỷ  
20 vẫn chưa có tên họ. Như vậy, sớm nhất Việt Nam có tên họ vào khoảng đầu  
Công Nguyên.  
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết: Về mặt phong tục, người Việt đã từ chế  
độ mẫu hệ bước sang chế độ phụ hệ. Cùng với việc làm lễ cưới hỏi theo lối  
97  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Trung Quốc, người Việt đã có họ và theo họ của cha. Hầu hết các họ mà người  
Việt Nam còn dùng đến ngày nay, đều là những họ của người Trung Quốc,  
nhưng đọc theo âm Hán Việt.  
Có thể tạm nói rằng, “họ” ở Nga xuất hiện tại các điền trang ở Novgorod  
trong thế kỷ XIII-XIV, nhưng một thời gian dài không được sử dụng phổ biến.  
Tên họ chỉ được sử dụng nhiều hơn theo pháp luật trong thế kỷ XVI, đầu tiên  
cho các hoàng tử và địa chủ, và sau đó đến các quý tộc nổi tiếng và các thương  
gia. Đa số nông dân bắt đầu được sử dụng “họ” từ các thế kỷ XVI-XVIII, và phổ  
biến sau khi bãi bỏ chế độ nông nô.  
Tên gọi đầy đủ của người Nga nói chung gồm lần lượt là TÊN + PHỤ  
DANH (một dạng thức có biển đổi của tên người cha) + HỌ. Ví dụ, “Aleksei  
Ivanovich Chekhov” trong đó “Chekhov” là họ, “Ivanovich” là phụ danh và có  
thể biết được cha có tên là Ivan, “Aleksei” là tên gọi. Điều tương tự cũng đúng  
với Ukraina, Belarus và các nước cộng hoà Xô Viết cũ.  
II. Đối chiếu tên họ người Nga và người Việt  
Thông thường, họ tên người Việt (người Kinh nói chung) được nói theo  
thứ tự: HỌ + TÊN ĐỆM + TÊN CHÍNH. Ví dụ, Trần Linh Nam, Phạm Phương  
Anh…  
Cá biệt có hơn cả 1000 người nam thuộc 9 dòng họ ở 3 thôn Cẩm Khê,  
Bối Khê, Cẩm Bối thuộc xã Liên Khê huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đều  
bắt đầu bằng đệm là “Đỗ”: Đỗ Tràng, Đỗ Văn, Đỗ Bá, Đỗ Quang, Đỗ Khoa…  
Chữ Đỗ ở đây không phải là họ mà chỉ là chữ đệm, còn họ chính là chữ thứ nhì  
như Tràng, Văn, Bá, Quang… Trong khi con gái thì lại đặt tên có họ chính đứng  
đầu như người bình thường: Tràng Thị Xuân, Văn Thị Thu… Ngày xưa, ở một  
số tỉnh miền Trung, người đàn ông có tên họ đơn giản chỉ gồm 2 thành tố:  
Nguyễn Du, Trần Điền, Bùi Kỷ.  
98  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Nga  
Việt Nam  
Anton Pavlovich Chekhov (Антон Nguyễn Thị Thuỳ Dương  
Павлович Чехов)  
Aleksandr Sergeyevich Pushkin Đặng Minh Ngọc  
(Александр Сергеевич Пушкин)  
Gavril  
Romanovich  
Derzhavin Nguyễn Linh Nam  
(Гаври  
́
л Рома  
́
нович Державин)  
́
Natalia  
Sergeevna  
Goncharova Phạm Văn Anh  
(Наталья Сергеевна Гончарова)  
III. Những nét tương đồng giữa tên họ người Nga và người Việt  
Một cách tổng quát, họ Nga hầu như hoàn toàn tương ứng về mọi phương  
diện với tên họ Việt Nam. Họ liên quan đến địa danh và khu vực địa lý gồm tên  
nước, tên địa danh, nghề nghiệp, con vật. Ví dụ:  
Nga  
Việt Nam  
Belozyorsky (từ Belozyorska, tên Trần, Thái, Tề (các nước thời xuân khu  
nước) chiến quốc)  
Zhuravlyov (từ tên gọi Zhuravli (con Ngưu  
sếu))  
Miroshnik (xay xát), Kuznets(thợ Ngư, Tiều, Canh, Mục  
rèn), Kozhemyaka (thợ thuộc da)  
Người Nga và người Việt đôi khi dùng tên đệm để phân biệt các thế hệ.  
Với người Nga (tên đệm hay chính là phụ danh) để phân biệt thế hệ có thể thêm  
dùng tiếp vĩ ngữ như trường hợp Sergeyevich của Nga (ta thấy tên đệm của con  
99  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
được kết hợp từ tên bố với vĩ tố). Với người Việt người ta phân biệt thế hệ bằng  
cách dùng các từ ngữ có ý nghĩa thân tộc như Bá, Mạnh, Trọng, Quý hoặc dùng  
từ ngữ trong danh sách định sẵn. Mỗi thế hệ sẽ dùng một chữ để làm tên đệm.  
Đọc các tên đệm này, ta biết người đó vai vế ra sao, thuộc thế hệ thứ mấy trong  
gia tộc.  
Qua cách đối chiếu tên người Nga và người Việt, ta có thể nhận thấy một  
điểm chung, dù người đó sinh ra ở đâu, họ đều được đặt cho một tên gọi, có  
những cái tên trìu mến dành riêng trong gia đình, và có những cái tên được dùng  
chính thức trong xã hội. Về phương diện nguồn gốc ngôn ngữ, tên người Nga và  
Việt nam có những điểm chung sau đây: Cả hai bên đều đi vay mượn. Nếu đa số  
tên người Việt xuất xứ từ tiếng Hán, gọi là Hán Việt, thì tên người Nga cũng vay  
mượn từ các tộc ngữ Semitic của Trung Đông, Germanic, Slavic, Hy Lạp, Latin,  
Celtic.  
Tên  
Xuất xứ  
Tên gốc  
Anekitos  
Nikita  
Hy Lạp  
Latinh  
Agrafena  
Akim  
Agrippina  
Johoachim  
Gudleifr  
Do Thái  
Gleb  
Norse cổ  
Slavơ  
Vladimir  
Vladimir  
Cả hai đều vay mượn nhưng đọc và viết theo nước mình. Nếu tên của  
người Việt có số lượng lớn có gốc từ là tiếng Hán, nhưng đọc và viết theo âm  
Việt, gọi là Hán Việt thì tên người Nga cũngcó nhiều đơn vị có gốc nước ngoài.  
Chẳng hạn,tên Alexandros từ gốc Hy Lạp sang đến Nga là Aleasandr. Tên người  
Nga và người Việt hầu như giống nhau về phương diện có ý nghĩa. Tên đàn ông  
có điểm chung là diễn tả ý nghĩa về sự hùng mạnh. Đặc tính tên phụ nữ Nga  
100  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
cũng như Việt Nam đều diễn tả ý nghĩa tốt đẹp, nhẹ nhàng, tình cảm, hoa mỹ. Ví  
dụ:  
Nga  
Viktor (chiến thắng)  
Lyubov (tình yêu)  
Roza (hoa hồng)  
Việt Nam  
Thắng  
Thương  
Hồng  
IV. Những nét khác biệt giữa tên họ người Nga và người Việt  
Trong quá trình đối chiếu tên họ người Nga và người Việt ta có thể nhận  
thấy nhiều điểm khác biệt. Để có thể thấy rõ điều này bây giờ ta cùng tìm hiểu  
tên họ người Nga và Việt Nam được cấu tạo như thế nào.  
Mặc dù tên họ người Nga cổ xưa thường được khởi xướng từ các giáo sĩ  
nơi giáo đường, nhưng không nhằm mục đích lễ giáo hay đạo đức mà nhắm mục  
tiêu hành chính. Trong khi đó, tên họ của người Việt Nam ban đầu đặt ra nhằm  
phổ biến lễ, làm cho mọi người biết nguồn gốc tổ tiên để thờ cúng.  
Họ  
Có thể nhận thấy tên người Nga không nhiều, nhưng họ người Nga lại vô  
hạn. Ngược lại tên người Việt Nam lại rất nhiều còn họ thì lại hạn chế.  
Ở Việt Nam, họ theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong  
kiến nối kết con người với đất ruộng, một mái nhà, một gia đình, một họ.  
Số họ người Việt rất hạn chế, có khoảng 140 họ khác nhau. Do đó có  
thành ngữ “trăm họ” (bách tính hay thường gọi là bá tánh) thời xưa thường dùng  
để chỉ người dân cả nước. Phần lớn các họ phổ biến ở Việt Nam gắn liền với các  
triều đại phong kiến Việt Nam. Họ phổ biến nhất của người Việt là họ Nguyễn,  
theo thống kê năm 2005, họ này chiếm tới khoảng 38% dân số Việt Nam. Đây là  
họ của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng, triều nhà Nguyễn. Các họ phổ  
biến khác như họ Trần, Lê, Lý cũng là họ của các hoàng tộc từng cai trị Việt  
101  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Nam, đó là nhà Trần, nhà Tiền Lê – Hậu Lê và nhà Lý. Có 15 họ phổ biến của  
người Việt chiếm khoảng 90% dân số là Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Hoàng, Phan,  
Vũ/ Võ, Đặng, Bùi, Đỗ, Hồ, Ngô, Kim, Dương, Lý.  
Nhiều người mang cùng một họ, không có nghĩa là họ có cùng một gốc  
gác. Thời xưa và nhất là ở quê, người ta phân biệt nhau bằng cách gọi họ. Ví dụ,  
họ Nguyễn làng Tiên Điền, họ Nguyễn làng Tây Sơn. Nhiều lúc trong nhiều làng  
thôn, tất cả mọi người cùng mang một họ.  
Trong số “trăm họ” có những họ xưa tới 3, 4 ngàn năm, vào thời đại mỗi  
bộ tộc có một tượng vật riêng hoặc cây cỏ hoặc cầm thú. Sau đó những tên biểu,  
hiện tượng đó được một số gia tộc dùng làm họ, thí dụ họ Âu. Một số khác biểu  
tượng nghề nghiệp như họ Đào (thợ gốm) hoặc cách sinh sống của một bộ tộc  
như họ Trần. Một số biểu tượng là nơi bắt gốc bộ tộc hoặc gia đình.  
Từ khi bị người Tàu đô hộ, người Việt chính thức theo chế độ phụ hệ, do  
đó con cái phải lấy họ cha. Theo dân luật, con phải lấy họ cha, không có quyền  
tự do lựa chọn. Họ không thể cho người ngoài họ dùng. Và trên nguyên tắc  
không thể thay đổi, tuy nhiên trong Nam từ thời Pháp thuộc có khuynh hướng  
dùng cả họ cha và họ mẹ mà đặt cho con. Ví dụ, con đầu lòng lấy họ cha, con thứ  
lấy họ mẹ, điều đó giải thích vì sao anh em ruột mà họ khác nhau.  
Ngày xưa cũng vì một số lí do mà người Việt có thể thay đổi hoặc phải  
thay đổi họ của mình như được vua ban thưởng cho mang họ của vua, hay vua  
ban cho họ nào đó gắn với một sự tích nào đó. Ví dụ, Hàn Thuyên vốn họ  
Nguyễn, được vua Trần ban cho họ Hàn vì ông làm bài văn ném xuống sông  
khiến cá sấu bỏ đi. Hay như trùng tên huý của nhà vua như ông trạng Hoàng  
Nghĩa Phú (1511), tổ tiên vì kiêng tên vua Lý mà đổi ra họ Trịnh rồi lại đổi ra họ  
Trần, đến đời Trần Khắc Minh mới đổi lại họ Hoàng.  
Ở Nga, họ dùng để phân biệt gia đình này với gia đình khác. Phần đuôi  
của họ phụ thuộc theo giới tính của người mang họ đó. Ví dụ, vợ của Ivanov có  
102  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
họ là Ivanova. Tương tự như vậy ta có các đuôi: -OV/ -OVA ( Frakov –  
Frakova); -EV/ -EVA (Medvedev – Medvedeva); -IN/ -INA (Putin – Putina); -  
ƯI/ -AYA, -OYA, -EYA, -IAYA (Belưi – Belaya); -KY/ -KAYA (Trotsky –  
Trotskaya). Cũng có một số họ (có thể là họ gốc nước ngoài) không đổi dù người  
mang nó là nam hay nữ như Yukevich, Mitskevich, Durnovo, Korolenko,  
Matsart …  
Ngoài các họ như của người Anh (VD: Smith - thợ rèn, vốn có liên quan  
đến nghề nghiệp) còn có một số lượng lớn về các họ có liên quan tới tôn giáo.  
Các họ này dựa theo tên gọi của nhà thờ (VD: Uspensky, Kazanky), hay các từ  
trong tiếng Latinh hay tiếng Hy lạp (VD: Gilyarov có nguồn gốc từ tiếng Latinh)  
Họ người Nga được cấu tạo theo rất nhiều cách, có thể từ biệt danh hay  
tên gọi đùa (VD: Zhuravlyov được cấu tạo từ tên gọi Zhuravli (con sếu)), có thể  
từ phụ danh (VD: Kuznetsova có gốc từ phụ danh Kuznetsov), có thể từ dạng tên  
riêng (VD: Vasilievsky từ tên Vasili) … Thỉnh thoảng vẫn bắt gặp một số ít họ  
từ cách gọi tên địa danh (VD: Belozyorsky từ Belozyorska).  
Tên đệm  
Tên đệm người Nga so với tên đệm người Việt Nam có các điểm dị biệt  
sau: xét về ý nghĩa thì tên đệm người Nga không nhằm bổ túc cho tên chính để  
có ý nghĩa rộng. Ngược lại, tên đệm của người Việt có thể phối hợp với tên  
chính hay tên họ để có ý nghĩa rộng hơn. Ví dụ tên Văn Minh: nếu chỉ có từ  
Minh thì ý nghĩa tên bị hạn chế là sáng, nhưng nếu tên là Văn Minh, nghĩa sẽ  
rộng hơn, được hiểu là tình trạng tiến hóa của loài người về các mặt khoa học  
nghệ thuật, xã hội, chính trị. Xét về vấn đề thế hệ thì tên đệm người Nga mới có  
khả năng phân biệt thế hệ hai đời cha con. Ngược lại, các cụ chúng ta đặt ra danh  
sách để con cháu dùng làm tên đệm, mỗi thế hệ, mỗi chi ngành trong gia tộc  
dùng tiếng khác nhau. Ngoài ra, người Việt xưa không dùng tên bố làm tên đệm  
103  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
như người Nga vì như thế là phạm tội bất kính (tuy nhiên,ngày nay việc dùng tên  
cha mẹ làm tên đệm đã trở nên phổ biến).  
Trong tiếng Nga, thông qua phụ danh có thể thấy được mối liên hệ giữa  
cha và con. Phụ danh có thể thay đổi theo giới tính của người con mang nó. Và  
phụ danh được cấu tạo từ tên người cha kết hợp với các hậu tố -OVICH/ -  
OVNA/ -EVICH/ -EVNA/ -INICHNA. Ví dụ, cha tên Boris Ivanovich Nicolaev,  
nếu tên con gái là Nina thì tên đầy đủ của con gái là Nina Borisovna Nicolaeva,  
nếu tên con trai là Anton thì tên đầy đủ là Anton Borisov Nicolaev.  
Tên đệm (hay chữ lót) trong tên người Việt đã được sử dụng từ bao giờ?  
Đó là một câu hỏi khó đưa ra câu trả lời chính xác. Có một số nghiên cứu cho  
rằng tên đệm được sử dụng từ thời lập quốc xa xưa: ngư phủ Chử Vân trong  
huyền thoại Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung thời vua Hùng (2 – 3 ngàn  
năm trước Công nguyên), anh bà Triệu Ẩu (248) tên gọi Triệu Quốc Đạt. Nhưng  
theo một nguồn nghiên cứu khác thì tên đệm của người Việt chỉ được thông  
dụng vào khoảng từ thế kỷ thứ VI trở đi. Ta thấy tên đệm người Việt hầu hết là  
các từ Hán Việt, tức thứ chữ nho đọc theo âm Việt. Muốn được vậy, chắc chắn  
dân ta phải nhuần nhuyễn chữ Hán. Theo sử cũ, Việt Nam bắt đầu dùng chữ Hán  
trong giấy tờ hành chính vào thời nhà Triệu. Nhưng việc dạy chữ Hán bắt đầu  
mạnh vào thời Sĩ Nhiếp, tức vào khoảng thế kỷ thứ III trở đi.  
Chữ lót hay chữ tên đệm thường được sử dụng nhất là “Văn” và “Thị”  
phân biệt nam và nữ. Văn có nghĩa là người có học, nhà nho. Thị có nghĩa là  
người theo hầu, có thuyết lịch sử cho rằng “Thị” phát sinh ra gốc họ hàng (thị  
tộc) có ý ám chỉ nhờ người đàn bà mà tộc họ được tồn tại, kéo dài. Theo một số  
nhà ngữ học, Văn và Thị có nghĩa là “con trai của …”, “con gái của …” và là  
dấu vết ảnh hưởng của văn hoá Mã Lai.  
Cách phân biệt nam nữ tiện lợi và dễ hiểu này không còn được người thời  
nay yêu chuộng lắm vì người ta cho là thiếu cá tính. Do đó mọi người có khuynh  
104  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
hướng chọn những chữ lót khác hay, đẹp và chủ quan xem là thích hợp với từng  
cá nhân. Sự thay đổi này có thể có nhiều mục đích: làm rõ nghĩa tên gọi, tạo một  
âm hưởng dễ nghe, hoặc tạo dây liên lạc họ hàng.  
Xét về mặt liên kết các thành phần khác trong tên, tên đệm có thể là thành  
phần độc lập, cũng có thể liên kết với tên họ hoặc tên chính. Cũng có người chỉ  
có tên và họ mà không có tên đệm.  
Tên đệm đứng độc lập: là loại tên đệm không phối hợp được với tên họ  
hay tên chính để làm thành từ kép. Ví dụ, Nguyễn Đình Chiểu và Lê  
Văn Sơn thì từ Đình hay Văn không thể phối hợp với tên chính hay họ  
để làm thành từ kép có ý nghĩa khác.  
Tên đệm phối hợp với tên chính: hầu hết tên chính người Việt xuất  
phát từ nguồn gốc Hán- Việt. Trong văn chương, các từ này được coi là  
hay hơn các từ Nôm nên khi đặt tên người ta cố gắng lựa tên đệm nào  
có thể đi chung với tên chính để có thể đi chung với tên chính để có ý  
nghĩa rộng hơn, tốt đẹp hơn như Trịnh An Bình, Lê Cát Tường, Vũ  
Quang Minh…  
Tên đệm phối hợp với tên họ: rất ít người Việt có tên đệm phối hợp  
được với tên họ để làm thành từ kép có ý nghĩa, ngoại trừ: Hoàng Kim  
Vui, Võ Văn Trung, Đỗ Đạt Minh.  
Tên đệm có thể có một hoặc hai chữ: nếu là hai chữ thì một chữ độc lập,  
một chữ phối hợp với tên chính: Đỗ Văn Quang Minh, Trần Thị Thu  
Hà…  
Tên đệm có thể có nhưng cũng có thể không có nên chức năng của nó đôi khi  
cũng không rõ ràng. Một số tên đệm có chức năng tương đối rõ:  
Phân biệt giới tính: nữ giới thường có tên đệm là Thị, Diệu; nam giới  
thường là Văn, Bá, Mạnh…  
105  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Phân biệt chi, ngành trong một dòng họ lớn: Ngô Thì, Ngô Vai;  
Nguyễn Đức, Nguyễn Mậu…  
Phân biệt thứ bậc trong gia đình: một số người dùng từ đệm Bá để chỉ  
con cả trong dòng họ trưởng, Mạnh để chỉ con cả trong dòng họ thứ,  
Gia chỉ con trưởng, Trọng chỉ con thứ hai…  
Thẩm mỹ: một số tên đệm chỉ có chức năng thẩm mỹ và nam nữ đều có  
thể dùng như Bạch trong Nguyễn Bạch Dương hay Lê Bạch Huệ; Kim  
trong Phan Kim Minh hay Đỗ Kim Nga..  
Tên gọi  
Về tên gọi: người Nga được phép lấy tên ông bà, cha mẹ, cô chú, thần  
thánh để đặt tên, coi đó không phải là điều kiêng kỵ và người được lấy tên coi đó  
là điều vinh dự cho mình. Trái lại, với người Việt việc lấy tên ông bà cha mẹ,  
thần thánh để đặt tên cho con là một lỗi lầm nghiêm trọng, có ý không tôn trọng  
các bậc trưởng thượng. Người Nga khi đặt tên còn để ý tên có hợp thời không.  
Nhiều tên chỉ thịnh hành trong thời gian nhất định, và thường bị ảnh hưởng bởi  
các danh nhân, nhất là tên những người nổi danh. Trái lại, với người Việt, chỉ  
những tên Nôm mới bị đào thải, và tên các văn nghệ sĩ không ảnh hưởng đến  
tâm lý người Việt trong vấn đề chọn tên.  
Tên chính là tên gọi của từng cá nhân, được gọi là tên đẻ đặt khi mới sinh  
và tên bộ, tên ghi ở sổ Bộ. Người Việt cũng như nhiều dân tộc Á Đông khác, tên  
được đặt sau họ. Một lý do là truyền thống tôn kính gia tộc họ hàng trên trước cá  
nhân.Có thể thấy người ở quê và người bình dân chỉ lựa tên (đơn, tức độc văn  
danh), người giàu hoặc có học hoặc tự cho sang trọng hoặc học làm sang, thì có  
khuynh hướng đặt tên kép ( song văn danh). Và tên chính của người Việt thường  
có những đặc điểm sau:  
Có lựa chọn và có lý do: người Việt Nam quan niệm đặt tên chính là  
một bộ phận gắn chặt với người mang tên đó. Tục ngữ có câu: Xem  
106  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
mặt đặt tên, bởi vậy khi đặt tên người ta thường chọn lựa kỹ và căn cứ  
đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương xã hội,  
ước vọng cha mẹ… mà chọn, chứ không đặt tuỳ tiện.  
Số lượng phong phú: so với họ và tên đệm, tên chính phong phú hơn về  
số lượng. Do có tính lựa chọn, những cái tên mang tính tích cực thường  
được chọn nhiều hơn. Ngoài ra, có những cái tên vô nghĩa cũng được  
đặt như Nguỳ, Duẩn… Một cách đặt tên khác không phổ biến lắm  
trong tiếng Việt, đó là đặt tên theo tiếng nước ngoài, theo kỷ niệm, theo  
sự kiện. Một điều thú vị là cho dù Bộ Tư pháp chưa có văn bản nào  
chính thức quy định việc cấm đặt tên theo các chính khách, người nổi  
tiếng, lỗi lạc nhưng điều này gần như trở thành “luật bất thành văn”  
trong việc đặt tên. Ví dụ, nếu đặt tên là Trần Hưng Đạo thì chắc chắn  
sẽ không được chấp nhận.  
Yếu tố Hán-Việt giữ vai trò chủ đạo trong cách đặt tên người Việt: tên  
người Việt thường được cấu tạo bằng hai từ: một để làm tên đệm, một  
để làm tên chính. Hai từ hợp lại có ý nghĩa rộng hơn, hoa mỹ hơn. Ví  
dụ, Vĩnh Phú (giàu có muôn đời), Bạch Tuyết (trắng như tuyết)…  
Khó phân biệt nam nữ với tên chính: về nguyên tắc, tên chính của nam  
nữ không có gì để phân biệt. Tuy nhiên căn cứ vào ý nghĩa của tên  
chính ấy, phối hợp tên chính với tên đệm và dựa vào thói quen có thể  
đoán tương đối chính xác một tên là nam hay nữ. Tên nữ thường là tên  
loài hoa (Mai, Lan, Cúc…), tên loài chim (Yến, Oanh, Anh…), tên đá  
quí (Bích, Ngọc…), tên loại vải quí (Nhung, Gấm, Lụa…), từ ngữ chỉ  
đức tính (Hạnh, Thảo, Hiền…) hay từ ngữ có âm thanh nhẹ nhàng, có ý  
nghĩa hoa mỹ (Vân, Thuý, Lệ, Huyền…). Tên nam được chọn trong  
các tiếng biểu lộ sự mạnh mẽ về thể xác lẫn tinh thần. Tên nam thường  
là tiếng chỉ sức mạnh (Cường, Hùng, Dũng…), tiếng chỉ trí tuệ (Thông,  
Tuệ, Trí…), tiếng chỉ đức hạnh (Nhân, Tín, Trung…)  
107  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Tên chính không được trùng tên với các bậc trưởng thượng: theo phong  
tục cổ truyền trước đây, tên chính của người kinh không được trùng với  
tên của thánh thần, vua chúa, những người thuộc thế hệ trước của gia  
đình, gia tộc.  
Ngoài tên Bộ (âm Hán có nghĩa là sổ sách) là tên gọi chính thức trên giấy  
tờ hộ tịch, người ta có thể có thêm tên tục, tên cúng cơm, tên thân mật, tên lịch  
sự do chính mình hoặc do người khác đặt cho mình. Trước khi có tên Bộ thường  
đã có tên tục để gọi trong nhà, nhất là thời xưa chỉ khi đến tuổi đi học, cha mẹ  
mới làm giấy tờ hộ tịch cho con, lúc đó mới chọn tên đẹp đẽ cho con. Đứa trẻ lúc  
đó có hai tên gọi, tên tục đã có và tên ở trường. Các tên tục thường nghe: Cu Tí,  
Cu Tèo, Cu Nhớn, Cái Hĩm… Trong Nam người ta còn gọi con theo thứ tự: Hai,  
Ba, Tư… Tên Bộ có thể thay đổi, như cụ Nguyễn Khuyến vốn tên Nguyễn  
Thắng, vì rớt thi Hội năm 1865 đã xin đổi thành Khuyến.  
V. Cách đặt tên và xưng hô  
Ở Việt Nam, thời hạn đặt tên cho con tính từ ngày sinh và thay đổi theo  
từng vùng. Người Kinh, theo phong tục xưa thì không đặt tên ngay cho đứa trẻ  
mới chào đời, mà chỉ gọi nôm na như thằng Cu, cái Đĩ, thằng Tèo, cái Tộp…  
hoặc một cái tên gì đó rất xấu xí trong vòng 100 ngày để ma quỷ khỏi bắt nó đi.  
Ở Huế nói riêng, đúng 100 ngày sau mới làm lễ tạ ơn “mười hai bà mụ”, bấy giờ  
mới đặt tên huý. Tên huý là tên chính thức của mỗi người thường do cha mẹ đặt  
cho. Tên chính còn được gọi là tên húy , tên thật hay tên khai sinh.  
Một số địa phương khác trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh  
sắm sửa cơi trầu, chai rượu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ báo cáo tổ tiên và  
cào sổ họ cho các con trai trước buổi lễ, ngày đó mới có tên huý chính thức,  
được họ hàng công nhận. Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có  
trùng tên các vị tổ tiên hoặc ông bà, chú bác trong nội thân hay không. Nếu có  
tức là phạm huý thì phải đổi tên.  
108  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Thông thường, tên con cháu do ông bà hoặc người có vai vế trong họ đặt  
cho. Tục lệ này thể hiện rõ nét tính liên tục và tính truyền thống của văn hoá gia  
đình. Ông bà hay những người có vai vế thường là những người hiểu biết rộng  
hoặc nắm được hệ thống tên của những thành viên trong dòng họ, tên các vị cao  
niên trong làng, thậm chí tên thành hoàng làng, thần thánh… Nhờ đó việc đặt tên  
con cháu sẽ phù hợp với hệ thống, lại tránh trùng lặp, mắc tội “phạm huý”.  
Chính điều này quyết định việc đặt tên thường được tiến hành trước khi đứa trẻ  
ra đời. Trong lúc người mẹ mang thai, ông bà cha mẹ hầu như đã chuẩn bị đặt  
tên bé. Nhiều gia đình chọn ngay những cái tên có giá trị “nối tiếp” với tên cha  
hoặc tên mẹ. Chẳng hạn, tên cha là Khải. tên con sẽ là Hoàn; tên mẹ là Hằng, tên  
con sẽ là Nga. Những gia đình phong kiến thường chọn cách đặt tên theo cung  
cách vua quan xưa, tức là chuẩn bị một dãy tên để “đặt dần”. Thực tế đã có nhiều  
gia đình đặt đúng và đủ các tên trong dãy.  
Ngày nay, cách đặt tên đã có những thay đổi đáng kể. Mặc dù ảnh hưởng  
của ông bà cha mẹ vẫn rất lớn nhưng phải thừa nhận rằng cách nhìn nhận về việc  
đặt tên đã thoáng hơn nhiều. Cách đặt tên con để thể hiện nguyện vọng của gia  
đình vẫn còn. Bên cạnh đó, người ta có thể dùng ghép tên quê cha và mẹ để đặt  
tên con. Thí dụ, cha quê Thái Bình, mẹ quê Hà Nội, tên con là Thái Hà.  
Trước đây, ngoài việc tránh đặt tên con cái trùng với tên ông bà, tổ tiên,  
việc đặt tên con trùng với bạn bè, người thân cũng hết sức tránh. Nay quan niệm  
này có đổi khác, trừ ông bà tổ tiên, những người thân của cha mẹ, những người  
mà cha mẹ hâm mộ cũng thường được cha mẹ lấy tên đặt cho con.  
Ngày xưa khi đặt tên con, các cụ thường đệm Văn cho con trai và Thị cho  
con gái để giúp mọi người phân biệt được giới tính của đứa trẻ. Các yếu tố ấy  
ngày nay dường như không còn là yếu tố bắt buộc nữa. Và việc đặt tên có xu  
hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có ý nghĩa vô cùng quan trọng,  
109  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
nó không chỉ mang yếu tố mĩ cảm mà còn có vai trò quan trọng trong việc cải tạo  
vận mệnh của mỗi người.  
Trong các loại giấy tờ hành chính đều được viết theo thứ tự “họ-tên đệm-  
tên chính”.Ví dụ, Đỗ Thị Nhung, Phạm Anh Khoa… Trong cuộc sống mọi người  
thường gọi nhau bằng “tên” kèm theo các từ ông bà, cô, dì, chú, bác, anh, chị…  
hay các từ chỉ chức danh nếu đến một nơi làm việc nào đó, ví dụ, bác sĩ Nam,  
tiến sĩ Linh. Nhiều gia đình có thói quen gọi tên con theo công thức: Cả + tên,  
Hai + tên, Ba + tên,… Đó là cách gọi theo thứ tự sinh ra của người có tên trong  
gia đình. Đôi khi người ta gọi cả họ và tên chính (bỏ qua tên đệm) muốn phân  
biệt người này với người khác hoặc muốn tỏ ý nhấn mạnh, hoặc đầy đủ cả tên  
đệm nếu muốn giới thiệu người đó cụ thể là ai. Thời phong kiến có tuc gọi tên  
người trong làng theo cấu trúc: danh từ chỉ chức danh hoặc học vị + tên, hoặc  
ngược lại. Ví dụ: ông Hương Bình, ông Chánh Lý, ông Trương Tuần, ông Năm  
Cai…  
Cách dùng từ để xưng hô của ta còn tuỳ thuộc vào mức độ thân sơ giữa  
người nói và người nghe. Ví dụ, thật thân tình, bạn bè gọi nhau bằng mày tao mà  
không cần tên họ; gọi nhau bằng thưa quí anh hoặc bằng ông thì coi như giễu cợt  
kích bác nhau. Ngược lại, mới quen biết sơ sơ mà mày tao thì coi như bất lịch sự,  
đôi khi nghe bực mình bỏ đi không thèm trả lời.  
Trong giao tiếp với những người thân quen, người Nga thường chỉ dùng  
tên riêng. Muốn thể hiện sự kính trọng với một ai đó thì người ngang hàng hoặc  
người dưới gọi người trên bằng cả “tên và phụ danh”. Ví dụ, Aleksei Ivanovich,  
Tatyana Ivanovna. Trong tình huống làm việc và chính thức họ sẽ thêm từ đi  
kèm là “товарищ (thưa đồng chí) hoặc господин - госпожа (thưa ngài - thưa  
bà)” cùng với “họ”. Việc dùng họ để giao tiếp khá phổ biến ở Nga, nó được dùng  
cho cả người lớn tuổi với người trẻ tuổi, cả thầy giáo với học sinh khi thầy gọi  
học sinh lên bảng. Trẻ em, bạn bè, hoặc người trên gọi người dưới bằng tên  
110  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
(Aleksei, Tatyana) nhưng thường bằng tên thân mật. Ví dụ, Aleksei thì gọi là  
Aliosha, Tatyana thì gọi là Tanya).  
Trong giấy tờ tuỳ thân, hộ tịch, danh sách biên chế… tên người Nga viết  
theo thứ tự “họ- tên- phụ danh”. Ví dụ, Chekhov Aleksei Ivanovich. Nhưng  
trong sách báo thì viết “tên- phụ danh- họ”. Ví dụ, Aleksei Ivanovich Chekhov.  
Tên dùng để phân biệt một người trong một tập thể nhỏ, trong gia đình,  
trong lớp, trong một nhóm người nào đó. Tên người Nga ngoài dạng thức đầy đủ,  
còn có dạng gọi trìu mến, âu yếm. Ví dụ, Aleksandr – Sasha, Elena – Lena,  
Lenochka, Lenochek …  
Trước đây, ở Nga người ta thường đặt tên cho những đứa trẻ theo phong  
tục cũ vì danh dự của ông nội, bà nội hay những người nổi tiếng có tên tuổi như  
các nghệ sĩ, các nhà du hành vũ trụ. Ví dụ, năm 1960 ở Liên Xô nổi lên phổ biến  
tên Yuri theo tên của nhà du hành vũ trụ đầu tiên Iuri Gagarin. Vào những năm  
90 ở Liên Xô trình chiếu phim truyền hình nhiều tập châu Mỹ La-tin “Nô tì  
Izaora”, lập tức xuất hiện nhiều tên Izaora, Mariann, Luisov - Alberto… Ngoài  
ra tên đứa trẻ có thể do cha cố đặt, người thực hiện lễ rửa tội và cha mẹ hoàn  
toàn trông cậy vào uy tín của ông ta.  
Cho đến nay nhiều người Nga từ chối đặt tên cho con theo tên của người  
thân chết cách đó không lâu. Họ cho rằng, những đứa trẻ sẽ nhận được số phận  
như người đã khuất hoặc không bao giờ lấy vợ, chồng. Tổ tiên người Nga tin  
rằng những người có cùng tên sẽ có chung số phận hay đồng nhất cá tính- đây là  
cơ sở của việc cấm đặt tên cho những đứa trẻ mới sinh theo tên của người có đầu  
óc u tối, người say, những kẻ không bình thường. Nhất định không được đặt tên  
cho trẻ mới sinh tên của đứa trẻ đã chết, để nó không dính phải số phận này.  
Nhưng có thể đặt tên cho trẻ bởi tên của ông hay bà nội nếu khi sống họ khoẻ  
mạnh và hạnh phúc, vì quan niệm rằng số phận sẽ di truyền qua thế hệ.  
111  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
Để có thể giao tiếp với nhau mỗi người trong chúng ta đều cần một cái  
tên.Và chọn tên cho một sinh linh mới ra đời là một việc hết sức quan trọng, bởi  
tên gọi đó sẽ đi theo suốt cả cuộc đời. Dù ở thời đại nào, ở không gian nào thì  
việc đặt tên cũng có ý nghĩa khẳng định giá trị tồn tại của một con người trên đời  
cũng như ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên được  
dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày, vì  
vậy tất cả mọi người sinh ra đều được gắn liền với một tên gọi. Và đã có tên thì  
phải có họ, cái họ để chỉ nguồn gốc của con người ấy, cho nên dù ở bất kì đâu,  
dù còn sống hay đã rời xa thế giới này mỗi người đều cần đến tên họ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Vũ Tiến Dũng (2003), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (Qua một số hành động  
nói), Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
2 PGS.TS Lê Trung Hoa, Họ và tên người Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,  
(2005)  
3. Vũ Thị Thị Thanh Hương (2002), Khái niệm thể diện và ý nghĩa đối với việc nghiên  
cứu ứng xử lịch sự, Ngôn ngữ, (số 1).  
4. Dũng Lạc (2001), Sơ thảo tính danh học Việt Nam.  
5. Lê Nguyễn Lưu (2006), Đời sống văn hóa gia tộc, Nhà xuất bản Thuận Hóa.  
112  
Hội thảo khoa học sinh viên khoa tiếng Nga, 23-3-2012  
pdf 16 trang baolam 25820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Họ tên người Nga và người Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfho_ten_nguoi_nga_va_nguoi_viet.pdf