Con người và hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22” của Joseph Heller
UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
CON NGƯỜI VÀ HIỆN THỰC PHI LÝ TRONG TIỂU THUYẾT “BẪY-22”
CỦA JOSEPH HELLER
Thái Anh Thư
Nhận bài:
15 – 04 – 2020
Chấp nhận đăng:
10 – 06 – 2020
Tó m tắt: “Bẫy-22” là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Mỹ Joseph Heller xuất bản năm 1961.
Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan phi lý và giọng văn giễu nhại, tá c giả đã phản ánh được
sự biến chất, thoá i hó a của xã hội hiện đại thô ng qua bối cảnh sinh hoạt của một đơn vị quân đội Mỹ
trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Bài viết tập trung vào phâ n tí ch cảm quan về phi lý của Joseph Heller
qua những hình tượng nhâ n vật và hiện thực tàn khốc, phi logic nhưng mặc nhiên được chấp nhận và
tuâ n thủ. Nhờ đó mà độc giả có thể hiểu sâu hơn về tá c phẩm và tì m kiếm sự đồng cảm trong nhận tri về
sự tồn tại của cái phi lý đang ngày càng trở nên bình thường hó a trong xã hội hậu hiện đại.
Từ khóa: cảm quan phi lý; Văn học phi lý; tình huống nghịch lý; giọng điệu giễu nhại; tiểu thuyết chiến
tranh.
Naked and the Death) của Norman Mailer, “Từ hiện tại
1. Con người phi lý trong tiểu thuyết với kiểu nhâ n
vật đánh mất lý tưởng và nhâ n vật chấn thương
đến vô tận” (From here to eternity) của James Jones, và
“Lò sát sinh số 5” (Slaughterhouse of Five) của Kurt
Vonnergut, “Bẫy-22” (Catch-22) được coi là bộ tứ tiểu
thuyết thành công nhất và chân thực nhất của văn học
Mỹ khi viết về Thế chiến thứ Hai.
Trong cuốn khảo luận “Văn học phi lý” (Nguyễn,
2002) của mình, PGS.TS Nguyễn Văn Dân đã trình bày
rất rõ quá trình phát triển của quan niệm về cái phi lý
trong triết học cổ đại đến triết học hiện sinh và các hình
thái văn học. Đó là một trong những cơ sở để phân tích,
nhận định cảm quan phi lý của tác giả Joseph Heller
trong tác phẩm “Bẫy-22”.
“Bẫy-22” lấy bối cảnh là hòn đảo Pianosa, một hòn
đảo nằm ngoài khơi xa của vùng biển Italia, nơi đóng
quân của một đơn vị không quân Mỹ. Vì thế cho nên hầu
hết bọn họ là những quân nhân hoặc nhân viên phục vụ
trong quân đội. Tác giả đã nhồi nhét rất nhiều nhân vật
vào hơn năm trăm trang tiểu thuyết cùng những tính cách,
diện mạo khác nhau. Có nhân vật chỉ xuất hiện một cách
chớp nhoáng hay thậm chí là qua lời kể của những người
khác chứ chưa hề có một sự góp mặt trực tiếp nào. Tuy
vậy, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng
có thể chia những nhân vật này theo hai đặc điểm cơ bản
trong suy nghĩ và hành động của họ như sau: nhân vật
đánh mất lý tưởng và nhân vật chấn thương.
Joseph Heller là một nhà văn Mỹ từng đảm nhiệm
nhiệm vụ phi công lái máy bay B-52 trong quân đội Mỹ
trên chiến trường đối đầu với Ý suốt Thế chiến thứ Hai.
Khi đó, ông chỉ mới 19 tuổi. Hai năm sau, ông được
điều đến phục vụ ở chiến trường Ý. Đây là nơi mà ông
đã thực hiện sáu mươi nhiệm vụ bay với cương vị là phi
công cắt bom của máy bay B-25. Đây cũng là bối cảnh
thời gian và không gian chính của tác phẩm “Bẫy-22”.
Chính những năm tháng sống giữa bom đạn, phải đối
mặt với cái chết luôn chực chờ và những trải nghiệm về
sự bất công đã giúp ông nhận rõ sự phi lý, tàn nhẫn của
chiến tranh. Cùng với “Trần trụi và Chết chóc” (The
Joseph Heller đã xây dựng một hệ thống nhân vật ở
đủ các ngành nghề tiêu biểu của xã hội. Điểm độc đáo
trong lối viết của ông là những nhân vật này mang suy
nghĩ và hành động vô cùng mâu thuẫn, đi ngược lại
hoàn toàn với ấn tượng và trách nhiệm mà xã hội luôn
gắn cho công việc của họ.
*
Tác giả liên hệ
Thái Anh Thư
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
Email: [email protected]
22 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
Còn gì phi lý hơn việc cuốn sách do chính một cựu
binh viết ra lại không hề có bóng dáng của người anh
hùng cứu quốc hay sự hy sinh cho mục đích cao cả là
“hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự
nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”(Ostrovsky,
2018, 215) nào. Ở đây chỉ có những người lính mệt mỏi,
nản lòng thoái chí, bất lực trước những quy tắc và luật
lệ vừa vô lý vừa tàn nhẫn. Cả nhân vật chính, Yossarian
lẫn các binh lính trong phi đoàn của anh ta đều cố tìm
cách giả bệnh để không phải ra chiến trường. Người bạn
Hungry Joe của Yossarian thậm chí còn tập hợp các
bệnh hiểm nghèo mà anh ta biết thành một danh sách
xếp theo bảng chữ cái và bọn họ chỉ cần chọn lấy một
căn bệnh nào đó phù hợp với triệu chứng mà bản thân
có thể giả vờ được rồi an tâm nằm trong bệnh viện. Và
khi không thể ở lều quân y lâu hơn được nữa, Yossarian
bị buộc phải quay về với nhiệm vụ chiến đấu của mình.
Nhưng điều này vẫn không thể ngăn cản được khát khao
trốn tránh chiến trường của anh ta. Yossarian hết kiếm
cớ về sự hỏng hóc của các thiết bị trong phi cơ lại đến
đổ lỗi cho thời tiết quá xấu để bay. Đối với Yossarian,
việc đánh bại quân địch hay hỗ trợ những người lính bộ
binh ở phe mình không còn quan trọng bằng việc giữ
cho bản thân còn sống để trở về. Yossarian nhận ra rằng
chính anh ta mới là người đang gặp nguy hiểm chứ
không phải nước Mỹ. Và việc chiến đấu mỗi ngày
không phải để bảo vệ tổ quốc mà là để bảo vệ tính mạng
của chính mình.
Vì vậy mà Yossarian, kẻ bận tâm về cái chết nhất lại trở
nên điên rồ trong mắt người khác.
“Anh muốn thấy tổ quốc mình thua trận sao?”,
thiếu tá Major hỏi
“Chúng ta sẽ không thua đâu. Chúng ta có nhiều
quân hơn, nhiều tiền hơn, nhiều của cải hơn. Có mười
triệu người lính có thể thay thế tôi. Có nhiều kẻ đang thí
mạng trong khi rất nhiều kẻ khác đang hái ra tiền và
chơi bời thỏa thích. Cứ mặc cho thằng khác đi chết”
“Nhưng nếu phe ta ai cũng nghĩ như vậy thì sao?”
“Thì tôi chắc chắn sẽ là thằng đại ngu khi nghĩ
khác đi, phải không?” (Heller, 2018, 131)
Việc Yossarian tự đặt mục tiêu là còn sống lên trên
nhiệm vụ mà đơn vị giao phó chính là hành động giễu
nhại “trắng trợn” của Joseph Heller đối với chủ nghĩa
anh hùng truyền thống. Người ta gọi Yossarian là kẻ
điên vì anh ta không muốn thực hiện những nhiệm vụ
nguy hiểm, điều mà theo Yossarian là chỉ những kẻ mất
trí mới làm. Chính sự mâu thuẫn này thể hiện thế giới
trong cảm quan phi lý của Joseph Heller là nơi mà khi
một con người nhận thức được những điều trái với logic
thông thường và cố gằng vùng thoát ra thì anh ta lại trở
thành kẻ lạc loài, bị đồng loại gạt ra bên lề. Việc
Yossarian nhận thức được cái phi lý, thứ logic hoang
đường đang chi phối xã hội không phải dựa trên lập
trường của chủ nghĩa nhân văn trong con người anh.
Anh ta không có hoài bão hay gánh nặng thương sinh
nào cả. Yossarian chỉ đơn giản muốn sống mà thôi. Đây
chính là kiểu nhân vật phản anh hùng (anti-hero), một
khái niệm bắt nguồn từ truyện tranh, dùng để mô tả
những nhân vật vừa nửa thiện nửa ác. Yossarian tồn tại
một cách yếu ớt khi thể hiện sự trốn tránh ngay từ đầu
tác phẩm. Đối với anh ta, chiến tranh chỉ là một chiếc
mặt nạ anh hùng mà anh ta có thể lấy làm hãnh diện để
thỏa mãn tính hư vinh của mình. Đến đây cần phải nói
thêm rằng, kiểu nhập vai hay mạo danh là một loại
motif ưa thích của các tiểu thuyết gia hậu hiện đại như
John Barth hay Thomas Pynchon. Chi tiết Yossarian ký
tên những nhân vật nổi tiếng như Washington Irving
hay John Milton khi duyệt những bức thư gửi về nhà
của toán lính trơn đã nói lên điều đó. Không đơn giản là
một trò chơi giết thời gian, Yossarian đang cố gắng đi
tìm chính mình và rồi trở thành kẻ cướp đoạt danh tính.
Sau đó, anh ta dần biến tướng thành việc mượn tên các
nhân vật thần thoại và hư cấu như Tarzan, (siêu anh
Lý giải cho nghịch lý này, Dunbar, người lính pháo
binh nằm bên cạnh giường bệnh của Yossarian cho rằng
nguyên nhân là mọi người thiếu đi lòng yêu nước. Mọi
người đều có một điều gì đó khiến bản thân trân trọng
vô cùng và muốn chiến đấu để bảo vệ nó. Đôi khi
những vật ấy chỉ nhỏ bé và hết sức bình thường như một
mẩu xúc xích, một đội bóng chày mình hâm mộ hay
thậm chí chỉ là chiếc bánh táo mẹ làm. Những thứ ấy
gắn liền với tổ quốc, với quê hương. Còn người lính
trong doanh trại của Yossarian lại không hề có một sự
lưu luyến hay động lực nào thúc đẩy tình yêu với mảnh
đất mà họ đang bán mạng để bảo vệ cả. Đối với họ, bên
ngoài bệnh viện là không gian của sự phi lý cùng cực,
nơi những người lính phát điên rồi được trao thưởng mề
đay. Khắp nơi trên thế giới, các gã trai trẻ ở cả hai bên
chiến tuyến đang ngã xuống cho cái mà người ta bảo họ
là tổ quốc và dường như chẳng ai thèm bận tâm, ít nhất
là chẳng ai trong số những gã trai đang ngã xuống ấy.
23
Thái Anh Thư
hùng) Flash Gordon, Bill Shakespeare, Cain, Ulysses,…
Hài hước hơn, khi nằm ở bệnh viện điều trị cái chân bị
thương do vỡ động mạch đùi, Yossarian được Dunbar
chỉ cho cách giả mạo danh tính của người khác để
hưởng đặc quyền. Anh chỉ cần mượn tên một người
khác có quân hàm cao hơn là có thể sai khiến cấp dưới
nhường ra một chiếc giường cho mình nghỉ ngơi. Chỉ
cần leo lên chiếc giường vừa được nhường ra là anh ta
đã trở thành người khác. Dù vậy, điều ấy khiến anh ta
buồn nôn và mồ hôi túa ra dấp dính khắp người. Đây
chính là sự gợi nhớ về phản ứng của nhân vật chính
trong tác phẩm “Buồn Nôn” (Sartre, 2008) của Jean Paul
Sartre, một phản ứng vô thức khi nhân vật phản kháng
lại sự vô nghĩa, phi lý của cuộc sống.
Cramer,… tất cả bọn họ đều xem việc chăm sóc bệnh
nhân như một gánh nặng và luôn tìm cách buông bỏ nó.
Thậm chí, bác sỹ Daneeka còn tức giận khi các binh
lính cứ tìm đến ông ta vì vấn đề sức khỏe của bản thân
họ. Ông ta đẩy bệnh nhân cho hai phụ tá lo và tiếp tục
rên rỉ về tác hại của việc bị điều ra mặt trận đã khiến
ông ta lỡ mất cơ hội kiếm tiền ở quê nhà như thế nào.
Người còn giữ được y đức duy nhất ở trong tác phẩm
này chỉ có bác sỹ Stubbs. Ông này sẵn sàng cho các
binh sỹ nghỉ bay vì điều kiện sức khỏe dù họ có thật sự
mắc bệnh hay không. Và cái kết của ông ta là bị tướng
chỉ huy đẩy ra đơn vị Thái Bình Dương, nơi bốn mùa
chỉ có mưa và rừng nhiệt đới bao quanh. Thật đáng
buồn khi nhận ra rằng, khi sống giữa những kẻ tồi tệ thì
người người tỉnh táo và ngay thẳng nhất lại trở thành dị
hợm, kỳ quặc và bị bài xích. Đây chính là thế giới mà
Heller muốn mô tả cho người đọc, nơi bác sỹ không còn
biết phải làm gì khi công việc cứu người chẳng còn ý
nghĩa nữa bởi vì đằng nào những người đó cũng sẽ chết.
Nếu như Yossarian là đại diện cho các quân lính, sỹ
quan bình thường thì đại tá Cathcart, tướng Dreedle,…
chính là hình ảnh những quan chức cấp cao trong quân
đội hay đúng hơn là người nắm quyền tối cao trong cái
xã hội thu nhỏ trên đảo Pianosa. Trong tác phẩm đầu tay
này, Joseph Heller đã mô tả những tổ chức cầm quyền
là tập hợp của những kẻ kiêu ngạo, thích mỉa mai và
ngu dốt. Các tổ chức quân sự là những người nông dân
đang chăn bầy cừu, là các binh sỹ, theo một phương
pháp hoàn toàn lệch lạc. Chúng bơm vào đầu người
khác cái tư tưởng rằng trang trại của chúng tốt hơn tất
thảy những trang trại khác. Và chúng có sứ mệnh giải
phóng những con cừu đang sống trong các trang trại tồi
tệ đó trong khi đưa những con cừu của mình đến các lò
mổ, chiến trường, để bị giết thịt. Chúng chỉ lợi dụng
chức vụ để thỏa mãn cái tôi hư vinh, phù phiếm, muốn
thăng chức để dẫm đạp lẫn nhau vì tư thù cá nhân. Bọn
họ luôn nuôi dưỡng và truyền bá tư tưởng rằng đám lính
cấp dưới cần phải sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình
vì lý tưởng, khát vọng và khí chất của cấp trên. Tất cả
những gì tướng Dreedle yêu cầu ở sỹ quan và binh lính
dưới quyền mình là phải tuân theo lệnh của mình. Ngoài
điều đó ra thì họ được tự do làm bất cứ cái gì họ muốn.
Thế là những người lính trẻ phải dùng cái chết của mình
để đổi lấy tiền tài, quyền lực cho những lão già cấp cao.
Sự thật và yêu cầu trần trụi này không chỉ phi logic, phi
tự nhiên mà còn vô cùng phi lý.
Trong khi bác sỹ là người chữa trị vết thương về thể
xác thì cha xứ/ mục sư lại là người cứu rỗi, là điểm tựa
tinh thần cho con người. Trong “Bẫy-22”, có một nhân
vật không hề được nhắc đến với tên riêng mà người ta
chỉ gọi chức danh của anh ta là cha tuyên úy. Anh ta
được biết đến như một kẻ nhút nhát, e dè, nhịn nhục và
không hề có quyền uy gì trong quân đội. Chính vì thế
mà cha tuyên úy luôn là mục tiêu cho mọi trò tiêu khiển
cũng như nơi trút giận của đại tá Cathcart cùng trung tá
Korn. Thậm chí người phụ tá của anh ta là hạ sỹ
Whitcomb cũng có thể ngang nhiên thách thức cấp trên
của mình. Tất cả những sự đối xử này khiến cha tuyên
úy dần trở nên nghi ngờ Chúa. Việc nghi ngờ đức tin rõ
ràng là một sự cấm kỵ đối với người có đạo. Tuy nhiên,
cha tuyên úy vẫn không thể dứt mình khỏi suy nghĩ, nếu
Chúa có tồn tại trên đời thì tại sao Ngài lại bắt loài
người phải chịu những đau khổ, sinh ly tử biệt này? Nếu
coi đây là sự thử thách thì Chúa liệu có nhân từ như
người ta vẫn hằng ca ngợi? Anh ta bị giằng xé bởi cảm
giác tội lỗi do phản bội đức tin và băn khoăn vì những
điều mà hiện thực chứng minh ngược lại với giáo lý mà
anh ta được dạy. Nhân vật này giống với Yossarian, anh
ta nhận thấy sự phi lý và bản chất giả dối của môi
trường này nhưng lại không thể, hoặc không dám, đứng
lên phản kháng một cách mạnh mẽ hoặc đấu tranh để
thiết lập công lý và trật tự được.
Những bác sỹ, người không thể vắng mặt trong
chiến tranh, người mang sứ mệnh cứu giúp và chữa lành
cũng đã rời bỏ lời thề của Hippocrates. Bác sỹ Daneeka
trong phi đội của Yossarian, bác sỹ phẫu thuật người
Anh mà Yossarian gặp trong bệnh viện dã chiến, cô y tá
24
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
Và như một quy luật của cuộc sống, cha tuyên úy
dần trở nên “hắc hóa”. Không phải biến chất theo nghĩa
xấu mà anh ta buộc phải thay đổi mình, trở nên mạnh
mẽ hơn, mưu mẹo hơn để giúp đỡ những người khác.
Sau cái chết của Nately, cha tuyên úy bắt đầu nói dối
bởi vì nghĩ rằng nói dối có hiệu quả hơn là nói thật.
mình không thể tiếp tục làm nhân viên bán hàng được
nữa. Còn Aafry, trong một nhiệm vụ bay, khi máy bay
của họ bị tấn công, bốc cháy và phi công đang cố thoát
ra khỏi tầm ngắm của địch anh ta lại tỏ ra thờ ơ. Aafry
chỉ ngồi yên, châm lửa vào tẩu thuốc và nhìn mọi người
bận rộn trong hoảng loạn. Anh ta chỉ tỏ ra phấn khích
khi nhìn thấy sự tấn công quyết liệt từ phe địch. Cả
Heller lẫn Kafka đều mô tả về sự trớ trêu của cuộc đời
rằng ngay cả điều kinh dị nhất, khủng khiếp nhất cũng
thất bại trong việc thay đổi ý thức của con người một
khi họ đã lún sâu và bị chi phối bởi hoàn cảnh phi lý.
“[…] Trước đây tôi chưa từng nói dối đâu. Như
vậy mới tuyệt làm sao, nhỉ?”
Cha tuyên úy đã mắc tội, và thấy như vậy thật là hay.
Lương tri bảo với gã rằng nói dối và trốn nhiệm vụ là tội
lỗi. Mặt khác, ai cũng biết tội lỗi là xấu xa, và rằng
chẳng có gì tốt đến từ điều xấu cả. Nhưng gã thực sự cảm
thấy rất hay; gã cảm thấy đích thực là tuyệt vời. Do đó,
xét theo logic thì nói dối và trốn việc không thể là tội lỗi.
Cha tuyên úy đã luyện được, trong một khoảnh khắc siêu
phàm của trực giác, kỹ năng tiện dụng là hợp lý hóa mọi
thứ để bảo vệ bản thân, và phát hiện ấy khiến gã vô cùng
hoan hỉ. Thật là diệu kỳ. Gã mới nhận ra rằng gần như
không cần có chút mưu mẹo nào cũng có thể biến sự đồi
bại thành đức hạnh, lời vu khống thành sự thật, bất lực
thành tiết chế, tự mãn thành khiêm nhường, cướp bóc
thành làm từ thiện, trộm cắp thành vinh quang, báng bổ
thành thông thái, tàn bạo thành yêu nước và tàn ác thành
công lý” (Heller, 2018, 458).
Khác với những cuốn tiểu thuyết chiến tranh khác,
Joseph Heller chọn việc sử dụng sự hài hước để mô tả
mặt tối của chiến tranh. Các nhà phê bình cho rằng ông
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ E.E.Cummings, nhà thơ
theo chủ nghĩa tượng trưng. Cummings đã xuất bản
cuốn “Căn phòng khổng lồ” (The enormous room)
(Cummings, 2002), một cuốn hồi ký ghi lại khoảng thời
gian bốn tháng ông bị giam ở trại tập trung của Pháp vì
bị nghi ngờ làm gián điệp. Bằng giọng văn hài hước,
bông đùa, Cummings đã thể hiện không khí ngột ngạt,
phi lý của chiến tranh. Và bốn mươi năm sau, đến lượt
Joseph Heller dùng sự hài hước khác thường ấy để tiếp
cận chiến tranh (Early et al., 2010). Nhưng giữa hai tác
giả này vẫn có điểm khác biệt cơ bản, trong khi
Cummings dùng sự hài hước như một lời từ chối trở
thành nạn nhân của chiến tranh thì Heller lại khéo léo sử
dụng thủ pháp hài hước đen (black humor) để chỉ ra sự
phi lý trong chiến tranh. Sự vô lý đó được thể hiện qua
việc nhân vật Orr lên một kế hoạch rồi diễn theo kịch
bản khi cố tỏ ra mình bị mất trí và cuối cùng hoàn thành
vở kịch bằng cách chuồn êm khỏi chiến trận trong khi
những người khác vẫn nghĩ rằng anh ta đã hy sinh.
Dù những thay đổi trong tính cách và suy nghĩ trên
có lợi hơn cho cha tuyên úy để tồn tại ở cái nơi đầy rẫy
sự phi lý này nhưng không thể phủ nhận rằng sự thanh
khiết trong tâm hồn anh ta đã bị tổn hại sâu sắc. Anh ta
không thể và không còn là cha xứ xứng đáng với chức
trách của mình nữa. Nhân vật cha tuyên úy một lần nữa
nhắc nhở người đọc về cách mà chiến tranh đã làm đảo
lộn mọi quy tắc đạo đức và luân lý trong sự nhận tri.
Cũng giống như bác sỹ Daneeka bối rồi về vai trò của
một bác sỹ trong cuộc chiến, nơi mà con người lấy việc
giết chóc và thương tổn vật lý làm mục đích, cha tuyên
úy bị lạc lối trong thế giới mà giết chóc trở thành một
loại đức hạnh.
Thông qua “Bẫy-22”, Joseph Heller đã thể hiện
được cảm quan phi lý tinh tế và nhạy cảm của mình.
Tầm nhìn của ông còn xa hơn cả khi có internet, sự
bùng nổ của thời đại thông tin và các phương tiện
truyền thông. Không có những blog hay các trang mạng
xã hội đầy rẫy bài viết, thuyết âm mưu về hoạt động của
chính phủ. Thông tin cũng không dễ cập nhật chỉ bằng
một cú nhấp chuột. Nhưng vào những năm tháng ấy,
Joseph Heller đã nhìn thấu bản chất thối nát và chán
ngấy những lời mị dân, sáo rỗng của nhà cầm quyền và
đám tư bản làm giàu trên mất mát của người khác.
Về mặt nghệ thuật, “Bẫy-22” được đánh giá cao
trong việc xây dựng những tình huống trớ trêu (irony)
và giọng điệu giễu nhại, mang màu sắc “hài hước đen”
(black humour). Nhân vật Aafry, người trong đội bay
của Yossarian, nhiều lần khiến người đọc gợi nhớ về
Gregor Samsa trong tác phẩm “Hóa thân” (Kafka). Khi
thức dậy và nhận ra mình đã biến thành một con vật
giống như loài gián, điều Samsa lo lắng đầu tiên là việc
25
Thái Anh Thư
“[…] Sống như thế thì có ra gì? Anh sẽ luôn một
mình. Không ai cùng phía với anh, và lúc nào anh cũng
sẽ phải sống trong cảnh lo sợ bị phản bội”.
cũng không biết gì về căn bệnh ấy mà ông chỉ đơn thuần
viết lại những trải nghiệm của bản thân và mô tả cuộc
sống trong quân ngũ nhưng những trang viết của ông đã
bộc lộ những biểu hiện của sự sang chấn tâm lý sau
chấn thương.
“Giờ tôi cũng đang sống như vậy rồi đây” (Heller,
2018, 570).
Đầu tiên phải kể đến biểu hiện của Yossarian. Anh
ta thể hiện rằng mình là người có tính tình kỳ quặc, thất
thường và những hành động vô cùng khó hiểu. Ví dụ
như có một thời gian Yossarian không hề mặc gì trên
người ngoại trừ đôi giày mô ca. Dẫu có xuất hiện trong
buổi lễ trao thưởng huân chương của chính mình thì
Yossarian vẫn trần truồng một cách cố chấp. Và sự khôi
hài diễn ra khi một sỹ quan cởi trần, chỉ mặc độc chiếc
quần đùi cùng đôi ủng, đứng trong hàng ngũ sỹ quan
danh dự đang đợi nhận huy chương. Cơn thịnh nộ của vị
tướng và các sỹ quan chỉ huy cũng không làm Yossarian
thay đổi suy nghĩ của mình chút nào. Đó là vì anh ta đã
chứng kiến Snowden chết một cách từ từ, đầy đau đớn
và tuyệt vọng ngay trong vòng tay mình. Máu của người
đồng đội thân thiết bắn lên toàn bộ quân phục của anh và
điều đó khiến cho Yossarian trở nên ghê sợ mọi thứ đồ
khoác lên người bởi vì nó khiến anh nhớ lại ký ức đau
thương và đáng sợ đó. Ngoài ra, Yossarian còn bị ám ảnh
nghiêm trọng bởi cái chết của một binh lính có tên là
Mudd, người ở chung lều với anh. Người này có tên
nhưng chẳng mấy ai nhớ đến cả, tác giả thường xuyên
nhắc đến anh ta bằng cụm từ “cái xác trong lều của
Yossarian”. Thật ra trong lều của Yossarian chẳng có cái
xác nào. Mudd chỉ kịp để lại hành lý trước khi phải tham
chiến và hy sinh ngay sau đó. Anh ta còn chưa kịp ký tên
mình vào danh sách giao nhận quân cho nên đơn vị
không thể gửi giấy báo tử về nhà được. Một con người rõ
ràng đã chết nhưng trên giấy tờ thì vẫn đang trên đường
đến nhận đơn vị mới. Ngoài Yossarian, không một ai nhớ
đến anh ta ngoài người thân ở quê nhà tuyệt vọng gửi
những lá thư đến đơn vị để liên lạc tìm người.
Cuộc đối thoại giữa thiếu tá Danby và Yossarian ở
cuối tác phẩm đã gián tiếp nêu lên quan điểm của chính
tác giả. Điều này phần nào giải thích được sức lan tỏa
và ảnh hưởng đối với công chúng sau khi cuốn sách
được xuất bản. Nhiều cuộc biểu tình được diễn ra vì
phản đối chiến tranh Việt Nam và lên án sự độc quyền,
quan liêu của chính quyền, sự tham nhũng và lũng đoạn
thị trường của giai cấp tư bản. Đáng quan ngại hơn nữa
là hai thế lực quyền lực này còn liên kết với nhau nhằm
bòn rút, hút cạn cả nhân dân trong nước lẫn các nước
thuộc địa. Con người, như Yossarian nói, luôn phải sống
trong cảnh lo sợ bị phản bội và không một ai đứng về
phía mình. Điều phi lý khó tìm ra lối thoát ở đây là mỗi
người đều nhận ra rằng cách duy nhất để chống lại bất
công, giả dối, vô trách nhiệm là phải sống sót. Nhưng
còn sống ngày nào thì còn phải chấp nhận hiện thực thối
nát, tăm tối này đến ngày đó. Điều này là “chân lý” mà
Yossarian đã đúc kết được sau khi chứng kiến cái chết
của người đồng đội thân thiết, rằng hóa ra sỹ quan giỏi
nhất là người sỹ quan đã chết. Bởi vì họ không còn phải
giải quyết những thứ phi lý này nữa.
Bên cạnh kiểu nhân vật đánh mất lý tưởng là nhân
vật chấn thương. Năm 1880, Sigmund Freud bắt đầu
nghiên cứu về tâm lý học và phân tâm học. Từ đó trở đi,
xã hội bắt đầu quan tâm hơn đến vấn đề liên quan đến
tâm trí con người và những căn bệnh do tâm lý gây ra.
Từ đó mà ra đời thuật ngữ “chấn thương” (trauma). Một
trong số những chứng tâm lý thường gặp nhất là rối loạn
căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Nguyên nhân của
chứng bệnh này là do bệnh nhân phải chứng kiến hay
trực tiếp trải qua những hành vi bạo lực, gây sốc vượt
ngưỡng chịu đựng như khủng bố, tử vong, bạo lực tình
dục,… Những chấn thương tâm lý này khiến bệnh nhận
bị ám ảnh, mắc kẹt trong sự tổn thương đó suốt chuỗi
ngày còn lại trong cuộc đời nếu không được chữa trị và
can thiệp kịp thời. Căn bệnh này lần đầu tiên ở được
chú ý khi xuất hiện ở các cựu chiến binh vì những trải
nghiệm trực tiếp của họ trong chiến tranh (Viện Y học
ứng dụng Việt Nam, 2016). Vào thời điểm 1961, khi
Joseph Heller viết cuốn tiểu thuyết này, không có nhiều
người biết đến căn bệnh PTSD. Có thể bản thân tác giả
Yossarian còn có một nỗi ám ảnh mà bị những
người xung quanh xem là vô cớ. Anh ta cho rằng tất cả
mọi người đều đang cố giết anh. Điều này thúc đẩy cơn
cuồng loạn trong tâm trí Yossarian khi hơn một lần anh
tỏ ra muốn dùng súng máy để tấn công những kẻ mà
anh xem là có ý đồ xấu với mình dù thật ra họ chẳng hề
làm gì gây hại cả.
“Có quá nhiều mối nguy hiểm mà Yossarian phải
bận tâm. Chẳng hạn như có những người như Hitler,
Mussolini và Tojo, tất cả bọn họ đều muốn giết y.[…]
26
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
Bọn phản bội và dân yêu nước, những kẻ vẫn hành
đêm nào cả. Anh ta luôn ngủ rất say và nằm mơ thấy
mình đang thức. Flume thật ra chỉ là nạn nhân cho trò
đùa ác ý xuất phát từ sự căm ghét tất cả người da trắng
của White Halfoat mà thôi.
quyết người khác mà không qua xét xử, những kẻ hút
máu kẻ khác và bè lũ tay sai, tất cả bọn họ đều nhảy xổ
ra để đòi mạng y. […] Có hàng tỷ tế bào cơ thể tận tụy
oxy hóa suốt ngày đêm như những con thú lầm lỳ làm
công việc phức tạp của chúng là giữ y sống và khỏe
mạnh, nhưng mỗi tế bào đều là một kẻ phản bội kiêm kẻ
thù tiềm năng” (Heller, 2018, 216).
Thế giới trong “Bẫy-22” là một thế giới mà cái
chết trở nên vô nghĩa và là nơi ngự trị của các thế lực
phi nhân tính. Khác với “Giã từ vũ khí” (Hemingway,
2020), nơi câu chuyện được thuật lại bởi một nhân vật
có vị trí quan sát biệt lập, “Bẫy-22” là sự tổng hợp của
nhiều điểm nhìn, nhiều trải nghiệm khác nhau của
những nhân vật bị kết liễu trong cơn đau đớn câm lặng
và tách biệt. Chính vì thế mà xuất hiện sự đan xen,
trùng lặp của những sự kiện, những nhân vật đã tạo
nên cảm giác về một thực tại vô tận. Đó là nơi mà mỗi
con người bị nhét vào một chiếc kén và không thể
vùng thoát ra được.
Một nhân vật thể hiện rõ chứng bệnh PTSD nữa là
Hungry Joe. Gã phi công này luôn bị đặt vào tình thế
nan giải: khi vừa hoàn thành số nhiệm vụ quy định và
sắp sửa về nhà thì cấp trên lại nâng số nhiệm vụ lên và
gã buộc phải tiếp tục chiến đấu. Tình trạng dai dẳng này
khiến Hungry Joe luôn gặp những cơn ác mộng kỳ quái
vào đúng một thời điểm chính xác “tuyệt trần” và bật
thét chói tai làm cho tất cả mọi người trong phi đoàn
tỉnh giấc. Dẫu vậy, gã lại bị ám ảnh bởi tiếng ồn. Gã dễ
dàng bị kích động và nổi điên vì những âm thanh nhỏ
nhất như tiếng rít tẩu thuốc, tiếng hàn, tiếng lật bài
poker hay bình thường nhất là tiếng hàm răng va vào
nhau lập cập vì lạnh. Joseph Heller mô tả Hungry Joe là
“một khối cáu kỉnh di động luôn luôn sục sôi và xơ xác”.
Hãi hùng hơn nữa là tình trạng tồi tệ này chỉ diễn ra trong
lúc Hungry Joe không phải thực hiện nhiệm vụ bay và
một khi “được” nâng số nhiệm vụ lên, gã sẽ quay lại
trạng thái tâm lý bình thường. Rõ ràng là từ sự bài xích,
chán ghét ban đầu, Hungry Joe đã dần thỏa hiệp và bị chi
phối hoàn toàn bởi tính chất phi lý của những quy định.
Nỗi sợ hãi cái chết trong khi làm nhiệm vụ đã trở thành
đối trọng và là liều thuốc chữa bệnh “phát cuồng” của
Hungry Joe. Sự thật đáng sợ và phi lý này chỉ có thể xuất
hiện trong một xã hội đang thoái hóa, biến chất mà thôi.
Qua khảo sát thêm một số tiểu thuyết chiến tranh,
đặc biệt là trong văn học Mỹ, chúng tôi nhận thấy kiểu
nhân vật chấn thương này xuất hiện khá nhiều. Điều này
cho thấy con người đang phải chịu những tổn thương cả
thể xác lẫn tinh thần một cách nghiêm trọng do chính
đồng loại gây ra. Dẫu khoa học có tiến bộ đến chừng
nào thì cũng không thể ngăn cản được bản năng chém
giết và tranh giành nguyên thủy của loài người. Có lẽ từ
khi Prometheus trộm đi mồi lửa rồi vô tình gây ra cái
chết cho người anh em của mình thì nhân loại đã bắt
đầu tiến vào hành trình của tội ác. Nhân gian tràn ngập
đau thương cùng mất mát.
2. Hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22”
thể hiện qua không gian bên trong và ngoài
cuộc chiến
Nguyên nhân cơ bản nhất chi phối toàn bộ cuộc
sống như “địa ngục trần gian” của những con người
trong tác phẩm này chính là “bẫy-22”. Ngay từ cái tên,
tác phẩm đã tạo cho người đọc ấn tượng về một điều gì
đó mưu mẹo, đầy toan tính nhằm dồn mục tiêu của mình
vào tình thế bị thao túng và thúc thủ chịu trói. Qủa vậy,
những điều luật trong “Bẫy-22” đều vô cùng phi lý và
đầy mâu thuẫn đến nực cười. Nhưng đây là cái cười ra
nước mắt vì nó không phải trò đùa mà là thứ quyết định
mạng sống của hàng trăm người. Hiểu một cách đơn
giản thì cái bẫy này có nguyên lý vận hành như sau:
Thông qua phân tích hai kiểu nhân vật tiêu biểu
trong tác phẩm “Bẫy-22”, chúng tôi nhận thấy rằng,
bằng cảm quan phi lý của mình, Joseph Heller muốn
khắc họa nên một thế giới mà mọi con người đều bị ám
ảnh về nguy cơ tồn tại. Mọi nạn nhân đều là thủ phạm.
Và ngược lại, chính các thủ phạm cũng là nạn nhân.
Yossarian có nhiệm vụ phải thả gần hai ngàn tấn bom
xuống vùng chiếm đóng của phe địch trong khi vẫn phải
cố giữ cho bản thân được sống sót để lại thực hiện
nhiệm vụ đó một lần nữa. Hay trường hợp của Flume,
người cho rằng mình đã thức trắng mỗi đêm vì sợ rằng
người bạn sống cùng lều, White Halfoat, sẽ ám sát mình
trong lúc ngủ. Nhưng thực ra Flume không hề thức một
27
Thái Anh Thư
được hết dụng tâm của tác giả. “Trap” là một vật thể
hữu hình, có thể chạm vào được trong khi “catch” lại là
khái niệm chỉ những thứ vô hình, điều mà con người chỉ
có thể tự mình hình dung chứ không thể cầm nắm hay
bày bố bằng những tác động vật lý được. Và thứ đang
bao trùm lên bầu không khí trong tác phẩm cũng như
chi phối cuộc sống, hành động cũng như tâm lý của mọi
nhân vật là một thứ luật lệ vô hình, thậm chí nó còn
không được ghi rõ ra trong quân quy nữa. “Catch-22”
chỉ là cái tên ngẫu nhiên mà các binh sỹ đặt cho nó thôi.
Sau khi tác phẩm này được xuất bản, “catch-22” đã trở
thành một khái niệm mới, được bổ sung vào kho từ
vựng tiếng Anh. Với ý nghĩa châm biếm hài hước,
“catch-22” thường được dùng để chỉ tình thế lưỡng sự
(double bind), trong đó, hai sự việc có bản chất đối
nghịch cùng xuất hiện một lúc, hay còn gọi là tiến thoái
lưỡng nan, và con người một khi mắc kẹt trong tình
huống này thì sẽ không bao giờ có thể thoát ra được.
Cũng thật trùng hợp khi số 2 cũng được cho là con số
đại diện cho hiệu ứng déjà vu, thứ được lặp lại và nhắc
lại rất nhiều lần trong sách.
Không dừng lại ở đó, “bẫy-22” còn kìm kẹp các binh
sỹ trong phi đoàn của Yossarian bằng một quy định khác:
Cái bẫy này không chỉ hành hạ các binh sỹ mà còn
là thứ công cụ quyền lực để các vị tướng mưu lợi cá
nhân. Đại tá Cathcart thích tăng số lượng và nhiệm vụ
và luôn xung phong đưa phi đoàn của mình đến những
trận chiến ác liệt nhất là vì ông ta muốn có thật nhiều
thành tích ấn tượng trong lòng cấp trên. Ai lại không
muốn thể hiện mình là một cấp dưới mẫn cán và cần lao
cơ chứ? Dù sao đại tá Cathcart cũng không phải là
người trực tiếp ra trận nên ông ta không có băn khoăn
hay lý do gì để ngừng việc đẩy binh sỹ của mình vào
chỗ nguy hiểm cả. Chính sự hám danh này là điều kiện
thúc đẩy chính quyền/ bộ máy quản lý, đại diện là đại tá
Cathcart, bắt tay, thông đồng với các nhà tư bản, đại
diện là trung úy Milo. Đây là một cuộc trao đổi mà đôi
bên cùng có lợi. Chính quyền cần lợi nhuận mà giới tư
bản trả cho họ còn các nhà tư bản lại muốn được cấp
quyền hành để việc làm ăn trở nên thuận tiện hơn. Và
các binh sỹ, đại diện cho người dân bình thường, là
thành phần xã hội chịu thiệt thòi trực tiếp trong cuộc đổi
chác này. Milo chia sẻ những gì anh ta có được trong
các chuyến hàng để đổi lấy sự đồng ý của Catchcart về
việc sử dụng máy bay công vụ nhằm vận chuyển hàng
hóa. Cathcart có thêm tiền và thành tích để nịnh bợ,
đánh bóng thành tích báo cáo với cấp trên. Chính sự
quan liêu, nhân nhượng vô giới hạn này đã dẫn đến việc
Từ hai sơ đồ trên, ta có thể thấy việc các binh sỹ bị
mắc kẹt trong một vòng lặp vô hạn của việc phải hoàn
thành nhiệm vụ bay. Mặc dù trên lý thuyết thì chỉ cần
xong việc là có thể trở về Mỹ nhưng họ sẽ không bao
giờ làm được điều đó. Bởi vì hễ có binh sỹ vừa hoàn
thành mục tiêu đề ra là đại tá Cathcart ngay lập tức nâng
mức quy định lên thêm 5 nhiệm vụ nữa. Và thực tế thì
tác phẩm này bắt đầu từ số nhiệm vụ khởi điểm là 25 và
đến lúc Yossarian bỏ trốn, đại tá Cathcart đã đề ra con
số 80 cho các binh sỹ của mình rồi. Đây đúng là một
tình thế tiến thoái lưỡng nan được xây dựng vô cùng
hoàn hảo. Điều luật nghe có vẻ hợp lý này kỳ thực lại là
biểu hiện của sự thiếu dân chủ và vi phạm nhân quyền
nghiêm trọng. Tuy nhiên, “bẫy-22” lại được xếp đặt vô
cùng logic khiến cho không ai có thể phản bác hay
chống lại được. Đây chính là cái tinh túy trong xây dựng
tình huống của Joseph Heller, mô tả xã hội hỗn loạn một
cách có trật tự, những điều phi lý được hợp lý hóa để
biến thành điều hiển nhiên, dễ dàng dung hòa vào cuộc
sống và không thể chối cãi.
“Catch-22” là một tiêu đề rất khó dịch sang các
ngôn ngữ khác. Bản dịch tiếng Việt dùng từ “bẫy” (trap)
tuy tương đồng về mặt ý nghĩa nhưng lại chưa truyền tải
28
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
Milo ngang nhiên ký kết làm ăn với phe địch, cõng rắn
cũng phải có một số lượng nhiệm vụ bay nhất định cho
nên ông Daneeka đã nhờ Yossarian viết tên của mình
vào bất cứ một chuyến bay nào đó để vừa không phải ra
trận mà vẫn hoàn thành chỉ tiêu. Không may cho ông ta,
chuyến bay mà ông ghi danh đã gặp tấn công và toàn
đội bay đều hy sinh. Và thế là bác sỹ Daneeka, một
người đang sống sờ sờ bị “phán tội” chết. Mọi người
xung quanh đều nhìn thấy và trò chuyện với ông ta
nhưng trên giấy tờ thì ông ta đã hy sinh cho nên mọi đãi
ngộ và lương bổng đều bị cắt. Thậm chí hai phụ tá còn
đuổi ông ta ra khỏi lều mặc cho sự nài nỉ thống thiết.
Trừ Yossarian và Milo thỉnh thoảng chia sẻ chút đồ
dùng thì không một ai trong số những người quen biết
quan tâm hay tỏ thái độ muốn hỗ trợ bác sỹ Daneeka cả.
Đáng sợ hơn cả là vợ của bác sỹ ở quê nhà khi nhận
được giấy báo tử đã suy sụp và khóc rất nhiều nhưng
khi nhận được số tiền hỗ trợ kếch sù thì bà ta quay đầu
làm ngơ với những lá thư giải thích và đề nghị giúp đỡ
đến từ tiền tuyến của chồng mình. Bà Daneeka đã đem
theo số tiền nhận được từ các tổ chức và cùng con cái
chuyển đến bang khác sinh sống mà không để lại bất kỳ
thông tin nào để liên lạc. Thế là bác sỹ Daneeka phải
“sống mòn” theo đúng nghĩa đen và bất lực trước việc
không được công nhận về sự tồn tại. Đây chính là hình
ảnh đối lập với Mudd, “cái xác trong lều của
Yossarian”, người thật sự đã chết nhưng trên giấy tờ thì
vẫn đang trên đường đến nhận đơn vị mới.
cắn gà nhà khi để quân đội Đức đưa phi cơ ném bom
liên đoàn trên đảo Pianosa. Cuộc tấn công này đã gây ra
rất nhiều thương vong và thiệt hại về tài sản. Tuy nhiên,
điều gây ngạc nhiên và phi lý nhất là khi Milo công khai
lợi nhuận thu được trong lần hợp tác trên và bày tỏ
mong muốn bồi thường về tài sản thì chính phủ và phần
đông dân chúng lại sẵn sàng tha thứ, thậm chí còn khen
ngợi và biết ơn anh ta.
Trong cảm quan phi lý của Heller, xã hội đã biến
chất đến cùng cực khi ông dựng lên cảnh Milo được
người dân Malta chào đón Milo như một vị thị trưởng
đáng kính, một anh hùng dân tộc đích thực vậy. Khung
cảnh khoa trương ấy trải dài từ sân bay cho đến trung
tâm thành phố. Mọi tầng lớp, mọi giới tính, mọi lứa tuổi
đều hân hoan, háo hức và xúc động khi được đứng trong
hàng ngũ đón tiếp Milo. Thậm chí người ta còn mang cả
những tấm áp phích in hình Milo và đồng thanh hô to
tên của gã suốt đoạn đường dài. Sự khoa trương này
tình cờ dẫn chúng tôi đến với “Số đỏ” của Vũ Trọng
Phụng, cây bút trào phúng xuất sắc của Việt Nam.
Trong tác phẩm này, Xuân Tóc Đỏ cũng được công
chúng ngưỡng mộ và chào đón y hệt Milo. Qủa nhiên
những con người xuất sắc luôn bằng một thứ linh cảm
kỳ diệu nào đó mà có thể tương đồng với nhau trong suy
nghĩ và hành động. Không một sự châm biếm, đả kích
mạnh mẽ nào bằng cảnh đám đông tung hô, thánh thần
hóa một kẻ ích kỷ, lươn lẹo, xấu xa cả. Đúng là những
hoàn cảnh phi lý luôn sản sinh ra những kẻ phi lý. Và
đến lượt mình, những kẻ phi lý lại quay trở lại biến cuộc
sống thành những hoàn cảnh phi lý có mặt ở khắp mọi
nơi trên thế giới, bất kể địa điểm, bất kể thời đại.
Một đặc điểm của “Bẫy-22” là việc có rất nhiều
khoảng không gian, thời gian bị lặp đi lặp lại. Điều này
tạo ra hiệu ứng dejà-vu, một hiện tượng tâm lý mô tả
việc con người cảm thấy một sự kiện, nhân vật hay nơi
chốn nào đó rất quen thuộc tới từng chi tiết mặc dù rõ
ràng đó chỉ là lần đầu tiên tiếp xúc với đối tượng đó.
Đây là cách xây dựng không gian phi tâm, phi liên kết,
đẩy người đọc và nhân vật lọt vào rất nhiều mê cung mà
tác giả tạo nên. Quá trình chiếm đóng Rome là một mê
cung. Căn nhà bị chiếm dụng làm nhà thổ cho lính Mỹ ở
Rome là một mê cung. Cái chết của Snowden là một mê
cung. Khoang lái và lối thoát hiểm trong chiếc máy bay
chiến đấu mà Yossarian thường sử dụng là một mê
cung. Cách Milo vận hành và kiếm lời từ việc kinh
doanh là một mê cung. Thậm chí, hình ảnh “binh sỹ
trắng xóa” mà không ai xác định được danh tính hay
tình trạng tồn tại của anh ta cũng là một mê cung nốt.
Thứ cấu trúc rườm rà với những cảnh lặp đi lặp lại trong
“Bẫy-22” khiến người đọc cảm thấy tù túng và nhận
Có lẽ khi viết “The Great Gatsby”, F.Fitzgerald đã
có dự cảm về những hệ quả xấu của “thời đại nhạc
Jazz” khi cả xã hội đều chạy theo những phù phiếm, hư
vinh và bóng bẩy bề ngoài mà bỏ rơi nhân tính và lợi
ích tập thể. Joseph Heller phần nào đã viết tiếp về thứ
mà Fitzgerald còn bỏ ngỏ. Xã hội này sẽ không thay đổi
vì cái chết của một người, đám đông thích hưởng thụ
chỉ thay đổi một địa điểm thác loạn và chạy theo đồng
tiền vương vãi của những kẻ giàu có khác mà thôi.
Không dừng lại ở đó, cái bẫy-22 này còn gián tiếp
gây nên sự rạn nứt trong các mối quan hệ giữa người
với người, ví dụ tiêu biểu là trường hợp của bác sỹ
Daneeka. Bởi vì đại tá Cathcart quy định về việc bác sỹ
29
Thái Anh Thư
thấy rằng, dường như chính bản thân mình cũng đang
mắc kẹt trong một chiếc bẫy, một mê cung của từ ngữ.
Cảm giác sợ hãi và ngột ngạt ấy buộc người đọc phải cố
gắng vượt thoát ra khỏi mớ bòng bong này để khám phá
ra bí mật nằm ở trung tâm của mê cung.
Họ ập vào căn phòng của Aafry và Yossarian chỉ để bắt
giữ Yossarian về việc anh đến thành phố này mà không
có giấy thông hành được cấp bởi cấp trên trực tiếp của
mình. Hóa ra đúng như lời Aafry nói, “Cô ta chỉ là một
con ở. Tôi nghĩ họ sẽ khó lòng xé to một vụ việc chỉ dính
dáng tới một con ở người Ý trong khi ngày nào chả có
hàng đống mang sống đang mất đi. Có phải không?”
(Heller, 2018, 528). Xã hội này đã suy đồi đến cùng
cực, mạng sống con người đã bị rẻ rúng đến tột cùng.
Đây chính là sự tiến bộ và văn minh mà loài người vẫn
hằng tự hào khi nói về thời đại mình đang sống sao?
Còn gì phi lý hơn khi khoa học công nghệ càng tiên tiến
và hiện đại thì nhân tính càng trở nên mờ nhạt và không
còn quan trọng nữa.
Chương 39, khi Yossarian bước đi trên “con phố tối
tăm như hầm mộ”, anh ta đã nhìn thấy những con người
vô tội đang phải vật lộn để sống sót. Sự bất lực và đau
khổ mà họ phải chịu đựng đều bị đồng loại của mình
xem là vô nghĩa và vô ích. Hình ảnh một con chó bị
đánh đập trên đường khiến Yossarian nhớ đến giấc mơ
của Raskolnikov, một nhân vật trong “Tội ác và trừng
phạt” (Dostoevsky, 1983) của Dostoyevsky. Điều này
cũng gián tiếp gợi nhớ đến con ngựa già trong “Anh em
nhà Karamazov” (Dostoevsky, 2013), khi nhân vật Ivan
tự hỏi rằng, nếu những đau khổ mà lũ trẻ con phải chịu
là cái giá phải trả để mua được sự thật thì sự thật đó
không xứng đáng. Tương tự với Dostoyevsky, Heller sử
dụng hình ảnh những đứa trẻ khốn khổ như một biểu
tượng của sự chịu đựng vô nghĩa, những thách thức phi
lý mà Chúa đặt ra cho loài người. Nếu như trong thần
thoại Hy Lạp, mê cung nhốt con quái vật Minotaur nằm
dưới lòng đất thì trong “Bẫy-22”, Joseph Heller đã đưa
cái địa ngục này lên trên mặt đất, ngay trong chính
Rome, cái “thành phố vĩnh cửu” mà người ta luôn cho là
thơ mộng và lộng lẫy này.
Cái chết của Snowden được nhắc đến ở những
chương đầu tiên và hiện diện xuyên suốt tác phẩm. Tuy
nhiên, đến chương 41, gần kết thúc tác phẩm, tác giả
mới để mô tả một cách đầy đủ, mạch lạc chứ không phải
là những hồi ức đứt quãng, các cuộc đối thoại không
đầu không đuôi của nhân vật nữa. Snowden chết dưới
cái nắng gay gắt trên bầu trời mùa hạ nhưng những câu
anh ta trăn trối chỉ là “tôi lạnh”. Khi Yossarian nhìn
thấy ruột của Snowden bị bung ra, nằm ngổn ngang trên
sàn máy bay, anh ta chợt ngộ ra cái gọi là “bí mật của
Snowden”. Ở thời cổ đại, con người dự đoán vận mệnh
bằng việc xem xét nội tạng của những con thú bị giết
thịt thì hình ảnh trong bụng Snowden làm Yossarian
nhận ra rằng con người chỉ là vật chất. Ai rồi cũng sẽ
chết và một khi hồn đã chết thì thân xác chỉ là rác rưởi.
Nếu xem Snowden là hình ảnh chung cho những nạn
nhân thì việc Yossarian thất bại trong nỗ lực cứu sống
đồng đội chính là kết thúc cho motif của sự bất lực. Từ
đây, Yossarian nhận ra một khi còn sống trong quân đội
thì dù có dùng bao nhiêu trò lươn lẹo đi chăng nữa, anh
ta cũng không thể bảo vệ mạng sống của mình được.
Joseph Heller còn phơi bày những mặt tối trong
quan niệm, nhận tri của mỗi người về phân chia giai
cấp, phân biệt chủng tộc,… Những người lính da đen bị
nhét vào một khu chữa bệnh riêng, những quý tộc lâu
đời khinh bỉ tầng lớp “nhà giàu mới nổi”, những người
dân khuyết thiếu lòng trung thành với tổ quốc và sẵn
sàng reo hò chào đón bất cứ quân đội nước nào chiếm
đóng thành phố của họ nhằm đổi lấy sự bảo toàn về tính
mạng và tài sản,… Tất cả tạo nên một xã hội hỗn loạn,
rời rạc, khủng khiếp, không đáng tin cậy,… Đỉnh điểm
của sự tồi tệ và tàn nhẫn trong việc đối xử giữa người
với người là hành động giết người của Aafry. Hắn ta
cưỡng hiếp và giết chết một cô hầu gái người Ý thay vì
bỏ tiền ra mua vui với những cô gái mại dâm xuất hiện
nhan nhản khắp Rome bởi vì “cả đời tôi không bao giờ
phải trả tiền để làm chuyện đó” (Heller, 2018, 528). Và
sau khi xong chuyện, vì không muốn vào tù mà Aafry
tàn nhẫn giết chết một người vô tội. Nhưng không dừng
lại ở đó, điều khiến Yossarian và độc giả sững sờ hơn là
cảnh sát Ý không hề bận tâm đến cái chết thảm khốc ấy.
3. Kết luận
Hơn sáu thế kỷ trước, Dante, một nhà thơ lớn giai
đoạn hậu kỳ Trung cổ, từng trăn trở với câu hỏi đại ý
rằng làm sao có thể mô tả được sự thống khổ của con
người nơi trần gian bởi vì rõ ràng là có những thứ trí óc
mường tượng ra được nhưng ngôn ngữ lại bất lực trong
việc cố gắng gọi tên nó. Câu hỏi ấy luôn khiến các nhà
văn bận tâm khi đặt bút viết về những khía cạnh khủng
khiếp của sự hiện tồn. Về phần mình, Dante đã dùng
trường ca “Thần khúc” (Alighieri, 2010) để tự trả lời
30
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31
cho câu hỏi của ông. Tuy nhiên, nếu còn sống đến thế
những nhân vật đi từ sự điên rồ một cách khó nhận biết
cho đến cấp độ khiến người đọc phải kinh hoàng,
Joseph Heller đã giúp chúng ta nhận ra rằng, đây là một
thế giới sôi sục trong hỗn loạn mà ở đó, mọi thứ đều
nằm trong một trật tự thích hợp. Cuốn tiểu thuyết này là
những nỗ lực của tác giả nhằm phản ánh bầu không khí
căng thẳng, hoang đường, phi lý bằng một hình thức văn
học mà A.Artaud gọi là “nhịp điệu thô lỗ và động kinh
của thời đại chúng ta” (Artaud, 1994, 75).
kỷ XX, Dante có lẽ sẽ ngạc nhiên vô cùng khi đọc
“Bẫy-22” của Joseph Heller bởi vì tác giả hậu bối này
dùng tác phẩm của mình để tổ chức cho người đọc một
cuộc tham quan luyện ngục vô hình. Không có những
vòng tròn tỉ mỉ, không có quy luật về phân chia tù
nhân, không có chuyện mặt trời phân hủy và hủy diệt
Trái Đất và cũng không hề xuất hiện phép lạ đến từ
những lời cầu nguyện chân thành, tha thiết nhất. Địa
ngục mà Joseph Heller nhắc đến là hiện thân của sự vô
nghĩa vô tận, nơi bất hạnh bị vùi dập trong sự bạo tàn,
nơi mà kẻ đồi bại được đứng ngang hàng với những vị
đạo đức nhất.
Tài liệu tham khảo
Alighieri, D. (2010). Thần khúc. Khoa học Xã hội.
Artaud, A. (1994). The Theater and Its Double. Grove
Press.
Cummings, E. E. (2002). The Enormous Room (Revised
ed. edition). Dover Publications.
Dostoevsky, F. M. (1983). Tội ác và Trừng phạt. Văn học.
Dostoevsky, F. M. (2013). Anh em nhà Karamazov. Văn học.
Early, G., Carpio, G. R., & Sollors, W. (2010). Black
Humor: Reflections on an American Tradition.
Bulletin of the American Academy of Arts and
Sciences, 4, 29-41.
Những nhân vật phiêu lưu trong các tiểu thuyết kỳ
ảo truyền thống luôn kết thúc cuộc du hí của mình bằng
việc trở lại thế giới thực và vực dậy tinh thần, củng cố
niềm tin vào cuộc sống hiện tại. Còn hỏa ngục của
Heller không hề có việc nhân vật vượt thoát ra ngoài bởi
lẽ đây chính là cuộc sống thật sự chứ không phải một
cuộc phiêu lưu huyền ảo. Chuyến đi này không có
Virgil dẫn đường, không xuất hiện Luyện ngục hay
Thiên đường và dĩ nhiên càng không có nàng Beatrice
nào cầu nguyện Chúa ban phước lành như một sự cứu
rỗi cả. Thay vào đó là thế giới bị chi phối bởi hai thứ:
logic của bất tuân luân lý và những hành động xấu xa
hòng chao đảo vũ trụ.
Heller, J. (2018). Bẫy 22. Hội Nhà Văn.
Hemingway, E. (2020). Giã từ vũ khí. Văn học.
Nguyễn, V. D. (2002). Văn học phi lý. Văn hóa thông tin.
Ostrovsky, N. A. (2018). Thép đã tôi thế đấy. Văn học.
Sartre, J. P. (2008). Buồn Nôn. Văn hóa Sài Gòn.
Viện Y học ứng dụng Việt Nam. (2016). Tìm hiểu về rối
cungdung.vn/news-20161029121119279.htm
Có thể nói, “Bẫy-22” là lời đáp của Joseph Heller
đến Dante, rằng ngôn ngữ là thứ vũ khí có sức mạnh lớn
vô cùng cho nên trên đời này không có gì là không thể
gọi tên hay không thể mô tả cả. Thông qua việc mô tả
THE ABSURDITY OF HUMAN AND REALITY
IN THE NOVEL “CATCH-22” OF JOSEPH HELLER
Thai Anh Thu
Hue University of Education
Abstract: “Catch-22” is considered one of the American writer Joseph Heller’s greatest novels. It was published in 1961. Joseph
Heller combined the irrational sensations, the mocking and satirical tones to describe a collapsed and degenerate world in the
postmodern condition. Through the living background of an American military unit of World War II, the author reflected some absurd
problems such as: the distortion of justice, the influence of greed, and the issue of personal integrity. This article focuses on analyzing
the absurdity of character imagery and reality that is automatically accepted and followed in postmodern condition. As a result,
readers can gain a deeper insight into the novel and seek empathy in the perception about the absurd, which is becoming normal in
recently.
Key words: The Absurd; Literature of Absurd; Paradoxical situations; The mocking tone; The satirical tone; War Novel.
31
Bạn đang xem tài liệu "Con người và hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22” của Joseph Heller", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
con_nguoi_va_hien_thuc_phi_ly_trong_tieu_thuyet_bay_22_cua_j.pdf

