Đề mở và năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Ngữ văn trường trung học phổ thông
Nguyễn Thị Hương Lan
Đề mở và năng lực sáng tạo của học sinh
trong môn Ngữ văn trường trung học phổ thông
Nguyễn Thị Hương Lan
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
TÓM TẮT: Sáng tạo là một trong những năng lực kì diệu của con người, góp
phần nâng cao giá trị cuộc sống, làm cho cuộc sống của con người trở nên
thực sự có ý nghĩa. Với môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông, yêu cầu
về sự sáng tạo của người học rất cần thiết. Đề mở trong dạy học môn Ngữ văn
được xem là công cụ quan trọng, vừa khơi gợi hứng thú, đam mê học tập, vừa
đo lường, đánh giá mức độ sáng tạo của người học. Dựa trên quan điểm này,
bài báo trình bày một số quan niệm về đề mở, các dạng đề mở, một số vấn
đề cơ bản về năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Ngữ văn và đặc biệt
nhấn mạnh vai trò của đề mở trong việc hình thành, phát triển năng lực sáng
tạo của học sinh trung học phổ thông.
101 trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Email: huonglanql[email protected]
TỪ KHÓA: Câu hỏi mở; năng lực; năng lực sáng tạo; Ngữ văn; trung học phổ thông.
Nhận bài 10/6/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 04/8/2020 Duyệt đăng 25/11/2020.
1. Đặt vấn đề
Nói về NL ST, tác giả Huỳnh Văn Sơn [1] quan niệm:
Sáng tạo (ST) là một trong những năng lực (NL) kì “NL ST là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết
diệu của con người, góp phần nâng cao giá trị cuộc sống, vấn đề một cách mới mẻ của con người. Trên phương
khiến cuộc sống trở nên thực sự ý nghĩa. Nhờ có NL ST diện ST là những tiền đề thành tích của nhân cách đặc
con người có thể đối mặt với những thử thách trong cuộc trưng những phẩm chất tâm lí, trước hết là những phẩm
sống. NL ST cũng là điều kiện để con người vượt qua chất trí nhớ và xúc cảm - động cơ và phẩm chất ý chí cho
được những gì đã có; chinh phục những thành tựu lớn lao con người tiếp cần giải quyết vấn đề một cách tự lập linh
hơn, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Như Edward de Bono hoạt, mềm dẻo, độc đáo và với tốc độ nhanh. Đặc trưng
từng phát biểu: ST là một trong những nguồn lực quan của NL ST là khả năng giải quyết một vấn đề một cách
trọng nhất của loài người. Không có ST, không có sự tiến ST dựa trên những phẩm chất và nhân cách. Khả năng
bộ và chúng ta sẽ mãi mãi giẫm chân tại chỗ. Nhận thức này đòi hỏi chủ thể phải có sự tập trung trí tuệọ theo
sâu sắc tầm quan trọng của NL ST, trong những năm gần hướng vận dụng tối đã nội lực tư duy tìm ra phương án
đây, yêu cầu phát triển NL ST cho người học đã trở thành đặc biệt tối ưu khi giải quyết vấn đề. NL ST quy định sự
một trong những mục tiêu quan trọng được ngành GD nảy sinh và diễn biến kể cả trong trường hợp ST bột phát
đặt ra. Việc đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) các môn hay trực cảm lóe sáng.
học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đã và đang có
Theo tác giả Trần Thị Bích Liễu [2]: “NL ST được xem
những thay đổi rõ nét theo hướng phát triển NL học sinh là khả năng của một người sản sinh các ý tưởng mới,
nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái mới trong
cấu trúc cũ của sự vật hiện tượng để tạo ra các sản phẩm
mới. Sản phẩm của ST là ý tưởng, vật dụng mới, cấu trúc
mới”.
(HS), chú ý tới nhóm NL chung trong đó có NL ST. Một
biểu hiện cụ thể ở môn Ngữ văn là sự xuất hiện ngày
càng phổ biến các đề mở/câu hỏi mở trong các đề kiểm
tra, các đề thi. Đề mở được xem là công cụ hữu hiệu để
đánh giá NL ST của người học. Tuy nhiên, trên thực tế,
GV chưa có cách hiểu thống nhất về đề mở và chưa có
kĩ năng xây dựng đề mở một cách khoa học, phù hợp với
yêu cầu phát triển NL ST của HS. Để góp phần làm rõ
những vấn đề này, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi
tập trung tìm hiểu quan niệm về đề mở, các dạng đề mở,
NL ST của HS trung học phổ thông (THPT) trong môn
Ngữ văn và vai trò của đề mở trong việc phát triển NL
ST của HS THPT.
Như vậy, có thể hiểu rằng NL ST là khả năng của một
người khi sản sinh các ý tưởng mới, nhìn nhận vấn đề
theo cách mới, phát hiện cái mới trong cái cũ, để tạo
ra các sản phẩm mới hữu ích và ý nghĩa với bản thân,
cộng đồng. NL ST được xem như là một NL cơ bản cần
phải phát triển cho HS Việt Nam trong thế kỉ XXI. Trong
Chương trình GD phổ thông tổng thể (2018) NL ST được
cụ thể hóa cho từng cấp học với những biểu hiện khác
nhau cho thấy khả năng của HS trong việc hình thành ý
tưởng mới, đề xuất được các giải pháp mới hay cải tiến
làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải
quyết một vấn đề.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Năng lực sáng tạo của học sinh trung học phổ thông
Số 35 tháng 11/2020
29
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Tác giả Nguyễn Quang Hòe [3] đã xác định 6 biểu hiện ứng tốt với những nhiệm vụ mới, có các câu trả lời ST,
của NLST của HS trong môn học Toán, gồm: 1/ NL tự có thái độ say mê khám phá vấn đề liên quan đến bài học.
chuyển tài tri thức và kĩ năng từ lĩnh vực quen biết sang
2.2. Năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Ngữ văn ở
tình huống mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều
kiện mới, hoàn cảnh mới; 2/ NL thấy vấn đề trong điều
kiện quen biết (tự đặt câu hỏi mới cho mình và cho mọi
người về bản chất của các điều kiện, tình huống, sự vật,
…). NL nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen
biết; 3/ NL nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên
cứu. Thực chất NL này là bao quát nhanh chóng, đôi khi
ngay tức khắc, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng
trong mối quan hệ giữa chúng với nhau; 4/ NL đề xuất
các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống.
Khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra
giả thuyết hay các dự đoán khác nhau khi phải lí giải
một tình huống; 5/ NL xác nhận (hoặc phủ nhận) bằng
lí thuyết các giải thuyết. NL đề xuất các phương án giải
quyết vấn đề như chứng minh định lí, như giải toán. Thể
hiện HS xác định vùng kiến thức toán nhanh, NL chuẩn
đoán chính xác; 6/ NL nhìn nhận một vấn đề dưới những
góc độ khác nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh
khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau. NL tìm ra giải pháp
lạ, chẳng hạn: đối với bài toán, có nhiều cách nhìn để tìm
ra lời kiến giải, NL kết hợp với các phương pháp giải bài
tập để tìm ra một phương pháp giải mới, độc đáo. Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Gấm [4] đã đưa ra một số biểu hiện
NL ST của người học gồm:
trường trung học phổ thông
Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018)
đã nhấn mạnh tới đặc điểm nổi bật của môn Ngữ văn, đó
là tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn, giúp HS có
công cụ giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn
học khác trong nhà trường, đồng thời giáo dục HS về cái
đẹp, phát triển ở người học những cảm xúc lành mạnh,
tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha,... Môn học
này có những ưu thế vượt trội trong việc phát huy NL ST
của người học. Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị
Hồng Vân [5] chỉ ra rằng: Việc hình thành và phát triển
NLST của HS là một mục tiêu mà môn Ngữ văn hướng
tới. Tác giả cũng đã đưa ra những biểu hiện của NL ST
trong môn Ngữ văn gồm:
- Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một nhân vật, sự
vật, hiện tượng để xác định và làm rõ thông tin, ý tường
mới, phân tích kết nối những thông tin liên quan từ nhiều
nguồn dữ liệu khác nhau theo góc nhìn cá nhân để hình
thành ý tưởng.
- Đề xuất được giải pháp, cách thức thực hiện ý tưởng
dựa trên các nguồn thông tin đã cho, thể hiện những suy
nghĩ riêng về các vấn đề và cách thức triển khai vấn đề,
so sánh và bình luận được về tác dụng, hiệu quả các ý
tưởng được đề xuất.
“- Đề xuất cách giải quyết mới, ngắn gọn hơn đối với
một vấn đề quen thuộc.
- Tự lập kế hoạch, tự thực hiện kế hoạch để đạt được
kết quả với những bài tập, nhiệm vụ xác định.
- Phát triển nhiều ý tưởng từ một vấn đề, đề xuất nhiều
phương pháp (cách giải) khác nhau.
- Có cách thể hiện riêng những cảm nhận, suy nghĩ cá
nhân về nhân vật, sự vật, hiện tượng trong văn học và
cuộc sống, có cách thức riêng trong việc vận dụng những
điều đã biết vào tình huống, bối cảnh mới, quan tâm tới
các lập luận và minh chứng thuyết phục.
- Có tư duy độc lập và khả năng truyền cảm hứng cho
người khác, không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn
đề, say mê tìm tòi và mong muốn được tìm hiểu, khám
phá, sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề.
Tùy từng cấp học, biểu hiện NL ST của HS sẽ khác
nhau. Thực tế cho thấy, ở nhóm HS cấp THPT, NL ST
thường có một số biểu hiện nổi bật như: NL tư duy ST,
NL diễn đạt ST, sự tò mò, yêu thích khám phá và tưởng
tượng; thái độ tích cực đối với sự ST…
Năng lực tư duy sáng tạo: Trong những biểu hiện của
NL ST, trước tiên phải kể tới NL tư duy ST. Liên quan tới
vấn đề này, chúng tôi tìm hiểu thang tư duy của Benjamin
S.Bloom và các cộng sự với 6 cấp độ, được miêu tả như
hình một kim tự tháp. Các cấp độ (từ dưới lên) lần lượt
là: Nhớ/kiến thức (Knowledge), Hiểu (Comprehension),
Vận dụng (Application), Phân tích (Analysis), Đánh giá
- Vận dụng kiến thức kĩ năng đã biết vào thực tế để đề
xuất phương án giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
- Bổ sung, thiết kế lại mô hình thí nghiệm, đồ dung dạy
học ban đầu thành một mô hình mới hợp lí hơn.
- Tận dụng những cái có trong thực tế để thay thế tạo ra
cái mới mà vẫn đảm bảo yêu cầu, đạt kết quả tốt.
- Phát hiện, phân tích đề ra giả thuyết và đáng giá đúng
vấn đề.
- Đề xuất và thực hiện cách làm mới không theo đường
mòn, không theo những quy tắc đã có.”
Có thể nói, vấn đề NL ST của HS đã thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học. Mỗi tác giả có góc
nhìn riêng với các cách diễn đạt khác nhau nhằm nhấn
mạnh quan điểm cá nhân về NL ST, song nhìn chung đều
có sự đồng thuận cao về cốt lõi bản chất của quan niệm
tập trung vào phương diện: vận dụng kiến thức, kĩ năng
đã có để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, độc đáo. (Evaluation) và ST. Theo chúng tôi, khả năng tư duy ST
Theo chúng tôi, NL ST của HS là biết vận dụng kiến thức của HS cấp THPT được thể hiện tập trung ở NL phát
đã học một cách linh hoạt, thành thạo, giàu ý tưởng để hiện những ý tưởng mới, thể hiện góc nhìn riêng về một
giải quyết những vấn đề/nhiệm vụ trong học tập; thích vấn đề nào đó và NL đề xuất những giải pháp mới, cách
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
30
Nguyễn Thị Hương Lan
lí giải riêng về vấn đề trên cơ sở của những liên tưởng, phát triển NL này cho người học. Tuy nhiên, thực tế cho
tưởng tượng phong phú.
thấy: NL là một khái niệm trừu tượng, vì vậy ngoài mục
Năng lực diễn đạt sáng tạo: NL diễn đạt là khả năng tiêu thấy được những biểu hiện, còn cần phải mô tả được
hiện thực hóa những tri thức về ngôn ngữ và quy tắc sử những biểu hiện bằng các chỉ số hành vi cụ thể ở HS,
dụng ngôn ngữ bằng câu chữ, ngôn từ, hình ảnh… sao lấy đó làm căn cứ để theo dõi mức độ phát triển NLST.
cho mạch lạc, phù hợp với mục đích, yêu cầu của hoạt
động giao tiếp. NL diễn đạt một mặt gắn với NL sử dụng
ngôn ngữ, một mặt lại liên quan trực tiếp đến khả năng tư
duy của HS. Biểu hiện của NL diễn đạt ST ở HS là: Khả
năng làm chủ ngôn ngữ, ST trong sử dụng ngôn ngữ;
Khả năng diễn đạt những cảm nhận, quan điểm của bản
thân một cách độc đáo, mới mẻ.
Yêu thích khám phá và tưởng tượng, có thái độ tích
cực đối với sự sáng tạo: Biểu hiện của NL ST dễ thấy
nhất ở HS là thái độ yêu thích khám phá, tìm hiểu vấn
đề đặc biệt là các tác phẩm văn học, khát vọng được giải
mã ý nghĩa ẩn chứa trong các hình tượng văn học. Với
niềm say mê, yêu thích văn học, các em thường không
dừng lại ở việc lắng nghe lời giảng giải, phân tích từ phía
GV mà có xu hướng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng
theo hình dung của mình, đặt ra các câu hỏi giả định
xoay quanh tác phẩm như: Vì sao lại thế? Có điều gì đặc
biệt? Nếu như…thì… và liên hệ với những trải nghiệm
của bản thân để hiểu sâu sắc hơn về đối tượng. Thái độ
tích cực đối với sự ST cũng là một tiền đề để phát triển
NL ST ở HS, ví dụ: Tiếp xúc với một tác phẩm hay (độc
đáo về hình thức, sâu sắc về tư tưởng), nếu HS cảm thấy
hào hứng, tâm đắc với mới lạ đó thì sẽ có động lực để ST
trong việc học tập môn Ngữ văn. Thái độ tích cực này
Chúng tôi cũng nghiên cứu để sắp xếp các chỉ số trong
sơ đồ trên theo mức độ từ thấp đến cao, có thể lập được
bảng mô tả đường phát triển NL ST của HS cấp THPT
trong môn Ngữ văn như dưới đây (xem Bảng 1).
2.3. Quan niệm về đề mở và các dạng đề mở
Khái niệm đề mở, xét về nguồn gốc, có thể liên quan
đến tên gọi của một dạng bài kiểm tra ở nước Mĩ. Đó là
dạng Test/examination with open books, open notes (bài
kiểm tra cho phép được mở sách vở), phân biệt với dạng
Test/examination with closed books, closed notes (kiểm
tra không được mở sách, mở vở. Sau này, khái niệm đề
̣
mở đươc hiểu mở rộng hơn ý nghĩa là một loại đề cho
phép mở tài liệu khi làm bài. Chữ mở trong đề mở có thể
được hiểu như là một đặc điểm, một phẩm chất của đề,
nó quy định sự khác nhau giữa đề mở và đề truyền thống
(còn gọi là đề đóng). Nếu đề truyền thống là những đề
bài có yêu cầu cụ thể về nội dung, cách thức thực hiện,
phạm vi tư liệu; thì đề mở là dạng đề chỉ có những gợi
dẫn nhất định, tùy theo từng trường hợp HS được tự lựa
chọn vấn đề, cách triển khai hoặc nguồn tư liệu để thực
hiện đề bài một cách hiệu quả nhất theo quan điểm của
mình.
Tác giả Trần Đình Sử [6] quan niệm: Đề mở là loại
sẽ duy trì cảm hứng cho HS, để các em phát triển những đề có khả năng tạo không gian thoáng cho HS suy nghĩ.
liên tưởng, tưởng tượng của bản thân về tác phẩm, qua Nhận định về đề mở, tác giả Đỗ Ngọc Thống [7] cũng nêu
đó học tập hiệu quả hơn.
quan niêꢀ về đề mở như sau: Đề mở là loại đề chỉ nêu
chỉ nêu đề
miêu tả… không nêu mênꢁ lệnh gì
Xác định được biểu hiện của NL ST ở HS cấp THPT vấn đề cần bàn luâꢀ trong bài nghị luâꢀ hoăc
là cơ sở để tổ chức các PPDH, KTĐG phù hợp nhằm tài để viết văn tư ̣sư,̣
̣
Bảng 1: Đường phát triển NL ST của HS cấp THPT trong môn Ngữ văn
Mức độ
Biểu hiện
5. Say mê khám phá HS có thể theo đuổi nhiều ý tưởng mới trong việc cảm nhận vấn đề xã hội và văn học; Có khám phá riêng, độc đáo, hấp
và theo đuổi ý tưởng, dẫn trong cách thức trình bày; Có khả năng thuyết phục người khác cùng đồng điệu với cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân;
giải pháp mới
Có cách thức riêng trong việc vận dụng những hiểu biết về các vấn đề xã hội và văn học vào cuộc sống của bản thân.
4. Đánh giá ý tưởng, HS có thể đặt được nhiều câu hỏi có giá trị khi tiếp cận các vấn đề xã hội và văn học; Biết xem xét vấn đề từ nhiều góc
giải pháp
nhin, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; Không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; Có khả năng suy nghĩ
độc lập để điều chỉnh, thay đổi phương án triển khai vấn đề; Sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề.
3. Chia sẻ và thực HS có khả năng phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác khi giải quyết các vấn đề xác hội và văn
hiện giải pháp
học; Có thể phân tích, tổng hợp được các ý kiến để lựa chọn cách thức triển khai phù hợp; xác định được các lập luận và
minh chứng đáng tin cậy cho quá trình triển khai vấn đề.
2. Kết nối thông tin HS có khả năng liên tưởng, tưởng tượng khi tiếp nhận các vấn đề xã hội và văn học; Có khả năng suy nghĩ và kết nối những
cá nhân và xác định thông tin liên quan từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để triển khai một vấn đề nào đó; Có thể trao đổi, chia sẻ để bảo vệ
giải pháp
hoặc điều chỉnh ý kiến cá nhân.
1. Nhận diện thông HS có thể xác định được một số thông tin ban đầu và đề xuất ý tưởng mới đối với với bản thân từ các nguồn tài liệu cho
tin và đề xuất ý tưởng sẵn theo hướng dẫn; Nêu được ý kiến của cá nhân về vấn đề xã hội và văn học; Biết nêu câu hỏi theo nhu cầu cá nhân để
tìm hiểu các thông tin khác nhau về các vấn đề được thể hiện trong các tài liệu được tiếp nhận.
Số 35 tháng 11/2020
31
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải rằng, nội dung đánh giá không chỉ là những gì đã học mà
thích, hãy phân tích… hoăc phương thức biểu đaꢂ như: còn là yêu cầu tổng hợp, liên hệ nhiều nội dung đã học,
̣
hãy kể, hãy phát biểu cảm nghĩ,… Tác giả Nguyễn Thị không chỉ giữa các phân môn trong môn học mà còn cả
Hồng Vân [8] cho rằng, cách ra đề theo hướng mở yêu những hiểu biết từ các môn học khác. Tăng cường yêu
cầu HS tìm mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng của
bài học với các hiện tượng, sự vật, sự việc, con người, …
thường xuất hiện trong đời sống sinh hoạt cũng như công
việc hàng ngày. Phương thức đánh giá không chú trọng
yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ
những điều thầy, cô đã dạy mà coi trọng ý kiến và cách
giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học, động viên
những ST mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện
trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết
phục, … muốn thế, đề thi và đáp án cần theo hướng mở.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân [8] khẳng định hiệu quả
phân hóa NL người học. Theo tác giả, khi giải quyết yêu
cầu của đề mở HS ở các trình độ khác nhau đều có cơ hội
thể hiện suy nghĩ và NL cá nhân. Như vậy, mức độ phân
hóa rất rõ theo từng đối tượng. Nghĩa là, HS nào cũng có
thể lựa chọn được “đất diễn” phù hợp với mình. Đề mở
yêu cầu người viết vận dụng tổng hợp những kiến thức
kĩ năng và sự trải nghiệm của cá nhân để giải quyết tốt
nhất vấn đề nêu lên ở đề bài. Tùy vào nội dung vấn đề mà
người viết sẽ lựa chọn vấn đề, thao tác và phương thức
biểu đạt phù hợp. Tóm lại, đề mở sẽ mang đến cho HS
một không gian đủ rộng để HS hình thành và phát triển
NLST của bản thân. Có thể nói, đề thi/kiểm tra môn Ngữ
văn theo hướng mở có vai trò gián tiếp thúc đẩy sự hình
thành và phát triển NL, phẩm chất của người học. Đề mở
đòi hỏi HS phải thể hiện NL chung và NL môn học mới
có thể giải quyết được thì nghiễm nhiên người giáo viên
không thể dạy theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều.
Đề mở sẽ đo được nhiều NL hơn, thể hiện chính xác tư
tưởng, tình cảm và cả trí tuệ của người học. Việc phải
vận dụng nhiều NL để giải quyết nhiệm vụ của đề thi,
kiểm tra sẽ giúp giáo viên đánh giá đúng NL của HS ở
các mức độ khác nhau. Từ những biểu hiện về NLST đã
luận giải ở phần trên, chúng tôi xem xét cụ thể tác dụng
của đề mở trong việc hình thành và phát triển những biểu
hiện cụ thể này như sau:
cầu người viết cần vận dụng tổng hợp những kiến thức,
kĩ năng và sự trải nghiệm của cá nhân để giải quyết tốt
nhất vấn đề hay đề tài được nêu ra ở đề bài; tuỳ vào nội
dung vấn đề, đề tài mà người viết sẽ lựa chọn và quyết
định các thao tác và phương thức biểu đạt phù hợp. Có
thể thấy, các quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ đề cao
tính không hạn định của đề mở. Các nhà nghiên cứu đã
nhìn nhận tính mở của đề mở ở nhiều phương diện khác
nhau, tùy thuộc vào tính chất và yêu cầu của kì thi/kì
kiểm tra và của đối tượng làm bài.
Như vậy, đề mở là dạng đề chỉ nêu vấn đề ở mức khái
quát mà không đưa ra những yêu cầu bắt buộc hay cụ thể
nhằm tạo điều kiện để HS có thể chủ động, linh hoạt tìm
cách giải quyết vấn đề với quan niệm khác nhau miễn là
có sức thuyết phục và đúng hướng.
Có những cách phân loại đề mở/câu hỏi mở trong môn
Ngữ văn dựa vào những tiêu chí khác nhau: căn cứ về
tính mở của đề trên các phương diện về nội dung, thao
tác thực hiện, phạm vi tư liệu,... Theo tác giả Trần Đình
Sử [6] có bốn dạng đề mở gồm: 1/ Loại đề cho đề tài; 2/
Loại đề cho tài liệu; 3/ Đề cho HS điền chỗ trống; 4/ Đề
mở cho HS lựa chọn kết quả đọc hiểu. Tác giả Nguyễn
Thị Minh Duyên [9] quan niệm, có ba dạng đề mở chủ
yếu, bao gồm: 1/ Đề mở về nội dung; 2/ Đề mở về thao
tác; 3/ Đề mở về phạm vi tư liệu.
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc
phân chia các dạng đề mở chỉ có tính tương đối vì thực
tế có nhiều đề mở giao thoa giữa các dạng. Đó là những
đề bài vừa cho phép HS được triển khai bằng nhận thức
của bản thân, vừa không bắt buộc về cách thức trình bày
văn bản hay phạm vi tư liệu. Chẳng hạn như: Viết tiếp
một câu chuyện, viết lại câu chuyện, cảm nghĩ về một
bức tranh… các đề này đã tạo không gian mở tối đa cho
HS phát huy NLST của mình.
2.4. Vai trò của đề mở trong việc hình thành và phát triển năng
lực sáng tạo của học sinh trung học phổ thông
- Đề mở giꢀp phát triển NL tư duy ST: Đề mở với
đặc điểm không bị đóng khung một cách cứng nhắc
vào những quan điểm, nhận định có sẵn và không bị gò
bó bởi những yêu cầu buộc phải thực hiện kiểu mệnh
lệnh… nên đứng trước một đề mở đồng nghĩa với việc
người làm bài đứng trước một sự lựa chọn, một sự tìm
đường, chọn đường khó khăn nhưng cũng đầy hứng thú.
Vì không có những chỉ dẫn kiểu “bày cỗ”, nên người làm
bài sẽ phải tự suy nghĩ, cân nhắc cách thức triển khai bài
- Đề mở phát triển tư duy độc lập: Đối với môn Ngữ
văn, việc hình thành và phát triển NLST cho HS có thể
thực hiện bởi nhiều biện pháp trong dạy học hay đánh
giá kết quả học tập của HS. Bàn về vấn đề này, tác giả
Trần Đình Sử [6] nhấn mạnh đến tác dụng của đề mở
trong đánh giá KQHT. Ông cho rằng, đề mở có tác dụng
cho HS được tự mình chủ động lựa chọn, gây hứng thú,
phát huy sở trường và cá tính của HS. Đề mở có ý nghĩa
và tác dụng trong các kì thi cuối năm, thi chuyển cấp, thi viết sao cho hiệu quả, phù hợp với vấn đề mà đề đã gợi
tốt nghiệp, thi đại học. Loại đề này có tác dụng thử tài mở. Chính việc tìm ý, triển khai ý cho các đề mở sẽ là
tư duy ST, phân hóa khả năng ứng phó linh hoạt của HS. một trong số những biện pháp rèn tư duy hiệu quả. HS sẽ
Đồng quan điểm này, tác giả Đỗ Ngọc Thống [10] cho tránh được cách tư duy máy móc, vụn vặt; thay vào đó
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
32
Nguyễn Thị Hương Lan
diễn đạt là một trong những yếu tố quyết định khả năng
văn học của một HS. Bởi lẽ: Hoạt động KTĐG hiện nay
là khả năng khái quát vấn đề, lựa chọn những luận điểm
then chốt để triển khai bài làm sao cho hiệu quả. Ví dụ,
với đề bài: Điều gì là quan trọng nhất trong cuộc sống chủ yếu dựa trên sản phẩm là các bài viết của HS; nếu
của bạn? rõ ràng HS không có những chỉ dẫn cụ thể về có đánh giá thường xuyên bằng các hình thức kiểm tra
thao tác lập luận, phương thức biểu đạt hay được định vấn đáp, đánh giá qua kết quả hoạt động trên lớp của HS
hướng, khoanh vùng phạm vi tư liệu thật cụ thể. Song, thì việc sử dụng ngôn ngữ nói và viết của HS vẫn là yếu
chính điều đó sẽ giúp cho các em buộc phải động não, tố then chốt quyết định chất lượng học tập của một HS.
suy tư để phát triển ý thành một bài viết thể hiện quan Mặc khác, chỉ khi đã làm chủ ngôn ngữ, có khả năng sử
điểm cá nhân, lựa chọn một cách bố cục bài văn độc đáo, dụng nó một cách linh hoạt, ST thì người viết mới có thể
tổ chức các luận điểm theo một trình tự hợp lí, để việc diễn đạt được những ý tưởng của riêng mình, tạo nên
trình bày vấn đề trở nên ấn tượng và thuyết phục.
sự độc đáo, hấp dẫn cho bài viết. Do đặc điểm của đề
Như vậy, đề mở có thể làm giảm đi phần nào sự cụ thể, mở (nội dung của đề thường không khuôn vào một vấn
rõ ràng so với yêu cầu của cách ra đề truyền thống nhưng đề, một nội dung cụ thể sẵn có) nên để thực hiện đề mở
bù lại sẽ tạo cảm hứng và động lực cho sự phát triển tư hiệu quả người viết không thể trông chờ vào văn mẫu,
duy logic, khả năng suy luận, khái quát vấn đề. Đây là lời giảng của thầy cô hoặc cách diễn đạt của người khác.
nền tảng quan trọng cho sự hình thành, phát triển NL ST Việc cần động não để tư duy, huy động vốn từ, chắt lọc
của HS THPT.
và trau chuốt về câu từ, hành văn khi thực hiện một đề
- Đề mở giꢀp phát triển NL liên tưởng, tưởng tượng mở… chính là quá trình rèn luyện giúp cho HS mở rộng
cho HS: Liên tưởng được hiểu là một hoạt động tâm lí, từ vốn từ, hướng tới mục tiêu diễn đạt bài văn: đúng - trúng
việc này nghĩ đến việc kia, người này liên hệ đến người - hấp dẫn - thuyết phục. Thực hành sử dụng ngôn ngữ
nọ, do trong thực tế các sự vật, hiện tượng tồn tại không trong những hoàn cảnh đối diện với các đề bài có nhiều
tách rời mà có quan hệ với nhau. Còn tưởng tượng là đất để ST, là cơ hội tốt cho HS phát triển NL ngôn ngữ
hoạt động tâm lí nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng
trong trí nhớ và ST ra hình tượng mới. Có thể nói, các
hình tượng văn học xưa nay xuất hiện trong các sáng tác
của nhà văn và sống trong cảm nhận của độc giả đều gắn
liền khả năng liên tưởng và tưởng tượng: Một An Dương
Vương cầm sừng tê rẽ nước về biển cả, một Thánh Gióng
cưỡi ngựa bay về trời, một Ngô Tử Văn có thể đấu tranh
với ma quỷ ở âm phủ, một Hồn Trương Ba sống trong
thân xác anh hàng thịt đã chết,… NLST vì thế phần nào
được quyết định bởi khả năng liên tưởng, tưởng tượng
phong phú. Nhờ có khả năng liên tưởng, tưởng tượng mà
HS có thể tạo nên những bài viết ST không trùng lặp với
người khác.
Để thấy hiệu quả của đề mở trong việc hình thành phát
triển khả năng liên tưởng, tưởng tượng cho HS, chúng
ta xem xét đề bài: “Những tiếng thì thầm của hàng cây
cổ thụ trước ngày bị thành phố quyết định chặt hạ để
xây dựng tuyến đường sắt trên cao”. Đề bài trên rõ ràng
đã trao cho HS cơ hội lắng nghe bản thân, lắng nghe
tiếng vọng của tự nhiên (hàng cây cổ thụ) để cảm nhận
những cung bậc, những âm giai khác nhau trong bản
đàn cuộc sống. Những HS có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm
chắc chắn sẽ có nhiều suy nghĩ, liên tưởng phong phú về
những tiếng thì thầm. Các em có thể nghĩ về những lời
tiễn biệt, hay thở than, trách móc, những tâm sự bí mật
lưu giữ hàng trăm năm của các cây cổ thụ, hay những
lời khuyên từ thiên nhiên kì diệu,… Tất cả những tưởng
tượng phong phú ấy đều có thể tạo nên sự giàu có, chắc
chắn cho lập luận và sự mới mẻ, ST cho bài văn của
người viết.
của các em.
- Đề mở giꢀp phát triển NL tò mò, yêu thích khám
phá, ST ở HS: Với những ưu thế riêng, đề mở vừa phù
hợp với xu hướng đổi mới KTĐG theo định hướng phát
triển NL của người học; vừa mở ra nhiều triển vọng
trong công tác giảng dạy, nhất là trong hoạt động bồi
dưỡng, phát triển NL ST cho HS cấp THPT. Tuy vậy,
cũng không nên tuyệt đối hóa giá trị của đề mở và phủ
nhận hoàn toàn vai trò của những đề bài được ra theo
cách truyền thống. Bởi lẽ tác dụng của một đề văn trước
tiên phụ thuộc vào đối tượng và hoàn cảnh sử dụng của
đề bài. HS không phải chỉ được phát triển NL với những
đề mở, mà trong một số trường hợp rèn kĩ năng làm văn
các em cũng rất cần được thực hành trên các đề có yêu
cầu cụ thể, rõ ràng. Gắn với vấn đề phát triển NL trong
Chương trình Ngữ văn mới và nhóm NL chung (trong
đó có NL giải quyết vấn đề và ST), chúng tôi xác định
đề mở sẽ phát huy được ý nghĩa to lớn của nó vì sau khi
HS hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản (hết lớp 9),
các em đã có nền tảng kiến thức, kĩ năng tốt, các em cần
được chú trọng thực hành, rèn luyện để vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã có vào giải quyết các vấn đề trong học
tập và cuộc sống. Đó chính là “yếu tố gốc”, có ý nghĩa
quan trọng để các em hình thành phát triển NLST, một
NL chung thực sự cần thiết trong hành trang cho tương
lai của các em.
3. Kết luận
Với môn Ngữ văn - môn học vừa có tính chất khoa
học, vừa có tính nghệ thuật thì yêu cầu về sự ST của
- Đề mở giꢀp phát triển NL diễn đạt ST cho HS: NL người học càng cần thiết. Trong số các biện pháp nhằm
Số 35 tháng 11/2020
33
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
phát triển NL ST cho HS cấp THPT, không thể không người học, giúp người học hình thành, phát triển NLST
nhắc đến vai trò của ĐGKQHT trong đó có đề mở. Đề
mở vừa là công cụ khơi gợi hứng thú, đam mê học tập
vừa có thể đo lường, đánh giá mức độ ST của người học.
Đó là lí do cần đổi mới cách ra đề, xây dựng hướng dẫn
chấm trong môn Ngữ văn. Cần có những đề mở đảm
bảo cả tính khoa học và nghệ thuật để tạo khoảng không
một cách hiệu quả. Những đề văn hay khiến cho bài làm
của các em trở nên tự nhiên, chân thực mà cũng đầy ắp
cảm xúc, suy tư. Đúng như tên gọi - đề mở - những đề
văn được thiết kế khoa học, phù hợp sẽ mở ra và đánh
thức HS NLST đang tiềm ẩn trong trí tuệ và tâm hồn các
dành cho “dấu ấn cá nhân” với những ST phong phú của em - những công dân toàn cầu của thế kỉ XXI.
Tài liệu tham khảo
[1] Huỳnh Văn Sơn, (2009), Tâm lí học sang tạo, NXB Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội.
[6] Trần Đình Sử, (31/10/2013), Đề mở trong dạy học làm
[2] Trần Thị Bích Liễu, (2013), Giáo dục phát triển năng lực
sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam.
[3] Nguyễn Quang Hòe, (2017), Rèn luyện năng lực sáng tạo
cho học sinh Trung học cơ sở qua dạy học bộ môn Toán,
Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình,
số 3.
[7] Đỗ Ngọc Thống - Phạm Thu Hiền - Nguyễn Thị Nương -
Nguyễn Thị Hồng Vân, (2012), Hệ thống đề mở Ngữ văn
10, NXB Giáo dục, Hà Nội.
[8] Nguyễn Thị Hồng Vân, (2014), Đề mở và yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn, Tài liệu Hội thảo Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
[4] Nguyễn Thị Hồng Gấm, (2012), Phát triển năng lực sáng
tạo cho sinh viên thông qua dạy học phần Hóa vô cơ và Lí
luận - Phương pháp dạy học hóa học ở trường Cao đẳng
sư phạm, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam.
[5] Nguyễn Thị Hồng Vân, (02/2017), Xác định cấu trúc và
đường phát triển một số năng lực trong môn Ngữ văn ở
trường phổ thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 137.
[9] Nguyễn Thị Minh Duyên, (2017), Xây dựng hệ thống
đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
chuyên văn cấp Trung học phổ thông, Luận án Thạc sĩ sư
phạm Ngữ văn, Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội.
[10] Đỗ Ngọc Thống, (2013), Đổi mới đánh giá kết quả học
tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực, Kỉ yếu
hội thảo Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập
môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
OPEN QUESTIONS AND STUDENTS’ CREATIVE COMPETENCIES
IN TEACHING LITERATURE AT HIGH SCHOOLS
Nguyen Thi Huong Lan
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
ABSTRACT: Creativity is one of the miraculous competencies of human
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam
beings, contributing to the improvement of life values, and making people’s
Email: huonglanql[email protected]
lives truly meaningful. Regarding Vietnamese Literature at high schools,
the requirements of the learners’ creativity are essential. Open questions
in teaching Literature are considered as an important tool which, on one
hand, inspires excitement and learning passion in the learners, and on
other hand, measures and assesses the learners’ creativity levels. Based
on this point of view, the paper presents conceptions of the open questions,
various types of open questions, some basic issues on students’ creativity
in Literature, and specifically emphasizes the role of open questions in
forming and developing creative competence for high school students.
KEYWORDS: Open questions; competence; creative competence; Literature; high
schools.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
34
Bạn đang xem tài liệu "Đề mở và năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Ngữ văn trường trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
de_mo_va_nang_luc_sang_tao_cua_hoc_sinh_trong_mon_ngu_van_tr.pdf

