Sử dụng lồng tiếng phim trong giảng dạy phát âm cho sinh viên chuyên ngữ

TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
USING MOVIE DUBBING TO TEACH PRONUNICATION  
TO ENGLISH-MAJOR STUDENTS  
Bui Thi Ngoc Oanh*  
Nha Trang University  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Pronunciation is a very important to help students to listen and speak  
well. While speaking English, students need to pronounce words clearly  
and have good intonation so that listeners can understand them;  
therefore, the lecturer chose movie dubbing to improve students’  
pronunciation. This paper aims to consider whether movie dubbing or  
making ordinary videos is more effective in improving students’  
pronunciation and to find out the challenges students had in each  
method. Participants were 40 students of class 61NNA1 (the control  
group) making 2 videos of their favourite types in groups and 40  
students of class 61NNA4 (the experiment group) making 2 dubbing  
videos of 2 shorts films they liked. Both classes posted their videos to  
Elearning.ntu.edu.vn of their class. By the end of the course, the  
students had an oral test with both Vietnamese and English lecturers.  
Moreover, all the students made an online survey at surveymonkey.com  
to give their opinions and 10 random students of each class were  
interviewed. The result showed that movie dubbing improved students’  
pronunciation more than making ordinary videos.  
Received:  
Revised:  
10/6/2021  
09/8/2021  
09/8/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Pronunciation  
English-major students  
Movie dubbing  
Make videos  
Intonation  
SỬ DỤNG LỒNG TIẾNG PHIM TRONG GIẢNG DẠY PHÁT ÂM  
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ  
Bùi Thị Ngọc Oanh  
Trường Đại học Nha Trang  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 10/6/2021  
Ngày hoàn thiện: 09/8/2021  
TÓM TẮT  
Phát âm tiếng Anh rất quan trọng giúp sinh viên có kỹ năng nghe và  
nói tốt. Khi nói tiếng Anh, sinh viên cần phát âm và ngữ điệu tốt để  
người nghe có thể hiểu được, do đó giảng viên đã chọn phương pháp  
Ngày đăng: 09/8/2021 lồng tiếng phim bằng tiếng Anh các đoạn phim ngắn mà sinh viên yêu  
thích để cải thiện ngữ âm của sinh viên. Bài báo này nhằmnghiên cứu  
giữa lồng tiếng phim và quay video lồng tiếng thông thường, phương  
TỪ KHÓA  
pháp nào có hiệu quả hơn và những khó khăn của sinh viên khi thực  
hiện mỗi phương pháp này. Đối tượng nghiên cứu là 40 sinh viên của  
lớp 61NNA1 (nhóm đối chứng) chia thành nhóm nhỏ và quay hai  
video theo các hai chủ đề tự do, và 40 sinh viên của lớp 61NNA4  
(nhóm thử nghiệm) chia nhóm nhỏ và lồng tiếng phim cho 2 phim mà  
họ thích gửi lên trang Elearning.ntu.edu.vn của mỗi lớp. Cuối khóa  
học, phát âm của họ được kiểm tra ở kỳ thi vấn đáp cuối kỳ với cả giáo  
viên tiếng Việt và giáo viên nước ngoài. Tất cả sinh viên của cả hai lớp  
làm khảo sát trên trang web surveymonkey.com để biết ý kiến về hai  
phương pháp này và 10 sinh viên ngẫu nhiên của hai lớp được phỏng  
vấn sâu. Kết quả nghiên cứu là lồng tiếng phim đã cải thiện phát âm  
của sinh viên chuyên ngữ hơn so với quay video thông thường.  
Ngữ âm  
Sinh viên chuyên ngữ  
Lồng tiếng phim  
Quay video  
Ngữ điệu  
Email: oanhbtn@ntu.edu.vn  
22  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
1. Giới thiệu  
Khi học các học phần khác và khi đi làm, kỹ năng nói tiếng Anh rất cần thiết cho sinh viên.  
Khi nói, sinh viên cần phát âm tốt, rõ ràng và có ngữ điệu tốt để người nghe có thể hiểu được.  
Theo Yates (2002), “ngữ âm là phát ra âm thanh để tạo ra ý nghĩa của lời nói”. Trong lớp ngữ âm  
thực hành, sinh viên phát âm tốt, nhưng khi thuyết trình và học các môn khác như môn nói, nghe,  
viết và các môn khác, sinh viên vẫn mắc các lỗi sai về phát âm như phát âm sai, chưa có nhấn từ  
và nhấn câu và chưa có nối từ [1].  
Vì vậy, sinh viên cần học phần ngữ âm 2 là luyện trọng âm, ngữ điệu và nối âm. Học ngữ âm  
sinh viên cần luyện tập thêm ngoài giờ và tự ý thức sửa sai khi phát âm. Theo Harmer (2001)  
“giáo viên nên phát triển các hoạt động để thúc đẩy sinh viên sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp  
thật” [2]. Do đó, giảng viên đã chọn phương pháp lồng tiếng phim và quay video theo sở thích  
để cải thiện ngữ âm của sinh viên chuyên ngữ học kỳ hai năm nhất.  
Lồng tiếng phim là quá trình thêm âm thanh khi tắt âm thanh gốc đi. “Lồng tiếng, trộn hay thu  
âm lại là quá trình hậu sản xuất phim hay video khi các đoạn ghi âm thêm vào hay bổ sung trộn  
với âm thanh gốc để tạo ra bộ thu âm hoàn chỉnh” [3]. Lồng tiếng phim rất phổ biến với khán giả  
vì đó là phương tiện dịch sang ngôn ngữ nguồn của khán giả. Theo Burston (2005), lồng tiếng  
phim là thay giọng nói của sinh viên vào những thu âm có sẵn và là cơ hội tuyệt vời để phát triển  
kỹ năng học ngôn ngữ cho người học ở mọi trình độ [4]. Kỹ thuật này giúp sinh viên phát triển  
kỹ năng nói và tự tin tạo ra âm thanh và ngôn ngữ trong bối cảnh cụ thể và điều đó giảm áp lực  
cho người học và quá trình dạy học thú vị hơn. Khi lồng tiếng phim, các ngôn ngữ của người dịch  
phải khớp với cử động môi của diễn viên. Tương tự, khi sinh viên lồng tiếng trong tiếng Anh,  
việc lồng tiếng phải khớp với hội thoại của nhân vật và ngữ điệu trong video gốc. Theo Tanase  
and Cuza (2014), lồng tiếng phim là thay thế âm thanh gốc bằng tiếng gần giống nhất có thể về  
mặt thời gian, phân nhịp và cử động môi của hội thoại gốc [5].  
Lồng tiếng video là cơ hội cho sinh viên nghe nhiều lần video của mình cần lồng tiếng để chú  
ý ngữ điệu và phát âm, sau đó sinh viên mới có thể bắt đầu lồng tiếng. Việc nghe nhiều lần và  
đọc theo kịch bản giúp sinh viên phát triển kỹ năng nghe hiểu, từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm [6].  
Sinh viên còn được tiếp cận công nghệ với các phần mềm lồng tiếng khác nhau.  
Bên cạnh đó, đóng vai là một hoạt động giao tiếp và lặp lại các tình huống như trong cuộc đời  
thật [6]. Ngoài ra sinh viên có cơ hội làm việc nhóm với các bạn của mình. Sinh viên chủ động  
trong việc học của mình khi chọn các video mà mình thích để luyện tập. Đặc biệt là sinh viên  
được luyện ngữ điệu của người bản xứ.  
Kết quả nghiên cứu định tính của Chiu (2012) cũng cho thấy các dự án lồng tiếng phim là một  
công cụ hữu hiệu để cải thiện ngữ âm và ngữ điệu về một số phương diện sau: (1) Lồng tiếng  
phim giúp người học giảm phát âm sai, (2) Các dự án giúp người học cải thiện sự lưu loát, (3)  
Lồng tiếng phim giúp người học nâng cao nhận thức về ngữ điệu, (4) Người học kết nối kiến thức  
trong sách ngữ âm với cách dùng trong thực tế, (5) Lồng tiếng phim đáp ứng nhận thức của người  
học [7].  
Lồng tiếng có thể tăng sự tự tin của người học khi phát âm. Sinh viên cảm thấy nhiệt tình và  
thích thú khi được chọn video mình yêu thích. Ngoài ra, khi xem lại video, sinh viên tự nhận thấy  
mình còn đọc sai và thiếu sót chỗ nào để tự chỉnh sửa. Lồng tiếng phim còn giúp sinh viên tăng  
khả năng làm việc nhóm, phát triển từ vựng và tư duy của họ. Theo Pamungkas (2019), lồng  
tiếng phim cải thiện phát âm của sinh viên về các khía cạnh: nguyên âm đơn, nguyên âm đôi, và  
phụ âm. Ngoài ra, sinh viên thấy tự tin hơn qua các giai đoạn làm video [8].  
Theo Musrafidin (2018), dùng video để dạy ngữ âm có thể cải thiện đáng kể sự phát âm chính  
xác của sinh viên và giáo viên nên tận dụng các video để dạy ngữ âm và âm vị học [9]. Theo  
Encalada và Sarmiento (2019), sinh viên tự làm video theo sở thích của mình đã cải thiện từ  
vựng, ngữ âm và họ không còn sợ sệt khi nói tiếng Anh [10].  
Nghiên cứu này nhằm trả lời hai câu hỏi sau:  
23  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
1. Lồng tiếng phim và quay video theo sở thích, phương pháp nào hiệu quả hơn?  
2. Sinh viên gặp những khó khăn gì khi lồng tiếng phim và quay video theo sở thích?  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Đối tượng là 80 sinh viên chuyên ngữ của hai lớp 61NNA 1 (nhóm đối chứng) và 61NNA4  
(nhóm thử nghiệm) ở độ tuổi từ 18 - 19 tuổi. 40 sinh viên mỗi lớp tự chia thành các nhóm từ 4  
đến 5 sinh viên và mỗi nhóm làm hai video. Sinh viên lớp 61NNA1, nhóm đối chứng, quay video  
phát âm của nhóm với những chủ đề tự do như các bài phát biểu của những người nổi tiếng, hội  
thoại, đọc bản tin, phỏng vấn, đọc thơ hay hát các bài hát mình yêu thích, làm chương trình thực  
tế,… Các nhóm trong lớp 61NNA4 thực hiện lồng tiếng cho hai video phim khác nhau mà mình  
yêu thích. Mỗi sinh viên của cả hai lớp sẽ nói hoặc lồng tiếng trong vòng hai phút. Sinh viên sẽ  
đọc và quay video nhiều lần cho đến khi đạt kết quả tốt nhất.  
Đối với nhóm thử nghiệm, giảng viên phải chọn những video mẫu phù hợp để giới thiệu cho  
sinh viên. Sau đó các nhóm sinh viên tự tìm các video phù hợp với trình độ và sở thích của nhóm  
và gửi cho giảng viên duyệt trước khi tiến hành lồng tiếng. Ngôn ngữ của video lồng tiếng phải  
phù hợp với trình độ của sinh viên nhằm giúp người học dễ hiểu video của mình. Sinh viên có thể  
tìm lời thoại của các video trên trang Youtube.com với chức năng bật lời thoại. Sau đó, sinh viên  
xem video và đọc nhiều lần lời thoại cho đến khi nhuần nhuyễn. Sinh viên tự phân chia vai trong  
video. Tiếp theo, sinh viên tự chuẩn bị bản thảo, ghi chú cho phân vai của mình. Sinh viên tự  
chọn các phần mềm lồng tiếng, đối chiếu với bản video gốc và thực hiện lồng tiếng phim nhiều  
lần cho đến khi có được kết quả tốt nhất. Cuối cùng, giáo viên chấm các video và cho nhận xét về  
phần lồng tiếng của sinh viên.  
Phương pháp nghiên cứu là sự kết hợp của phương pháp định tính và định lượng. Để có dữ  
liệu cho phương pháp định tính, tất cả 80 sinh viên của cả hai lớp làm khảo sát online trên trang  
surveymonkey.com vì khảo sát là công cụ hữu dụng cho một số lượng lớn sinh viên và kết thúc  
lớp học, sinh viên của cả hai lớp có bài kiểm tra vấn đáp cuối khóa để biết kết quả của việc luyện  
tập phát âm của mình để trả lời cho câu hỏi thứ 1 là phương pháp nào hiệu quả hơn. Kết quả kiểm  
tra vấn đáp cuối khóa chiếm 30% trong tổng quá trình học tập gồm điểm chuyên cần, điểm làm  
việc nhóm, và kết quả của 2 video. Bài kiểm tra cuối khóa gồm đánh giá ba phần về trọng âm từ  
và trọng âm câu; nối từ trong câu; và ngữ điệu trong câu và trong hội thoại.  
Để có kết quả định lượng và góp phần trả lời cho câu hỏi thứ 2, 10 sinh viên ngẫu nhiên của  
cả hai lớp được phỏng vấn cá nhân để biết được sinh viên suy nghĩ gì về phương pháp làm video  
và lồng tiếng và những khó khăn sinh viên gặp phải khi làm video.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Kết quả điểm 2 video của sinh viên của cả hai lớp  
Bảng 1. Kết quả 2 video của các nhóm  
Kết quả video 1  
Kết quả video 2  
6 -dưới 7điểm 7 -dưới 8điểm 8 -9 điểm 6 - dưới 7điểm 7 -dưới 8điểm 8 -9điểm  
Nhóm đối chứng  
Nhóm thử nghiệm  
10  
9
25  
24  
5
7
9
3
25  
29  
6
8
Qua kết quả chấm 2 video của các nhóm cả hai lớp, điểm làm video 2 của cả hai nhóm đều  
cao hơn so với điểm video 1 do sinh viên đã có luyện tập và có kinh nghiệm làm video. Kết quả  
video 2 của nhóm thử nghiệm 61NNA-4 cao hơn so với kết quả video 2 của nhóm đối chứng  
61NNA-1, điều này chứng tỏ ngữ âm của nhóm thử nghiệm tốt hơn so với nhóm truyền thống.  
3.2. Kết quả kiểm tra vấn đáp cuối khóa  
Để đảm bảo các giá trị của dữ liệu là đáng tin cậy, t-test được thực hiện giữa 2 nhóm: nhóm  
đối chứng 61NNA-1 và nhóm thử nghiệm 61NNA-4 và cho ra kết quả số liệu của bảng 2:  
24  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
Bảng 2. Kết quả T-test giữa hai nhóm thử nghiệm và đối chứng  
Mean  
6,56  
7,24  
Standard Deviation  
p-value  
The effect size  
61NNA-1  
61NNA-4  
0,85  
0,88  
0,02  
0,04  
Từ bảng 2, chúng ta thấy có sự khác nhau giữa giá trị trung bình của kết quả vấn đáp ngữ âm  
thực hành của 2 nhóm là 0,68 (7,25 – 6,56), cho thấy lớp 61NNA-4 có sự tiến bộ trong ngữ âm  
hơn nhóm đối chứng, 61NNA-1. Điều này nghĩa là sinh viên lồng tiếng phim cho kết quả học tốt  
hơn so với sinh viên quay video theo các chủ đề tự do.  
Với giá trị p=0,02, nhỏ hơn nhiều so với giá trị alpha 0,5, điều này có nghĩa có sự khác biệt  
lớn giữa lớp thử nghiệm và lớp đối chứng. Sự khác biệt này cho thấy kết quả từ phân tích dữ liệu  
không thể xảy ra một cách ngẫu nhiên mà do kết quả rèn luyện của sinh viên. Ngoài ra, việc sinh  
viên thích thú với video mà mình chọn cũng góp phần khuyến khích họ hứng thú với việc luyện  
phát âm.  
3.3. Kết quả phỏng vấn sinh viên  
Kết quả phỏng vấn 10 sinh viên ngẫu nhiên của mỗi lớp đã cho thấy những thuận lợi khi quay  
video là 100% sinh viên cho rằng họ có thể lập nhóm với những bạn mình đã quen biết để trao  
đổi thông tin và giúp đỡ nhau trong khi học phát âm một cách dễ dàng, và thuận lợi. 100% sinh  
viên được tự do chọn video có nội dung và tốc độ phù hợp với bản thân. 80% sinh viên cho rằng  
họ có cơ hội thể hiện khả năng sáng tạo của mình về các chủ đề, và thể loại video. 40% sinh viên  
nhóm thử nghiệm cho rằng lồng tiếng phim rất thú vị, nhưng các nhân vật đọc khá nhanh nên họ  
phải học thuộc lời thoại và điều chỉnh tốc độ của video gốc. Nhân vật nói nhanh bắt buộc sinh  
viên phải đọc nhiều lần, và chú ý phát âm cuối.  
Tuy nhiên, sinh viên cũng nêu lên một số khó khăn và thách thức khi làm video. Đối với sinh  
viên nhóm đối chứng, 60% gặp khó khăn trong việc cắt ghép, và chỉnh sửa video. Ngoài ra, 40%  
sinh viên còn có khó khăn khi có nhiều tạp âm trong khi quay video và khó tập trung khi có  
người. 30% sinh viên mất nhiều thời gian để chuẩn bị, lên ý tưởng và quay nhiều lần. 30% sinh  
viên còn phát âm không chuẩn, còn bị vấp và quên bài.  
40% sinh viên nhóm thử nghiệm cũng gặp những khó khăn như tạp âm khi quay, đọc chưa  
đúng, khó phát âm các âm cuối, và đọc không kịp các nhân vật trong video. 40% sinh viên nhóm  
thử nghiệm cũng mất nhiều thời gian quay, ghép, chỉnh sửa và canh thời gian lời thoại của các  
nhân vật. Bên cạnh đó, thiết bị của 20% sinh viên không đủ đáp ứng yêu cầu quay video và sinh  
viên cần nhiều thời gian tìm hiểu các kỹ thuật lồng tiếng phim. 20% sinh viên phải đọc nhiều lần  
để theo kịp lời thoại của nhân vật. Đặc biệt, 20% sinh viên nhóm thử nghiệm gặp khó khăn khi  
nhập tâm vào cảm xúc của nhân vật. Những khó khăn này đúng với nghiên cứu của Wati, I. M. &  
Rozimela [6] về việc sinh viên phải sử dụng công nghệ khi làm video.  
3.4. Kết quả khảo sát trực tuyến  
Kết quả khảo sát trực tuyến được thể hiện ở hình 1. Kết quả khảo sát của nhóm sinh viên đối  
chứng là 94% sinh viên đồng ý việc học phát âm rất quan trọng. 45% sinh viên cảm thấy việc  
quay video cải thiện 50 - 70% phát âm của mình và 25,8% sinh viên đồng ý phát âm của họ của  
họ được cải thiện 70 – 80%. Tương tự, 100% sinh viên nhóm thử nghiệm cho rằng việc học phát  
âm rất quan trọng và 40% sinh viên cho rằng phát âm của họ được cải thiện từ 50 - 70% và 28%  
cho rằng phát âm của họ được cải thiện từ 70 - 80%. Tuy số lượng sinh viên nhóm đối chứng cho  
rằng phát âm của họ cải thiện từ 50 – 70% cao hơn 5% số lượng sinh viên của nhóm thử nghiệm,  
nhưng số lượng sinh viên nhóm thử nghiệm cho rằng phát âm của họ cải thiện từ 70 - 80% cao  
hơn 2,2% số lượng sinh viên của nhóm đối chứng.  
Sinh viên của cả hai nhóm cho rằng quay video theo chủ đề tự do hay lồng tiếng phim đều cải  
thiện tất cả các khía cạnh của ngữ âm như nhấn từ, nhấn câu, âm điệu và nối từ.  
25  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
Sinh viên của cả hai nhóm đều đưa ra những giải pháp giống nhau để quay video hay lồng  
tiếng phim tốt hơn như sinh viên cần tra những từ chưa biết trong từ điển Cambridge hoặc  
Oxford, cố gắng luyện tập nhiều lần và nhuần nhuyễn trước khi quay video. Sinh viên cả hai  
nhóm đều phải học hỏi bạn bè và tìm tòi trên mạng các kỹ thuật quay video hay lồng tiếng phim  
và cách giảm tốc độ video xuống. Họ đưa ra những gợi ý về các phần mềm lồng tiếng như Viva  
video, KineMaster.  
100  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
Nhóm đối chứng  
Nhóm thử nghiệm  
Việc phát âm  
là quan trọng  
Quay video  
cải thiện 50 -  
70% phát âm  
Quay video  
cải thiện 70 -  
80% phát âm  
Hình 1. Kết quả khảo sát trực tuyến  
3.5. Những đề xuất khi cho sinh viên lồng tiếng phim  
- Sinh viên được tự do lựa chọn video mình ưa thích nên họ cảm thấy hứng thú hơn. Tuy  
nhiên, giảng viên nên lưu ý sinh viên chọn các video có tốc độ không nhanh hay không chậm và  
phân vai cho đều nhau. Có những sinh viên nói ít hơn những sinh viên khác khi chia vai theo  
từng nhân vật.  
- Giảng viên cần duyệt các video trước khi sinh viên lồng tiếng nhằm đảm bảo nội dung và tốc  
độ phù hợp với sinh viên.  
- Đôi lúc, sinh viên không đọc đủ thời gian quy định là 2 phút cho mỗi sinh viên.  
- Sinh viên gửi liền 2 video một lúc do đó không thấy sự tiến bộ sau một khoảng thời gian.  
- Trong video thứ hai, sinh viên có sự tiến bộ hơn so với video đầu tiên do họ đã quen với việc  
làm video và sinh viên chuẩn bị kỹ càng hơn.  
- Giảng viên dành thời gian chấm video và nhận xét cho từng sinh viên cho video đầu tiên để  
sinh viên có thể rút kinh nghiệm cho video thứ hai.  
- Để lồng tiếng phim, sinh viên có thể dùng các phần mềm như Filmora 9, Camtasia 9, Inshot  
trên điện thoại, hay KineMaster.  
4. Kết luận  
Với kỹ thuật lồng tiếng phim, sinh viên có thể cải thiện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, kỹ năng  
nói và sự tự tin hơn so với phương pháp quay video theo sở thích. Lồng tiếng phim tạo hứng thú  
cho sinh viên khi học ngữ âm 2 vì sinh viên tự do lựa chọn video mình yêu thích. Sinh viên tự ghi  
chú, đọc hiểu và chuẩn bị lời thoại cho video của mình và tự tìm những phần mềm chỉnh sửa  
video để hoàn thành phần lồng tiếng. Đây còn là cơ hội cho sinh viên làm việc nhóm ngoài giờ  
học và tiếp cận công nghệ lồng tiếng phim. Tuy nhiên, sinh viên gặp những khó khăn về tốc độ  
nói của nhân vật, phân vai không đều, và tìm phần mềm lồng tiếng phù hợp. Giảng viên cần dành  
thời gian duyệt video, nhận xét và rút kinh nghiệm để người học tiến bộ hơn.  
26  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 22 - 27  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] L. Yates, What is pronunciation?. Adult Migrant English Program Research Centre, La Trobe  
University, 2002, pp. 21-24.  
[2] J. Harmer, How to teach English. Essex: Pearson Education Limited, 2001, pp. 64-65.  
[3] Wikipedia, “Dubbing (filmmaking),” June 8, 2021. [Online]. Available: https://en.wikipedia.org/wiki  
/Dubbing_(filmmaking). [Accessed December 20th, 2021].  
[4] J. Burston, “Video dubbing projects in the foreign language curriculum,” CALICO Journal, vol. 23, no.  
1, pp. 79-92, 2005.  
[5] V. Tanase and A. I. Cuza, “Pros and Cons of subtitling and dubbing of audiovisual texts in children’s  
programs and cartoons,” Language and Discourse, vol. 3, pp. 968-975, 2014.  
[6] I. M. Wati and Y. Rozimela, “The use of Dubbing Video Technique for Improving Students’ Speaking  
Skill and Confidence of Senior High School Students,” Journal of English Language Teaching, vol. 8,  
no. 1, pp. 259-269, 2019. [Online]. Available: http://ejournal.unp.ac.id/index.php/jelt/article/view/  
103579/101419. [Accessed June 8, 2021].  
[7] Y. H. Chiu, “Can film dubbing projects facilitate EFL learners’ acquisition of English pronunciation,”  
British Journal of Educational Technology, vol. 43, no. 1, pp. 24-27, 2012.  
[8] F. D. Pamungkas, “How video dubbing can improve students’ speaking pronunciation,” English  
Teaching Learning and Research Journal, vol. 5, no. 1, pp. 41-53, 2019.  
[9] M. H. S. Musrafidin, “The effect of applying videos on the Students’ English Pronunciation Accuracy  
at the Fifth semester Students at the English Study Program of the Teacher’s training and and  
Education Facility the University of Sisingamangajara XII Tapanuli in Academic Year 2018/2019,”  
International Journal of English Literature and Social Sciences, vol. 3, no. 6, pp. 1000-1007, 2018.  
[10] M. A. S. Encalada and S. M. A. Sarmento, “Perceptions about Self-recording videos to develop EFL  
speaking skills in two Ecuadorian universities,” Journal of Language Teaching and Research, vol. 10,  
no. 1, pp. 60-67, 2019.  
27  
pdf 6 trang baolam 30060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng lồng tiếng phim trong giảng dạy phát âm cho sinh viên chuyên ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_long_tieng_phim_trong_giang_day_phat_am_cho_sinh_vie.pdf