Giáo trình Marketing - Nghề Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí

0
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ  
GIÁO TRÌNH  
Tên môn học: Marketing  
NGHỀ: KỸ THUẬT MÁY LẠNH VÀ  
ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
Ban hành kèm theo Quyết định số: 120 /QĐ – TCDN ngày 25 tháng 2 năm  
2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề  
Hà Nội, năm 2013  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể  
được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và  
tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI NÓI ĐẦU  
Marketing là một khái niệm mang nhiều ý nghĩa, nó có thể được hiểu  
như là một hoạt động của cá nhân hay tổ chức, tương tự như các hoạt động  
quản trị sản xuất, nhân lực, tài chính, kế toán...và marketing như là một quan  
điểm kinh doanh, tức là một triết lý về sự thành công trong kinh doanh.  
Marketing là hoạt động của con người nhằm nghiên cứu tính quy luật  
hình thành nên nhu cầu trên thị trường, nghiên cứu các chính sách để làm cho  
quá trình sản xuất đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội và nhu cầu xã hội và đạt  
hiệu quả cao cho doanh nghiệp.  
Marketing là một hoạt động không thể thiếu đối với các doanh nghiệp  
và ngày càng phát triển sâu sắc hơn. Marketing cung cấp cho các doanh  
nghiệp những thông tin chủ yếu giúp cho doanh nghiệp hoạch định được  
chiến lược kinh doanh cũng như nghệ thuật chiếm lĩnh thị trường.  
Giáo trình Marketing dành cho nghề Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa  
không khí trình độ cao đẳng nghề là một trong bộ giáo trình biên soạn cho  
trình độ chuẩn Quốc gia. Giáo trình tuân thủ chặt chẽ chương trình đào tạo đã  
được bộ Lao động Thương binh và Xã hội phê duyệt nhằm mục đích trang bị  
kiến thức cơ bản cho sinh viên về Marketing.  
Trong giáo trình này, chúng tôi giới thiệu những khái niệm cơ bản về  
Marketing, nghiên cứu hành vi mua của khách hàng là người tiêu dùng, khách  
hàng là tổ chức, tầm quan trọng của việc phân đoạn thị trường, lựa chọn thị  
trường mục tiêu và định vị hình ảnh của doanh nghiệp trên đoạn thị trường  
đó, đồng thời hình thành kỹ năng tính giá sản phẩm theo các phương pháp  
khác nhau, thiết kế nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng kênh phân phối và xây  
chương trình quảng cáo cho doanh nghiệp.  
Nội dung biên soạn theo hình thức tích hợp, giữa lý thuyết và thực hành  
(làm việc theo nhóm). Trong quá trình biên soạn, tác giả đã tham khảo nhiều  
tài liệu liên quan của các trường Đại học, Cao đẳng chuyên nghiệp, trung cấp  
chuyên nghiệp và dạy nghề và cập nhật những kiến thức mới nhất nhằm đáp  
ứng nhu cầu của người học một cách thiết thực nhất.  
Trong quá trình biên soạn các tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ  
quý giá từ các thầy cô trong trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội, đặc  
biệt là khoa kinh tế.  
Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng không thể  
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến  
quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên để giáo trình  
ngày càng hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
3
Hà nội, ngày 24 tháng 12 năm 2012  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên: Thạc sĩ Nguyễn Quang Tuyến  
2. Ủy viên: Cử nhân Lê thị Minh Ngạn  
4
MỤC LỤC  
ĐỀ MỤC  
TRANG  
1. Lời nói đầu  
2. Chương trình môn học  
2
5
3. Chương 1: Marketing trong kinh doanh của doanh nghiệp  
4. Chương 2: Hệ thống và nghiên cứu Marketing phục vụ kinh  
doanh  
7
15  
5. chương 3: Tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt  
động karrketing của doanh nghiệp  
6. Chương 4: Hành vi khách hàng và định hướng hoạt động  
Marketing của doanh nghiệp  
7. Chương 5: Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục  
tiêu và các chính sách Marketing  
8. Tài liệu tham khảo  
22  
32  
51  
91  
5
TÊN MÔN HỌC: MARKETING  
Mã môn học: MH 21  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
Môn này được học sau khi sinh viên đã học các môn Kỹ thuật chuyên  
ngành điện lạnh và chuẩn bị kiến thức cho học sinh tiếp thu các quy trình công  
nghệ ngành điện lạnh; Là môn học bắt buộc.  
Mục tiêu của môn học:  
- Trình bày và phân tích được các khái niệm cơ bản về Marketing: bản  
chất của hoạt động marketing, quá trình quản trị marketing trong doanh  
nghiệp, lựa chọn thị trường mục tiêu, xây dựng chiến lược marketing - mix  
(sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến bán hàng) cho thị trường mục tiêu.  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.  
Nội dung của môn học:  
Thời gian  
Thực  
hành  
Kiểm  
tra*  
STT  
Tên chương/ mục  
Tổng  
Lý  
số thuyết bài tập (LT hoặc  
TH)  
Mở đầu  
3
5
4
3
4
4
I
Marketing trong kinh doanh  
của doanh nghiệp  
Vai trò của marketing trong  
kinh doanh của doanh  
nghiệp  
1
II Các khái niệm cơ bản của  
marketing  
Hệ thống và nghiên cứu  
marketing phục vụ kinh  
doanh  
III Hệ  
marketing  
Nghiên cứu marketing  
thống  
thông  
tin  
Tác động của môi trường  
kinh doanh tới hoạt động  
marketing của doanh nghiệp  
6
IV Tổng quan về sự tác động  
của môi trường kinh doanh  
tới hoạt động marketing của  
doanh nghiệp  
6
6
9
Tác động của môi trường vi  
mô tới hoạt động marketing  
V
Tác động của môi trường vĩ 12  
mô tới hoạt động marketing  
Hành vi khách hàng và định  
hướng hoạt động marketing  
của doanh nghiệp  
2
1
Thị trường người tiêu dùng  
và hành vi mua của người  
tiêu dùng  
Hành vi mua của tổ chức  
Phân đoạn thị trường, lựa  
chọn thị trường mục tiêu và  
các chính sách marketing  
Phân đoạn thị trường  
Lựa chọn thị trường mục  
tiêu  
Chính sách sản phẩm – hàng  
hóa  
Chính sách giá  
Chính sách phân phối  
Chính sách xúc tiến hỗn hợp  
Cộng  
30  
26  
3
1
7
CHƯƠNG I: MARKETING TRONG KINH DOANH CỦA  
DOANH NGHIỆP  
Mã chương: MH 21 – 01  
Giới thiệu:  
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, các quốc gia trên thế giới  
trong đó có Việt Nam đang cố gắng nỗ lực để xây dựng một đất nước có nền  
kinh tế phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.  
Trong điều kiện đó, cạnh tranh càng ngày càng trở nên gay gắt,  
các doanh nghiệp luôn luôn mong muốn tìm ra cho mình những hướng đi gần  
với khách hàng hơn để có thể đáp ứng được nhu cầu, mong muốn của họ. Do  
vậy, môn marketing không chỉ quan trọng đối với các sinh viên chuyên ngành  
quản trị nói chung mà còn đối với các sinh viên khoa điện tử - điện lạnh nói  
riêng.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được các quan điểm kinh doanh của doanh nghiệp  
- Trình bày được vai trò của Marketing trong hoạt động kinh doanh  
- Trình bày được các khái niệm cơ bản của Marketing  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
Nội dung chính:  
1. VAI TRÒ CỦA MARKETING TRONG KINH DOANH CỦA DOANH  
NGHIỆP:  
* Mục tiêu:  
- Trình bày được các quan điểm kinh doanh của doanh nghiệp  
- Trình bày được vai trò của Marketing trong hoạt động kinh doanh  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
1.1. Các quan điểm định hướng kinh doanh của Doanh nghiệp – sự hình  
thành marketing hiện đại.  
Thuật ngữ marketing ra đời đầu tiên ở Mỹ, vào những năm đầu của thế  
kỷ XX. Nó được truyền bá sang Châu Âu, Châu Á rồi tới nước ta vào cuối  
những năm 1980. Hoạt động Marketing đã xuất hiện từ rất lâu, trải qua quá  
trình hình thành và phát triển, khái niệm marketing ngày càng được hoàn  
thiện một cách phong phú và rõ nét hơn. Trước kia marketing là “bán những  
cái mình sẵn có” nhưng với sự phát triển của nó, marketing là “bán những cái  
mà khách hàng cần”. Vậy, quá trình hoàn thiện của quan điểm marketing  
được tiến hóa theo các giai đoạn chủ yếu sau đây:  
1.1.1. Quan điểm định hướng sản xuất:  
Xét theo chiều dài lịch sử, quan điểm tập trung vào sản xuất là một  
trong những quan điểm chỉ đạo nhà kinh doanh lâu đời nhất.  
Quan điểm định hướng vào sản xuất cho rằng: người tiêu dùng sẽ ưa  
thích nhiều sản phẩm được bán rộng rãi với giá hạ. Vì vậy, những nhà quản trị  
8
các doanh nghiệp cần phải tập trung vào việc tăng trưởng quy mô sản xuất và  
mở rộng phạm vi tiêu thụ.  
Theo quan điểm này, cứ sản xuất ra thật nhiều hàng hóa thì sẽ tiêu thụ  
được, nhưng trên thực tế các doanh nghiệp theo đuổi quan điểm này chỉ có thể  
thành công cho doanh nghiệp trong hai trường hợp. Thứ nhất, khi nhu cầu  
mua sắm về sản phẩm vượt quá khả năng cung ứng. Thứ hai, giá thành hay  
chi phí sản xuất hiện tại còn cao, có thể hạ được để khai thác hết công suất,  
năng lực hiện có. Ngoài hai tình huống đó khó có gì đảm bảo cho sự thành  
công của doanh nghiệp đi theo quan điểm này.  
Chẳng hạn như, chúng ta có thể nhận thấy, tại sao trên thị trường Việt  
Nam lại tràn ngập hàng hóa của Trung Quốc, trước hết, hàng hóa của họ được  
sản xuất hàng loạt với mẫu mã đẹp lại rẻ tiền, phù hợp với hầu hết nhu cầu  
của người tiêu dùng, đặc biệt là đối với vùng nông thôn.  
1.1.2. Quan điểm định hướng vào hoàn thiện sản phẩm:  
Quan điểm sản phẩm khẳng định rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích  
những sản phẩm có chất lượng cao, công dụng nhiều hay có những tính năng  
mới. Những người lãnh đạo các tổ chức theo quan điểm định hướng vào sản  
phẩm thường tập trung sức lực vào việc làm ra những sản phẩm thượng hạng  
và thường xuyên cải tiến chúng.  
Theo quan điểm này, người ta lại cho rằng, khách hàng chỉ mua những  
sản phẩm mà có nhiều tính năng và chất lượng tốt. Trong điều kiện nền kinh  
tế của Việt Nam thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng cường khả  
năng cạnh tranh, đặc biệt là khi chất lượng sản phẩm còn thấp và yêu cầu hội  
nhập đặt ra gay gắt là điều hết sức cần thiết. Nhưng các doanh nghiệp chỉ say  
sưa sản xuất và hoàn thiện sản phẩm của mình ngày càng tốt hơn mà không  
chú ý đến nhu cầu của người tiêu dùng thì khó có thể thành công, hơn thế nữa  
nếu hoàn thiện sản phẩm ngày càng tốt hơn thì kèm theo chi phí sản xuất ngày  
càng cao, dẫn tới phải nâng cao giá bán sản phẩm trên thị trường.  
1.1.3. Quan điểm tập trung vào bán hàng:  
Quan điểm bán hàng khẳng định rằng: người tiêu dùng thường bảo thủ,  
có sức ỳ với thái độ ngần ngại, chần chừ trong việc mua sắm hàng hoá. Vì  
vậy, để thành công doanh nghiệp cần tập trung mọi nguồn lực và sự cố gắng  
vào việc thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mãi.  
Theo quan điểm này, yếu tố thành công của một doanh nghiệp là làm  
mọi cách để “bán được thứ mình sẵn có”, quan điểm này là doanh nghiệp tự  
soi gương chính bản thân mình, điểm xuất phát chính là từ doanh nghiệp,  
trung tâm của sự chú ý là sản phẩm, doanh nghiệp bán hàng bằng mọi cách và  
mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận nhờ việc bán hàng. quan điểm này đã có  
nhiều hạn chế là chưa quan tâm đến nhu cầu của khách hàng cũng như là các  
dich vụ sau bán của doanh nghiệp. Họ cho rằng, khách hàng cần phải được tác  
động vào tâm lý bằng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ.  
9
1.1.4. Quan điểm kinh doanh theo cách thức marketing:  
Quan điểm kinh doanh theo cách thức marketing là một triết lý kinh  
doanh xuất hiện muộn hơn so với ba quan điểm đã nêu ở trên. Những nguyên  
lý cơ bản của nó xuất hiện vào những năm 1950 của thế kỷ XX.  
Quan điểm marketing khẳng định rằng, chìa khoá để đạt được những  
mục tiêu của tổ chức là xác định được những nhu cầu cùng mong muốn của  
thị trường( khách hàng) mục tiêu và đảm bảo mức độ thoả mãn mong muốn  
bằng những phương thức hữu hiệu và hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh  
tranh.  
Quan điểm marketing được diễn đạt một cách văn hoa theo nhiều cách:  
+ “ Đáp ứng các nhu cầu một cách có lời”  
+ “ Hãy tìm kiếm những mong muốn rồi thoả mãn chúng”  
+ “ Hãy yêu quý khách hàng chứ không phải sản phẩm”  
+ “ Vâng, xin tuỳ ý ông bà”  
+ “Khách hàng là thượng đế”  
Quan điểm này đã cho chúng ta một cái nhìn về sự tương phản sâu sắc giữa  
quan điểm bán hàng và quan điểm marketing như sau:  
Quan điểm bán hàng tập trung vào những nhu cầu của người bán, quan  
điểm marketing thì chú trọng đến nhu cầu của người mua. Quan điểm bán  
hàng để tâm đến nhu cầu của người bán là làm thế nào để biến sản phẩm của  
mình thành tiền mặt, còn quan điểm marketing thì quan tâm đến ý tưởng thoả  
mãn những nhu cầu của khách hàng bằng chính sản phẩm và tất cả những gì  
liên quan đến việc tạo ra, cung ứng và cuối cùng là tiêu dùng sản phẩm đó.  
Ở Việt Nam trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,  
Marketing không có chỗ đứng, ở thời kỳ này, các doanh nghiệp Nhà nước  
không cần marketing vì họ không cần đến khách hàng. Nhưng từ khi Việt  
Nam chuyển sang cơ chế thị trường thì bắt đầu nảy sinh nhu cầu được tìm  
hiểu, học tập và áp dụng marketing vào các doanh nghiệp.  
Để có thể so sánh quan điểm bán hàng và quan điểm marketing, chúng  
ta nghiên cứu bảng sau:  
Các chỉ tiêu  
Điểm xuất Trung tâm  
Các biện  
pháp  
Mục tiêu  
phát  
chú ý  
Quan điểm  
Bán hàng  
Nhà máy  
sản phẩm  
Kích thích  
Tăng lợi nhuận  
việc mua sắm nhờ tăng lượng bán  
Marketing  
Thị trường  
mục tiêu  
Hiểu biết  
nhu cầu  
khách hàng  
Marketing  
hỗn hợp  
Tăng lợi nhuận  
nhờ thoả mãn tốt  
hơn nhu cầu.  
10  
1.1.5. Quan điểm marketing hướng đến sự kết hợp ba lợi ích: người tiêu dùng,  
nhà kinh doanh và xã hội:  
Đây là quan điểm xuất hiện gần nhất, trong những năm cuối thế kỷ XX.  
Quan điểm này xuất hiện từ lập luận là: nếu như trong lĩnh vực kinh doanh  
các doanh nghiệp chỉ chú ý tới lợi ích của riêng của mình và của khách hàng  
của họ mà lãng quên lợi ích của xã hội như là gây ô nhiễm môi trường, làm  
hại sức khỏe người dân. Chúng ta nhận thấy, hút thuốc lá không còn phổ biến  
như trước đây nữa, và dường như đó là nét văn hóa mới dần dần được chấp  
nhận bởi vì thuốc lá có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân. Vì vậy  
quan điểm marketing hiện đại nhất đòi hỏi các công ty phải quan tâm đến cả  
lợi ích của cộng đồng, của xã hội.  
1.2. Vai trò và vị trí của marketing trong hoạt động kinh doanh:  
1.2.1. Vai trò của marketing đối với kinh doanh của doanh nghiệp:  
Một cách tổng quát, marketing có vai trò là cầu nối giữa một doanh  
nghiệp và những khách hàng và công chúng của nó. Nói cụ thể hơn, vai trò  
của marketing trong hoạt động kinh doanh là:  
- Marketing góp phần hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động  
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhờ đó mà các quyết định đề ra  
trong sản xuất kinh doanh có cơ sở khoa học, đồng thời xây dựng quann điểm  
“Khách hàng là trung tâm” trong toàn doanh nghiệp.  
- Nhờ có hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường, marketing đảm bảo  
cho kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân mang tính hiện thực và khả thi, giúp  
Nhà nước định hướng được sự phát triển của các ngành và cả nền kinh tế  
quốc dân một cách có hiệu quả.  
- Phối hợp hoạt động marketing với những hoạt động khác, giúp cho  
các doanh nghiệp có điều kiện nhận được thông tin đầy đủ từ sự phản hồi của  
khách hàng để kịp thời bổ sung, cải tiến nâng cao các đặc tính sử dụng sản  
phẩm làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng.  
- Quảng bá tích cực về doanh nghiệp và những sản phẩm của nó cho  
khách hàng và công chúng.  
1.2.2. Mối quan hệ giữa marketing và các chức năng khác của doanh nghiệp:  
- Xét về mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành trong hệ thống hoạt động  
chức năng quản trị doanh nghiệp thì marketing là một chức năng có nhiệm vụ  
kết nối nhằm đảm bảo sự thống nhất hữu cơ với các chức năng.  
- Xét về quan hệ chức năng, thì marketing vừa chi phối, vừa bị chi phối  
bởi các chức năng khác.  
Trong mỗi doanh nghiệp có rất nhiều chức năng, như chức năng tài  
chính kế toán, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nhân sự,  
chức năng quản trị sản xuất, chức năng nghiên cứu và phát triển…  
2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA MARKETING:  
* Mục tiêu:  
11  
- Trình bày được các khái niệm cơ bản của Marketing  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
2.1. Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán:  
- Nhu cầu tự nhiên là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người  
cảm nhận được. Nhu cầu tự nhiên được hình thành là do trạng thái ý thức của  
người ta về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng. Nhu cầu  
tự nhiên là cái vốn có của con người, marketing không tạo ra nó mà chỉ phát  
hiện ra các nhu cầu đó. Ví dụ: Nhu cầu của con người, đói thì muốn ăn, khát  
thì muốn uống. Nhưng ăn gì, uống gì thì lại là một vấn đề khác.  
- Mong muốn (hay ước muốn) là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, đòi  
hỏi được đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hoá và  
tính cách cá nhân của con người.  
* Ví dụ:  
Để giải quyết nhu cầu đói, chúng ta có thể ăn, nhưng có người lại thích  
ăn cơm, lại có người thì thích ăn phở. Cùng là một nhu cầu thông tin, nhưng  
có người lại thích sử dụng máy điện thoại nhãn hiệu Nokia, người khác lại  
thích dùng Samsung, người khác nữa lại thích dùng Iphone...  
Hiểu biết được nhu cầu của khách hàng thôi thì chưa đủ, doanh nghiệp  
còn phải biết, người tiêu dùng mong muốn gì trong nhu cầu đó để đáp ứng  
cho khách hàng thì mới mong thu hút được nhiều khách hàng.  
- Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu tự nhiên và mong muốn  
phù hợp với khả năng mua sắm. Doanh nghiệp cần phải quan tâm nhiều hơn  
nữa đến nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng, đặc biệt là đối với  
thị trường Việt Nam, vì người tiêu dùng có nhiều đặc điểm khác nhau về tầng  
lớp, về cách chi tiêu.  
* Ví dụ:  
Chúng ta thấy rằng, trước đây, chiếc điện thoại di động là một sản  
phẩm sang trọng và xa lạ đối với người tiêu dùng, nó được bán cho những  
khách hàng có thu nhập cao và rất ít người có đủ khả năng để sử dụng nó.  
Nhưng với bây giờ thì khác, chiếc điện thoại di động không chỉ phổ biến rất  
nhiều ở thành phố mà đã len lỏi đến các vùng nông thôn. Bởi vì, các doanh  
nghiệp nhận thấy nhu cầu thông tin ngày càng cao, nhưng với điều nhu cầu  
khả năng thanh toán có hạn nên họ đã đưa ra những sản phẩm vừa bền, đẹp lại  
hợp với túi tiền của người tiêu dùng. Do đó, điện thoại di động giờ đây không  
còn gì là xa lạ đối với chúng ta, thậm chí là đối với cả trẻ em.  
2.2. Sản phẩm:  
Người ta thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình bằng hàng  
hoá và dịch vụ. Chúng ta sử dụng thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ cả hàng hoá  
lẫn dịch vụ.  
Vậy thì:  
12  
Sản phẩm là bất kỳ thứ gì có thể đem chào bán để thoả mãn một nhu  
cầu hay mong muốn.  
Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải chủ  
yếu là được sở hữu chúng mà chính là từ việc có được những dịch vụ mà nó  
mang lại. Ta mua một chiếc xe không phải là để ngắm nhìn nó mà là vì nó  
cung ứng dịch vụ vận chuyển, chị em nội trợ mua chiếc bếp ga không phải để  
ngắm mà để phục vụ cho công việc bếp núc…vì vậy các sản phẩm vật chất  
thực sự là những phương tiện đảm bảo phục vụ chúng ta.  
Thực ra dịch vụ còn do những yếu tố khác đảm bảo như con người, địa  
điểm, các hoạt động, tổ chức và ý tưởng. Nếu ta cảm thấy buồn, ta có thể đến  
một câu lạc bộ xem diễn viên hài biểu diễn….  
2.3. Giá trị, chi phí và sự thoả mãn:  
- Giá trị tiêu dùng của một sản phẩm là sự đánh giá của người tiêu dùng  
về khả năng của nó trong việc thoả mãn nhu cầu đối với họ.  
- Chi phí đối với một hàng hoá là tất cả những hao tổn mà người tiêu  
dùng phải bỏ ra để có được những lợi ích do tiêu dùng hàng hoá đó mang lại.  
- Sự thoả mãn là mức độ trạng thái cảm giác của người tiêu dùng bắt  
nguồn từ việc so sánh kết quả thu được do tiêu dùng sản phẩm với những kỳ  
vọng của họ.  
2.4. Trao đổi:  
Việc con người có những nhu cầu và mong muốn và có thể gán cho các  
sản phẩm một giá trị vẫn chưa nói lên hết được ý nghĩa của marketing xuất  
hiện khi người ta quyết định thoả mãn những nhu cầu và mong muốn thông  
qua trao đổi. Trao đổi là một trong bốn cách để người ta có được các sản  
phẩm:  
Cách thứ nhất là tự sản xuất. (Người ta có thể giải quyết cơn đói bằng  
cách săn bắn, đánh cá hay lượm hái trái cây).  
Cách thứ hai là cưỡng đoạt.  
Cách thứ ba là đi xin.  
Cách thứ tư là trao đổi. (Đây là cách được xem xét dưới khía cạnh  
marketing): Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ  
một người nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác.  
Trao đổi là khái niệm căn bản nhất tạo nên nền móng cho hoạt động  
marketing. Nhưng để tiến tới trao đổi cần phải có các điều kiện sau:  
- Ít nhất phải có hai bên,  
- Mỗi bên cần phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia.  
- Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có.  
- Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay từ chối đề nghị của bên  
kia.  
- Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.  
13  
Trao đổi phải được xem là một quá trình chứ không phải là một sự  
việc. Hai bên được xem là đã tham gia trao đổi nếu họ đang thương lượng với  
nhau để đi đến một thoả thuận. Khi đạt được một thoả thuận thì ta nói là giao  
dịch đã diễn ra. Giao dịch là đơn vị cơ bản của trao đổi.  
Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những vật có  
giá trị giữa hai bên.  
Như vậy trong giao dịch thương mại chỉ có thể diễn ra thực sự khi hội  
đủ các điều kiện:  
- ít nhất có hai vật giá trị  
- Những điều kiện thực hiện giao dịch đã thoa thuận xong.  
- Thời gian thực hiện đã thoả thuận xong.  
- Địa điểm thực hiện đã thoả thuận xong.  
2.5. Thị trường:  
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu  
cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả  
mãn như cầu và mong muốn.  
Như vậy, quy mô của thị trường phụ thuộc vào số người có nhu cầu và  
có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem những tài  
nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn.  
Lúc đầu thuật ngữ thị trường được hiểu là nơi người mua và người bán  
gặp nhau để trao đổi hàng hoá, chằng hạn như một cái chợ của làng. Các nhà  
kinh tế sử dụng thuật ngữ thị trưởng để chỉ một tập thể những người mua và  
người bán giao dịch với nhau về một sản phẩm hay một lớp sản phẩm cụ thể,  
như thị trường nhà đất, thị trường ngũ cốc…tuy nhiên người làm marketing  
lại coi người bán họp thành ngành sản xuất, còn người mua thì họp thành thị  
trường. Bởi vậy, họ thường dùng thuật ngữ thị trường để ám chỉ một nhóm  
khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định. Do đó, được thoả mãn bằng  
một loại sản phẩm cụ thể, họ có đặc điểm giới tính hay tâm sinh lý nhất định,  
độ tuổi nhất định và sinh sống ở một vùng cụ thể.  
Như vậy, rõ ràng là không có sự hiểu biết đầy đủ về khái niệm nhu cầu,  
sản phẩm, giá trị, chi phí, sự thoả mãn, trao đổi, giao dịch, thị trường thì  
chúng ta không thể hiểu đúng đắn và đầy đủ khái niệm marketing.  
* Câu hỏi và bài tập:  
1. Phân biệt quan điểm tập trung bán hàng và quan điểm marketing?  
2. Trình bày 4 trụ cột của quan điểm marketing.  
3. Trình bày tư duy “ chỉ bán thứ khách hàng cần”?  
4. Cho thí dụ về một trường hợp mua sắm để phân biệt các khái niệm: nhu cầu  
tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.  
* Yêu cầu về đánh giá kết quả học tập:  
14  
Mục tiêu  
Nội dung  
Điểm  
Kiến thức - Trả lời đầy đủ 4 câu hỏi;  
6
3
Kỹ năng  
- Làm câu hỏi 4 hoàn thiện  
- Nộp bài tập đúng hạn (1 tuần về nhà), vở bài tập  
nghiêm túc, sạch sẽ  
Thái độ  
1
Tổng  
10  
* Ghi nhớ:  
- Các quan điểm định hướng kinh doanh của doanh nghiệp:  
+ Quan điểm định hướng sản xuất.  
+ Quan điểm định hướng vào hoàn thiện sản phẩm.  
+ Quan điểm tập trung bán hàng.  
+ Quan điểm kinh doanh theo cách thức Marketing.  
+ Quan điểm Marketing hướng đến sự kết hợp ba lợi ích: người tiêu dùng,  
nhà kinh doanh và xã hội.  
- Các khái niệm cơ bản của Marketing: Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu  
cầu có khả năng thanh toán, sản phẩm, giá trị và chi phí, trao đổi, thị trường.  
15  
CHƯƠNG II: HỆ THỐNG THÔNG TIN VÀ NGHIÊN CỨU  
MARKETING PHỤC VỤ KINH DOANH  
Mã chương: MH 21 – 02  
Giới thiệu:  
Tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào đều cần có môi  
trường, nắm bắt được sự biến động của môi trường để từ đó đưa ra các chiến  
lược kinh doanh của mình. Việc quản trị marketing của doanh nghiệp rất cần  
đến thông tin về thị trường, môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.  
Trong tất cả các bước của quản trị marketing như lập kế hoạch, tổ chức,  
điều khiển và kiểm tra đều cần có thông tin. Họ cần thông tin về nhu cầu của  
khách hàng, về thị hiếu của khách hàng. Các thông tin cần phải được cập nhật  
thường xuyên và chính xác, đây là lý do để tổ chức thông tin marketing thành  
hệ thống.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được khái niệm và đặc trưng cơ bản về hệ thống thông tin  
trong kinh doanh  
- Phân tích được các phương pháp phát hiện nhu cầu, lựa chọn nguồn  
thông tin, phương pháp thu thập, phân tích và xử lý thông tin  
- Xác định được các giai đoạn và nội dung nghiên cứu marketing  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
Nội dung chính:  
1. HỆ THỐNG THÔNG TIN MARKETING:  
* Mục tiêu:  
- Trình bày được khái niệm và đặc trưng cơ bản về hệ thống thông tin  
trong kinh doanh  
- Phân tích được các phương pháp phát hiện nhu cầu, lựa chọn nguồn  
thông tin, phương pháp thu thập, phân tích và xử lý thông tin  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
1.1. Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành hệ thống thông tin Marketing:  
Có một câu nói: “ Để quản trị tốt một doanh nghiệp thì phải quản trị  
được tương lai của nó, mà muốn quan trị tương lai đó thì phải quản trị thông  
tin”  
Vào thế kỷ XX, có ba lý do buộc các doanh nghiệp phải hình thành hệ  
thống và thu thập các thông tin marketing trên một phạm vi rộng lớn hơn, đòi  
hỏi chất lượng cao hơn:  
- Chuyển từ marketing địa phương đến marketing toàn quốc rồi đến  
toàn cầu: Khi các công ty mở rộng thị trường về mặt địa lý thì những nhà  
quản trị của họ cần nhiều thông tin thị trường hơn bao giờ hết.  
- Chuyển từ nhu cầu của người mua đến mong muốn của người mua:  
Khi thu nhập tăng lên thì họ trở nên khó tính hơn trong việc lựa chọn hàng  
16  
hoá. Người bán khó mà đoán trước được những phản ứng của người mua đối  
với các tính năng, kiêu dáng.  
- Chuyển từ cạnh tranh giá cả đến cạnh tranh phi giá cả: Khi người bán  
ngày càng sử dụng phổ biến việc dãn nhãn hiệu, tạo đặc điểm khác biệt cho  
sản phẩm, quảng cáo và kích thích những tiêu thụ, họ cần những thông tin về  
hiệu quả của những công cụ marketing đó.  
Người bán đỏi hỏi những thông tin về marketing ngày càng nhiều để  
phục vụ cho việc kế hoạch hoá và ra các quyết định marketing. Những thông  
tin này bao gồm cả thông tin lịch sử, hiện tại, tương lai, thông tin bên trong,  
thông tin bên ngoài. Tình hình đó buộc các doanh nghiệp phải có hệ thống  
thông tin và tổ chức nghiên cứu marketing.  
1.2. Khái niệm và các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin marketing:  
1.2.1. Khái niệm:  
Hệ thống thông tin marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên có  
sự tương tác giữa con người, thiết bị và các phương pháp dùng để thu thập,  
phân loại, phân tích, đánh giá và truyền đi những thông tin cần thiết, chính  
xác kịp thời cho người phụ trách lĩnh vực marketing sử dụng chúng với mục  
đích thiết lập, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra các kế hoạch  
marketing.  
Theo định nghĩa này, thì hệ thống thông tin gồm hai yếu tố thiế yếu cấu  
thành, đó là con người và thiết bị. Một hệ thống thông tin marketing cần phải  
có khả năng:  
- Kết hợp số liệu cũ và mới để cung cấp các thông tin chính xác, kịp  
thời  
- Phải đưa ra được các báo cáo thường xuyên và đột xuất khi cần thiết  
- Sử dụng mô hình toán để phân tích số liệu  
- Giúp cho các doanh nghiệp trả lời các câu hỏi dạng “Nếu….thì….”  
Ví dụ: “Nếu tháng sau, doanh nghiệp giảm giá hàng bán 15% thì thu  
hút thêm được bao nhiêu khách hàng”  
1.2.2. Các bộ phận cấu thành:  
a. Hệ thống báo cáo nội bộ:  
Là hệ thống cung cấp các thông tin nội bộ của doanh nghiệp liên quan  
tới những quyết định marketing  
Ở bất kỳ công ty nào cũng có sự thuyết trình bên trong thông qua chế  
độ báo cáo nội bộ, phản ánh các chỉ tiêu về lượng tiêu thụ thường xuyên, tổng  
số chi phí, khối lượng dự trữ vật tư, sự chu chuyển tiền mặt…Khi phân tích  
những thông tin này, những nhà quan trị marketing có thể xác định được  
những cơ hội và vấn đề quan trọng.  
Những thông tin nội bộ được thu thập từ:  
- Hệ thống sổ sách kế toán  
17  
- Hệ thống báo cáo bán hàng: cung cấp các số liệu về doanh thu, hàng  
tồn kho, đặc điểm các đơn hàng…  
b. Hệ thống thu thập thông tin marketing thường xuyên bên ngoài:  
Trong khi hệ thống báo cáo nội bộ cung cấp những số liệu về các kết  
quả, thì hệ thống thu thập thông tin marketing lại cung cấp những số liệu về  
tình hình đang diễn ra.  
Hệ thống thu thập thông tin marketing là một tập hợp những thủ tục và  
nguồn mà những nhà quản trị sử dụng để nhận được những thông tin hàng  
ngày về những diễn biến cần biết trong môi trường marketing.  
Các thông tin thường ngày về bên ngoài bao gồm: Khách hàng, các  
bước phát triển của đối thủ cạnh tranh (sản phẩm mới, chiến dịch quảng  
cáo…), các biến động của môi trường vĩ mô (Các quy định pháp lý mới, các  
chính sách Nhà nước mới, những sự kiện xã hội…), Những thay đổi liên quan  
đến kênh phân phối…Doanh nghiệp có thể sử dụng những lực lượng sau để  
thu thập thông tin bên ngoài thường xuyên và kịp thời:  
- Thứ nhất, các doanh nghiệp huấn luyện và khuyến khích những người  
bán hàng ghi chép và cung cấp các sự kiện đang xảy ra.  
- Thứ hai: Các nhà doanh nghiệp còn khuyến khích các nhà phân phối  
bán lẻ thông báo những tin tức quan trọng khác.  
- Thứ ba: công ty mua thông tin từ những công ty dịch vụ thông tin  
marketing chuyên nghiệp.  
- Thứ tư: một số công ty đã thành lập một trung tâm thông tin  
marketing nội bộ để thu thập và cung cấp thông tin tình báo marketing.  
c. Hệ thống nghiên cứu marketing:  
Hệ thống nghiên cứu marketing là hệ thống thu thập những thông tin  
marketing liên quan tới những tình thế marketing cụ thể.  
Nghiên cứu marketing không được tiến hành liên tục như những hoạt  
động thu thập thông tin thường xuyên bên ngoài. Nó được tiến hành mỗi khi  
doanh nghiệp đối mặt với một tình huống mà phải đưa ra quyết định về thị  
trường, sản phẩm, giá cả, phân phối hay xúc tiến bán. Các doanh nghiệp lớn  
thường tiến hành nghiên cứu marketing một cách đều đặn, thường là hàng quý  
hay sáu tháng một lần.  
Các công ty nhỏ thường không có đủ nhân lực để tiến hành nghiên cứu  
marketing cho mình. Họ có thể thuê sinh viên, thuê giáo viên các trường đại  
học để thực hiện yêu cầu đề ra của họ.  
Các công ty lớn hơn thường có đủ khả năng để thành lập đội nghiên  
cứu marketing chuyên nghiệp cho mình nên họ chủ động hơn trong công tác  
nghiên cứu marketing.  
2. NGHIÊN CỨU MARKETING:  
* Mục tiêu:  
- Xác định được các giai đoạn và nội dung nghiên cứu marketing  
18  
- Nâng cao khả năng, kỹ năng giao tiếp cho học sinh, sinh viên.  
Nghiên cứu marketing là hoạt động cần thiết phục vụ cho việc ra quyết  
định marketing của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần phải hiểu biết  
về đặc điểm của một nghiên cứu marketing là vô cùng cần thiết  
2.1. Phát hiện vấn đề và hình thành mục tiêu nghiên cứu:  
Phát hiện vấn đề và hình thành mục tiêu nghiên cứu được coi là giai  
đoạn quan trọng nhất trong nghiên cứu marketing vì nó quyết định sự thành  
hay bại của cả dự án nghiên cứu marketing. Do thị trường có thể được nghiên  
cứu theo hàng trăm tham số khác nhau, vì vậy cần phải tiếp cận trực tiếp đến  
vấn đề đứng trước công ty và đòi hỏi phải được giải quyết. Nếu vấn đề không  
rõ ràng, thì chi phí nghiên cứu vẫn tốn kém, mà kết quả lại không dùng được.  
* Ví dụ:  
Doanh nghiệp đưa ra vấn đề là: ”Làm thế nào để nâng cao năng lực  
cạnh tranh trong hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp”. Vậy, các  
mục tiêu cần phải nghiên cứu đó là:  
- Xác định tính hợp lý về địa điểm phân phối  
- Xác định nhà trung gian trong hệ thống phân phối: qua bán buôn, bán  
lẻ hay qua đại lý.  
2.2. Lựa chọn nguồn thông tin:  
2.2.1. Các tài liệu thứ cấp:  
- Các tài liệu thứ cấp (cấp hai) là những tài liệu đã được thu thập trước  
đây bởi người khác vì mục tiêu khác.  
- Nguồn tài liệu này bao gồm:  
+ Nguồn tài liệu bên trong: Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt  
động sản xuất kinh doanh định kỳ hàng tháng, quý và hàng năm, báo cáo cuả  
những người chào hàng, báo cáo của các cuộc nghiên cứu trước.  
+ Nguồn tài liệu bên ngoài: Niên giám thống kê, thống kê ngành, các  
ấn phẩm của các cơ quan Nhà nước, sách chuyên nghành, dịch vụ của các tổ  
chức thương mại.  
Tài liệu thứ cấp rẻ hơn tài liệu sơ cấp và có thể thu thập nhanh hơn.  
Chúng thường được thu thập trước dữ liệu sơ cấp. Nhưng phải đề phòng tài  
liệu đó bị cũ, không chính xác và độ tin cậy thấp.  
2.2.2. Các tài liệu sơ cấp:  
* Các tài liệu sơ cấp (cấp 1):  
Đó là thông tin được thu thập đầu tiên vì mục tiêu nào đó. Khi nghiên  
cứu vấn đề mang tính đặc thù của doanh nghiệp thì cần thu thập tài liệu sơ  
cấp.  
* Các phương pháp nghiên cứu:  
Có 4 phương pháp nghiên cứu thu thập tài liệu sơ cấp: quan sát, khảo  
sát ý kiến, thực nghiệm và điều tra  
19  
+ Quan sát là phương pháp mà người nghiên cứu thực hiện sự theo dõi,  
quan sát mọi người và hoàn cảnh. Trong trường hợp này, người nghiên cứu có  
thể ở đâu đó nghe xem mọi người nói gì về hàng mình, quan sát xem người ta  
nói gì về hàng hoá của mình và đối thủ cạnh tranh...  
+ Thảo luận nhóm: Là phương pháp nghiên cứu, trong đó nhà nghiên  
cứu mời một nhóm khách hàng chọn lọc từ 4 đến 10 người đến dự thảo luận  
với một chủ đề đã định trước. Người điều khiển có nhiệm vụ hướng dẫn thảo  
luận nhóm.  
Các cuộc thảo luận thường được ghi chép lại, ghi âm hoặc ghi hình để  
phân tích.  
+ Thực nghiệm: là phương pháp đòi hỏi chọn lọc các nhóm chủ thể có  
thể so sánh được với nhau, tạo ra đối với nhóm đó hoàn cảnh khác nhau, kiểm  
tra biến số đã được xác lập và xác định trình độ ý nghĩa của những khác nhau  
được theo dõi. Mục tiêu của sự nghiên cứu như thế là khám phá mối quan hệ  
nhân quả bằng cách tuyển chọn những giải thích đối lập nhau của các kết quả  
theo dõi.  
+ Phỏng vấn: Là phương pháp dựa trên tiếp xúc một đối một với từng  
đối tượng nghiên cứu để thu thập ý kiến của họ.  
* Các công cụ nghiên cứu:  
Sử dụng công cụ chủ yếu là phiếu điều tra hay bản câu hỏi và thiết bị  
máy móc.  
- Bản câu hỏi phải soạn thảo cẩn thận và lấy mẫu thử nghiệm trước khi  
bắt đầu sử dụng rộng rãi chúng. Quy trình thiết kế bản câu hỏi thường gồm 3  
giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu thăm dò nhằm thu thập thông tin cần thiết để  
viết bản câu hỏi, giai đoạn viết các câu hỏi và giai đoạn thử nghiệm bản câu  
hỏi.  
- Có hai loại câu hỏi là câu hỏi đóng và câu hỏi mở. Câu hỏi đóng chứa  
đựng toàn bộ các phương án có khả năng trả lời mà người được hỏi chỉ lựa  
chọn một trong số các phương án đó. Dạng câu hỏi mở là câu hỏi đưa ra khả  
năng cho người được hỏi trả lời bằng lý lẽ và ý kiến riêng của mình.  
- Phương tiện máy móc: để đo lường cường độ quan tâm hoặc tình cảm  
của người được hỏi khi tiếp xúc với thông điệp hoặc hình ảnh quảng cáo cụ  
thể người ta sử dụng điện kế. Điện kế sẽ đo được mức độ toát mồ hôi cực nhỏ,  
bị gây ra bởi sự kích thích cảm xúc....  
* Kế hoạch chọn mẫu:  
Mẫu là đoạn (bộ phận) dân cư tiêu biểu cho toàn bộ dân cư nói chung.  
Người nghiên cứu marketing phải soạn thảo một kế hoạch lấy mẫu làm sao để  
nhờ đó mà tập hợp được, tuyển chọn đáp ứng được những nhiệm vụ đặt ra  
cho việc nghiên cứu.  
Có ba việc cần phải làm trong kế hoạch chọn mẫu đó là xác định tổng  
thể mục tiêu, xác định kích thước mẫu và lựa chọn phương pháp lấy mẫu.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang Hứa Trọng Đạt 10/01/2024 9380 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Marketing - Nghề Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_marketing_nghe_ky_thuat_may_lanh_va_dieu_hoa_khon.pdf