Du lịch nghỉ dưỡng ở tỉnh Thái Nguyên

ISSN: 1859-2171  
e-ISSN: 2615-9562  
TNU Journal of Science and Technology  
201(08): 121 - 128  
DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN  
Vũ Bạch Diệp, Cao Phương Nga*  
Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc có tài nguyên thiên nhiên, nhân văn phong phú, thuận lợi  
cho phát triển du lịch đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng. Trong những năm qua, du lịch Thái Nguyên  
đã từng bước phát triển tuy nhiên chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh, ngành du lịch  
còn yếu và chưa có tác dụng hỗ trợ thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Bài viết phân tích  
thực trạng về du lịch nghỉ dưỡng của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2015-2017 và đưa ra một  
số giải pháp nhằm phát huy cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình kinh doanh và phát triển du  
lịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.  
Từ khóa: Du lịch; du lịch nghỉ dưỡng; Thái Nguyên; phát triển; tăng trưởng.  
Ngày nhận bài: 06/5/2019; Ngày hoàn thiện: 13/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019  
TOURISM RESORT IN THAI NGUYEN PROVINCE  
Vu Bach Diep, Cao Phuong Nga*  
TNU - University of Economics and Business Administratrion  
ABSTRACT  
Thai Nguyen is a mountainous province in the North which was abundant natural and human  
resources which is favorable for tourism development especially tourist resort. In the past years,  
Thai Nguyen tourism has gradually developed, however, it is not correspond with the potential of  
the province, the tourism is weak and not help to promote other economic development. The  
article analyzes the current status of tourism in Thai Nguyen from 2015 to 2017. Beside, the  
author offers some solutions to promote high quality and efficiency in the process of business and  
tourism development in Thai Nguyen in the future.  
Keywords: Tourism; tourist resort; Thai Nguyens; develop; growth.  
Received: 06/5/2019; Revised: 13/5/2019; Approved: 06/6/2019  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
121  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
1. Đặt vấn đề  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
Theo số liệu nghiên cứu, khách đến du lịch tại  
Thái Nguyên chủ yếu lựa chọn các điểm tham  
quan, nghỉ dưỡng như: khu du lịch sinh thái  
nghỉ dưỡng Hồ Núi Cốc, khu du lịch ATK  
Định Hóa, hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà,  
bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam.  
Trong những năm qua du lịch được coi là ngành  
kinh tế phát triển không chỉ đóng góp vào tăng  
trưởng kinh tế cho đất nước mà còn tạo động  
lực phát triển các ngành kinh tế khác, tạo việc  
làm thu nhập cho người dân đồng thời là  
phương tiện quảng bá hình ảnh quốc gia. Với xu  
thế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với  
khu vực và toàn cầu, du lịch Việt Nam đứng  
trước những cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó cũng  
có những thách thức không nhỏ.  
Công tác quản lý Nhà nước về du lịch: Sở  
VHTT&DL chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời công  
tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn  
tỉnh. Tiếp tục triển khai các văn bản, nghị  
định của Chính phủ về công tác quản lý Nhà  
nước về du lịch.  
Ngày nay, nhu cầu càng ngày càng cao của con  
người, du lịch nghỉ dưỡng càng được chú trọng.  
Đây là loại hình du lịch tổng hợp, đang ở giai  
đoạn phát triển ban đầu ở nhiều địa phương với  
rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết.  
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía  
Bắc có nhiều tiềm năng phát triển du lịch đặc  
biệt là du lịch nghỉ dưỡng. Tỉnh có nhiều khu  
thiên nhiên phong cảnh sơn thủy hữu tình như  
khu du lịch Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng,  
suối Mỏ Gà. Các cơ sở hạ tầng của tỉnh đã được  
hoàn thiện dần, hệ thống đường giao thông quốc  
lộ được nâng cấp tốt hơn. Đây chính là điều  
kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển du lịch  
nghỉ dưỡng của tỉnh.  
Các khu thể thao, vui chơi giải trí và các tiện  
nghi khác: Thái Nguyên có hệ thống cơ sở thể  
thao, vui chơi giải trí tương đối phát triển  
phục vụ cho các kỳ nghỉ dưỡng của du khách  
gồm: 12 điểm vườn du lịch sinh thái, các cơ sở  
massage, phòng karaoke, 12 phòng họp dùng  
cho hội nghị hội thảo quốc tế, chuyên đề với  
2000 ghế và các dịch vụ tại các khách sạn lớn.  
Cơ sở hạ tầng: Giao thông: Thái Nguyên có  
đủ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường  
sông, quốc lộ 3 và quốc lộ 3 mới (Hà Nội  
Thái Nguyên, Thái Nguyên-Bắc Cạn-Cao  
Bằng) chạy dọc từ phía Nam lên phía Bắc của  
tỉnh; Các khu mua sắm: Trên địa bàn toàn  
tỉnh Thái Nguyên hiện có 126 chợ lớn nhỏ,  
trong đó có một chợ loại 2 và các chợ trung  
tâm thị trấn, thị tứ là nơi giao lưu trao đổi  
mua bán hàng nông lâm thổ sản mang tính dân  
tộc độc đáo của mọi miền trong tỉnh, đáp ứng thị  
hiếu của quý khách; Hệ thống điện, Cấp thoát  
nước: Hệ thống điện đảm bảo, Hệ thống cung  
cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn được đồng bộ  
trong toàn tỉnh; Thông tin liên lạc: Bưu chính  
viễn thông là một trong những ngành có bước  
tiến nhanh chóng về số lượng cũng như chất  
lượng, mạng lưới thông tin đã đáp ứng nhu cầu  
kinh tế xã hội trong hoạt động du lịch.  
2. Thực trạng  
2.1. Cơ sở vật chất du lịch  
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 376 cơ  
sở lưu trú du lịch, với hơn 2000 phòng, trong  
đó có khoảng 650 phòng nghỉ cao cấp, 55  
khách sạn đã được thẩm định chất lượng, 54  
khách sạn đạt tiêu chuẩn theo quy định của  
Tổng cục Du lịch, trong đó có 3 khách sạn  
xếp hạng tiêu chuẩn 3 sao; 6 khách sạn đạt  
tiêu chuẩn 2 sao, 4 khách sạn đạt tiêu chuẩn  
1 sao, có 38/58 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn của  
Tổng cục Du lịch [1].  
Bảng 1. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ  
du lịch ở Thái Nguyên  
Hạng mục  
2015 2016 2017  
209 247 376  
1.983 2.217 2.436  
5.268 5.547 5.832  
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch  
nghỉ dưỡng ở Thái Nguyên  
Số lượng cơ sở lưu trú  
- Số buồng (số phòng)  
- Số giường  
Số ngày lưu trú bình quân  
Số nhân viên phục vụ  
Thái Nguyên với nguồn tài nguyên tự nhiên  
và nhân văn đa dạng, cùng với sự phát triển  
của cả nước, du lịch tỉnh Thái Nguyên đã  
từng bước phát triển phục vụ và đáp ứng nhu  
cầu khách du lịch nội địa và quốc tế. Với cơ  
2,9  
2,9  
3,1  
939  
997 1.011  
Tổng số lao động trực tiếp 3.547 4.079 4.579  
(Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên)  
122  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
chế chính sách mở cửa, tạo điều kiện thu hút  
các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh thuộc mọi  
thành phần kinh tế vào hợp tác khai thác tiềm  
năng du lịch, trong những năm qua, tỉnh Thái  
Nguyên đã có nhiều doanh nghiệp kinh doanh  
hiệu quả trong lĩnh vực du lịch, tạo công ăn  
việc làm cho nhiều lao động, mở rộng giao  
lưu văn hóa xã hội giữa các vùng trong nước  
và ngoài nước, tăng cường tình hữu nghị hòa  
bình sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc  
Thái Nguyên hiện phát triển nhiều sản phẩm  
du lịch như du lịch trong đó du lịch sinh thái,  
nghỉ dưỡng góp phần lớn vào doanh thu  
ngành du lịch. Do được đầu tư và phát triển  
nên du lịch Thái Nguyên đã đạt được những  
kết quả tích cực, hạ tầng được nâng cấp,  
lượng khách đến Thái Nguyên ngày một tăng  
(trung bình mỗi năm tăng 15- 16%). Doanh  
thu từ du lịch tăng mạnh.  
lịch sử trong nội bộ Tỉnh. Hướng khách du  
lịch đến chương trình du lịch nghỉ dưỡng cho  
khách hàng chủ yếu của mình.  
Sở VHTT&DL chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời  
công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa  
bàn tỉnh, công tác nâng cao chất lượng phục  
vụ khách du lịch trong dịp Tết; mở các lớp  
bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch năm theo từng  
chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng phục vụ  
khách du lịch, đáp ứng nhu cầu phát triển của  
xã hội, góp phần tăng doanh thu về du lịch.  
2.2.1. Lao động ngành  
Nguồn lao động nói chung của tỉnh Thái  
Nguyên rất dồi dào, với dân số trên 1,2 triệu  
người, trong đó có 50% trong độ tuổi lao  
động, đây cũng là một nguồn lao động lớn  
cho ngành du lịch của tỉnh. Hiện nay số lao  
động liên quan đến hoạt động du lịch trên  
4900 người trong đó lao động trực tiếp làm  
việc trong các nhà hàng, khách sạn tăng đều  
trong các năm, trong đó trình độ đại học và  
trên đại học gần 1000 người chiếm 23%,  
trung cấp là 1025 người chiếm 20,6% số còn  
lại đã qua đào tạo tập huấn ngắn ngày và chưa  
qua đào tạo. Đa số người lao động trong lĩnh  
vực du lịch có phẩm chất đạo đức tốt, có lập  
trường tư tưởng vững vàng, có hiểu biết về  
văn hoá, lịch sử Thái Nguyên, có kỹ năng  
giao tiếp với du khách, được đào tạo có trình  
độ năng lực đáp ứng yêu cầu kinh doanh du  
lịch của tỉnh.  
Số liệu ở bảng 2 cho thấy, tổng doanh thu qua  
các năm từ 2015 đến 2017 liên tục tăng. Cụ  
thể năm 2016 tăng so với 2015 là 15,25% với  
lượng tăng tuyệt đối là 205 tỷ đồng. Năm  
2017 tăng so với năm 2016 là 16,64%. Bên  
cạnh đó các dịch vụ thiết yếu như ăn uống,  
thuê phòng cũng tăng đều qua từng năm.  
Doanh thu du lịch tăng do trong thời gian qua.  
Tỉnh có sự đầu tư về ngành du lịch đặc biệt là  
du lịch nghỉ dưỡng của du khách, nâng cao  
chất lượng dịch vụ các tour. Các công ty du  
lịch trong địa bàn tỉnh đã tổ chức tập trung  
đưa khách tham quan các bảo tàng, kiến trúc  
Bảng 2. Doanh thu du lịch của Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017  
(ĐVT: tỷ đồng)  
Tỷ lệ tăng giảm giữa các năm (%)  
Chỉ tiêu  
2015  
2016  
2017  
2016/2015  
15,25%  
20,67%  
10,25%  
50,72%  
8,86%  
2017/2016  
16,64%  
16,78%  
11,58%  
11,80%  
7,46%  
Tổng doanh thu  
+ Thuê phòng  
1.342  
329  
602  
70  
1.546  
396  
664  
105  
206  
19  
1.803  
463  
741  
117  
221  
21  
+ Ăn uống  
+ Các dịch vụ du lịch  
+ Mua bán hàng hóa  
+ Doanh thu phí du lịch  
+ Các hoạt động khác  
189  
15  
31,48%  
13,35%  
11,56%  
53,75%  
138  
156  
240  
(Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên)  
123  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
Năm 2017, ngành du lịch Thái Nguyên đã tổ  
chức 3 lớp đào tạo dài hạn cho 160 học viên  
và lớp ngắn hạn cho 88 học viên ở các nghiệp  
vụ: hướng dẫn viên, lễ tân, nghiệp vụ nhà  
hàng, nghiệp vụ lưu trú, kỹ thuật chế biến  
món ăn Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch còn  
phối hợp với các đơn vị khác mở nhiều lớp  
đào tạo nghiệp vụ hoặc cử giáo viên đi học,  
trao đổi kinh nghiệm nâng cao trình độ tại các  
trường cao đẳng du lịch trong nước.  
khách trong nước trong năm 2017 là 2163403  
tăng so với năm 2016 là 176056 lượt với tỷ lệ  
tăng là tăng 8.9%. Đây là kết quả đáng mừng  
khi nền kinh tế nói chung vẫn đang trong tình  
trạng khủng hoảng. Tuy nhiên kết quả trên là  
chưa tương xứng với tiềm năng của Thái  
Nguyên do đó trong thời gian tới Tỉnh cần  
phải có bước đi mới nhằm tăng khả năng thu  
hút và phát triển kinh tế du lịch, đáp ứng nhu  
cầu của thực tiễn.  
Tuy nhiên với đặc thù của du lịch nghỉ dưỡng  
thì đội ngũ phục vụ ngoài những tiêu chí biết  
phục vụ khách phải có các kỹ năng cần thiết  
thông qua đào tạo cẩn thận, chuyên nghiệp.  
2.2.3. Hoạt động Marketing  
Sản phẩm du lịch: Các khu, điểm du lịch  
được tiếp tục tôn tạo phục vụ khách du lịch  
như: Bảo Tàng Văn hóa các dân tộc, Hang  
Phượng Hoàng. Các tuyến du lịch cộng đồng  
từ Hồ núi Cốc đi Tuyến du lịch trung tâm  
TP.Thái Nguyên - Hồ Núi Cốc, Tuyến du lịch  
trung tâm TP.Thái Nguyên - ATK Định Hóa.  
Tuyến du lịch trung tâm TP.Thái Nguyên-  
Đồng Hỷ, Võ Nhai.  
2.2.2. Khách du lịch  
Lượng khách du lịch đến Thái Nguyên với  
nhu cầu nghỉ dưỡng không ngừng tăng trong  
thời gian qua:  
Bảng 3. Số lượng khách du lịch đến Thái Nguyên  
giai đoạn 2015-2017  
Giá cả: hiện nay mức giá dịch vụ du lịch Thái  
Nguyên là mức giá tương đối phù hợp cho  
khách hàng trong nước và ngoài nước; Đối  
với mùa cao điểm thì giá tour cũng như giá  
phòng, giá dịch vụ sẽ tăng hơn lúc bình  
thường nhưng không tăng quá cao mà cố gắng  
duy trì sự sai biệt với mức tối thiểu. Các du  
khách đến Thái Nguyên được phỏng vấn đều  
cho rằng giá phòng ở mức vừa phải, giá dịch  
vụ hơi cao nhưng có thể chấp nhận được.  
Chỉ tiêu  
2015  
2016  
2017  
Tổng số hành khách  
1775324 2051324 2229700  
đến (lượt người)  
- Khách quốc tế  
62377  
63977 66297  
- Khách trong nước  
1712947 1987347 2163403  
- Mức chi tiêu bình quân  
của khách (Đơn vị: 1000 816  
1034  
1252  
đồng)  
(Nguồn: Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên)  
Kênh phân phối: Hiện nay hệ thống phân phối  
sản phẩm của ngành du lịch nghỉ dưỡng chủ  
yếu thông qua hai hình thức: kênh bán hàng  
trực tiếp và gián tiếp.  
Qua bảng 3, ta thấy trong năm 2017 Thái  
Nguyên đã thu hút 2229700 lượt du khách,  
trong đó có 66297 lượt khách quốc tế, tăng so  
với năm 2016 là 2320 lượt khách với tỷ lệ  
tăng là 3.5%. Lượng khách du lịch quốc tế gia  
tăng qua các năm, tuy nhiên vẫn chiếm một  
lượng nhỏ so với tổng số lượng khách du lịch  
của tỉnh. Lý do là việc thu hút về văn hoá bản  
sắc dân tộc bản địa chưa cao, thông tin quảng  
bá còn hạn chế với du khách quốc tế. Chính vì  
vậy, cần có các chương trình thông tin quảng  
bá du lịch Thái Nguyên sâu rộng chuyên  
nghiệp hơn và các chính sách của tỉnh khuyến  
khích thu hút khách du lịch quốc tế. Bên cạnh  
đó tìm hiểu xem khách quốc tế nào là chủ yếu  
để đẩy mạnh công tác xúc tiến thu hút khách  
du lịch đến với Thái Nguyên. Đối với thu hút  
2.2.4. Hệ thống thông tin  
Có thể nói du lịch Thái Nguyên nói chung và  
du lịch nghỉ dưỡng của tỉnh nói riêng đã có  
quan tâm đến quảng bá, xúc tiến du lịch.  
Nhưng nhìn chung, sự quảng bá còn yếu ớt,  
rời rạc, chưa có sự phối hợp nên không thể  
tạo được sức hút, thành công. Do việc đa  
dạng hoá các kênh thông tin, khai thác lợi thế  
của hệ thống thông tin đại chúng, phối hợp  
chặt chẽ với báo đài trong cung cấp trao đổi  
thông tin hai chiều nhằm thúc đẩy hoạt động  
du lịch thông qua công tác tuyên truyền có  
định hướng của báo chí còn yếu.  
124  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
3. Đánh giá chung  
ngày càng đa dạng: Đến hết năm 2017, trên  
địa bàn tỉnh có 376 cơ sở lưu trú du lịch, với  
2436 buồng, phòng, quy mô các khách sạn  
phục vụ khách đến nghi dưỡng ngày càng mở  
rộng theo hướng tăng các dịch vụ phụ trợ bổ  
trợ cho dịch vụ lưu trú các tour, tuyến du lịch  
cũng ngày càng được mở rộng.  
3.1. Những ưu điểm  
Kinh tế du lịch phát triển nhanh, bền vững trở  
thành động lực thúc đẩy KTXH Tỉnh phát  
triển: Công tác chỉ đạo hoạt động du lịch của  
tỉnh đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của  
các bộ, ngành Trung ương, Tổng cục Du lịch.  
Bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch tỉnh  
Thái Nguyên dần được củng cố, phù hợp với  
xu hướng đổi mới. Đồng thời, các doanh  
nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh đã năng động  
phát huy nguồn lực sẵn có, tích cực hợp tác  
liên doanh về du lịch với các địa phương tỉnh  
bạn nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du  
lịch của tỉnh mình. Do vậy, hoạt động du lịch  
Thái Nguyên trong giai đoạn này đã đạt được  
những kết quả đáng khích lệ, các chỉ tiêu kinh  
tế về du lịch hàng năm đều tăng trưởng Đặc  
biệt, nhờ công tác tuyên truyền mà hình ảnh  
của Thái Nguyên ngày càng được khẳng định,  
từ đó thu hút được nhiều khách du lịch đến  
với tỉnh hơn nữa.  
Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hóa đặc  
sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc với các  
di sản văn hóa phi vật thể và danh lam thắng  
cảnh đẹp như: Hồ Núi Cốc, hang Phượng  
Hoàng - suối Mỏ Gà, Di tích khảo cổ học  
Thần Sa. Đặc biệt, ngay tại thành phố Thái  
Nguyên có Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc  
Việt Nam, nơi trưng bày, giới thiệu nét đẹp  
sinh hoạt văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc  
Việt và vùng chè Tân Cương được mệnh danh  
là "Đệ nhất danh trà".  
Công tác xúc tiến quảng bá DL thường xuyên  
được quan tâm: Trong giai đoạn năm 2015 -  
2017 công tác quảng bá xúc tiến DL được đặc  
biệt quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, củng cố  
về các hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin,  
trưng bày, giới thiệu sản phẩm DL cho du  
khách về DL Thái Nguyên: Trung tâm Thông  
tin DL Thái Nguyên được củng cố và hoạt  
động có hiệu quả. Hàng năm tổ chức các sự  
kiện văn hóa DL như: tổ chức cuộc thi người  
đẹp xứ trà; Lễ hội sau tết Nguyên đán của các  
dân tộc, các phóng sự có nhiều chuyên đề về  
DL và con người Thái Nguyên phát trên  
VTV1, VTV2.  
Trong hơn 25 năm đổi mới KTDL Thái  
Nguyên liên tục phát triển nhanh, bền vững  
cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần theo hướng  
tăng mạnh tỷ trọng CN - DV, giảm dần tỷ  
trọng nông lâm nghiệp. Cơ cấu kinh tế chuyển  
dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công  
nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng  
ngành nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp,  
thuỷ sản), cụ thể: công nghiệp và xây dựng  
chiếm 45%, dịch vụ chiếm 39%, nông nghiệp  
chiếm 13% vào năm 2015; tương ứng đạt 47 -  
48%, 42 - 43%, 9 - 10% vào năm 2020[1].  
Công tác sử dụng lao động, đào tạo và phát  
triển nguồn nhân lực được quan tâm đầu tư:  
Các cơ quan chính quyền địa phương đã quan  
tâm đào tạo lao động trong lĩnh vực DL-DV  
phục vụ cho phát triển DL của huyện; từ năm  
2015-2017 đã tổ chức mở hàng trăm các lớp  
về kỹ năng giao tiếp với khách du lịch, phục  
vụ buồng bàn, trong đó có 45% đã được đào  
tạo về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ.  
Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du khách  
ngày càng đảm bảo: Trong những năm qua  
Tỉnh Thái Nguyên đã tập trung chỉ đạo hình  
thành nên các điểm du lịch, hệ thống cơ sở  
vật chất đủ điều kiện phát triển nhanh về số  
lượng từng bước đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ và  
vui chơi giải trí của du khách đến nghỉ dưỡng.  
Các khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, khu du  
lịch (resort)…phát triển hợp lý các loại hình  
cơ sở lưu trú không những tạo sự độc đáo hấp  
dẫn khách mà còn mang lại lợi ích kinh tế,  
nâng cao hiệu quả đầu tư.  
Công tác bảo vệ môi trường DL thường xuyên  
được quan tâm: Trong các năm qua, công tác  
bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến  
tích cực; công tác tuyên truyền nâng cao nhận  
thức về bảo vệ môi trường cho đại bộ phận  
cán bộ và nhân dân được nâng lên, mức độ  
gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi  
Công tác phát triển các tuyến, điểm DL được  
quan tâm đầu tư phát triển, các sản phẩm DL  
125  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
trường từng bước được hạn chế; công tác bảo  
tồn đa dạng sinh học đã được quan tâm.  
Nhiều hoạt động thiết thực được tổ chức thực  
hiện có hiệu quả cao như: Phong trào nước  
sạch, vệ sinh môi trường và ngày môi trường  
thế giới; Phong trào Xanh - Sạch - Đẹp.  
Hướng dẫn kỹ thuật canh tác trên đất dốc; vận  
động nhân dân định canh, định cư, bảo vệ và  
phát triển tài nguyên rừng.  
đầu tư tôn tạo xây dựng cơ sở hạ tầng với  
nguồn kinh phí hạn hẹp chưa xứng tầm, chủ  
yếu mang tính nâng cấp, sửa chữa. Các điểm  
du lịch hầu như chưa có khu vui chơi giải trí,  
tạo cảnh quan, cảnh vật hấp dẫn thu hút du  
khách. Các dịch vụ phục vụ, như ăn uống, nghỉ  
ngơi, mua sắm chủ yếu tập trung ở trung tâm  
thành phố, thị trấn, còn tại các điểm du lịch thì  
hầu như không có và không đáp ứng được các  
nhu cầu tối thiểu của khách về chất lượng dịch  
vụ, vệ sinh, môi trường.  
3.2. Những khuyết điểm, hạn chế  
Chính sách phát triển du lịch: Chính sách  
phát triển du lịch của tỉnh hoàn toàn là những  
chính sách chung, chưa phân biệt rõ đặc thù  
của từng loại hình du lịch để đưa ra một chính  
sách riêng cho từng loại hình du lịch. Từ đó  
mới phát huy được thế mạnh của từng loại  
hình du lịch này.  
Thời gian lưu trú của khách DL chưa cao: Số  
ngày khách lưu trú bình quân là 1,6  
ngày/khách. Trong đó, số ngày lưu trú bình  
quân của khách quốc tế là 2,3 ngày/khách,  
khách nội địa là 1,3 ngày/khách.  
Còn thiếu điểm vui chơi DL, các sản phẩm  
phục vụ DL còn nghèo nàn, chất lượng phục  
vụ chư đồng đều, giá cả phục vụ thiếu ổn  
định: Hiện nay Thái Nguyên đang thiếu các  
điểm vui chơi DL, nguyên nhân do lượng  
khách tăng nhanh nhưng công tác đầu tư cho  
DL còn nhiều hạn chế bất cập không theo  
được sự tăng trưởng khách DL. Các sản phẩm  
phục vụ DL còn thiếu, chất lượng các sản  
phẩm, chất lượng phục vụ không đồng đều.  
Các số liệu thống kê doanh thu, số lượng  
khách: Các số liệu về doanh thu, khách lưu  
trú chưa tách biệt được rõ ràng lượng khách,  
doanh thu theo từng loại hình du lịch. Việc  
tách riêng từng loại hình du lịch sẽ thuận lợi  
hơn rất nhiều cho công tác nghiên cứu để từ  
đó có biện pháp phù hợp để thúc đầy từng  
loại hình du lịch phát triển.  
Quy hoạch còn thiếu và chưa đồng bộ, quản  
lý những khu DL đã được quy hoạch còn lỏng  
lẻo, quản lý đầu tư còn yếu: Hiện nay chưa có  
quy hoạch tổng thể về phát triển DL Thái  
Nguyên; việc quản lý các dự án đầu tư DL  
còn yếu, đến nay có gần 20 dự án đầu tư xây  
dựng các khu DL sinh thái, DL nghỉ dưỡng,  
khách sạn cao cấp nhưng chỉ có vài dự án nhỏ  
được triển khai xây dựng còn đa số các dự án  
chậm tiến độ, một số Nhà đầu tư đang tìm  
cách chuyển nhượng dự án kiếm lời.  
Công tác quản lý, sử dụng lao động, đào tạo  
và phát triển nguồn nhân lực còn gặp nhiều  
khó khăn, hạn chế: Số lượng lao động đã qua  
đào tạo đáp ứng được yêu cầu mới đạt 45%,  
còn đa số chưa qua đào tạo hoặc chỉ được tập  
huấn, một số không thể đào tạo vì trình độ  
văn hóa thấp; công tác quản lý, sử dụng lao  
động gặp nhiều khó khăn, một số cơ sở kinh  
doanh sử dụng nhiều lao động nhưng không  
muốn ký hợp đồng lao động dài hạn, không  
chịu đóng bảo hiểm cho người lao động.  
Chất lượng của các nhà hàng, dịch vụ phục vụ  
khách du lịch nghỉ dưỡng còn chưa cao: tại  
các cơ sở kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà  
hàng còn thụ động về nguồn khách đến, hầu  
hết chỉ trông chờ vào khách tự đến. Tất cả các  
đơn vị kinh doanh trong địa bàn tỉnh đều chưa  
có phòng Marketing, chăm sóc khách hàng.  
Các chương trình quảng bá, khuyến mại, giảm  
giá, hay các món ăn vẫn chưa thật thuyết phục.  
Các khu, điểm du lịch hiện nay chỉ khai thác  
chủ yếu các tiềm năng sẵn có từ tự nhiên. Việc  
Công tác bảo vệ môi trường DL có nhiều thiếu  
sót: Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường tại  
các khu, điểm, tuyến DL còn nhiều hạn chế.  
Hệ thống thu gom, chứa và xử lý sơ bộ chất  
thải tại một số điểm DL chưa đảm bảo yêu cầu,  
nhiều nơi còn chưa có địa điểm thu gom và xử  
lý rác thải. Còn tình trạng khách DL vứt rác  
thải bừa bãi gây mất vệ sinh, ảnh hưởng đến  
chất lượng môi trường, chất lượng du lich; ý  
126  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
với loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng thì  
nhu cầu vốn cho việc xây dựng các khu nghỉ  
dưỡng lại càng cần thiết. Tuy nhiên song song  
với việc huy động vốn thì cũng phải quản lý  
tốt việc quy hoạch và xây dựng các dự án để  
tránh làm ảnh hưởng xấu tới môi trường tự  
nhiên và mỹ quan vốn có.  
thức bảo vệ môi trường của một bộ phận nhân  
dân và du khách chưa cao. Công tác đảm bảo  
trật tự an toàn tại một số khu, điểm DL chưa  
đảm bảo yêu cầu; việc sắp xếp các chợ tạm và  
các điểm bán hàng chưa hợp lý, công tác quản  
lý không chặt chẽ dẫn đến tình trạng che chắn,  
cơi nới và tình trạng lấn chiếm vỉa hè bán hàng  
gây ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị chưa  
được giải quyết kịp thời.  
Các nguồn vốn có thể từ: Vốn đầu tư từ  
nguồn tích luỹ GDP du lịch; Vốn vay ngân  
hàng trong nước, vốn trong dân; Vốn FDI và  
vốn ODA; Vốn ngân sách Nhà nước.  
4. Kết luận và giải pháp  
4.1. Quy hoạch xây dựng các khu nghỉ dưỡng  
Để tạo nguồn vốn cho các doanh nghiệp đầu  
tư phát triển các khu du lịch trọng điểm đã  
được xác định, UBND Tỉnh cần có chính sách  
khuyến khích huy động nguồn vốn tự tích luỹ,  
cho phép các doanh nghiệp sử dụng doanh thu  
du lịch tái đầu tư phát triển trong thời gian  
khoảng 3 đến 5 năm. Trong điều kiện khó  
khăn về nguồn vốn đầu tư nói chung và vốn  
đầu tư cho du lịch như hiện nay, đây là giải  
pháp tích cực và tương đối hiệu quả để huy  
động vốn đầu tư.  
Xây dựng các khu nghỉ dưỡng gắn liền với  
đặc thù địa phương: Khai thác cái riêng, cái  
đặc thù của địa phương đã đem lại cho nhà  
đầu tư cũng như nhà thiết kế những cứu cánh  
cho việc tìm ra sự hấp dẫn riêng của khu nghỉ  
dưỡng. Điều này đòi hỏi sự sâu sắc trong suy  
nghĩ của chủ đầu tư. Chẳng hạn, có thể tận  
dụng lễ hội chè hàng năm tổ chức tại Thái  
Nguyên để làm mùa xúc tiến du lịch, tổ chức  
cho khách kết hợp khám phá ẩm thực Thái  
Nguyên, văn hóa trà, tận dụng các sản phẩm  
từ trà cho sức khỏe. Ngoài uống trà chống lão  
hóa, chống phóng xạ, phòng ngừa tim mạch,  
trà có thể làm mỹ phẩm.  
4.3. Nâng cao chất lượng phục vụ khách  
nghỉ dưỡng  
Các công ty du lịch cần có sự mềm dẻo trong  
cách chuyển hướng, thiết kế các tour đi nghỉ  
dưỡng thật hấp dẫn đưa kéo khách hàng của  
công ty đến với các tour đó. Bên cạnh đó  
cũng cần có sự đầu tư vào các tour nghỉ.  
Chương trình tour du lịch nghỉ dưỡng của các  
công ty du lịch trong tỉnh phải có sự đa dạng,  
công ty có sự khai thác các điểm du lịch nghỉ  
dưỡng ở các, ưu tiên những điểm du lịch nghỉ  
dưỡng là thế mạnh của địa phương.  
Kiến trúc các khu nghỉ dưỡng: Nhiều Resort  
thường hướng đến những kiến trúc cổ xưa để  
đưa khách về gần với thiên nhiên, tránh xa cái  
ồn ào của cuộc sống đô thị như bố trí những  
ngôi nhà cổ với mái ngói; tường gạch; cột,  
kèo bằng gỗ và có gam màu tối, mang vẻ cổ  
kính. Tuy nhiên, hệ thống các phòng ốc của  
Resort được thiết kế thành từng căn hộ biệt  
lập, tạo không gian riêng cho khách bên  
trong phòng là những thiết bị hiện đại, tiện  
nghi Resort khác với các cơ sở lưu trú thông  
thường ở chỗ, nó có dịch vụ liên hoàn, tổng  
hợp, có thể đáp ứng được mọi nhu cầu về dịch  
vụ của khách như các dịch vụ giải trí, spa,  
chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, thể thao,  
nghỉ dưỡng…Vì vậy, khi thiết kế xây dựng  
Resort, yêu cầu giữ lại tối đa cây xanh.  
Chất lượng dịch vụ tour nghỉ dưỡng của các  
công ty cũng cần được chú trọng (bao gồm ăn  
uống, tham quan và vui chơi) khách đi nghỉ  
dưỡng có sự sắp xếp hợp lý cho du khách.  
4.4. Hoàn thiện các chính sách sản phẩm  
Đối với dịch vụ lưu trú: Phải từng bước đa  
dạng hoá các loại hình dịch vụ lưu trú đặc biệt  
đối với du lịch nghỉ dưỡng đòi hỏi chất lượng  
phòng nghỉ tốt. Quản lý các dự án xây dựng  
nhà lưu trú cho khách phải phù hợp với mỹ  
quan chung, đặc thù chung của tài nguyên du  
lịch tại điểm đến.  
4.2. Tạo vốn đầu tư từ nhiều nguồn  
Tỉnh cần có chủ trương đúng đắn, tạo hàng  
rào thông thoáng để các doanh nghiệp có thể  
đến đầu tư cũng như huy động vốn. Đặc biệt  
Đối với dịch vụ kinh doanh ăn uống: ở các điểm  
127  
Vũ Bạch Diệp và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 121 - 128  
du lịch độc đáo, đa dạng hấp dẫn du khách.  
du lịch cần tạo ra các món ăn thật độc đáo, đặc  
trưng cho điểm du lịch tạo được ấn tượng khó  
quên trong lòng du khách. Tuy nhiên cũng  
không thể thiếu những món ăn thường ngày với  
giá cả phải chăng. Đặc biệt với loại hình du lịch  
nghỉ dưỡng với nhu cầu nghỉ ngơi dài ngày thì  
việc cung cấp thực phẩm sạch, an toàn là nhu  
cần cần thiết đặt lên hàng đầu.  
Tạo mối quan hệ mật thiết giữa ngành du lịch  
với các ngành kinh tế khác: Phối hợp chặt chẽ  
giữa ngành du lịch với các ngành chức năng,  
tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Mở rộng  
mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ ở cả thành  
thị và nông thôn, nhất là các điểm du lịch, tạo  
sự lan toả phát triển du lịch đến các vùng.  
Sự tham gia của cộng đồng, khai thác sản  
phẩm du lịch bản làng văn hoá, lịch sử, du  
lịch sinh thái: Cộng đồng dân cư địa phương  
vừa là nguồn cung cấp lao động cho ngành du  
lịch đồng thời bản thân người dân địa  
phương, môi trường sống, truyền thống văn  
hóa của cộng đồng địa phương cũng là những  
nhân tố thu hút khách du lịch. Hoạt động du  
lịch sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng,  
ngược lại sự tham gia của cộng đồng sẽ làm  
phong phú thêm tài nguyên và sản phảm du  
lịch. Tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương  
gồm các thành phần kinh tế khác nhau được  
tham gia vào toàn bộ quá trình phát triển các  
sản phẩm, các khu, điểm du lịch từ khâu quy  
hoạch đến quản lý phát triển, khai thác.  
Đối với các dịch vụ bổ sung; đây là dịch vụ  
góp phần vào việc thúc đẩy tiêu dùng các sản  
phẩm dịch vụ khác trong lĩnh vực kinh doanh  
du lịch, nó cũng góp phần quảng bá hình ảnh  
của điểm du lịch đến với bạn bè thập phương.  
Vì vậy việc đa dạng hoá các dịch vụ bổ sung  
là điều kiện cần được ưu tiên. Cần tạo ra  
những dịch vụ thật đặc biệt gây dấu ấn trong  
lòng du khách.  
Nghiên cứu thị trường du lịch nghỉ dưỡng: Tập  
trung nghiên cứu thị trường, xác định rõ thị  
trường trọng điểm và thị trường mục tiêu (thị  
trường tiềm năng) của du lịch tỉnh Thái Nguyên.  
Đào tạo nguồn nhân lực du lịch nghỉ dưỡng:  
Cần phải đào tạo và hình thành một đội ngũ  
cán bộ quản lý, nhân viên hoạt động trong  
lĩnh vực du lịch thành thạo về kỹ năng nghiệp  
vụ, có khả năng giao tiếp tốt, đặc biệt là phải  
biết ít nhất một ngoại ngữ.  
Giải pháp về tuyên truyền quảng bá: xây  
dựng Website về du lịch Thái Nguyên trên  
mạng, có đầy đủ các thông tin cần thiết, cập  
nhật các thông tin thường xuyên, nhanh  
chóng và chính xác. Ngoài ra, cần xuất bản  
những cuốn sách nhỏ, cẩm nang du lịch Thái  
Nguyên, tờ rơi và đưa đến tận tay khách du  
lịch, đặc biệt cần dịch ra ít nhất một thứ tiếng  
nước ngoài (thông dụng nhất là tiếng Anh) để  
phục vụ khách du lịch quốc tế.  
Quy hoạch tổng thể, bảo vệ, tôn tạo và nâng  
cấp các tài nguyên du lịch: Cần quy hoạch  
tổng thể du lịch chung của toàn tỉnh, bên cạnh  
đó quy hoạch cụ thể các điểm lịch, nhằm khai  
thác có hiệu quả tài nguyên du lịch, thúc đẩy  
phát triển và mở rộng khả năng du lịch của  
mỗi vùng. Đồng thời, phải thường xuyên bảo  
vệ, tôn tạo và nâng cấp các di tích lịch sử văn  
hoá, di tích cách mạng, bảo vệ cảnh quan  
thiên nhiên, môi trường, phát triển các loại  
hình du lịch phù hợp, gắn các điểm du lịch  
với nhau và với du lịch vùng, du lịch cả nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. UBND tỉnh Thái Nguyên, Quyết định phê  
duyệt chương trình phát triển văn hóa, thể  
thao và du lịch tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn  
2017-2020 (Ban hành kèm theo quyết định số  
1750/QĐ-UBND ngày 26/6/2017), 2017.  
[2]. Hoàng Thị Huệ và Nguyễn Thị Gấm, “Du lịch  
sinh thái trong xu thế phát triển du lịch bền  
vững tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và  
Công nghệ, T. 81, S. 05, tr 51-62, 2016.  
[3]. Phạm Trung Lương, “Du lịch sinh thái: những  
vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt  
Nam”, Nhà xuất bản giáo dục, 2002.  
[4]. Jeffrey D. Kline, “Tourism and Natural  
Resource Management: A General Overview of  
Research and Issues”, no. 1, pp. 1-10, 2001.  
Xây dựng các đề án phát triển du lịch:  
Khuyến khích và có những chính sách phù  
hợp tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát  
triển kinh doanh du lịch, đồng thời huy động  
mọi nguồn lực, tập trung đầu tư phát triển du  
lịch một cách có hiệu quả thiết thực.  
Mở rộng và đa dạng hóa các tuyến du lịch:  
Cần tập trung xây dựng và mở rộng các tuyến  
du lịch nội vùng, liên vùng để tạo ra nhiều loại  
hình du lịch khác nhau, tạo ra nhiều sản phẩm  
128  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Du lịch nghỉ dưỡng ở tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_lich_nghi_duong_o_tinh_thai_nguyen.pdf