Các dạng thức tồn tại của truyện Tống Trân Cúc Hoa

43  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI  
CỦA TRUYỆN TỐNG TRÂN CÚC HOA  
LÊ THỊ HUYỀN*  
Truyện Tống Trân Cúc Hoa là câu chuyện cổ tích, được lưu truyền rộng rãi trong  
dân gian. Đặc biệt, nhân vật Tống Trân trong truyện được lập đền thờ và được  
vua ban sắc như một nhân vật lịch sử có thật tại vùng quê Phù Cừ, tỉnh Hưng  
Yên. Bài viết tìm hiểu ba dạng thức tồn tại của truyện Tống Trân Cúc Hoa: 1)  
Truyện kể Dã sử quan Trạng Gầu do Nguyễn Thúc Kiêm đăng trên Tạp chí Nam  
Phong; 2) Truyện Trạng Tống Trân trong bản thần tích; 3) Truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa. Qua đó, bài viết làm rõ những nét đặc sắc cũng như ý nghĩa của  
từng loại thể thức.  
Từ khóa: Tống Trân Cúc Hoa, truyện thơ Nôm, khuyết danh, thể thức  
Nhận bài ngày: 14/6/2021; đưa vào biên tập: 20/6/2021; phản biện: 04/8/2021;  
duyệt đăng: 09/10/2021  
1. DẪN NHẬP  
thay đổi đến bản kể trước và ngược  
lại”.  
Trong bài viết Những hiện tượng văn  
hóa dân gian chung quanh nhân vật  
Trạng Gầu - Tống Trân, Nguyễn Việt  
Hùng (2013) cho rằng: “Truyện thơ  
Nôm Tống Trân phát triển dựa trên  
vốn truyện cổ nhưng khi lưu hành  
trong đời sống nhân dân thì hiện  
tượng lại trở nên phức tạp hơn. Có  
nghĩa là cốt truyện ở các thể loại, các  
bản kể khác nhau tác động qua lại với  
nhau, bản ra đời sau có thể tác động  
Ngoài dạng thức của một truyện cổ  
tích và truyện thơ Nôm khuyết danh  
xuất hiện giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ  
XIX, truyện Tống Trân Cúc Hoa còn  
được xây dựng thành thần tích của  
một nhân vật lịch sử đỗ Trạng nguyên,  
có công đánh đuổi giặc ngoại xâm,  
làm quan trong triều, giúp nước cứu  
dân, được lập đền thờ và được vua  
ban sắc. Truyện cũng được ghi trong  
Dã sử tạp biên, Hưng Yên nhất thống  
chí. Đầu thế kỷ XX truyện Tống Trân  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
44  
LÊ THỊ HUYỀN – CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TRUYỆN…  
Cúc Hoa đã được phiên ra chữ Quốc Hoa, bài viết chọn ba thể thức 1)  
Truyện kể Dã sử quan Trạng Gầu - do  
Nguyễn Thúc Kiêm soạn, đăng trên  
Tạp chí Nam Phong số 159, 160 năm  
1931; 2) Truyện Trạng Tống Trân –  
trong bản thần tích; 3) Truyện thơ  
Nôm Tống Trân Cúc Hoa để tìm hiểu,  
vì ba thể thức này có tính đại diện về  
thể loại, ngôn ngữ và ý nghĩa giá trị  
của tác phẩm.  
ngữ. Năm 1957 truyện Tống Trân Cúc  
Hoa được Nhà xuất bản Thép phát  
hành 2.000 cuốn; năm 1960 Nhà xuất  
bản Phổ Thông phát hành 25.000  
cuốn; năm 1961 Hà Văn Cầu dựng  
thành vở chèo Tống Trân Cúc Hoa.  
Đầu thế kỷ XXI vở chèo cổ của Hà  
Văn Cầu được Nhà hát Chèo Hà Nội  
(Doãn Hoàng Giang) dàn dựng lại và  
ra mắt khán giả vào tháng 5/2010(1)  
(Trọng Trường, 2018).  
Từ câu chuyện dân gian, truyện Tống  
Trân Cúc Hoa được trình bày trong  
thần tích và trở thành truyện thơ Nôm  
phổ biến. Tuy nhiên, Truyện trạng  
Tống Trân trong bản thần tích, có  
thêm lai lịch rõ ràng (so với truyện kể  
Dã sử quan Trạng Gầu và truyện thơ  
Nôm Tống Trân Cúc Hoa). Tống Trân  
là con cầu tự, khi chàng lên ba thì cha  
mất, nhà lâm cảnh nghèo khó. Gặp  
Cúc Hoa, hai người đem lòng yêu  
mến, và Cúc Hoa cưới Tống Trân làm  
chồng(2). Năm mười tám tuổi, Tống  
Trân lên kinh thi và đỗ Trạng nguyên.  
Sau khi đỗ Trạng nguyên, Tống Trân  
được vua cử đi sứ sang nước Tần.  
Sang bên nước Tần, Tống Trân bị vua  
Tần khinh ghét vì là sứ giả của “An  
Nam tiểu quốc”, đặt ra nhiều điều để  
hãm hại, nhờ trí tuệ hơn người, chàng  
Có nhiều công trình nghiên cứu về  
motif nghệ thuật, kết cấu câu chuyện,  
nội dung truyện Tống Trân Cúc Hoa,  
như: Tìm hiểu tiến trình văn học dân  
gian Việt Nam (Cao Huy Đỉnh, 1976);  
Kiều Thu Hoạch với Truyện Nôm -  
nguồn gốc và bản chất thể loại (1992),  
Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi  
pháp thể loại (2007); Truyện Nôm  
khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt  
của văn học Việt Nam (Bùi Văn  
Nguyên, 1960)...; hay trường hợp  
nghiên cứu về các dạng thức tồn tại  
của truyện của Trịnh Thị Phương Hoa  
(2015). Theo tác giả truyện thơ Tống  
Trân Cúc Hoa có năm dạng thức tồn  
tại (Truyền thuyết về Tống Trân;  
Truyện kể về Trạng Gầu - Tống Trân;  
Truyện cổ (tích) do dân làng An Cầu đã vượt qua mọi thử thách. Chàng xử  
kể; Truyện thơ Nôm Tống Trân - Cúc  
Hoa; Truyện Tống Trân - Cúc Hoa  
dịch sang tiếng Thái, có tên là Trạng  
Nguyên). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa  
có sự phân tích, đánh giá các thể thức  
đó.  
kiện vụ án tra cành đa, vụ án gái giết  
chồng bằng kim sào(3) được vua Tần  
khen ngợi và ban cho Lưỡng quốc  
Trạng nguyên. Trong khi đó, Cúc Hoa  
ở nhà một dạ nuôi mẹ, chờ chồng.  
Được 7 năm, cha Cúc Hoa thấy Tống  
Trân không về nên ép nàng lấy viên  
Theo hướng nghiên cứu về các thể  
thức tồn tại của truyện Tống Trân Cúc Đình trưởng. Cúc Hoa từ chối, nên bị  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
45  
cha đánh đập tàn nhẫn và bắt mẹ 2.1. Truyện Dã sử quan Trạng Gầu  
do Nguyễn Thúc Khiêm kể trên tạp  
chí Nam Phong  
Tống Trân nhốt vào chuồng trâu. Lúc  
Cúc Hoa quyên sinh thủ tiết với chồng,  
thì Tống Trân trở về, Đình trưởng bị  
Dã sử quan Trạng Gầu là câu chuyện  
trừng trị. Công chúa nước Tần vì cổ tích được lưu truyền trong dân gian  
thương nhớ Tống Trân, đã xin vua của vùng Kinh Bắc, được Nguyễn  
Thúc Khiêm kể lại bằng chữ Quốc  
ngữ đăng trên tạp chí Nam Phong, số  
159, 160 in tại Đông-Kinh Ấn-Quán Hà  
Nội, vào năm 1931. Tạp chí Nam  
Phong là tạp chí đã có những đóng  
góp vào tiến trình hiện đại hóa nền  
văn học dân tộc giai đoạn đầu thế kỷ  
XX, một trong những mục đích của  
tạp chí là “thể cái chủ nghĩa khai hóa  
của Chính phủ, biên tập những bài  
bằng Quốc văn, Hán văn, Pháp văn  
để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn  
đạo đức trong quốc dân An Nam,  
truyền bá các khoa học của Thái Tây,  
nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp,  
bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam  
ta” (dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn, 2018).  
cha sang nước Việt để tìm Tống Trân  
và làm vợ thứ của Tống Trân.  
2. TÌM HIỂU MỘT SỐ DẠNG THỨC  
TỒN TẠI CỦA TRUYỆN TỐNG TRÂN  
CÚC HOA  
Truyện Tống Trân Cúc Hoa được viết  
bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc  
ngữ, tiếng Trung (văn bản được lưu  
tồn ở đảo Hải Nam, Trung Quốc),  
tiếng Nôm Tày và tiếng Thái, bài viết  
này chỉ tập trung vào những dạng  
thức có ảnh hưởng, tác động đến đời  
sống văn hóa, văn học của Việt Nam.  
Qua tìm hiểu, các thể thức có sự  
tương đồng về nội dung, đó là: hồn  
cốt của câu chuyện xoay quanh cuộc  
đời của Tống Trân và Cúc Hoa, họ trải  
qua những thăng trầm, thử thách,  
nhưng cái kết đoàn viên và có hậu.  
Đồng thời, các thể thức này, có sự  
khác biệt về ngôn ngữ, tên truyện và  
giá trị. Truyện Trạng Tống Trân, được  
ghi trong bản thần tích bằng chữ Hán,  
có giá trị lịch sử; truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa là một tác phẩm văn  
học; truyện Dã sử quan Trạng Gầu,  
do Nguyễn Thúc Khiêm kể, được ghi  
lại bằng chữ Quốc ngữ, cấu trúc câu  
chuyện theo chương, giống như đoản  
thiên tiểu thuyết. Dựa vào cốt truyện  
chung của các thể thức, chúng tôi  
thống nhất tên gọi chung là truyện  
Tống Trân Cúc Hoa.  
Theo Lê Trí Viễn, câu chuyện dân  
gian về Trạng Gầu với truyện Nôm  
Tống Trân Cúc Hoa không khác nhau  
là mấy, có nghĩa là hai văn bản này có  
sự tương đồng về nội dung (dẫn theo  
Kiều Thu Hoạch, 2006: 324). Qua tìm  
hiểu của tác giả (năm 2013) từ những  
người lớn tuổi tại làng An Cầu, xã  
Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng  
Yên, hầu hết họ đều thuộc và biết về  
truyện, và gia đình họ có cuốn sổ ghi  
chép truyện Tống Trân Cúc Hoa. Nội  
dung và các tình tiết của truyện dân  
gian tương đồng với Dã sử quan  
Trạng Gầu và truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa. Như vậy, nội dung  
46  
LÊ THỊ HUYỀN – CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TRUYỆN…  
giữa các thể thức này có mối liên hệ, Cuối mỗi nội dung được tác giả thêm  
tương tác với nhau, câu chuyện Tống  
Trân Cúc Hoa trong dân gian là nguồn  
gốc, là hồn cốt để hình thành những  
lưu bản về sau, có điều ở mỗi dạng  
thức có thay đổi một số chi tiết phù  
hợp với mục đích và ý nghĩa. Mối liên  
hệ này, được Kiều Thu Hoạch (1996:  
12) nhận xét: “Nguyễn Thúc Khiêm là  
người đầu tiên công bố truyện cổ tích  
Dã sử quan Trạng Gầu trên Tạp chí  
Nam Phong (số 159, 160 năm 1931)  
và cho biết đó là nguồn gốc của  
truyện Nôm Tống Trân - Cúc Hoa”.  
Tuy nhiên, sự tài ba của tác giả là kể  
lại câu chuyện cổ tích theo lối viết của  
tiểu thuyết đầy kịch tính theo trình tự:  
gặp gỡ - biệt ly - đoàn tụ. Tính tự sự  
của nhân vật xen lẫn với thử thách tạo  
nên kịch tính, và kịch tính đó được  
giải quyết bằng kết thúc có hậu, đầy  
tính nhân văn cao đẹp. Tác giả kể lại  
câu chuyện theo từng mục, từng phần,  
cho thấy tác phẩm không đơn thuần là  
câu chuyện dã sử, mà đã chuyển thể  
thành một tác phẩm văn học có giá trị  
về nội dung và nghệ thuật.  
vào khổ thơ lục bát, có đoạn 2 câu, có  
đoạn 4 câu. Nội dung chuyện kể như  
một tác phẩm văn học, có trình tự về  
thời gian, địa điểm, thử thách, những  
khó khăn phải trải qua và đến ngày  
đoàn tụ. Câu chuyện đan xen giữa bi  
kịch và hạnh phúc. Nội dung tác phẩm  
đầy kịch tính, nhân vật chịu hết bất  
hạnh này đến đau khổ khác, khi mâu  
thuẫn đến cao trào, nỗi khổ đau tột  
cùng của Cúc Hoa bị ép lấy Đình  
trưởng. Mâu thuẫn được giải quyết,  
khi Tống Trân về đúng lúc Cúc Hoa  
quyên sinh. Kết thúc câu chuyện là  
hạnh phúc, đoàn viên, ca ngợi tình  
yêu cao đẹp, chung thủy. Có thể thấy,  
truyện Dã sử quan Trạng Gầu đã dần  
thoát khỏi câu chuyện cổ tích dân gian,  
chuyển thành tác phẩm văn học.  
2.2. Truyện Trạng Tống Trân trong  
bản thần tích  
Nhân vật Tống Trân trong bản thần  
tích có lai lịch, công trạng giống như  
nhân vật lịch sử, được nhân dân vùng  
Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên dựng đền thờ,  
thờ phụng. Trên thực tế “truyện dân  
gian Trạng Gầu vẫn rất phổ biến trong  
nhân dân địa phương và gắn liền với  
các di tích đền thờ Tống Trân, mộ  
Tống Trân… như là sự tích về nhân  
vật lịch sử có thật” (Vũ Tố Hảo, 1980:  
137).  
Truyện Dã sử quan Trạng Gầu gồm  
18 trang, được chia thành phần mở  
đầu, tiểu dẫn và nội dung. Nội dung  
bao gồm 5 mục, mục I: Ăn mày may  
bước; mục II: Trưởng giả gả con gái;  
mục III: Mười tám tuổi đỗ Trạng  
nguyên; mục IV: Mười năm đi sứ; mục  
V: Hoa lại về vườn cũ. Mục I, II đăng  
trên tạp chí số 159 gồm 8 trang (từ  
trang 144 đến trang 151); mục III, IV,  
V đăng trên tạp chí số 160 cũng gồm  
9 trang (từ trang 225 đến trang 233).  
Bản thần tích về nhân vật Tống Trân  
mà chúng tôi tìm hiểu năm 2013 tại xã  
Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng  
Yên có 30 trang chữ Hán, tác giả  
Nguyễn Bính(4) , được viết trên giấy dó,  
mỗi trang 12 dòng, mỗi dòng 16 chữ,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
47  
chữ viết chân phương, dễ đọc. Bản đến ngày 15 tháng 4 âm lịch), với lễ  
thần tích được chép tay, không có rước nước và rước nghiên bút mang ý  
trang giới thiệu về niên đại, nguồn gốc  
của văn bản. Nội dung văn bản, có sự  
khác biệt so với tác phẩm Dã sử quan  
Trạng Gầu và truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa ở chỗ có nguồn gốc  
xuất thân rõ ràng, Tống Trân sinh vào  
ngày 15 tháng 4 năm 544, mất ngày 5  
tháng 5 năm 621 tại xã An Đô, tổng  
Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là  
thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện  
Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên), cha là Tống  
Thiệu Công, mẹ là Đào Thị Cuông(5).  
Tống Trân tính tình thiện lương, học  
hành tử tế. Sau khi đỗ Trạng nguyên,  
Tống Trân lập nhiều công trạng như  
đánh tan quân giặc được vua khen  
thưởng, ban sắc. Hiện ông được thờ  
tại làng An Cầu, xã Tống Trân, huyện  
Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.  
nghĩa tôn vinh truyền thống hiếu học,  
ghi nhớ công lao của bậc hiền tài,  
trung nghĩa, hiếu thuận. Đây là một  
trong những lễ hội quan trọng của  
huyện.  
Điều đó cho thấy, câu chuyện đã ăn  
sâu trong đời sống cũng như tiềm  
thức của người dân, và trở thành câu  
chuyện của con người thực, cuộc đời  
thực. Có thể thấy, câu chuyện về  
Tống Trân Cúc Hoa đã dành được  
nhiều sự ưu ái của người dân vùng  
Phù Cừ, Hưng Yên nói riêng và vùng  
Kinh Bắc nói chung.  
2.3. Truyện thơ Nôm Tống Trân Cúc  
Hoa  
Vào thế kỷ XV, sáng tác văn học bằng  
chữ Nôm bắt đầu phát triển mạnh, với  
nhiều tác phẩm văn học có giá trị về  
nội dung và thể loại. Từ thế kỷ XVI -  
đầu thế kỷ XIX, mặc dù có nhiều biến  
động về xã hội, song “Văn học chữ  
Nôm phát triển toàn diện về chất  
lượng nội dung và số lượng tác phẩm.  
Nhiều tác phẩm văn thơ Nôm có tư  
tưởng tiến bộ, thể hiện nhận thức và  
quan điểm ngoài khuôn khổ đạo lý  
chính thống của nhà nước phong  
kiến” (Trịnh Khắc Mạnh, 2020), những  
tác phẩm nổi tiếng giai đoạn này như  
Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung oán  
ngâm khúc (Đặng Gia Thiều), Bạch  
vân Quốc ngữ thi (Nguyễn Bỉnh  
Khiêm), Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị  
Điểm),... Giai đoạn này, thơ văn chữ  
Nôm không những phát triển hưng  
thịnh, mà còn phong phú về thể loại,  
Qua tìm hiểu, hầu hết những câu  
chuyện kể trong dân gian vùng này có  
nội dung tương đồng với truyện kể Dã  
sử quan Trạng Gầu và truyện thơ  
Nôm Tống Trân Cúc Hoa. Tống Trân  
được nhân dân trong vùng tôn kính,  
ngưỡng mộ, xưng ông là thánh, để  
mọi việc lớn nhỏ trong gia đình được  
hanh thông, họ đều khấn nguyện, xin  
thánh Tống Trân. Đặc biệt, nhân vật  
Tống Trân được các vua triều Nguyễn  
là Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh,  
Duy Tân, Khải Định ban sắc, phong là  
Thượng đẳng thần. Hiện những sắc  
phong này đã được chúng tôi sưu tầm,  
dịch thuật(6).  
Hàng năm huyện Phù Cừ đều tổ chức  
lễ hội đền Tống Trân (từ ngày mồng 9  
48  
LÊ THỊ HUYỀN – CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TRUYỆN…  
như thể truyện Nôm lục bát, song thất Bản thứ hai là Tống Trân tân truyện -  
lục bát, thơ Nôm Đường luật. Bên  
cạnh những tác phẩm văn, thơ Nôm  
được ghi tên tác giả, niên đại sáng tác  
rõ ràng, truyện Nôm chính thống,  
được phép lưu hành, hàng trăm tác  
phẩm thơ Nôm ra đời không có tên  
tác giả hay niên đại sáng tác, được  
gọi là truyện Nôm khuyết danh.  
Truyện thơ Nôm Tống Trân Cúc Hoa  
thuộc truyện Nôm khuyết danh, hay  
còn gọi là truyện Nôm bình dân. Vì  
không ghi tên tác giả và niên đại sáng  
tác, nên việc xác định thời gian ra  
đời, tác giả của tác phẩm là điều khó  
khăn.  
宋 珍 新 傳, (Phúc Văn đường tàng  
bản - 福 文 堂 藏 本, tháng thu năm Khải  
Định thứ 10 (1926)), hiện lưu giữ tại  
Thư viện Quốc gia, ký hiệu R.334.  
Đây là bản viết tay trên giấy dó màu  
nâu nhạt, kích thước 20cmx20cm,  
chữ viết chân phương, rõ ràng, dễ đọc.  
Văn bản bị mất 5 trang (trang 8 đến  
trang 12), tương đương với 72 dòng  
và 144 câu thơ, vì vậy số câu thơ ít  
hơn so với bản trên. Bản này hiện còn  
46 trang, với 1.638 câu thơ, gồm 819  
câu lục, 819 câu bát, toàn văn bản  
hiện có 11.466 chữ Nôm. Văn bản này  
cũng ghi ký hiệu từ trang 1a đến trang  
46b, và số dòng, câu thơ tương ứng  
nhau giữa hai văn bản, để tiện cho  
việc so sánh đối chiếu. Từ trang 32  
đến trang 46 chữ viết khác với những  
trang trước, khoảng cách giữa câu lục  
và câu bát một số trang chỉ là một  
dòng kẻ ngang, tạo cho văn bản  
không thống nhất về chữ viết, trình  
bày. Cuối văn bản chữ viết không  
ngay ngắn. So với văn bản R.334,  
chúng tôi chọn bản AB.217 làm bản  
nền, vì văn bản ra đời trước, vẫn còn  
nguyên vẹn là bản in chữ đủ nét, rõ  
ràng; … Hiện truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa đã được dịch nghĩa và  
chú thích.  
Về bản Nôm truyện Tống Trân Cúc  
Hoa, chúng tôi khảo cứu hai bản. Bản  
thứ nhất là Tống Trân tân truyện - 宋 珍  
新 傳 (Quảng Thịnh đường tàng bản - 廣  
盛 堂 藏 , niên hiệu Duy Tân thứ 8  
(1915)), lưu giữ ở Viện Nghiên cứu  
Hán Nôm, có ký hiệu AB.217. Đây là  
bản in trên giấy dó, khổ giấy 15x20cm,  
bìa màu nâu, chữ chân phương, rõ  
ràng, dễ đọc, còn nguyên vẹn, không  
bị rách. Trang 13a, dòng 420 bị mất  
hết chữ, chúng tôi không thể đoán  
định nội dung. Với 1.776 câu thơ lục  
bát, trong đó có 888 câu lục, 888 câu  
bát, và có 12.432 chữ Nôm. Mỗi trang  
có 18 câu thơ, 9 câu lục và 9 câu bát.  
Trang cuối cùng có 12 câu thơ, gồm 6  
câu lục và 6 câu bát, chỉ chiếm  
khoảng 2/3 trang giấy, phía dưới bên  
trái của trang có dòng Tống Trân  
truyện hoàn 宋 珍 傳 完 có nghĩa là kết  
Vấn đề truyền bản của Tống Trân Cúc  
Hoa có thể giống với con đường  
truyền bản của đa số các truyện Nôm  
khuyết danh khác như ý kiến của  
Nguyễn Lộc (1969: 283): “truyện Nôm  
bình dân được sáng tác để kể là  
chính, chứ không phải để xem hay để  
thúc truyện Tống Trân.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
49  
đọc. Rất có thể một tác giả nào đó Cái thiện lên ngôi, người dân lao động  
diễn ca một cổ tích, hay mô phỏng cổ  
tích sáng tác ra một truyện mới, sau  
đó lại kể cho người khác nghe theo  
lối nói vè hay hát xẩm, hay một hình  
thức nào tương tự…, ban đầu chưa  
hoàn chỉnh, về sau mỗi lần được kể  
người ta lại thêm thắt, chỉnh lý lại ít  
nhiều cho hoàn chỉnh hơn, đến một  
lúc nào đó, nó tương đối định hình thì  
được nhà nho yêu văn học, giống  
như nhà nho tác giả đầu tiên của nó  
ghi chép lại thành văn bản”. Tuy tác  
phẩm khuyết danh tác giả nhưng chủ  
thể sáng tác có thể là những ông đồ,  
hay nhà nho ở thành Thăng Long,  
biết chữ Nôm, am hiểu tích và diễn  
đạt lại bằng thơ lục bát, hay “ngay  
những sáng tác truyện Nôm sớm  
nhất, dù khuyết danh, vẫn chẳng  
thuộc về những tay bút nào khác  
ngoài giới nhà nho” (Lại Nguyên Ân,  
2013: 12).  
được đoàn viên, hạnh phúc. Đây là  
ước mơ mà người dân lao động muốn  
gửi gắm qua tác phẩm.  
3. KẾT LUẬN  
Truyện Tống Trân Cúc Hoa là truyện  
đa dạng về thể thức văn bản. Giữa các  
thể thức có mối liên hệ, tương tác chặt  
chẽ với nhau. Về sự tương đồng – nội  
dung của các văn bản được xây dựng  
từ nhân vật Tống Trân và Cúc Hoa, ca  
ngợi đức tính cao đẹp, tình yêu thủy  
chung, đồng thời câu chuyện kết thúc  
có hậu, cái thiện thắng cái ác. Tống  
Trân là nhân vật đại diện cho sự hiếu  
học, tài trí và đức độ. Bên cạnh đó,  
các thể thức có sự khác biệt về giá trị,  
ngôn ngữ và thể loại. Truyện Dã sử  
quan Trạng Gầu được Nguyễn Thúc  
Khiêm kể lại vào năm 1931, bằng chữ  
Quốc ngữ, với lối kể chuyện giống  
đoản thiên tiểu thuyết, phân chia theo  
đoạn, chương. Trong bản thần tích  
được Nguyễn Bính viết bằng chữ  
Hán vào năm 1572, nhân vật Tống  
Trân lại được xây dựng như nhân vật  
lịch sử. Truyện thơ Nôm Tống Trân  
Cúc Hoa, được sáng tác bằng chữ  
Nôm, với thể thơ lục bát, khuyết tên  
tác giả và niên đại sáng tác, tuy nhiên  
theo nhiều nghiên cứu cho rằng,  
truyện có thể ra đời vào thế kỷ XVIII,  
trong trào lưu của truyện Nôm khuyết  
danh. Đặc biệt, từ câu chuyện dân  
gian đã trở thành câu chuyện được  
trình bày trong thần tích và truyện thơ  
Nôm phổ biến đã đi sâu vào đời sống  
người dân, có giá trị về văn học, văn  
hóa. Trong thể thức là một truyện thơ  
Nhìn từ góc độ văn học, kết cấu câu  
chuyện, cách thức xây dựng tuyến  
nhân vật của truyện thơ Nôm Tống  
Trân Cúc Hoa đều theo một kết cấu  
khá ổn định của truyện cổ tích là gặp  
gỡ - biệt ly - đoàn tụ, các nhân vật trải  
qua các biến cố, nhưng kết thúc họ  
được đoàn viên và sống hạnh phúc  
bên nhau. Nhân vật trong truyện Tống  
Trân Cúc Hoa là thiện - ác đan xen,  
nhân vật thiện đại diện cho người dân  
lao động, nhân vật ác đại diện cho  
quyền uy của chế độ phong kiến sau  
lũy tre làng. Kẻ ác hung dữ, hách dịch,  
chà đạp lên nhân phẩm con người,  
nhưng rồi chúng bị trừng trị, tiêu diệt.  
50  
LÊ THỊ HUYỀN – CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TRUYỆN…  
Nôm, tự thân tác phẩm đã bước ra tác phẩm văn học, chứa đựng nhiều  
khỏi câu chuyện cổ tích, mà trở thành giá trị về nội dung và nghệ thuật.  
CHÚ THÍCH  
(1)  
chèo Tống Trân - Cúc Hoa”. 2010, truy cập ngày 30/8/2021.  
(2) Chi tiết Tống Trân gặp gỡ Cúc Hoa, rồi yêu nhau và kết hôn. Chi tiết trong truyện Thơ  
Nôm Tống Trân Cúc Hoa được thể hiện từ câu 50 đến câu 132:  
Cúc Hoa nghe nói khúc nhôi  
Dời chân mở cửa xem coi nhận nhìn  
Giờ lâu tỏ mặt người hiền  
Động lòng mới giở gót sen vào nhà  
…
...  
Lạy cha cùng mẹ nhân khi giãi lòng  
Từ rày con về nhà chồng  
Duyên ở phận đẹp yên lòng tôi nay  
Chi tiết này trong truyện Dã sử quan Trạng Gầu được thể hiện ở Mục II. – Trưởng giả gả  
con (trang 148, 149, Tạp chí Nam Phong, số 159 năm 1931), cụ thể: “Vả nói Tống Trân từ  
khi vào nhà trưởng - giả, Cúc - Hoa động lòng thương, thết cơm nước, cho tiền gạo, ước  
hẹn lấy làm chồng, thằng nô nghe biết, về mách với ông trưởng - giả, con ở cũng về mách  
với bà trưởng giả, … Cúc Hoa rón - rén thưa rằng: “Dạ thưa cha mẹ, duyên kiếp vợ chồng là  
tự trời se buộc, có kể chi sang hèn giàu khó, con từ khi thấy Tống Trân vào xin, coi người  
khôi - ngô tuấn - nhã, hỏi ra đích con nhà học trò, sớm mồ côi cha...”.  
(3) Kim sào: Theo cách hiểu trong văn bản tác phẩm, thì được hiểu là loại vật dụng bằng kim  
loại nhọn, nhỏ, như kim trâm cài tóc. Nội dung này được sử dụng trong truyện thơ Nôm  
Tống Trân Cúc Hoa, từ câu 516 đến câu 554, nói về việc Tống Trân xử kiện vụ “gái giết  
chồng bằng kim sào”, đoạn thơ được thể hiện như sau:  
...  
Thấy một con gái giết chồng  
Mua trăm kim sắt để dùng ở tay  
Nửa đêm chồng uống rượu say  
Kim sào nó giết thác ngay trong nhà  
...  
...  
Khám đầu thì thấy dấu ngay  
Hồ quang mái tóc thấy ngay kim sào  
(4)  
Theo Nguyễn Hữu Mùi (1999: 1), Nguyễn Bính, “người làng Sơn Đồng, huyện Đan  
Phượng, thành phố Hà Nội, đỗ Tiến sĩ (?), làm Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ”. “Căn cứ  
vào bản Nguyễn Trí tộc gia phả của họ Nguyễn ở làng Sơn Đồng (huyện Đan Phượng,  
thành phố Hà Nội hiện nay)... giới nghiên cứu cho rằng đây chính là Hàn lâm viện Đông các  
đại học sĩ Nguyễn Bính đã soạn các bản thần tích vào năm 1572. Nhưng cũng có ý kiến  
nghi ngờ giả thuyết này” (Nguyễn Hữu Mùi, 1999: 2). Tuy nhiên, từ Nguyễn Trí tộc gia phả,  
Nguyễn Hữu Mùi đã đưa ra minh chứng về sự nhầm lẫn. Cho đến nay, chưa có thêm những  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
51  
nghiên cứu mới làm sáng tỏ thêm về tác giả của các bản thần tích. Vì vậy, tác giả của bản  
thần tích vẫn được ghi là Nguyễn Bính.  
(5) Chi tiết này được thể hiện trong bản thần tích, giới thiệu về gia thế, hoàn cảnh, năm sinh,  
năm mất của Tống Trân được ghi chép như sau: “Phu thê âm hành thiện đức, miễn lực  
hành nhân. Phàm chư tự cảnh phủ nhân phong đổng vũ hám vô sở bất y, hốt nhiên hữu tự.  
Phàm thập nhất nguyệt phu nhân đề sinh nhất nam sinh hạ - tứ nguyệt thập ngũ nhật Canh  
Thìn, tức Bính Ngọ niên hạ thiên” (trang 1). Tạm dịch: Hai vợ chồng hành thiện giúp người.  
Một hôm, đang vãn cảnh chùa, bỗng đâu mưa gió nổi lên. Quả nhiên, bà Đào Thị Cuông  
mang thai 11 tháng và sinh hạ một người con trai vào ngày Canh Thìn 15 tháng 4, tức vào  
mùa hạ năm Bính Ngọ 544).  
Ngày mất của ông được ghi chép như sau: “Công miêu cư du cử dân, nhân tộc thuộc khai  
trường giáo sĩ chung đắc ngũ niên, công phục vi lực chi, chứng tự chung hĩ ngũ nguyệt sơ  
ngũ nhật tức Tân Mùi niên….” (trang 6). Tạm dịch: Ông về quê dựng nhà, mở trường dạy  
học ở quê được 5 năm, sức khỏe ngày một yếu, ông mất vào ngày 5 tháng 5 năm Tân Mùi  
621).  
(6) Khi chúng tôi khảo sát các sắc phong vào tháng 3/2013, tại xã Tống Trân, huyện Phù Cừ,  
tỉnh Hưng Yên, có 7 sắc phong được vua Thiệu Trị, Trị Đức, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải  
Định sắc tặng. Tuy nhiên, chỉ có 1 sắc phong thời vua Khải Định tặng cho thần Tống Trân  
còn nguyên vẹn.  
紹治 六年五月初五日  
红
敕勇决 施廣濟東海上等神護國庇民您著靈應明命貳拾壹年我聖祖生皇帝五旬大慶節欽奉寶詔覃恩禮隆登秩肆今丕應  
缅
红
耿命 念神庥可加贈勇决 施廣齎含章上等神仍準芙渠縣安球社依舊奉事神其相佑保我黎民欽哉  
Thiệu Trị lục niên ngũ nguyệt sơ ngũ nhật  
Sắc dũng quyết hồng thi quảng tế đông hải thượng đẳng thần, hộ quốc tí dân, nẫm trứ linh  
ứng. Minh Mệnh nhị thập nhất niên ngã thánh tổ sinh hoàng đế ngũ tuần đại khánh tiết,  
khâm phụng bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, diến niệm  
thần hưu khả gia tặng dũng quyết hồng thi quảng tế hàm chương thượng đẳng thần, nhưng  
chuẩn Phù Cừ huyện, An Cầu xã, y cựu phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân, khâm  
tai.  
Dịch nghĩa:  
Sắc cho dũng quyết hồng thi quảng tế đông hải thượng đẳng thần, giúp nước cứu dân rất  
linh ứng. Vào năm Minh Mệnh thứ 21, nhân dịp lễ khánh tiết mừng thọ thánh tổ ngũ tuần,  
theo mệnh ban cấp sắc phong để ban tặng. Nay vâng theo mệnh lớn và nhớ đến công lao  
của thần, sắc tặng thêm dũng quyết hồng thi quảng tế hàm chương thượng đẳng thần.  
Chuẩn cho xã An Cầu, huyện Phù Cừ phụng thờ như cũ. Thần hãy bảo vệ và che chở cho  
dân của ta.  
Kính thay.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Văn Nguyên. 1960. “Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn  
học Việt Nam”. Tạp chí Văn học, số 7/1960.  
2. Cao Huy Đỉnh. 1976. Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
52  
LÊ THỊ HUYỀN – CÁC DẠNG THỨC TỒN TẠI CỦA TRUYỆN…  
3. Kiều Thu Hoạch. 1992. Truyện Nôm - nguồn gốc và bản chất thể loại. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
4. Kiều Thu Hoạch. 1996. Truyện Nôm bình dân của người Việt - lịch sử hình thành và  
bản chất thể loại. Luận án, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.  
5. Kiều Thu Hoạch. 2006. Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
6. Kiều Thu Hoạch. 2007. Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại. Hà Nội:  
Nxb. Giáo dục.  
7. Lại Nguyên Ân. 2013. “Truyện Nôm vài khía cạnh văn học sử”.  
http://lainguyenan.free.fr, truy cập ngày 13/01/2013.  
8. Nguyễn Hữu Mùi. 1999. “Góp thêm tư liệu mới về việc tìm hiểu tác giả Nguyễn Bính”.  
Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, số 4/1999.  
9. Nguyễn Hữu Sơn. “Giá trị văn học của Nam Phong tạp chí”. 2018.  
www.tapchikhxh.vass.gov.vn, truy cập ngày 01/6/2021.  
10. Nguyễn Lộc. 1969. “Những vấn đề xã hội trong truyện Nôm bình dân”. Tạp chí Văn  
học, số 4/1969.  
11. Nguyễn Thúc Khiêm. 1931. “Dã sử quan Trạng Gầu”. Tạp chí Nam phong, số 59-  
60/1931.  
12. Nguyễn Việt Hùng. 2013. “Những hiện tượng văn hóa dân gian chung quanh nhân  
vật Trạng Gầu - Tống Trân”. http://nguvan.hnue.edu.vn, truy cập ngày 20/1/2013.  
13. Quang Viện. 2017. “Giọng chèo nơi ngục tối”. http://baothaibinh.gov.vn, truy cập  
ngày 30/5/2021.  
14. Tống Trân Cúc Hoa (ca kịch cải lương 5 màn). 1957. Thanh Hóa: Nxb. Trịnh Ngọc  
Phát.  
15. Tống Trân Cúc Hoa. 1957. Hà Nội: Nxb. Bình Dân thư quán.  
16. Trịnh Khắc Mạnh. 2020. “Chữ Nôm và văn học chữ Nôm”.  
17. Trịnh Thị Phương Hoa. 2015. Truyện thơ Nôm Tống Trân Cúc Hoa nhìn từ góc độ  
văn học và văn hóa dân gian. Luận văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
18. Trọng Trường. 2018. “Vở chèo cổ Tống Trân thu hút khán giả Hà Nội”.  
3730965.html, truy cập ngày 30/8/2021.  
19. Vũ Tố Hảo. 1980. “Mối quan hệ giữa truyện Nôm bình dân và văn học dân gian”.  
Tạp chí Văn học, số 4/1980.  
pdf 10 trang baolam 24840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các dạng thức tồn tại của truyện Tống Trân Cúc Hoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_dang_thuc_ton_tai_cua_truyen_tong_tran_cuc_hoa.pdf