Du lịch nghỉ dưỡng ở tỉnh Thái Nguyên
ISSN: 1859-2171
e-ISSN: 2615-9562
TNU Journal of Science and Technology
201(08): 121 - 128
DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
Vũ Bạch Diệp, Cao Phương Nga*
Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc có tài nguyên thiên nhiên, nhân văn phong phú, thuận lợi
cho phát triển du lịch đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng. Trong những năm qua, du lịch Thái Nguyên
đã từng bước phát triển tuy nhiên chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh, ngành du lịch
còn yếu và chưa có tác dụng hỗ trợ thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Bài viết phân tích
thực trạng về du lịch nghỉ dưỡng của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2015-2017 và đưa ra một
số giải pháp nhằm phát huy cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình kinh doanh và phát triển du
lịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
Từ khóa: Du lịch; du lịch nghỉ dưỡng; Thái Nguyên; phát triển; tăng trưởng.
Ngày nhận bài: 06/5/2019; Ngày hoàn thiện: 13/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019
TOURISM RESORT IN THAI NGUYEN PROVINCE
Vu Bach Diep, Cao Phuong Nga*
TNU - University of Economics and Business Administratrion
ABSTRACT
Thai Nguyen is a mountainous province in the North which was abundant natural and human
resources which is favorable for tourism development especially tourist resort. In the past years,
Thai Nguyen tourism has gradually developed, however, it is not correspond with the potential of
the province, the tourism is weak and not help to promote other economic development. The
article analyzes the current status of tourism in Thai Nguyen from 2015 to 2017. Beside, the
author offers some solutions to promote high quality and efficiency in the process of business and
tourism development in Thai Nguyen in the future.
Keywords: Tourism; tourist resort; Thai Nguyens; develop; growth.
Received: 06/5/2019; Revised: 13/5/2019; Approved: 06/6/2019
121
Vũ Bạch Diệp và Đtg
1. Đặt vấn đề
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
Theo số liệu nghiên cứu, khách đến du lịch tại
Thái Nguyên chủ yếu lựa chọn các điểm tham
quan, nghỉ dưỡng như: khu du lịch sinh thái
nghỉ dưỡng Hồ Núi Cốc, khu du lịch ATK
Định Hóa, hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà,
bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Trong những năm qua du lịch được coi là ngành
kinh tế phát triển không chỉ đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế cho đất nước mà còn tạo động
lực phát triển các ngành kinh tế khác, tạo việc
làm thu nhập cho người dân đồng thời là
phương tiện quảng bá hình ảnh quốc gia. Với xu
thế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với
khu vực và toàn cầu, du lịch Việt Nam đứng
trước những cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó cũng
có những thách thức không nhỏ.
Công tác quản lý Nhà nước về du lịch: Sở
VHTT&DL chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời công
tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn
tỉnh. Tiếp tục triển khai các văn bản, nghị
định của Chính phủ về công tác quản lý Nhà
nước về du lịch.
Ngày nay, nhu cầu càng ngày càng cao của con
người, du lịch nghỉ dưỡng càng được chú trọng.
Đây là loại hình du lịch tổng hợp, đang ở giai
đoạn phát triển ban đầu ở nhiều địa phương với
rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía
Bắc có nhiều tiềm năng phát triển du lịch đặc
biệt là du lịch nghỉ dưỡng. Tỉnh có nhiều khu
thiên nhiên phong cảnh sơn thủy hữu tình như
khu du lịch Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng,
suối Mỏ Gà. Các cơ sở hạ tầng của tỉnh đã được
hoàn thiện dần, hệ thống đường giao thông quốc
lộ được nâng cấp tốt hơn. Đây chính là điều
kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển du lịch
nghỉ dưỡng của tỉnh.
Các khu thể thao, vui chơi giải trí và các tiện
nghi khác: Thái Nguyên có hệ thống cơ sở thể
thao, vui chơi giải trí tương đối phát triển
phục vụ cho các kỳ nghỉ dưỡng của du khách
gồm: 12 điểm vườn du lịch sinh thái, các cơ sở
massage, phòng karaoke, 12 phòng họp dùng
cho hội nghị hội thảo quốc tế, chuyên đề với
2000 ghế và các dịch vụ tại các khách sạn lớn.
Cơ sở hạ tầng: Giao thông: Thái Nguyên có
đủ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường
sông, quốc lộ 3 và quốc lộ 3 mới (Hà Nội
Thái Nguyên, Thái Nguyên-Bắc Cạn-Cao
Bằng) chạy dọc từ phía Nam lên phía Bắc của
tỉnh; Các khu mua sắm: Trên địa bàn toàn
tỉnh Thái Nguyên hiện có 126 chợ lớn nhỏ,
trong đó có một chợ loại 2 và các chợ trung
tâm thị trấn, thị tứ là nơi giao lưu trao đổi
mua bán hàng nông lâm thổ sản mang tính dân
tộc độc đáo của mọi miền trong tỉnh, đáp ứng thị
hiếu của quý khách; Hệ thống điện, Cấp thoát
nước: Hệ thống điện đảm bảo, Hệ thống cung
cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn được đồng bộ
trong toàn tỉnh; Thông tin liên lạc: Bưu chính
viễn thông là một trong những ngành có bước
tiến nhanh chóng về số lượng cũng như chất
lượng, mạng lưới thông tin đã đáp ứng nhu cầu
kinh tế xã hội trong hoạt động du lịch.
2. Thực trạng
2.1. Cơ sở vật chất du lịch
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 376 cơ
sở lưu trú du lịch, với hơn 2000 phòng, trong
đó có khoảng 650 phòng nghỉ cao cấp, 55
khách sạn đã được thẩm định chất lượng, 54
khách sạn đạt tiêu chuẩn theo quy định của
Tổng cục Du lịch, trong đó có 3 khách sạn
xếp hạng tiêu chuẩn 3 sao; 6 khách sạn đạt
tiêu chuẩn 2 sao, 4 khách sạn đạt tiêu chuẩn
1 sao, có 38/58 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn của
Tổng cục Du lịch [1].
Bảng 1. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch ở Thái Nguyên
Hạng mục
2015 2016 2017
209 247 376
1.983 2.217 2.436
5.268 5.547 5.832
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch
nghỉ dưỡng ở Thái Nguyên
Số lượng cơ sở lưu trú
- Số buồng (số phòng)
- Số giường
Số ngày lưu trú bình quân
Số nhân viên phục vụ
Thái Nguyên với nguồn tài nguyên tự nhiên
và nhân văn đa dạng, cùng với sự phát triển
của cả nước, du lịch tỉnh Thái Nguyên đã
từng bước phát triển phục vụ và đáp ứng nhu
cầu khách du lịch nội địa và quốc tế. Với cơ
2,9
2,9
3,1
939
997 1.011
Tổng số lao động trực tiếp 3.547 4.079 4.579
(Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên)
122
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
chế chính sách mở cửa, tạo điều kiện thu hút
các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh thuộc mọi
thành phần kinh tế vào hợp tác khai thác tiềm
năng du lịch, trong những năm qua, tỉnh Thái
Nguyên đã có nhiều doanh nghiệp kinh doanh
hiệu quả trong lĩnh vực du lịch, tạo công ăn
việc làm cho nhiều lao động, mở rộng giao
lưu văn hóa xã hội giữa các vùng trong nước
và ngoài nước, tăng cường tình hữu nghị hòa
bình sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc
Thái Nguyên hiện phát triển nhiều sản phẩm
du lịch như du lịch trong đó du lịch sinh thái,
nghỉ dưỡng góp phần lớn vào doanh thu
ngành du lịch. Do được đầu tư và phát triển
nên du lịch Thái Nguyên đã đạt được những
kết quả tích cực, hạ tầng được nâng cấp,
lượng khách đến Thái Nguyên ngày một tăng
(trung bình mỗi năm tăng 15- 16%). Doanh
thu từ du lịch tăng mạnh.
lịch sử trong nội bộ Tỉnh. Hướng khách du
lịch đến chương trình du lịch nghỉ dưỡng cho
khách hàng chủ yếu của mình.
Sở VHTT&DL chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời
công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa
bàn tỉnh, công tác nâng cao chất lượng phục
vụ khách du lịch trong dịp Tết; mở các lớp
bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch năm theo từng
chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng phục vụ
khách du lịch, đáp ứng nhu cầu phát triển của
xã hội, góp phần tăng doanh thu về du lịch.
2.2.1. Lao động ngành
Nguồn lao động nói chung của tỉnh Thái
Nguyên rất dồi dào, với dân số trên 1,2 triệu
người, trong đó có 50% trong độ tuổi lao
động, đây cũng là một nguồn lao động lớn
cho ngành du lịch của tỉnh. Hiện nay số lao
động liên quan đến hoạt động du lịch trên
4900 người trong đó lao động trực tiếp làm
việc trong các nhà hàng, khách sạn tăng đều
trong các năm, trong đó trình độ đại học và
trên đại học gần 1000 người chiếm 23%,
trung cấp là 1025 người chiếm 20,6% số còn
lại đã qua đào tạo tập huấn ngắn ngày và chưa
qua đào tạo. Đa số người lao động trong lĩnh
vực du lịch có phẩm chất đạo đức tốt, có lập
trường tư tưởng vững vàng, có hiểu biết về
văn hoá, lịch sử Thái Nguyên, có kỹ năng
giao tiếp với du khách, được đào tạo có trình
độ năng lực đáp ứng yêu cầu kinh doanh du
lịch của tỉnh.
Số liệu ở bảng 2 cho thấy, tổng doanh thu qua
các năm từ 2015 đến 2017 liên tục tăng. Cụ
thể năm 2016 tăng so với 2015 là 15,25% với
lượng tăng tuyệt đối là 205 tỷ đồng. Năm
2017 tăng so với năm 2016 là 16,64%. Bên
cạnh đó các dịch vụ thiết yếu như ăn uống,
thuê phòng cũng tăng đều qua từng năm.
Doanh thu du lịch tăng do trong thời gian qua.
Tỉnh có sự đầu tư về ngành du lịch đặc biệt là
du lịch nghỉ dưỡng của du khách, nâng cao
chất lượng dịch vụ các tour. Các công ty du
lịch trong địa bàn tỉnh đã tổ chức tập trung
đưa khách tham quan các bảo tàng, kiến trúc
Bảng 2. Doanh thu du lịch của Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017
(ĐVT: tỷ đồng)
Tỷ lệ tăng giảm giữa các năm (%)
Chỉ tiêu
2015
2016
2017
2016/2015
15,25%
20,67%
10,25%
50,72%
8,86%
2017/2016
16,64%
16,78%
11,58%
11,80%
7,46%
Tổng doanh thu
+ Thuê phòng
1.342
329
602
70
1.546
396
664
105
206
19
1.803
463
741
117
221
21
+ Ăn uống
+ Các dịch vụ du lịch
+ Mua bán hàng hóa
+ Doanh thu phí du lịch
+ Các hoạt động khác
189
15
31,48%
13,35%
11,56%
53,75%
138
156
240
(Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên)
123
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
Năm 2017, ngành du lịch Thái Nguyên đã tổ
chức 3 lớp đào tạo dài hạn cho 160 học viên
và lớp ngắn hạn cho 88 học viên ở các nghiệp
vụ: hướng dẫn viên, lễ tân, nghiệp vụ nhà
hàng, nghiệp vụ lưu trú, kỹ thuật chế biến
món ăn Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch còn
phối hợp với các đơn vị khác mở nhiều lớp
đào tạo nghiệp vụ hoặc cử giáo viên đi học,
trao đổi kinh nghiệm nâng cao trình độ tại các
trường cao đẳng du lịch trong nước.
khách trong nước trong năm 2017 là 2163403
tăng so với năm 2016 là 176056 lượt với tỷ lệ
tăng là tăng 8.9%. Đây là kết quả đáng mừng
khi nền kinh tế nói chung vẫn đang trong tình
trạng khủng hoảng. Tuy nhiên kết quả trên là
chưa tương xứng với tiềm năng của Thái
Nguyên do đó trong thời gian tới Tỉnh cần
phải có bước đi mới nhằm tăng khả năng thu
hút và phát triển kinh tế du lịch, đáp ứng nhu
cầu của thực tiễn.
Tuy nhiên với đặc thù của du lịch nghỉ dưỡng
thì đội ngũ phục vụ ngoài những tiêu chí biết
phục vụ khách phải có các kỹ năng cần thiết
thông qua đào tạo cẩn thận, chuyên nghiệp.
2.2.3. Hoạt động Marketing
Sản phẩm du lịch: Các khu, điểm du lịch
được tiếp tục tôn tạo phục vụ khách du lịch
như: Bảo Tàng Văn hóa các dân tộc, Hang
Phượng Hoàng. Các tuyến du lịch cộng đồng
từ Hồ núi Cốc đi Tuyến du lịch trung tâm
TP.Thái Nguyên - Hồ Núi Cốc, Tuyến du lịch
trung tâm TP.Thái Nguyên - ATK Định Hóa.
Tuyến du lịch trung tâm TP.Thái Nguyên-
Đồng Hỷ, Võ Nhai.
2.2.2. Khách du lịch
Lượng khách du lịch đến Thái Nguyên với
nhu cầu nghỉ dưỡng không ngừng tăng trong
thời gian qua:
Bảng 3. Số lượng khách du lịch đến Thái Nguyên
giai đoạn 2015-2017
Giá cả: hiện nay mức giá dịch vụ du lịch Thái
Nguyên là mức giá tương đối phù hợp cho
khách hàng trong nước và ngoài nước; Đối
với mùa cao điểm thì giá tour cũng như giá
phòng, giá dịch vụ sẽ tăng hơn lúc bình
thường nhưng không tăng quá cao mà cố gắng
duy trì sự sai biệt với mức tối thiểu. Các du
khách đến Thái Nguyên được phỏng vấn đều
cho rằng giá phòng ở mức vừa phải, giá dịch
vụ hơi cao nhưng có thể chấp nhận được.
Chỉ tiêu
2015
2016
2017
Tổng số hành khách
1775324 2051324 2229700
đến (lượt người)
- Khách quốc tế
62377
63977 66297
- Khách trong nước
1712947 1987347 2163403
- Mức chi tiêu bình quân
của khách (Đơn vị: 1000 816
1034
1252
đồng)
(Nguồn: Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên)
Kênh phân phối: Hiện nay hệ thống phân phối
sản phẩm của ngành du lịch nghỉ dưỡng chủ
yếu thông qua hai hình thức: kênh bán hàng
trực tiếp và gián tiếp.
Qua bảng 3, ta thấy trong năm 2017 Thái
Nguyên đã thu hút 2229700 lượt du khách,
trong đó có 66297 lượt khách quốc tế, tăng so
với năm 2016 là 2320 lượt khách với tỷ lệ
tăng là 3.5%. Lượng khách du lịch quốc tế gia
tăng qua các năm, tuy nhiên vẫn chiếm một
lượng nhỏ so với tổng số lượng khách du lịch
của tỉnh. Lý do là việc thu hút về văn hoá bản
sắc dân tộc bản địa chưa cao, thông tin quảng
bá còn hạn chế với du khách quốc tế. Chính vì
vậy, cần có các chương trình thông tin quảng
bá du lịch Thái Nguyên sâu rộng chuyên
nghiệp hơn và các chính sách của tỉnh khuyến
khích thu hút khách du lịch quốc tế. Bên cạnh
đó tìm hiểu xem khách quốc tế nào là chủ yếu
để đẩy mạnh công tác xúc tiến thu hút khách
du lịch đến với Thái Nguyên. Đối với thu hút
2.2.4. Hệ thống thông tin
Có thể nói du lịch Thái Nguyên nói chung và
du lịch nghỉ dưỡng của tỉnh nói riêng đã có
quan tâm đến quảng bá, xúc tiến du lịch.
Nhưng nhìn chung, sự quảng bá còn yếu ớt,
rời rạc, chưa có sự phối hợp nên không thể
tạo được sức hút, thành công. Do việc đa
dạng hoá các kênh thông tin, khai thác lợi thế
của hệ thống thông tin đại chúng, phối hợp
chặt chẽ với báo đài trong cung cấp trao đổi
thông tin hai chiều nhằm thúc đẩy hoạt động
du lịch thông qua công tác tuyên truyền có
định hướng của báo chí còn yếu.
124
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
3. Đánh giá chung
ngày càng đa dạng: Đến hết năm 2017, trên
địa bàn tỉnh có 376 cơ sở lưu trú du lịch, với
2436 buồng, phòng, quy mô các khách sạn
phục vụ khách đến nghi dưỡng ngày càng mở
rộng theo hướng tăng các dịch vụ phụ trợ bổ
trợ cho dịch vụ lưu trú các tour, tuyến du lịch
cũng ngày càng được mở rộng.
3.1. Những ưu điểm
Kinh tế du lịch phát triển nhanh, bền vững trở
thành động lực thúc đẩy KTXH Tỉnh phát
triển: Công tác chỉ đạo hoạt động du lịch của
tỉnh đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
các bộ, ngành Trung ương, Tổng cục Du lịch.
Bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch tỉnh
Thái Nguyên dần được củng cố, phù hợp với
xu hướng đổi mới. Đồng thời, các doanh
nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh đã năng động
phát huy nguồn lực sẵn có, tích cực hợp tác
liên doanh về du lịch với các địa phương tỉnh
bạn nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du
lịch của tỉnh mình. Do vậy, hoạt động du lịch
Thái Nguyên trong giai đoạn này đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ, các chỉ tiêu kinh
tế về du lịch hàng năm đều tăng trưởng Đặc
biệt, nhờ công tác tuyên truyền mà hình ảnh
của Thái Nguyên ngày càng được khẳng định,
từ đó thu hút được nhiều khách du lịch đến
với tỉnh hơn nữa.
Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hóa đặc
sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc với các
di sản văn hóa phi vật thể và danh lam thắng
cảnh đẹp như: Hồ Núi Cốc, hang Phượng
Hoàng - suối Mỏ Gà, Di tích khảo cổ học
Thần Sa. Đặc biệt, ngay tại thành phố Thái
Nguyên có Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc
Việt Nam, nơi trưng bày, giới thiệu nét đẹp
sinh hoạt văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc
Việt và vùng chè Tân Cương được mệnh danh
là "Đệ nhất danh trà".
Công tác xúc tiến quảng bá DL thường xuyên
được quan tâm: Trong giai đoạn năm 2015 -
2017 công tác quảng bá xúc tiến DL được đặc
biệt quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, củng cố
về các hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin,
trưng bày, giới thiệu sản phẩm DL cho du
khách về DL Thái Nguyên: Trung tâm Thông
tin DL Thái Nguyên được củng cố và hoạt
động có hiệu quả. Hàng năm tổ chức các sự
kiện văn hóa DL như: tổ chức cuộc thi người
đẹp xứ trà; Lễ hội sau tết Nguyên đán của các
dân tộc, các phóng sự có nhiều chuyên đề về
DL và con người Thái Nguyên phát trên
VTV1, VTV2.
Trong hơn 25 năm đổi mới KTDL Thái
Nguyên liên tục phát triển nhanh, bền vững
cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần theo hướng
tăng mạnh tỷ trọng CN - DV, giảm dần tỷ
trọng nông lâm nghiệp. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp,
thuỷ sản), cụ thể: công nghiệp và xây dựng
chiếm 45%, dịch vụ chiếm 39%, nông nghiệp
chiếm 13% vào năm 2015; tương ứng đạt 47 -
48%, 42 - 43%, 9 - 10% vào năm 2020[1].
Công tác sử dụng lao động, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực được quan tâm đầu tư:
Các cơ quan chính quyền địa phương đã quan
tâm đào tạo lao động trong lĩnh vực DL-DV
phục vụ cho phát triển DL của huyện; từ năm
2015-2017 đã tổ chức mở hàng trăm các lớp
về kỹ năng giao tiếp với khách du lịch, phục
vụ buồng bàn, trong đó có 45% đã được đào
tạo về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du khách
ngày càng đảm bảo: Trong những năm qua
Tỉnh Thái Nguyên đã tập trung chỉ đạo hình
thành nên các điểm du lịch, hệ thống cơ sở
vật chất đủ điều kiện phát triển nhanh về số
lượng từng bước đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ và
vui chơi giải trí của du khách đến nghỉ dưỡng.
Các khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, khu du
lịch (resort)…phát triển hợp lý các loại hình
cơ sở lưu trú không những tạo sự độc đáo hấp
dẫn khách mà còn mang lại lợi ích kinh tế,
nâng cao hiệu quả đầu tư.
Công tác bảo vệ môi trường DL thường xuyên
được quan tâm: Trong các năm qua, công tác
bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến
tích cực; công tác tuyên truyền nâng cao nhận
thức về bảo vệ môi trường cho đại bộ phận
cán bộ và nhân dân được nâng lên, mức độ
gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi
Công tác phát triển các tuyến, điểm DL được
quan tâm đầu tư phát triển, các sản phẩm DL
125
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
trường từng bước được hạn chế; công tác bảo
tồn đa dạng sinh học đã được quan tâm.
Nhiều hoạt động thiết thực được tổ chức thực
hiện có hiệu quả cao như: Phong trào nước
sạch, vệ sinh môi trường và ngày môi trường
thế giới; Phong trào Xanh - Sạch - Đẹp.
Hướng dẫn kỹ thuật canh tác trên đất dốc; vận
động nhân dân định canh, định cư, bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng.
đầu tư tôn tạo xây dựng cơ sở hạ tầng với
nguồn kinh phí hạn hẹp chưa xứng tầm, chủ
yếu mang tính nâng cấp, sửa chữa. Các điểm
du lịch hầu như chưa có khu vui chơi giải trí,
tạo cảnh quan, cảnh vật hấp dẫn thu hút du
khách. Các dịch vụ phục vụ, như ăn uống, nghỉ
ngơi, mua sắm chủ yếu tập trung ở trung tâm
thành phố, thị trấn, còn tại các điểm du lịch thì
hầu như không có và không đáp ứng được các
nhu cầu tối thiểu của khách về chất lượng dịch
vụ, vệ sinh, môi trường.
3.2. Những khuyết điểm, hạn chế
Chính sách phát triển du lịch: Chính sách
phát triển du lịch của tỉnh hoàn toàn là những
chính sách chung, chưa phân biệt rõ đặc thù
của từng loại hình du lịch để đưa ra một chính
sách riêng cho từng loại hình du lịch. Từ đó
mới phát huy được thế mạnh của từng loại
hình du lịch này.
Thời gian lưu trú của khách DL chưa cao: Số
ngày khách lưu trú bình quân là 1,6
ngày/khách. Trong đó, số ngày lưu trú bình
quân của khách quốc tế là 2,3 ngày/khách,
khách nội địa là 1,3 ngày/khách.
Còn thiếu điểm vui chơi DL, các sản phẩm
phục vụ DL còn nghèo nàn, chất lượng phục
vụ chư đồng đều, giá cả phục vụ thiếu ổn
định: Hiện nay Thái Nguyên đang thiếu các
điểm vui chơi DL, nguyên nhân do lượng
khách tăng nhanh nhưng công tác đầu tư cho
DL còn nhiều hạn chế bất cập không theo
được sự tăng trưởng khách DL. Các sản phẩm
phục vụ DL còn thiếu, chất lượng các sản
phẩm, chất lượng phục vụ không đồng đều.
Các số liệu thống kê doanh thu, số lượng
khách: Các số liệu về doanh thu, khách lưu
trú chưa tách biệt được rõ ràng lượng khách,
doanh thu theo từng loại hình du lịch. Việc
tách riêng từng loại hình du lịch sẽ thuận lợi
hơn rất nhiều cho công tác nghiên cứu để từ
đó có biện pháp phù hợp để thúc đầy từng
loại hình du lịch phát triển.
Quy hoạch còn thiếu và chưa đồng bộ, quản
lý những khu DL đã được quy hoạch còn lỏng
lẻo, quản lý đầu tư còn yếu: Hiện nay chưa có
quy hoạch tổng thể về phát triển DL Thái
Nguyên; việc quản lý các dự án đầu tư DL
còn yếu, đến nay có gần 20 dự án đầu tư xây
dựng các khu DL sinh thái, DL nghỉ dưỡng,
khách sạn cao cấp nhưng chỉ có vài dự án nhỏ
được triển khai xây dựng còn đa số các dự án
chậm tiến độ, một số Nhà đầu tư đang tìm
cách chuyển nhượng dự án kiếm lời.
Công tác quản lý, sử dụng lao động, đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực còn gặp nhiều
khó khăn, hạn chế: Số lượng lao động đã qua
đào tạo đáp ứng được yêu cầu mới đạt 45%,
còn đa số chưa qua đào tạo hoặc chỉ được tập
huấn, một số không thể đào tạo vì trình độ
văn hóa thấp; công tác quản lý, sử dụng lao
động gặp nhiều khó khăn, một số cơ sở kinh
doanh sử dụng nhiều lao động nhưng không
muốn ký hợp đồng lao động dài hạn, không
chịu đóng bảo hiểm cho người lao động.
Chất lượng của các nhà hàng, dịch vụ phục vụ
khách du lịch nghỉ dưỡng còn chưa cao: tại
các cơ sở kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà
hàng còn thụ động về nguồn khách đến, hầu
hết chỉ trông chờ vào khách tự đến. Tất cả các
đơn vị kinh doanh trong địa bàn tỉnh đều chưa
có phòng Marketing, chăm sóc khách hàng.
Các chương trình quảng bá, khuyến mại, giảm
giá, hay các món ăn vẫn chưa thật thuyết phục.
Các khu, điểm du lịch hiện nay chỉ khai thác
chủ yếu các tiềm năng sẵn có từ tự nhiên. Việc
Công tác bảo vệ môi trường DL có nhiều thiếu
sót: Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường tại
các khu, điểm, tuyến DL còn nhiều hạn chế.
Hệ thống thu gom, chứa và xử lý sơ bộ chất
thải tại một số điểm DL chưa đảm bảo yêu cầu,
nhiều nơi còn chưa có địa điểm thu gom và xử
lý rác thải. Còn tình trạng khách DL vứt rác
thải bừa bãi gây mất vệ sinh, ảnh hưởng đến
chất lượng môi trường, chất lượng du lich; ý
126
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
với loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng thì
nhu cầu vốn cho việc xây dựng các khu nghỉ
dưỡng lại càng cần thiết. Tuy nhiên song song
với việc huy động vốn thì cũng phải quản lý
tốt việc quy hoạch và xây dựng các dự án để
tránh làm ảnh hưởng xấu tới môi trường tự
nhiên và mỹ quan vốn có.
thức bảo vệ môi trường của một bộ phận nhân
dân và du khách chưa cao. Công tác đảm bảo
trật tự an toàn tại một số khu, điểm DL chưa
đảm bảo yêu cầu; việc sắp xếp các chợ tạm và
các điểm bán hàng chưa hợp lý, công tác quản
lý không chặt chẽ dẫn đến tình trạng che chắn,
cơi nới và tình trạng lấn chiếm vỉa hè bán hàng
gây ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị chưa
được giải quyết kịp thời.
Các nguồn vốn có thể từ: Vốn đầu tư từ
nguồn tích luỹ GDP du lịch; Vốn vay ngân
hàng trong nước, vốn trong dân; Vốn FDI và
vốn ODA; Vốn ngân sách Nhà nước.
4. Kết luận và giải pháp
4.1. Quy hoạch xây dựng các khu nghỉ dưỡng
Để tạo nguồn vốn cho các doanh nghiệp đầu
tư phát triển các khu du lịch trọng điểm đã
được xác định, UBND Tỉnh cần có chính sách
khuyến khích huy động nguồn vốn tự tích luỹ,
cho phép các doanh nghiệp sử dụng doanh thu
du lịch tái đầu tư phát triển trong thời gian
khoảng 3 đến 5 năm. Trong điều kiện khó
khăn về nguồn vốn đầu tư nói chung và vốn
đầu tư cho du lịch như hiện nay, đây là giải
pháp tích cực và tương đối hiệu quả để huy
động vốn đầu tư.
Xây dựng các khu nghỉ dưỡng gắn liền với
đặc thù địa phương: Khai thác cái riêng, cái
đặc thù của địa phương đã đem lại cho nhà
đầu tư cũng như nhà thiết kế những cứu cánh
cho việc tìm ra sự hấp dẫn riêng của khu nghỉ
dưỡng. Điều này đòi hỏi sự sâu sắc trong suy
nghĩ của chủ đầu tư. Chẳng hạn, có thể tận
dụng lễ hội chè hàng năm tổ chức tại Thái
Nguyên để làm mùa xúc tiến du lịch, tổ chức
cho khách kết hợp khám phá ẩm thực Thái
Nguyên, văn hóa trà, tận dụng các sản phẩm
từ trà cho sức khỏe. Ngoài uống trà chống lão
hóa, chống phóng xạ, phòng ngừa tim mạch,
trà có thể làm mỹ phẩm.
4.3. Nâng cao chất lượng phục vụ khách
nghỉ dưỡng
Các công ty du lịch cần có sự mềm dẻo trong
cách chuyển hướng, thiết kế các tour đi nghỉ
dưỡng thật hấp dẫn đưa kéo khách hàng của
công ty đến với các tour đó. Bên cạnh đó
cũng cần có sự đầu tư vào các tour nghỉ.
Chương trình tour du lịch nghỉ dưỡng của các
công ty du lịch trong tỉnh phải có sự đa dạng,
công ty có sự khai thác các điểm du lịch nghỉ
dưỡng ở các, ưu tiên những điểm du lịch nghỉ
dưỡng là thế mạnh của địa phương.
Kiến trúc các khu nghỉ dưỡng: Nhiều Resort
thường hướng đến những kiến trúc cổ xưa để
đưa khách về gần với thiên nhiên, tránh xa cái
ồn ào của cuộc sống đô thị như bố trí những
ngôi nhà cổ với mái ngói; tường gạch; cột,
kèo bằng gỗ và có gam màu tối, mang vẻ cổ
kính. Tuy nhiên, hệ thống các phòng ốc của
Resort được thiết kế thành từng căn hộ biệt
lập, tạo không gian riêng cho khách bên
trong phòng là những thiết bị hiện đại, tiện
nghi Resort khác với các cơ sở lưu trú thông
thường ở chỗ, nó có dịch vụ liên hoàn, tổng
hợp, có thể đáp ứng được mọi nhu cầu về dịch
vụ của khách như các dịch vụ giải trí, spa,
chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, thể thao,
nghỉ dưỡng…Vì vậy, khi thiết kế xây dựng
Resort, yêu cầu giữ lại tối đa cây xanh.
Chất lượng dịch vụ tour nghỉ dưỡng của các
công ty cũng cần được chú trọng (bao gồm ăn
uống, tham quan và vui chơi) khách đi nghỉ
dưỡng có sự sắp xếp hợp lý cho du khách.
4.4. Hoàn thiện các chính sách sản phẩm
Đối với dịch vụ lưu trú: Phải từng bước đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ lưu trú đặc biệt
đối với du lịch nghỉ dưỡng đòi hỏi chất lượng
phòng nghỉ tốt. Quản lý các dự án xây dựng
nhà lưu trú cho khách phải phù hợp với mỹ
quan chung, đặc thù chung của tài nguyên du
lịch tại điểm đến.
4.2. Tạo vốn đầu tư từ nhiều nguồn
Tỉnh cần có chủ trương đúng đắn, tạo hàng
rào thông thoáng để các doanh nghiệp có thể
đến đầu tư cũng như huy động vốn. Đặc biệt
Đối với dịch vụ kinh doanh ăn uống: ở các điểm
127
Vũ Bạch Diệp và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
201(08): 121 - 128
du lịch độc đáo, đa dạng hấp dẫn du khách.
du lịch cần tạo ra các món ăn thật độc đáo, đặc
trưng cho điểm du lịch tạo được ấn tượng khó
quên trong lòng du khách. Tuy nhiên cũng
không thể thiếu những món ăn thường ngày với
giá cả phải chăng. Đặc biệt với loại hình du lịch
nghỉ dưỡng với nhu cầu nghỉ ngơi dài ngày thì
việc cung cấp thực phẩm sạch, an toàn là nhu
cần cần thiết đặt lên hàng đầu.
Tạo mối quan hệ mật thiết giữa ngành du lịch
với các ngành kinh tế khác: Phối hợp chặt chẽ
giữa ngành du lịch với các ngành chức năng,
tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Mở rộng
mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ ở cả thành
thị và nông thôn, nhất là các điểm du lịch, tạo
sự lan toả phát triển du lịch đến các vùng.
Sự tham gia của cộng đồng, khai thác sản
phẩm du lịch bản làng văn hoá, lịch sử, du
lịch sinh thái: Cộng đồng dân cư địa phương
vừa là nguồn cung cấp lao động cho ngành du
lịch đồng thời bản thân người dân địa
phương, môi trường sống, truyền thống văn
hóa của cộng đồng địa phương cũng là những
nhân tố thu hút khách du lịch. Hoạt động du
lịch sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng,
ngược lại sự tham gia của cộng đồng sẽ làm
phong phú thêm tài nguyên và sản phảm du
lịch. Tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương
gồm các thành phần kinh tế khác nhau được
tham gia vào toàn bộ quá trình phát triển các
sản phẩm, các khu, điểm du lịch từ khâu quy
hoạch đến quản lý phát triển, khai thác.
Đối với các dịch vụ bổ sung; đây là dịch vụ
góp phần vào việc thúc đẩy tiêu dùng các sản
phẩm dịch vụ khác trong lĩnh vực kinh doanh
du lịch, nó cũng góp phần quảng bá hình ảnh
của điểm du lịch đến với bạn bè thập phương.
Vì vậy việc đa dạng hoá các dịch vụ bổ sung
là điều kiện cần được ưu tiên. Cần tạo ra
những dịch vụ thật đặc biệt gây dấu ấn trong
lòng du khách.
Nghiên cứu thị trường du lịch nghỉ dưỡng: Tập
trung nghiên cứu thị trường, xác định rõ thị
trường trọng điểm và thị trường mục tiêu (thị
trường tiềm năng) của du lịch tỉnh Thái Nguyên.
Đào tạo nguồn nhân lực du lịch nghỉ dưỡng:
Cần phải đào tạo và hình thành một đội ngũ
cán bộ quản lý, nhân viên hoạt động trong
lĩnh vực du lịch thành thạo về kỹ năng nghiệp
vụ, có khả năng giao tiếp tốt, đặc biệt là phải
biết ít nhất một ngoại ngữ.
Giải pháp về tuyên truyền quảng bá: xây
dựng Website về du lịch Thái Nguyên trên
mạng, có đầy đủ các thông tin cần thiết, cập
nhật các thông tin thường xuyên, nhanh
chóng và chính xác. Ngoài ra, cần xuất bản
những cuốn sách nhỏ, cẩm nang du lịch Thái
Nguyên, tờ rơi và đưa đến tận tay khách du
lịch, đặc biệt cần dịch ra ít nhất một thứ tiếng
nước ngoài (thông dụng nhất là tiếng Anh) để
phục vụ khách du lịch quốc tế.
Quy hoạch tổng thể, bảo vệ, tôn tạo và nâng
cấp các tài nguyên du lịch: Cần quy hoạch
tổng thể du lịch chung của toàn tỉnh, bên cạnh
đó quy hoạch cụ thể các điểm lịch, nhằm khai
thác có hiệu quả tài nguyên du lịch, thúc đẩy
phát triển và mở rộng khả năng du lịch của
mỗi vùng. Đồng thời, phải thường xuyên bảo
vệ, tôn tạo và nâng cấp các di tích lịch sử văn
hoá, di tích cách mạng, bảo vệ cảnh quan
thiên nhiên, môi trường, phát triển các loại
hình du lịch phù hợp, gắn các điểm du lịch
với nhau và với du lịch vùng, du lịch cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. UBND tỉnh Thái Nguyên, Quyết định phê
duyệt chương trình phát triển văn hóa, thể
thao và du lịch tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn
2017-2020 (Ban hành kèm theo quyết định số
1750/QĐ-UBND ngày 26/6/2017), 2017.
[2]. Hoàng Thị Huệ và Nguyễn Thị Gấm, “Du lịch
sinh thái trong xu thế phát triển du lịch bền
vững tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và
Công nghệ, T. 81, S. 05, tr 51-62, 2016.
[3]. Phạm Trung Lương, “Du lịch sinh thái: những
vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt
Nam”, Nhà xuất bản giáo dục, 2002.
[4]. Jeffrey D. Kline, “Tourism and Natural
Resource Management: A General Overview of
Research and Issues”, no. 1, pp. 1-10, 2001.
Xây dựng các đề án phát triển du lịch:
Khuyến khích và có những chính sách phù
hợp tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát
triển kinh doanh du lịch, đồng thời huy động
mọi nguồn lực, tập trung đầu tư phát triển du
lịch một cách có hiệu quả thiết thực.
Mở rộng và đa dạng hóa các tuyến du lịch:
Cần tập trung xây dựng và mở rộng các tuyến
du lịch nội vùng, liên vùng để tạo ra nhiều loại
hình du lịch khác nhau, tạo ra nhiều sản phẩm
128
Bạn đang xem tài liệu "Du lịch nghỉ dưỡng ở tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
du_lich_nghi_duong_o_tinh_thai_nguyen.pdf

