Con người và hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22” của Joseph Heller

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
CON NGƯỜI VÀ HIỆN THỰC PHI LÝ TRONG TIỂU THUYẾT “BẪY-22”  
CỦA JOSEPH HELLER  
Thái Anh Thư  
Nhận bài:  
15 – 04 – 2020  
Chấp nhận đăng:  
10 – 06 – 2020  
Tó m tắt: “Bẫy-22” là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn Mỹ Joseph Heller xuất bản năm 1961.  
Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan phi lý và giọng văn giễu nhại, tá c giả đã phản ánh được  
sự biến chất, thoá i hó a của xã hội hiện đại thô ng qua bối cảnh sinh hoạt của một đơn vị quân đội Mỹ  
trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Bài viết tập trung vào phâ n tí ch cảm quan về phi lý của Joseph Heller  
qua những hình tượng nhâ n vật và hiện thực tàn khốc, phi logic nhưng mặc nhiên được chấp nhận và  
tuâ n thủ. Nhờ đó mà độc giả có thể hiểu sâu hơn về tá c phẩm và tì m kiếm sự đồng cảm trong nhận tri về  
sự tồn tại của cái phi lý đang ngày càng trở nên bình thường hó a trong xã hội hậu hiện đại.  
Từ khóa: cảm quan phi lý; Văn học phi lý; tình huống nghịch lý; giọng điệu giễu nhại; tiểu thuyết chiến  
tranh.  
Naked and the Death) của Norman Mailer, “Từ hiện tại  
1. Con người phi lý trong tiểu thuyết với kiểu nhâ n  
vật đánh mất lý tưởng và nhâ n vật chấn thương  
đến vô tận” (From here to eternity) của James Jones, và  
“Lò sát sinh số 5” (Slaughterhouse of Five) của Kurt  
Vonnergut, “Bẫy-22” (Catch-22) được coi là bộ tứ tiểu  
thuyết thành công nhất và chân thực nhất của văn học  
Mỹ khi viết về Thế chiến thứ Hai.  
Trong cuốn khảo luận “Văn học phi lý” (Nguyễn,  
2002) của mình, PGS.TS Nguyễn Văn Dân đã trình bày  
rất rõ quá trình phát triển của quan niệm về cái phi lý  
trong triết học cổ đại đến triết học hiện sinh và các hình  
thái văn học. Đó là một trong những cơ sở để phân tích,  
nhận định cảm quan phi lý của tác giả Joseph Heller  
trong tác phẩm “Bẫy-22”.  
“Bẫy-22” lấy bối cảnh là hòn đảo Pianosa, một hòn  
đảo nằm ngoài khơi xa của vùng biển Italia, nơi đóng  
quân của một đơn vị không quân Mỹ. Vì thế cho nên hầu  
hết bọn họ là những quân nhân hoặc nhân viên phục vụ  
trong quân đội. Tác giả đã nhồi nhét rất nhiều nhân vật  
vào hơn năm trăm trang tiểu thuyết cùng những tính cách,  
diện mạo khác nhau. Có nhân vật chỉ xuất hiện một cách  
chớp nhoáng hay thậm chí là qua lời kể của những người  
khác chứ chưa hề có một sự góp mặt trực tiếp nào. Tuy  
vậy, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng  
có thể chia những nhân vật này theo hai đặc điểm cơ bản  
trong suy nghĩ và hành động của họ như sau: nhân vật  
đánh mất lý tưởng và nhân vật chấn thương.  
Joseph Heller là một nhà văn Mỹ từng đảm nhiệm  
nhiệm vụ phi công lái máy bay B-52 trong quân đội Mỹ  
trên chiến trường đối đầu với Ý suốt Thế chiến thứ Hai.  
Khi đó, ông chỉ mới 19 tuổi. Hai năm sau, ông được  
điều đến phục vụ ở chiến trường Ý. Đây là nơi mà ông  
đã thực hiện sáu mươi nhiệm vụ bay với cương vị là phi  
công cắt bom của máy bay B-25. Đây cũng là bối cảnh  
thời gian và không gian chính của tác phẩm “Bẫy-22”.  
Chính những năm tháng sống giữa bom đạn, phải đối  
mặt với cái chết luôn chực chờ và những trải nghiệm về  
sự bất công đã giúp ông nhận rõ sự phi lý, tàn nhẫn của  
chiến tranh. Cùng với “Trần trụi và Chết chóc” (The  
Joseph Heller đã xây dựng một hệ thống nhân vật ở  
đủ các ngành nghề tiêu biểu của xã hội. Điểm độc đáo  
trong lối viết của ông là những nhân vật này mang suy  
nghĩ và hành động vô cùng mâu thuẫn, đi ngược lại  
hoàn toàn với ấn tượng và trách nhiệm mà xã hội luôn  
gắn cho công việc của họ.  
*
Tác giả liên hệ  
Thái Anh Thư  
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế  
22 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
Còn gì phi lý hơn việc cuốn sách do chính một cựu  
binh viết ra lại không hề có bóng dáng của người anh  
hùng cứu quốc hay sự hy sinh cho mục đích cao cả là  
“hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự  
nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”(Ostrovsky,  
2018, 215) nào. Ở đây chỉ có những người lính mệt mỏi,  
nản lòng thoái chí, bất lực trước những quy tắc và luật  
lệ vừa vô lý vừa tàn nhẫn. Cả nhân vật chính, Yossarian  
lẫn các binh lính trong phi đoàn của anh ta đều cố tìm  
cách giả bệnh để không phải ra chiến trường. Người bạn  
Hungry Joe của Yossarian thậm chí còn tập hợp các  
bệnh hiểm nghèo mà anh ta biết thành một danh sách  
xếp theo bảng chữ cái và bọn họ chỉ cần chọn lấy một  
căn bệnh nào đó phù hợp với triệu chứng mà bản thân  
có thể giả vờ được rồi an tâm nằm trong bệnh viện. Và  
khi không thể ở lều quân y lâu hơn được nữa, Yossarian  
bị buộc phải quay về với nhiệm vụ chiến đấu của mình.  
Nhưng điều này vẫn không thể ngăn cản được khát khao  
trốn tránh chiến trường của anh ta. Yossarian hết kiếm  
cớ về sự hỏng hóc của các thiết bị trong phi cơ lại đến  
đổ lỗi cho thời tiết quá xấu để bay. Đối với Yossarian,  
việc đánh bại quân địch hay hỗ trợ những người lính bộ  
binh ở phe mình không còn quan trọng bằng việc giữ  
cho bản thân còn sống để trở về. Yossarian nhận ra rằng  
chính anh ta mới là người đang gặp nguy hiểm chứ  
không phải nước Mỹ. Và việc chiến đấu mỗi ngày  
không phải để bảo vệ tổ quốc mà là để bảo vệ tính mạng  
của chính mình.  
Vì vậy mà Yossarian, kẻ bận tâm về cái chết nhất lại trở  
nên điên rồ trong mắt người khác.  
“Anh muốn thấy tổ quốc mình thua trận sao?”,  
thiếu tá Major hỏi  
“Chúng ta sẽ không thua đâu. Chúng ta có nhiều  
quân hơn, nhiều tiền hơn, nhiều của cải hơn. Có mười  
triệu người lính có thể thay thế tôi. Có nhiều kẻ đang thí  
mạng trong khi rất nhiều kẻ khác đang hái ra tiền và  
chơi bời thỏa thích. Cứ mặc cho thằng khác đi chết”  
“Nhưng nếu phe ta ai cũng nghĩ như vậy thì sao?”  
“Thì tôi chắc chắn sẽ là thằng đại ngu khi nghĩ  
khác đi, phải không?” (Heller, 2018, 131)  
Việc Yossarian tự đặt mục tiêu là còn sống lên trên  
nhiệm vụ mà đơn vị giao phó chính là hành động giễu  
nhại “trắng trợn” của Joseph Heller đối với chủ nghĩa  
anh hùng truyền thống. Người ta gọi Yossarian là kẻ  
điên vì anh ta không muốn thực hiện những nhiệm vụ  
nguy hiểm, điều mà theo Yossarian là chỉ những kẻ mất  
trí mới làm. Chính sự mâu thuẫn này thể hiện thế giới  
trong cảm quan phi lý của Joseph Heller là nơi mà khi  
một con người nhận thức được những điều trái với logic  
thông thường và cố gằng vùng thoát ra thì anh ta lại trở  
thành kẻ lạc loài, bị đồng loại gạt ra bên lề. Việc  
Yossarian nhận thức được cái phi lý, thứ logic hoang  
đường đang chi phối xã hội không phải dựa trên lập  
trường của chủ nghĩa nhân văn trong con người anh.  
Anh ta không có hoài bão hay gánh nặng thương sinh  
nào cả. Yossarian chỉ đơn giản muốn sống mà thôi. Đây  
chính là kiểu nhân vật phản anh hùng (anti-hero), một  
khái niệm bắt nguồn từ truyện tranh, dùng để mô tả  
những nhân vật vừa nửa thiện nửa ác. Yossarian tồn tại  
một cách yếu ớt khi thể hiện sự trốn tránh ngay từ đầu  
tác phẩm. Đối với anh ta, chiến tranh chỉ là một chiếc  
mặt nạ anh hùng mà anh ta có thể lấy làm hãnh diện để  
thỏa mãn tính hư vinh của mình. Đến đây cần phải nói  
thêm rằng, kiểu nhập vai hay mạo danh là một loại  
motif ưa thích của các tiểu thuyết gia hậu hiện đại như  
John Barth hay Thomas Pynchon. Chi tiết Yossarian ký  
tên những nhân vật nổi tiếng như Washington Irving  
hay John Milton khi duyệt những bức thư gửi về nhà  
của toán lính trơn đã nói lên điều đó. Không đơn giản là  
một trò chơi giết thời gian, Yossarian đang cố gắng đi  
tìm chính mình và rồi trở thành kẻ cướp đoạt danh tính.  
Sau đó, anh ta dần biến tướng thành việc mượn tên các  
nhân vật thần thoại và hư cấu như Tarzan, (siêu anh  
Lý giải cho nghịch lý này, Dunbar, người lính pháo  
binh nằm bên cạnh giường bệnh của Yossarian cho rằng  
nguyên nhân là mọi người thiếu đi lòng yêu nước. Mọi  
người đều có một điều gì đó khiến bản thân trân trọng  
vô cùng và muốn chiến đấu để bảo vệ nó. Đôi khi  
những vật ấy chỉ nhỏ bé và hết sức bình thường như một  
mẩu xúc xích, một đội bóng chày mình hâm mộ hay  
thậm chí chỉ là chiếc bánh táo mẹ làm. Những thứ ấy  
gắn liền với tổ quốc, với quê hương. Còn người lính  
trong doanh trại của Yossarian lại không hề có một sự  
lưu luyến hay động lực nào thúc đẩy tình yêu với mảnh  
đất mà họ đang bán mạng để bảo vệ cả. Đối với họ, bên  
ngoài bệnh viện là không gian của sự phi lý cùng cực,  
nơi những người lính phát điên rồi được trao thưởng mề  
đay. Khắp nơi trên thế giới, các gã trai trẻ ở cả hai bên  
chiến tuyến đang ngã xuống cho cái mà người ta bảo họ  
là tổ quốc và dường như chẳng ai thèm bận tâm, ít nhất  
là chẳng ai trong số những gã trai đang ngã xuống ấy.  
23  
Thái Anh Thư  
hùng) Flash Gordon, Bill Shakespeare, Cain, Ulysses,…  
Hài hước hơn, khi nằm ở bệnh viện điều trị cái chân bị  
thương do vỡ động mạch đùi, Yossarian được Dunbar  
chỉ cho cách giả mạo danh tính của người khác để  
hưởng đặc quyền. Anh chỉ cần mượn tên một người  
khác có quân hàm cao hơn là có thể sai khiến cấp dưới  
nhường ra một chiếc giường cho mình nghỉ ngơi. Chỉ  
cần leo lên chiếc giường vừa được nhường ra là anh ta  
đã trở thành người khác. Dù vậy, điều ấy khiến anh ta  
buồn nôn và mồ hôi túa ra dấp dính khắp người. Đây  
chính là sự gợi nhớ về phản ứng của nhân vật chính  
trong tác phẩm “Buồn Nôn” (Sartre, 2008) của Jean Paul  
Sartre, một phản ứng vô thức khi nhân vật phản kháng  
lại sự vô nghĩa, phi lý của cuộc sống.  
Cramer,… tất cả bọn họ đều xem việc chăm sóc bệnh  
nhân như một gánh nặng và luôn tìm cách buông bỏ nó.  
Thậm chí, bác sỹ Daneeka còn tức giận khi các binh  
lính cứ tìm đến ông ta vì vấn đề sức khỏe của bản thân  
họ. Ông ta đẩy bệnh nhân cho hai phụ tá lo và tiếp tục  
rên rỉ về tác hại của việc bị điều ra mặt trận đã khiến  
ông ta lỡ mất cơ hội kiếm tiền ở quê nhà như thế nào.  
Người còn giữ được y đức duy nhất ở trong tác phẩm  
này chỉ có bác sỹ Stubbs. Ông này sẵn sàng cho các  
binh sỹ nghỉ bay vì điều kiện sức khỏe dù họ có thật sự  
mắc bệnh hay không. Và cái kết của ông ta là bị tướng  
chỉ huy đẩy ra đơn vị Thái Bình Dương, nơi bốn mùa  
chỉ có mưa và rừng nhiệt đới bao quanh. Thật đáng  
buồn khi nhận ra rằng, khi sống giữa những kẻ tồi tệ thì  
người người tỉnh táo và ngay thẳng nhất lại trở thành dị  
hợm, kỳ quặc và bị bài xích. Đây chính là thế giới mà  
Heller muốn mô tả cho người đọc, nơi bác sỹ không còn  
biết phải làm gì khi công việc cứu người chẳng còn ý  
nghĩa nữa bởi vì đằng nào những người đó cũng sẽ chết.  
Nếu như Yossarian là đại diện cho các quân lính, sỹ  
quan bình thường thì đại tá Cathcart, tướng Dreedle,…  
chính là hình ảnh những quan chức cấp cao trong quân  
đội hay đúng hơn là người nắm quyền tối cao trong cái  
xã hội thu nhỏ trên đảo Pianosa. Trong tác phẩm đầu tay  
này, Joseph Heller đã mô tả những tổ chức cầm quyền  
là tập hợp của những kẻ kiêu ngạo, thích mỉa mai và  
ngu dốt. Các tổ chức quân sự là những người nông dân  
đang chăn bầy cừu, là các binh sỹ, theo một phương  
pháp hoàn toàn lệch lạc. Chúng bơm vào đầu người  
khác cái tư tưởng rằng trang trại của chúng tốt hơn tất  
thảy những trang trại khác. Và chúng có sứ mệnh giải  
phóng những con cừu đang sống trong các trang trại tồi  
tệ đó trong khi đưa những con cừu của mình đến các lò  
mổ, chiến trường, để bị giết thịt. Chúng chỉ lợi dụng  
chức vụ để thỏa mãn cái tôi hư vinh, phù phiếm, muốn  
thăng chức để dẫm đạp lẫn nhau vì tư thù cá nhân. Bọn  
họ luôn nuôi dưỡng và truyền bá tư tưởng rằng đám lính  
cấp dưới cần phải sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình  
vì lý tưởng, khát vọng và khí chất của cấp trên. Tất cả  
những gì tướng Dreedle yêu cầu ở sỹ quan và binh lính  
dưới quyền mình là phải tuân theo lệnh của mình. Ngoài  
điều đó ra thì họ được tự do làm bất cứ cái gì họ muốn.  
Thế là những người lính trẻ phải dùng cái chết của mình  
để đổi lấy tiền tài, quyền lực cho những lão già cấp cao.  
Sự thật và yêu cầu trần trụi này không chỉ phi logic, phi  
tự nhiên mà còn vô cùng phi lý.  
Trong khi bác sỹ là người chữa trị vết thương về thể  
xác thì cha xứ/ mục sư lại là người cứu rỗi, là điểm tựa  
tinh thần cho con người. Trong “Bẫy-22”, có một nhân  
vật không hề được nhắc đến với tên riêng mà người ta  
chỉ gọi chức danh của anh ta là cha tuyên úy. Anh ta  
được biết đến như một kẻ nhút nhát, e dè, nhịn nhục và  
không hề có quyền uy gì trong quân đội. Chính vì thế  
mà cha tuyên úy luôn là mục tiêu cho mọi trò tiêu khiển  
cũng như nơi trút giận của đại tá Cathcart cùng trung tá  
Korn. Thậm chí người phụ tá của anh ta là hạ sỹ  
Whitcomb cũng có thể ngang nhiên thách thức cấp trên  
của mình. Tất cả những sự đối xử này khiến cha tuyên  
úy dần trở nên nghi ngờ Chúa. Việc nghi ngờ đức tin rõ  
ràng là một sự cấm kỵ đối với người có đạo. Tuy nhiên,  
cha tuyên úy vẫn không thể dứt mình khỏi suy nghĩ, nếu  
Chúa có tồn tại trên đời thì tại sao Ngài lại bắt loài  
người phải chịu những đau khổ, sinh ly tử biệt này? Nếu  
coi đây là sự thử thách thì Chúa liệu có nhân từ như  
người ta vẫn hằng ca ngợi? Anh ta bị giằng xé bởi cảm  
giác tội lỗi do phản bội đức tin và băn khoăn vì những  
điều mà hiện thực chứng minh ngược lại với giáo lý mà  
anh ta được dạy. Nhân vật này giống với Yossarian, anh  
ta nhận thấy sự phi lý và bản chất giả dối của môi  
trường này nhưng lại không thể, hoặc không dám, đứng  
lên phản kháng một cách mạnh mẽ hoặc đấu tranh để  
thiết lập công lý và trật tự được.  
Những bác sỹ, người không thể vắng mặt trong  
chiến tranh, người mang sứ mệnh cứu giúp và chữa lành  
cũng đã rời bỏ lời thề của Hippocrates. Bác sỹ Daneeka  
trong phi đội của Yossarian, bác sỹ phẫu thuật người  
Anh mà Yossarian gặp trong bệnh viện dã chiến, cô y tá  
24  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
Và như một quy luật của cuộc sống, cha tuyên úy  
dần trở nên “hắc hóa”. Không phải biến chất theo nghĩa  
xấu mà anh ta buộc phải thay đổi mình, trở nên mạnh  
mẽ hơn, mưu mẹo hơn để giúp đỡ những người khác.  
Sau cái chết của Nately, cha tuyên úy bắt đầu nói dối  
bởi vì nghĩ rằng nói dối có hiệu quả hơn là nói thật.  
mình không thể tiếp tục làm nhân viên bán hàng được  
nữa. Còn Aafry, trong một nhiệm vụ bay, khi máy bay  
của họ bị tấn công, bốc cháy và phi công đang cố thoát  
ra khỏi tầm ngắm của địch anh ta lại tỏ ra thờ ơ. Aafry  
chỉ ngồi yên, châm lửa vào tẩu thuốc và nhìn mọi người  
bận rộn trong hoảng loạn. Anh ta chỉ tỏ ra phấn khích  
khi nhìn thấy sự tấn công quyết liệt từ phe địch. Cả  
Heller lẫn Kafka đều mô tả về sự trớ trêu của cuộc đời  
rằng ngay cả điều kinh dị nhất, khủng khiếp nhất cũng  
thất bại trong việc thay đổi ý thức của con người một  
khi họ đã lún sâu và bị chi phối bởi hoàn cảnh phi lý.  
“[…] Trước đây tôi chưa từng nói dối đâu. Như  
vậy mới tuyệt làm sao, nhỉ?”  
Cha tuyên úy đã mắc tội, và thấy như vậy thật là hay.  
Lương tri bảo với gã rằng nói dối và trốn nhiệm vụ là tội  
lỗi. Mặt khác, ai cũng biết tội lỗi là xấu xa, và rằng  
chẳng có gì tốt đến từ điều xấu cả. Nhưng gã thực sự cảm  
thấy rất hay; gã cảm thấy đích thực là tuyệt vời. Do đó,  
xét theo logic thì nói dối và trốn việc không thể là tội lỗi.  
Cha tuyên úy đã luyện được, trong một khoảnh khắc siêu  
phàm của trực giác, kỹ năng tiện dụng là hợp lý hóa mọi  
thứ để bảo vệ bản thân, và phát hiện ấy khiến gã vô cùng  
hoan hỉ. Thật là diệu kỳ. Gã mới nhận ra rằng gần như  
không cần có chút mưu mẹo nào cũng có thể biến sự đồi  
bại thành đức hạnh, lời vu khống thành sự thật, bất lực  
thành tiết chế, tự mãn thành khiêm nhường, cướp bóc  
thành làm từ thiện, trộm cắp thành vinh quang, báng bổ  
thành thông thái, tàn bạo thành yêu nước và tàn ác thành  
công lý” (Heller, 2018, 458).  
Khác với những cuốn tiểu thuyết chiến tranh khác,  
Joseph Heller chọn việc sử dụng sự hài hước để mô tả  
mặt tối của chiến tranh. Các nhà phê bình cho rằng ông  
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ E.E.Cummings, nhà thơ  
theo chủ nghĩa tượng trưng. Cummings đã xuất bản  
cuốn “Căn phòng khổng lồ” (The enormous room)  
(Cummings, 2002), một cuốn hồi ký ghi lại khoảng thời  
gian bốn tháng ông bị giam ở trại tập trung của Pháp vì  
bị nghi ngờ làm gián điệp. Bằng giọng văn hài hước,  
bông đùa, Cummings đã thể hiện không khí ngột ngạt,  
phi lý của chiến tranh. Và bốn mươi năm sau, đến lượt  
Joseph Heller dùng sự hài hước khác thường ấy để tiếp  
cận chiến tranh (Early et al., 2010). Nhưng giữa hai tác  
giả này vẫn có điểm khác biệt cơ bản, trong khi  
Cummings dùng sự hài hước như một lời từ chối trở  
thành nạn nhân của chiến tranh thì Heller lại khéo léo sử  
dụng thủ pháp hài hước đen (black humor) để chỉ ra sự  
phi lý trong chiến tranh. Sự vô lý đó được thể hiện qua  
việc nhân vật Orr lên một kế hoạch rồi diễn theo kịch  
bản khi cố tỏ ra mình bị mất trí và cuối cùng hoàn thành  
vở kịch bằng cách chuồn êm khỏi chiến trận trong khi  
những người khác vẫn nghĩ rằng anh ta đã hy sinh.  
Dù những thay đổi trong tính cách và suy nghĩ trên  
có lợi hơn cho cha tuyên úy để tồn tại ở cái nơi đầy rẫy  
sự phi lý này nhưng không thể phủ nhận rằng sự thanh  
khiết trong tâm hồn anh ta đã bị tổn hại sâu sắc. Anh ta  
không thể và không còn là cha xứ xứng đáng với chức  
trách của mình nữa. Nhân vật cha tuyên úy một lần nữa  
nhắc nhở người đọc về cách mà chiến tranh đã làm đảo  
lộn mọi quy tắc đạo đức và luân lý trong sự nhận tri.  
Cũng giống như bác sỹ Daneeka bối rồi về vai trò của  
một bác sỹ trong cuộc chiến, nơi mà con người lấy việc  
giết chóc và thương tổn vật lý làm mục đích, cha tuyên  
úy bị lạc lối trong thế giới mà giết chóc trở thành một  
loại đức hạnh.  
Thông qua “Bẫy-22”, Joseph Heller đã thể hiện  
được cảm quan phi lý tinh tế và nhạy cảm của mình.  
Tầm nhìn của ông còn xa hơn cả khi có internet, sự  
bùng nổ của thời đại thông tin và các phương tiện  
truyền thông. Không có những blog hay các trang mạng  
xã hội đầy rẫy bài viết, thuyết âm mưu về hoạt động của  
chính phủ. Thông tin cũng không dễ cập nhật chỉ bằng  
một cú nhấp chuột. Nhưng vào những năm tháng ấy,  
Joseph Heller đã nhìn thấu bản chất thối nát và chán  
ngấy những lời mị dân, sáo rỗng của nhà cầm quyền và  
đám tư bản làm giàu trên mất mát của người khác.  
Về mặt nghệ thuật, “Bẫy-22” được đánh giá cao  
trong việc xây dựng những tình huống trớ trêu (irony)  
và giọng điệu giễu nhại, mang màu sắc “hài hước đen”  
(black humour). Nhân vật Aafry, người trong đội bay  
của Yossarian, nhiều lần khiến người đọc gợi nhớ về  
Gregor Samsa trong tác phẩm “Hóa thân” (Kafka). Khi  
thức dậy và nhận ra mình đã biến thành một con vật  
giống như loài gián, điều Samsa lo lắng đầu tiên là việc  
25  
Thái Anh Thư  
“[…] Sống như thế thì có ra gì? Anh sẽ luôn một  
mình. Không ai cùng phía với anh, và lúc nào anh cũng  
sẽ phải sống trong cảnh lo sợ bị phản bội”.  
cũng không biết gì về căn bệnh ấy mà ông chỉ đơn thuần  
viết lại những trải nghiệm của bản thân và mô tả cuộc  
sống trong quân ngũ nhưng những trang viết của ông đã  
bộc lộ những biểu hiện của sự sang chấn tâm lý sau  
chấn thương.  
“Giờ tôi cũng đang sống như vậy rồi đây” (Heller,  
2018, 570).  
Đầu tiên phải kể đến biểu hiện của Yossarian. Anh  
ta thể hiện rằng mình là người có tính tình kỳ quặc, thất  
thường và những hành động vô cùng khó hiểu. Ví dụ  
như có một thời gian Yossarian không hề mặc gì trên  
người ngoại trừ đôi giày mô ca. Dẫu có xuất hiện trong  
buổi lễ trao thưởng huân chương của chính mình thì  
Yossarian vẫn trần truồng một cách cố chấp. Và sự khôi  
hài diễn ra khi một sỹ quan cởi trần, chỉ mặc độc chiếc  
quần đùi cùng đôi ủng, đứng trong hàng ngũ sỹ quan  
danh dự đang đợi nhận huy chương. Cơn thịnh nộ của vị  
tướng và các sỹ quan chỉ huy cũng không làm Yossarian  
thay đổi suy nghĩ của mình chút nào. Đó là vì anh ta đã  
chứng kiến Snowden chết một cách từ từ, đầy đau đớn  
và tuyệt vọng ngay trong vòng tay mình. Máu của người  
đồng đội thân thiết bắn lên toàn bộ quân phục của anh và  
điều đó khiến cho Yossarian trở nên ghê sợ mọi thứ đồ  
khoác lên người bởi vì nó khiến anh nhớ lại ký ức đau  
thương và đáng sợ đó. Ngoài ra, Yossarian còn bị ám ảnh  
nghiêm trọng bởi cái chết của một binh lính có tên là  
Mudd, người ở chung lều với anh. Người này có tên  
nhưng chẳng mấy ai nhớ đến cả, tác giả thường xuyên  
nhắc đến anh ta bằng cụm từ “cái xác trong lều của  
Yossarian”. Thật ra trong lều của Yossarian chẳng có cái  
xác nào. Mudd chỉ kịp để lại hành lý trước khi phải tham  
chiến và hy sinh ngay sau đó. Anh ta còn chưa kịp ký tên  
mình vào danh sách giao nhận quân cho nên đơn vị  
không thể gửi giấy báo tử về nhà được. Một con người rõ  
ràng đã chết nhưng trên giấy tờ thì vẫn đang trên đường  
đến nhận đơn vị mới. Ngoài Yossarian, không một ai nhớ  
đến anh ta ngoài người thân ở quê nhà tuyệt vọng gửi  
những lá thư đến đơn vị để liên lạc tìm người.  
Cuộc đối thoại giữa thiếu tá Danby và Yossarian ở  
cuối tác phẩm đã gián tiếp nêu lên quan điểm của chính  
tác giả. Điều này phần nào giải thích được sức lan tỏa  
và ảnh hưởng đối với công chúng sau khi cuốn sách  
được xuất bản. Nhiều cuộc biểu tình được diễn ra vì  
phản đối chiến tranh Việt Nam và lên án sự độc quyền,  
quan liêu của chính quyền, sự tham nhũng và lũng đoạn  
thị trường của giai cấp tư bản. Đáng quan ngại hơn nữa  
là hai thế lực quyền lực này còn liên kết với nhau nhằm  
bòn rút, hút cạn cả nhân dân trong nước lẫn các nước  
thuộc địa. Con người, như Yossarian nói, luôn phải sống  
trong cảnh lo sợ bị phản bội và không một ai đứng về  
phía mình. Điều phi lý khó tìm ra lối thoát ở đây là mỗi  
người đều nhận ra rằng cách duy nhất để chống lại bất  
công, giả dối, vô trách nhiệm là phải sống sót. Nhưng  
còn sống ngày nào thì còn phải chấp nhận hiện thực thối  
nát, tăm tối này đến ngày đó. Điều này là “chân lý” mà  
Yossarian đã đúc kết được sau khi chứng kiến cái chết  
của người đồng đội thân thiết, rằng hóa ra sỹ quan giỏi  
nhất là người sỹ quan đã chết. Bởi vì họ không còn phải  
giải quyết những thứ phi lý này nữa.  
Bên cạnh kiểu nhân vật đánh mất lý tưởng là nhân  
vật chấn thương. Năm 1880, Sigmund Freud bắt đầu  
nghiên cứu về tâm lý học và phân tâm học. Từ đó trở đi,  
xã hội bắt đầu quan tâm hơn đến vấn đề liên quan đến  
tâm trí con người và những căn bệnh do tâm lý gây ra.  
Từ đó mà ra đời thuật ngữ “chấn thương” (trauma). Một  
trong số những chứng tâm lý thường gặp nhất là rối loạn  
căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Nguyên nhân của  
chứng bệnh này là do bệnh nhân phải chứng kiến hay  
trực tiếp trải qua những hành vi bạo lực, gây sốc vượt  
ngưỡng chịu đựng như khủng bố, tử vong, bạo lực tình  
dục,… Những chấn thương tâm lý này khiến bệnh nhận  
bị ám ảnh, mắc kẹt trong sự tổn thương đó suốt chuỗi  
ngày còn lại trong cuộc đời nếu không được chữa trị và  
can thiệp kịp thời. Căn bệnh này lần đầu tiên ở được  
chú ý khi xuất hiện ở các cựu chiến binh vì những trải  
nghiệm trực tiếp của họ trong chiến tranh (Viện Y học  
ứng dụng Việt Nam, 2016). Vào thời điểm 1961, khi  
Joseph Heller viết cuốn tiểu thuyết này, không có nhiều  
người biết đến căn bệnh PTSD. Có thể bản thân tác giả  
Yossarian còn có một nỗi ám ảnh mà bị những  
người xung quanh xem là vô cớ. Anh ta cho rằng tất cả  
mọi người đều đang cố giết anh. Điều này thúc đẩy cơn  
cuồng loạn trong tâm trí Yossarian khi hơn một lần anh  
tỏ ra muốn dùng súng máy để tấn công những kẻ mà  
anh xem là có ý đồ xấu với mình dù thật ra họ chẳng hề  
làm gì gây hại cả.  
“Có quá nhiều mối nguy hiểm mà Yossarian phải  
bận tâm. Chẳng hạn như có những người như Hitler,  
Mussolini và Tojo, tất cả bọn họ đều muốn giết y.[…]  
26  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
Bọn phản bội và dân yêu nước, những kẻ vẫn hành  
đêm nào cả. Anh ta luôn ngủ rất say và nằm mơ thấy  
mình đang thức. Flume thật ra chỉ là nạn nhân cho trò  
đùa ác ý xuất phát từ sự căm ghét tất cả người da trắng  
của White Halfoat mà thôi.  
quyết người khác mà không qua xét xử, những kẻ hút  
máu kẻ khác và bè lũ tay sai, tất cả bọn họ đều nhảy xổ  
ra để đòi mạng y. […] Có hàng tỷ tế bào cơ thể tận tụy  
oxy hóa suốt ngày đêm như những con thú lầm lỳ làm  
công việc phức tạp của chúng là giữ y sống và khỏe  
mạnh, nhưng mỗi tế bào đều là một kẻ phản bội kiêm kẻ  
thù tiềm năng” (Heller, 2018, 216).  
Thế giới trong “Bẫy-22” là một thế giới mà cái  
chết trở nên vô nghĩa và là nơi ngự trị của các thế lực  
phi nhân tính. Khác với “Giã từ vũ khí” (Hemingway,  
2020), nơi câu chuyện được thuật lại bởi một nhân vật  
có vị trí quan sát biệt lập, “Bẫy-22” là sự tổng hợp của  
nhiều điểm nhìn, nhiều trải nghiệm khác nhau của  
những nhân vật bị kết liễu trong cơn đau đớn câm lặng  
và tách biệt. Chính vì thế mà xuất hiện sự đan xen,  
trùng lặp của những sự kiện, những nhân vật đã tạo  
nên cảm giác về một thực tại vô tận. Đó là nơi mà mỗi  
con người bị nhét vào một chiếc kén và không thể  
vùng thoát ra được.  
Một nhân vật thể hiện rõ chứng bệnh PTSD nữa là  
Hungry Joe. Gã phi công này luôn bị đặt vào tình thế  
nan giải: khi vừa hoàn thành số nhiệm vụ quy định và  
sắp sửa về nhà thì cấp trên lại nâng số nhiệm vụ lên và  
gã buộc phải tiếp tục chiến đấu. Tình trạng dai dẳng này  
khiến Hungry Joe luôn gặp những cơn ác mộng kỳ quái  
vào đúng một thời điểm chính xác “tuyệt trần” và bật  
thét chói tai làm cho tất cả mọi người trong phi đoàn  
tỉnh giấc. Dẫu vậy, gã lại bị ám ảnh bởi tiếng ồn. Gã dễ  
dàng bị kích động và nổi điên vì những âm thanh nhỏ  
nhất như tiếng rít tẩu thuốc, tiếng hàn, tiếng lật bài  
poker hay bình thường nhất là tiếng hàm răng va vào  
nhau lập cập vì lạnh. Joseph Heller mô tả Hungry Joe là  
“một khối cáu kỉnh di động luôn luôn sục sôi và xơ xác”.  
Hãi hùng hơn nữa là tình trạng tồi tệ này chỉ diễn ra trong  
lúc Hungry Joe không phải thực hiện nhiệm vụ bay và  
một khi “được” nâng số nhiệm vụ lên, gã sẽ quay lại  
trạng thái tâm lý bình thường. Rõ ràng là từ sự bài xích,  
chán ghét ban đầu, Hungry Joe đã dần thỏa hiệp và bị chi  
phối hoàn toàn bởi tính chất phi lý của những quy định.  
Nỗi sợ hãi cái chết trong khi làm nhiệm vụ đã trở thành  
đối trọng và là liều thuốc chữa bệnh “phát cuồng” của  
Hungry Joe. Sự thật đáng sợ và phi lý này chỉ có thể xuất  
hiện trong một xã hội đang thoái hóa, biến chất mà thôi.  
Qua khảo sát thêm một số tiểu thuyết chiến tranh,  
đặc biệt là trong văn học Mỹ, chúng tôi nhận thấy kiểu  
nhân vật chấn thương này xuất hiện khá nhiều. Điều này  
cho thấy con người đang phải chịu những tổn thương cả  
thể xác lẫn tinh thần một cách nghiêm trọng do chính  
đồng loại gây ra. Dẫu khoa học có tiến bộ đến chừng  
nào thì cũng không thể ngăn cản được bản năng chém  
giết và tranh giành nguyên thủy của loài người. Có lẽ từ  
khi Prometheus trộm đi mồi lửa rồi vô tình gây ra cái  
chết cho người anh em của mình thì nhân loại đã bắt  
đầu tiến vào hành trình của tội ác. Nhân gian tràn ngập  
đau thương cùng mất mát.  
2. Hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22”  
thể hiện qua không gian bên trong và ngoài  
cuộc chiến  
Nguyên nhân cơ bản nhất chi phối toàn bộ cuộc  
sống như “địa ngục trần gian” của những con người  
trong tác phẩm này chính là “bẫy-22”. Ngay từ cái tên,  
tác phẩm đã tạo cho người đọc ấn tượng về một điều gì  
đó mưu mẹo, đầy toan tính nhằm dồn mục tiêu của mình  
vào tình thế bị thao túng và thúc thủ chịu trói. Qủa vậy,  
những điều luật trong “Bẫy-22” đều vô cùng phi lý và  
đầy mâu thuẫn đến nực cười. Nhưng đây là cái cười ra  
nước mắt vì nó không phải trò đùa mà là thứ quyết định  
mạng sống của hàng trăm người. Hiểu một cách đơn  
giản thì cái bẫy này có nguyên lý vận hành như sau:  
Thông qua phân tích hai kiểu nhân vật tiêu biểu  
trong tác phẩm “Bẫy-22”, chúng tôi nhận thấy rằng,  
bằng cảm quan phi lý của mình, Joseph Heller muốn  
khắc họa nên một thế giới mà mọi con người đều bị ám  
ảnh về nguy cơ tồn tại. Mọi nạn nhân đều là thủ phạm.  
Và ngược lại, chính các thủ phạm cũng là nạn nhân.  
Yossarian có nhiệm vụ phải thả gần hai ngàn tấn bom  
xuống vùng chiếm đóng của phe địch trong khi vẫn phải  
cố giữ cho bản thân được sống sót để lại thực hiện  
nhiệm vụ đó một lần nữa. Hay trường hợp của Flume,  
người cho rằng mình đã thức trắng mỗi đêm vì sợ rằng  
người bạn sống cùng lều, White Halfoat, sẽ ám sát mình  
trong lúc ngủ. Nhưng thực ra Flume không hề thức một  
27  
Thái Anh Thư  
được hết dụng tâm của tác giả. “Trap” là một vật thể  
hữu hình, có thể chạm vào được trong khi “catch” lại là  
khái niệm chỉ những thứ vô hình, điều mà con người chỉ  
có thể tự mình hình dung chứ không thể cầm nắm hay  
bày bố bằng những tác động vật lý được. Và thứ đang  
bao trùm lên bầu không khí trong tác phẩm cũng như  
chi phối cuộc sống, hành động cũng như tâm lý của mọi  
nhân vật là một thứ luật lệ vô hình, thậm chí nó còn  
không được ghi rõ ra trong quân quy nữa. “Catch-22”  
chỉ là cái tên ngẫu nhiên mà các binh sỹ đặt cho nó thôi.  
Sau khi tác phẩm này được xuất bản, “catch-22” đã trở  
thành một khái niệm mới, được bổ sung vào kho từ  
vựng tiếng Anh. Với ý nghĩa châm biếm hài hước,  
“catch-22” thường được dùng để chỉ tình thế lưỡng sự  
(double bind), trong đó, hai sự việc có bản chất đối  
nghịch cùng xuất hiện một lúc, hay còn gọi là tiến thoái  
lưỡng nan, và con người một khi mắc kẹt trong tình  
huống này thì sẽ không bao giờ có thể thoát ra được.  
Cũng thật trùng hợp khi số 2 cũng được cho là con số  
đại diện cho hiệu ứng déjà vu, thứ được lặp lại và nhắc  
lại rất nhiều lần trong sách.  
Không dừng lại ở đó, “bẫy-22” còn kìm kẹp các binh  
sỹ trong phi đoàn của Yossarian bằng một quy định khác:  
Cái bẫy này không chỉ hành hạ các binh sỹ mà còn  
là thứ công cụ quyền lực để các vị tướng mưu lợi cá  
nhân. Đại tá Cathcart thích tăng số lượng và nhiệm vụ  
và luôn xung phong đưa phi đoàn của mình đến những  
trận chiến ác liệt nhất là vì ông ta muốn có thật nhiều  
thành tích ấn tượng trong lòng cấp trên. Ai lại không  
muốn thể hiện mình là một cấp dưới mẫn cán và cần lao  
cơ chứ? Dù sao đại tá Cathcart cũng không phải là  
người trực tiếp ra trận nên ông ta không có băn khoăn  
hay lý do gì để ngừng việc đẩy binh sỹ của mình vào  
chỗ nguy hiểm cả. Chính sự hám danh này là điều kiện  
thúc đẩy chính quyền/ bộ máy quản lý, đại diện là đại tá  
Cathcart, bắt tay, thông đồng với các nhà tư bản, đại  
diện là trung úy Milo. Đây là một cuộc trao đổi mà đôi  
bên cùng có lợi. Chính quyền cần lợi nhuận mà giới tư  
bản trả cho họ còn các nhà tư bản lại muốn được cấp  
quyền hành để việc làm ăn trở nên thuận tiện hơn. Và  
các binh sỹ, đại diện cho người dân bình thường, là  
thành phần xã hội chịu thiệt thòi trực tiếp trong cuộc đổi  
chác này. Milo chia sẻ những gì anh ta có được trong  
các chuyến hàng để đổi lấy sự đồng ý của Catchcart về  
việc sử dụng máy bay công vụ nhằm vận chuyển hàng  
hóa. Cathcart có thêm tiền và thành tích để nịnh bợ,  
đánh bóng thành tích báo cáo với cấp trên. Chính sự  
quan liêu, nhân nhượng vô giới hạn này đã dẫn đến việc  
Từ hai sơ đồ trên, ta có thể thấy việc các binh sỹ bị  
mắc kẹt trong một vòng lặp vô hạn của việc phải hoàn  
thành nhiệm vụ bay. Mặc dù trên lý thuyết thì chỉ cần  
xong việc là có thể trở về Mỹ nhưng họ sẽ không bao  
giờ làm được điều đó. Bởi vì hễ có binh sỹ vừa hoàn  
thành mục tiêu đề ra là đại tá Cathcart ngay lập tức nâng  
mức quy định lên thêm 5 nhiệm vụ nữa. Và thực tế thì  
tác phẩm này bắt đầu từ số nhiệm vụ khởi điểm là 25 và  
đến lúc Yossarian bỏ trốn, đại tá Cathcart đã đề ra con  
số 80 cho các binh sỹ của mình rồi. Đây đúng là một  
tình thế tiến thoái lưỡng nan được xây dựng vô cùng  
hoàn hảo. Điều luật nghe có vẻ hợp lý này kỳ thực lại là  
biểu hiện của sự thiếu dân chủ và vi phạm nhân quyền  
nghiêm trọng. Tuy nhiên, “bẫy-22” lại được xếp đặt vô  
cùng logic khiến cho không ai có thể phản bác hay  
chống lại được. Đây chính là cái tinh túy trong xây dựng  
tình huống của Joseph Heller, mô tả xã hội hỗn loạn một  
cách có trật tự, những điều phi lý được hợp lý hóa để  
biến thành điều hiển nhiên, dễ dàng dung hòa vào cuộc  
sống và không thể chối cãi.  
“Catch-22” là một tiêu đề rất khó dịch sang các  
ngôn ngữ khác. Bản dịch tiếng Việt dùng từ “bẫy” (trap)  
tuy tương đồng về mặt ý nghĩa nhưng lại chưa truyền tải  
28  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
Milo ngang nhiên ký kết làm ăn với phe địch, cõng rắn  
cũng phải có một số lượng nhiệm vụ bay nhất định cho  
nên ông Daneeka đã nhờ Yossarian viết tên của mình  
vào bất cứ một chuyến bay nào đó để vừa không phải ra  
trận mà vẫn hoàn thành chỉ tiêu. Không may cho ông ta,  
chuyến bay mà ông ghi danh đã gặp tấn công và toàn  
đội bay đều hy sinh. Và thế là bác sỹ Daneeka, một  
người đang sống sờ sờ bị “phán tội” chết. Mọi người  
xung quanh đều nhìn thấy và trò chuyện với ông ta  
nhưng trên giấy tờ thì ông ta đã hy sinh cho nên mọi đãi  
ngộ và lương bổng đều bị cắt. Thậm chí hai phụ tá còn  
đuổi ông ta ra khỏi lều mặc cho sự nài nỉ thống thiết.  
Trừ Yossarian và Milo thỉnh thoảng chia sẻ chút đồ  
dùng thì không một ai trong số những người quen biết  
quan tâm hay tỏ thái độ muốn hỗ trợ bác sỹ Daneeka cả.  
Đáng sợ hơn cả là vợ của bác sỹ ở quê nhà khi nhận  
được giấy báo tử đã suy sụp và khóc rất nhiều nhưng  
khi nhận được số tiền hỗ trợ kếch sù thì bà ta quay đầu  
làm ngơ với những lá thư giải thích và đề nghị giúp đỡ  
đến từ tiền tuyến của chồng mình. Bà Daneeka đã đem  
theo số tiền nhận được từ các tổ chức và cùng con cái  
chuyển đến bang khác sinh sống mà không để lại bất kỳ  
thông tin nào để liên lạc. Thế là bác sỹ Daneeka phải  
“sống mòn” theo đúng nghĩa đen và bất lực trước việc  
không được công nhận về sự tồn tại. Đây chính là hình  
ảnh đối lập với Mudd, “cái xác trong lều của  
Yossarian”, người thật sự đã chết nhưng trên giấy tờ thì  
vẫn đang trên đường đến nhận đơn vị mới.  
cắn gà nhà khi để quân đội Đức đưa phi cơ ném bom  
liên đoàn trên đảo Pianosa. Cuộc tấn công này đã gây ra  
rất nhiều thương vong và thiệt hại về tài sản. Tuy nhiên,  
điều gây ngạc nhiên và phi lý nhất là khi Milo công khai  
lợi nhuận thu được trong lần hợp tác trên và bày tỏ  
mong muốn bồi thường về tài sản thì chính phủ và phần  
đông dân chúng lại sẵn sàng tha thứ, thậm chí còn khen  
ngợi và biết ơn anh ta.  
Trong cảm quan phi lý của Heller, xã hội đã biến  
chất đến cùng cực khi ông dựng lên cảnh Milo được  
người dân Malta chào đón Milo như một vị thị trưởng  
đáng kính, một anh hùng dân tộc đích thực vậy. Khung  
cảnh khoa trương ấy trải dài từ sân bay cho đến trung  
tâm thành phố. Mọi tầng lớp, mọi giới tính, mọi lứa tuổi  
đều hân hoan, háo hức và xúc động khi được đứng trong  
hàng ngũ đón tiếp Milo. Thậm chí người ta còn mang cả  
những tấm áp phích in hình Milo và đồng thanh hô to  
tên của gã suốt đoạn đường dài. Sự khoa trương này  
tình cờ dẫn chúng tôi đến với “Số đỏ” của Vũ Trọng  
Phụng, cây bút trào phúng xuất sắc của Việt Nam.  
Trong tác phẩm này, Xuân Tóc Đỏ cũng được công  
chúng ngưỡng mộ và chào đón y hệt Milo. Qủa nhiên  
những con người xuất sắc luôn bằng một thứ linh cảm  
kỳ diệu nào đó mà có thể tương đồng với nhau trong suy  
nghĩ và hành động. Không một sự châm biếm, đả kích  
mạnh mẽ nào bằng cảnh đám đông tung hô, thánh thần  
hóa một kẻ ích kỷ, lươn lẹo, xấu xa cả. Đúng là những  
hoàn cảnh phi lý luôn sản sinh ra những kẻ phi lý. Và  
đến lượt mình, những kẻ phi lý lại quay trở lại biến cuộc  
sống thành những hoàn cảnh phi lý có mặt ở khắp mọi  
nơi trên thế giới, bất kể địa điểm, bất kể thời đại.  
Một đặc điểm của “Bẫy-22” là việc có rất nhiều  
khoảng không gian, thời gian bị lặp đi lặp lại. Điều này  
tạo ra hiệu ứng dejà-vu, một hiện tượng tâm lý mô tả  
việc con người cảm thấy một sự kiện, nhân vật hay nơi  
chốn nào đó rất quen thuộc tới từng chi tiết mặc dù rõ  
ràng đó chỉ là lần đầu tiên tiếp xúc với đối tượng đó.  
Đây là cách xây dựng không gian phi tâm, phi liên kết,  
đẩy người đọc và nhân vật lọt vào rất nhiều mê cung mà  
tác giả tạo nên. Quá trình chiếm đóng Rome là một mê  
cung. Căn nhà bị chiếm dụng làm nhà thổ cho lính Mỹ ở  
Rome là một mê cung. Cái chết của Snowden là một mê  
cung. Khoang lái và lối thoát hiểm trong chiếc máy bay  
chiến đấu mà Yossarian thường sử dụng là một mê  
cung. Cách Milo vận hành và kiếm lời từ việc kinh  
doanh là một mê cung. Thậm chí, hình ảnh “binh sỹ  
trắng xóa” mà không ai xác định được danh tính hay  
tình trạng tồn tại của anh ta cũng là một mê cung nốt.  
Thứ cấu trúc rườm rà với những cảnh lặp đi lặp lại trong  
“Bẫy-22” khiến người đọc cảm thấy tù túng và nhận  
Có lẽ khi viết “The Great Gatsby”, F.Fitzgerald đã  
có dự cảm về những hệ quả xấu của “thời đại nhạc  
Jazz” khi cả xã hội đều chạy theo những phù phiếm, hư  
vinh và bóng bẩy bề ngoài mà bỏ rơi nhân tính và lợi  
ích tập thể. Joseph Heller phần nào đã viết tiếp về thứ  
mà Fitzgerald còn bỏ ngỏ. Xã hội này sẽ không thay đổi  
vì cái chết của một người, đám đông thích hưởng thụ  
chỉ thay đổi một địa điểm thác loạn và chạy theo đồng  
tiền vương vãi của những kẻ giàu có khác mà thôi.  
Không dừng lại ở đó, cái bẫy-22 này còn gián tiếp  
gây nên sự rạn nứt trong các mối quan hệ giữa người  
với người, ví dụ tiêu biểu là trường hợp của bác sỹ  
Daneeka. Bởi vì đại tá Cathcart quy định về việc bác sỹ  
29  
Thái Anh Thư  
thấy rằng, dường như chính bản thân mình cũng đang  
mắc kẹt trong một chiếc bẫy, một mê cung của từ ngữ.  
Cảm giác sợ hãi và ngột ngạt ấy buộc người đọc phải cố  
gắng vượt thoát ra khỏi mớ bòng bong này để khám phá  
ra bí mật nằm ở trung tâm của mê cung.  
Họ ập vào căn phòng của Aafry và Yossarian chỉ để bắt  
giữ Yossarian về việc anh đến thành phố này mà không  
có giấy thông hành được cấp bởi cấp trên trực tiếp của  
mình. Hóa ra đúng như lời Aafry nói, “Cô ta chỉ là một  
con ở. Tôi nghĩ họ sẽ khó lòng xé to một vụ việc chỉ dính  
dáng tới một con ở người Ý trong khi ngày nào chả có  
hàng đống mang sống đang mất đi. Có phải không?”  
(Heller, 2018, 528). Xã hội này đã suy đồi đến cùng  
cực, mạng sống con người đã bị rẻ rúng đến tột cùng.  
Đây chính là sự tiến bộ và văn minh mà loài người vẫn  
hằng tự hào khi nói về thời đại mình đang sống sao?  
Còn gì phi lý hơn khi khoa học công nghệ càng tiên tiến  
và hiện đại thì nhân tính càng trở nên mờ nhạt và không  
còn quan trọng nữa.  
Chương 39, khi Yossarian bước đi trên “con phố tối  
tăm như hầm mộ”, anh ta đã nhìn thấy những con người  
vô tội đang phải vật lộn để sống sót. Sự bất lực và đau  
khổ mà họ phải chịu đựng đều bị đồng loại của mình  
xem là vô nghĩa và vô ích. Hình ảnh một con chó bị  
đánh đập trên đường khiến Yossarian nhớ đến giấc mơ  
của Raskolnikov, một nhân vật trong “Tội ác và trừng  
phạt” (Dostoevsky, 1983) của Dostoyevsky. Điều này  
cũng gián tiếp gợi nhớ đến con ngựa già trong “Anh em  
nhà Karamazov” (Dostoevsky, 2013), khi nhân vật Ivan  
tự hỏi rằng, nếu những đau khổ mà lũ trẻ con phải chịu  
là cái giá phải trả để mua được sự thật thì sự thật đó  
không xứng đáng. Tương tự với Dostoyevsky, Heller sử  
dụng hình ảnh những đứa trẻ khốn khổ như một biểu  
tượng của sự chịu đựng vô nghĩa, những thách thức phi  
lý mà Chúa đặt ra cho loài người. Nếu như trong thần  
thoại Hy Lạp, mê cung nhốt con quái vật Minotaur nằm  
dưới lòng đất thì trong “Bẫy-22”, Joseph Heller đã đưa  
cái địa ngục này lên trên mặt đất, ngay trong chính  
Rome, cái “thành phố vĩnh cửu” mà người ta luôn cho là  
thơ mộng và lộng lẫy này.  
Cái chết của Snowden được nhắc đến ở những  
chương đầu tiên và hiện diện xuyên suốt tác phẩm. Tuy  
nhiên, đến chương 41, gần kết thúc tác phẩm, tác giả  
mới để mô tả một cách đầy đủ, mạch lạc chứ không phải  
là những hồi ức đứt quãng, các cuộc đối thoại không  
đầu không đuôi của nhân vật nữa. Snowden chết dưới  
cái nắng gay gắt trên bầu trời mùa hạ nhưng những câu  
anh ta trăn trối chỉ là “tôi lạnh”. Khi Yossarian nhìn  
thấy ruột của Snowden bị bung ra, nằm ngổn ngang trên  
sàn máy bay, anh ta chợt ngộ ra cái gọi là “bí mật của  
Snowden”. Ở thời cổ đại, con người dự đoán vận mệnh  
bằng việc xem xét nội tạng của những con thú bị giết  
thịt thì hình ảnh trong bụng Snowden làm Yossarian  
nhận ra rằng con người chỉ là vật chất. Ai rồi cũng sẽ  
chết và một khi hồn đã chết thì thân xác chỉ là rác rưởi.  
Nếu xem Snowden là hình ảnh chung cho những nạn  
nhân thì việc Yossarian thất bại trong nỗ lực cứu sống  
đồng đội chính là kết thúc cho motif của sự bất lực. Từ  
đây, Yossarian nhận ra một khi còn sống trong quân đội  
thì dù có dùng bao nhiêu trò lươn lẹo đi chăng nữa, anh  
ta cũng không thể bảo vệ mạng sống của mình được.  
Joseph Heller còn phơi bày những mặt tối trong  
quan niệm, nhận tri của mỗi người về phân chia giai  
cấp, phân biệt chủng tộc,… Những người lính da đen bị  
nhét vào một khu chữa bệnh riêng, những quý tộc lâu  
đời khinh bỉ tầng lớp “nhà giàu mới nổi”, những người  
dân khuyết thiếu lòng trung thành với tổ quốc và sẵn  
sàng reo hò chào đón bất cứ quân đội nước nào chiếm  
đóng thành phố của họ nhằm đổi lấy sự bảo toàn về tính  
mạng và tài sản,… Tất cả tạo nên một xã hội hỗn loạn,  
rời rạc, khủng khiếp, không đáng tin cậy,… Đỉnh điểm  
của sự tồi tệ và tàn nhẫn trong việc đối xử giữa người  
với người là hành động giết người của Aafry. Hắn ta  
cưỡng hiếp và giết chết một cô hầu gái người Ý thay vì  
bỏ tiền ra mua vui với những cô gái mại dâm xuất hiện  
nhan nhản khắp Rome bởi vì “cả đời tôi không bao giờ  
phải trả tiền để làm chuyện đó” (Heller, 2018, 528). Và  
sau khi xong chuyện, vì không muốn vào tù mà Aafry  
tàn nhẫn giết chết một người vô tội. Nhưng không dừng  
lại ở đó, điều khiến Yossarian và độc giả sững sờ hơn là  
cảnh sát Ý không hề bận tâm đến cái chết thảm khốc ấy.  
3. Kết luận  
Hơn sáu thế kỷ trước, Dante, một nhà thơ lớn giai  
đoạn hậu kỳ Trung cổ, từng trăn trở với câu hỏi đại ý  
rằng làm sao có thể mô tả được sự thống khổ của con  
người nơi trần gian bởi vì rõ ràng là có những thứ trí óc  
mường tượng ra được nhưng ngôn ngữ lại bất lực trong  
việc cố gắng gọi tên nó. Câu hỏi ấy luôn khiến các nhà  
văn bận tâm khi đặt bút viết về những khía cạnh khủng  
khiếp của sự hiện tồn. Về phần mình, Dante đã dùng  
trường ca “Thần khúc” (Alighieri, 2010) để tự trả lời  
30  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 22-31  
cho câu hỏi của ông. Tuy nhiên, nếu còn sống đến thế  
những nhân vật đi từ sự điên rồ một cách khó nhận biết  
cho đến cấp độ khiến người đọc phải kinh hoàng,  
Joseph Heller đã giúp chúng ta nhận ra rằng, đây là một  
thế giới sôi sục trong hỗn loạn mà ở đó, mọi thứ đều  
nằm trong một trật tự thích hợp. Cuốn tiểu thuyết này là  
những nỗ lực của tác giả nhằm phản ánh bầu không khí  
căng thẳng, hoang đường, phi lý bằng một hình thức văn  
học mà A.Artaud gọi là “nhịp điệu thô lỗ và động kinh  
của thời đại chúng ta” (Artaud, 1994, 75).  
kỷ XX, Dante có lẽ sẽ ngạc nhiên vô cùng khi đọc  
“Bẫy-22” của Joseph Heller bởi vì tác giả hậu bối này  
dùng tác phẩm của mình để tổ chức cho người đọc một  
cuộc tham quan luyện ngục vô hình. Không có những  
vòng tròn tỉ mỉ, không có quy luật về phân chia tù  
nhân, không có chuyện mặt trời phân hủy và hủy diệt  
Trái Đất và cũng không hề xuất hiện phép lạ đến từ  
những lời cầu nguyện chân thành, tha thiết nhất. Địa  
ngục mà Joseph Heller nhắc đến là hiện thân của sự vô  
nghĩa vô tận, nơi bất hạnh bị vùi dập trong sự bạo tàn,  
nơi mà kẻ đồi bại được đứng ngang hàng với những vị  
đạo đức nhất.  
Tài liệu tham khảo  
Alighieri, D. (2010). Thần khúc. Khoa học Xã hội.  
Artaud, A. (1994). The Theater and Its Double. Grove  
Press.  
Cummings, E. E. (2002). The Enormous Room (Revised  
ed. edition). Dover Publications.  
Dostoevsky, F. M. (1983). Tội ác và Trừng phạt. Văn học.  
Dostoevsky, F. M. (2013). Anh em nhà Karamazov. Văn học.  
Early, G., Carpio, G. R., & Sollors, W. (2010). Black  
Humor: Reflections on an American Tradition.  
Bulletin of the American Academy of Arts and  
Sciences, 4, 29-41.  
Những nhân vật phiêu lưu trong các tiểu thuyết kỳ  
ảo truyền thống luôn kết thúc cuộc du hí của mình bằng  
việc trở lại thế giới thực và vực dậy tinh thần, củng cố  
niềm tin vào cuộc sống hiện tại. Còn hỏa ngục của  
Heller không hề có việc nhân vật vượt thoát ra ngoài bởi  
lẽ đây chính là cuộc sống thật sự chứ không phải một  
cuộc phiêu lưu huyền ảo. Chuyến đi này không có  
Virgil dẫn đường, không xuất hiện Luyện ngục hay  
Thiên đường và dĩ nhiên càng không có nàng Beatrice  
nào cầu nguyện Chúa ban phước lành như một sự cứu  
rỗi cả. Thay vào đó là thế giới bị chi phối bởi hai thứ:  
logic của bất tuân luân lý và những hành động xấu xa  
hòng chao đảo vũ trụ.  
Heller, J. (2018). Bẫy 22. Hội Nhà Văn.  
Hemingway, E. (2020). Giã từ vũ khí. Văn học.  
Nguyễn, V. D. (2002). Văn học phi lý. Văn hóa thông tin.  
Ostrovsky, N. A. (2018). Thép đã tôi thế đấy. Văn học.  
Sartre, J. P. (2008). Buồn Nôn. Văn hóa Sài Gòn.  
Viện Y học ứng dụng Việt Nam. (2016). Tìm hiểu về rối  
loạn căng thẳng sau sang chấn. http://vienyho  
cungdung.vn/news-20161029121119279.htm  
Có thể nói, “Bẫy-22” là lời đáp của Joseph Heller  
đến Dante, rằng ngôn ngữ là thứ vũ khí có sức mạnh lớn  
vô cùng cho nên trên đời này không có gì là không thể  
gọi tên hay không thể mô tả cả. Thông qua việc mô tả  
THE ABSURDITY OF HUMAN AND REALITY  
IN THE NOVEL “CATCH-22” OF JOSEPH HELLER  
Thai Anh Thu  
Hue University of Education  
Abstract: “Catch-22” is considered one of the American writer Joseph Heller’s greatest novels. It was published in 1961. Joseph  
Heller combined the irrational sensations, the mocking and satirical tones to describe a collapsed and degenerate world in the  
postmodern condition. Through the living background of an American military unit of World War II, the author reflected some absurd  
problems such as: the distortion of justice, the influence of greed, and the issue of personal integrity. This article focuses on analyzing  
the absurdity of character imagery and reality that is automatically accepted and followed in postmodern condition. As a result,  
readers can gain a deeper insight into the novel and seek empathy in the perception about the absurd, which is becoming normal in  
recently.  
Key words: The Absurd; Literature of Absurd; Paradoxical situations; The mocking tone; The satirical tone; War Novel.  
31  
pdf 10 trang baolam 26100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Con người và hiện thực phi lý trong tiểu thuyết “Bẫy-22” của Joseph Heller", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcon_nguoi_va_hien_thuc_phi_ly_trong_tieu_thuyet_bay_22_cua_j.pdf