Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hoá

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0004  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 1, pp. 26-33  
KHÔNG GIAN TIỂU THUYẾT CỦA V.S. NAIPAUL  
NHÌN TỪ LÍ THUYẾT ĐA VĂN HOÁ  
Đinh Thị Lê  
Trường Quốc tế Liên hợp quốc, UNIS Hà Nội  
Tóm tắt. Việc di cư và quá trình thay đổi tâm lí, lối sống của nhân vật giữa các không gian  
đa văn hóa là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho tiểu thuyết của V.S. Naipaul.  
Nhà văn đã xây dựng thành công một không gian tiểu thuyết đa dạng, phong phú, đậm chất  
truyền thống lai ghép của cộng đồng người gốc Ấn tại Trinidad và Tobago, một không gian  
văn hoá châu Phi trước những biến động lịch sử hậu thực dân, và một thị trấn, làng mạc của  
nước Anh đã đi qua thời hoàng kim của những quý tộc, chủ đất giàu có. Nghiên cứu các  
chiều kích không gian đó qua lăng kính lí thuyết đa văn hoá của Doreen Massey, ta sẽ thấy  
được mối tương quan giữa địa điểm và căn tính, cũng như chiều sâu tư tưởng nghệ thuật  
của V.S. Naipaul, một nhà văn tài năng và tâm huyết, suốt đời cống hiến những trang viết  
về “lịch sử của các dân tộc bị đàn áp”, đóng góp tiếng nói không nhỏ cho các nền văn hoá  
“bên lề”.  
Từ khoá: V.S. Naipaul, tiểu thuyết, không gian, lí thuyết đa văn hoá, Doreen Massey.  
1. Mở đầu  
Là một nhà văn tiêu biểu cho dòng văn học đa văn hoá và văn học hậu thuộc địa, nhà văn  
Anh gốc Trinidad, V.S. Naipaul (tên đầy đủ là Vidiadhar Surajprasad Naipaul) được Viện Hàn  
lâm Thụy Điển trao giải thưởng Nobel văn học vào năm 2001 vì những cống hiến sáng tạo suốt  
đời cho nhân loại: những tác phẩm văn chương đa văn hoá, bao gồm cả tiểu thuyết, tiểu luận,  
sách du lịch và hồi ký khai thác một phần lịch sử bị lãng quên, và ảnh hưởng của chủ nghĩa thực  
dân đối với các dân tộc cựu thuộc địa. V.S. Napaul là một hiện thân của đa văn hóa. Nguồn gốc  
xuất thân, nền giáo dục và môi trường sống của nhà văn chịu ảnh hưởng của sự giao thoa giữa  
các nền văn hoá: văn hoá Caribbe pha trộn đặc trưng của những người nhập cư; văn hoá phương  
Đông phong phú, đậm chất nông nghiệp lâu đời bắt nguồn từ nền văn minh sông Ấn; và văn hoá  
phương Tây đề cao cá nhân, coi trọng lối tư duy duy lí. Trong một cuộc trò chuyện với Roland  
Bryden năm 1973, ông đã đề cập đến nền tảng đa văn hoá khi “xem xét bản chất của xã hội quê  
hương tôi, xem xét bản chất của thế giới mà tôi đã bước vào và thế giới mà tôi phải nhìn vào, tôi  
không thể là một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp theo nghĩa cũ” [1;367-370]. Như vậy, nghiên  
cứu tiểu thuyết V.S Naipaul từ lí thuyết đa văn hoá là một việc làm cần thiết nhằm mở cánh cửa  
bước vào thế giới phức tạp, đa chiều của tác phẩm, và một lần nữa khẳng định những đóng góp  
to lớn của nhà văn độc đáo này đối với văn chương nhân loại.  
Trong thi pháp học, không gian nghệ thuật “có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của  
bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự” [2;162]. Thế giới mô hình hoá đó  
được tạo nên bằng cảm quan sáng tác, được nhìn qua lăng kính của riêng biệt của từng tác giả.  
Ngày nhận bài: 2/1/2021. Ngày sửa bài: 29/1/2021. Ngày nhận đăng: 10/2/2021.  
Tác giả liên hệ: Đinh Thị Lê. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
26  
Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hóa  
Đối với V.S. Naipaul, ông là con người luôn trăn trở với bản sắc cái tôi của một người di  
cư, những cú sốc văn hoá, do vậy những không gian văn hoá được tái hiện trong tác phẩm của  
ông một cách công phu và đa dạng: từ nơi ông sinh ra và lớn lên, đến quê cha đất tổ và nơi ông  
sống và làm việc trong hầu hết quãng đời mình. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, chúng tôi  
sẽ ứng dụng lí thuyết về căn tính và nơi chốn của Doreen Massey, nhà nghiên cứu địa văn hoá  
nổi tiếng để tìm hiểu không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul.  
2. Nội dung nghiên cứu  
Thuật ngữ “identity” trong tiếng Anh có thể dịch sang tiếng Việt theo hai nghĩa là bản sắc  
hoặc căn tính. Trong lí thuyết của Doreen Massey, chúng tôi sẽ dùng nghĩa “căn tính” bởi khái  
niệm của bà liên quan đến gốc rễ, căn nguyên sâu xa của bản sắc gắn liền với địa điểm. Massey  
cho rằng những ràng buộc với gốc rễ truyền thống có thể dẫn đến một căn tính tương đối ổn  
định. Nguyên do là mỗi nơi không phải chỉ có bản sắc duy nhất, mà chứa đầy những mâu thuẫn  
nội bộ; xung đột về những gì đã qua tức là di sản, và xung đột là nền tảng của sự phát triển hiện  
tại, và là tương lai. Do đó, không thể phủ nhận tính độc đáo và tầm quan trọng của địa điểm. Địa  
điểm theo cách hiểu của Massey, không phải là một số khái niệm tĩnh của sự tồn tại, mà là một  
bội số của rất nhiều tác động, chịu ảnh hưởng của những mối dây liên hệ và quyền lực. “Cái đặc  
biệt của một địa điểm không phải là sự lãng mạn của một tập hợp bản sắc có sẵn hay là sự vĩnh  
cửu của những ngọn đồi” [3]. Bà cho rằng một địa điểm trở nên đặc biệt chính là nhờ vào rất  
nhiều yếu tố đan xen: lịch sử và địa lí của những thứ cùng tồn tại, và là nơi chứng kiến cuộc  
đàm phán giữa con người và vạn vật. Chẳng hạn như trong “điều kiện hậu hiện đại” ngày nay,  
đặc biệt là ở các nước phương Tây phát triển, theo Lyotard, người ta có thể “nghe reggae, xem  
một bộ phim viễn tây, ăn đồ McDonald vào bữa trưa và dùng ẩm thực địa phương vào bữa tối,  
dùng nước hoa Paris ở Tokyo và mặc quần áo “retro” ở Hồng Kông” [4] nhưng mỗi một địa  
điểm sẽ cảm nhận về ý nghĩa của văn hóa toàn cầu này theo các cách khác nhau. Quan niệm của  
con người về một địa điểm không chỉ đơn giản là từ bên trong chính địa điểm đó, từ lịch sử, địa  
lí mà bao trùm cả chiều từ ngoài không gian đó, các hoạt động, mối quan hệ liên kết giữa nơi  
này và nơi khác. Nói cách khác, khi xem một địa điểm cụ thể, chúng ta phải xét trên quy mô ảnh  
hưởng lớn hơn. Đối với V.S. Naupaul, ông viết rất nhiều về nước Anh, nơi mình đang sống, về  
sự tàn lụi của một thời vàng son của khu dinh thự ở Wiltshires, về một Trinidad với những kỉ  
niệm tuổi thơ, bởi vậy lí thuyết về nơi chốn và căn tính của Massey có thể là một hướng nghiên  
cứu đầy triển vọng khi đi sâu phân tích không gian đa văn hoá và cái Tôi của nhà văn.  
2.1. Không gian sinh hoạt đậm chất truyền thống đa dạng của Trinidad trong tiểu  
thuyết Một ngôi nhà dành cho ông Biswas  
Một ngôi nhà dành cho ông Biswas là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Naipaul phản ánh thực  
tế xã hội và tôn giáo của cộng đồng người Ấn Độ nhập cư ở Caribbe, đưa tên tuổi của V.S.  
Naipaul lên văn đàn thế giới. Cuốn truyện được Modern Library xếp thứ 72/100 tiểu thuyết  
tiếng Anh hay nhất của thế kỉ XX. Nội dung cuốn tiểu thuyết xoay quanh cuộc đời của ông  
Mohun Biswas, nhân vật chính mà nhà văn xây dựng từ chính hình mẫu cha mình, ông  
Seepersad Naipaul, trong hành trình kiếm tìm tự do và một ngôi nhà riêng cho bản thân.  
Không gian trong Một Ngôi nhà dành cho ông Biswas là kiểu không gian sinh hoạt gắn liền  
với cộng đồng người Trinidad gốc Ấn trải dài từ những ngôi nhà bằng đất đến những vũng trâu  
đằm của những ngôi làng người nhập cư gốc Ấn, và vùng trồng cây ca cao ở phía Bắc, đến  
những ống máng nước rỉ sét, những con hẻm giữa các khu ổ chuột của Port of Spain. Từ bối  
cảnh mở đầu cuốn tiểu thuyết, ta có thể thấy hầu hết các gia đình Ấn Độ ở đây rất có tinh thần  
gìn giữ, nâng niu, trân trọng tín ngưỡng của tổ tiên xa xưa. Dù xa quê hương và cách xa những  
tập tục văn hóa của quê cha đất tổ mấy thế hệ nhưng họ vẫn thực hiện các nghi thức tôn giáo để  
27  
Đinh Thị Lê  
bày tỏ lòng thành kính. Lễ cúng tế của người dân đều phải tuân thủ sự hướng dẫn của những  
giáo sĩ Hinđu và những người thuộc tầng lớp thượng lưu đều rất sùng tín. Sự hiện diện của  
những người theo Bà la môn (một nhánh của Hinđu giáo) trong khi tiến hành lễ nghi tôn giáo  
đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ như trong nhà Hanuman, Hari là thầy duy nhất, người hướng  
dẫn gia đình Tulsis cầu nguyện, và tiến hành các nghi lễ tôn giáo: “Mọi người đều phải nghe  
theo Hari, người thầy chính thức tại các nghi lễ tôn giáo; và sáng nào cũng đến thầy để xin các  
món ăn thánh thần ban cho” [5;415]. Có thể thấy trong không gian xã hội nhập cư đó, mỗi gia  
đình Ấn đều có mối liên hệ chặt chẽ với thầy cúng, người hướng dẫn thực hiện các nghi thức và  
cúng lễ vật cho các vị thần theo đúng tục lệ. Xuyên suốt toàn bộ cuốn tiểu thuyết, tác giả đã  
lồng ghép rất tự nhiên các nghi thức tôn giáo vào mạch truyện: lễ cúng mụ vào ngày thứ chín  
sau khi sinh em bé, lễ động thổ ban phước khi làm móng nhà và táng thức Sati theo đạo Hindu  
cổ: nếu người chồng chết trước, góa phụ phải tự nhảy vào giàn hỏa thiêu theo chồng.  
Không gian văn hoá cũng được tái hiện rõ nét qua những hủ tục trọng nam khinh nữ và  
niềm tin về thế giới ma quỷ đem đến điều chẳng lành. Chẳng hạn những điều cấm kị trong đạo  
Hinđu là nữ giới không được chạm vào những “Trái bí ngô đầu tiên, quả bí đầu tiên của gia đình  
Tulsi được mọi người hân hoan chào đón; Và vì, một điều cấm kị của đạo Hinđu mà không ai  
nhớ vì sao, phụ nữ bị cấm bổ đôi quả bí ngô, nên người ta mời một người đàn ông bổ nó. Và  
người đàn ông đó là W.C. Tuttle” [5;406]. Hủ tục trọng nam khinh nữ đã trở thành vấn nạn ở  
Ấn Độ, và ở bên kia bán cầu trái đất, trong cộng đồng Ấn di cư vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử  
như vậy. Kể cả với những dị tật bẩm sinh của trẻ con như nhân vật Biswas ra đời với sáu ngón  
tay cũng bị coi là điềm gở, và người mẹ mới sinh giữa đêm hôm khuya khoắt, vắng vẻ phải đi  
“hái lá xương rồng về, cắt dọc thân lá và treo lên mỗi cửa một chuỗi, mỗi cửa sổ, mỗi lỗ hở, để  
ma quỷ không thể vào trong lều” [5;15]. Cả làng cùng tin vào điềm báo rằng cậu bé sẽ “đoạt  
mạng cha mẹ mình”, nhất là khi bố của Biswas chết đuối khi nhảy xuống hồ nước tìm con. Hủ  
tục, tập quán nặng nề đi kèm với đói nghèo đã tạo nên một bầu không khí mê tín dị đoan bao  
trùm những mái lều tranh của khu người Ấn nhập cư, giống như khu vườn đầy cờ quạt đỏ và  
trắng đã cũ mèm của gia đình ông thầy Jairam sau các nghi lễ đậm màu sắc tôn giáo. Hủ tục  
được nhìn dưới con mắt của nhân vật ông Biswas, một gharjamai – người đàn ông ở rể và bị coi  
là ăn bám nhà mẹ vợ lại càng được tái hiện rõ nét và sâu sắc hơn bao giờ hết, bời văn hoá truyền  
thống Ấn cũng như theo suy nghĩ Á Đông, luôn coi nam giới là trụ cột chính của gia đình.  
Trong Một Ngôi nhà dành cho ông Biswas, sẽ là thiếu sót rất lớn nếu không đề cập tới  
không gian của ngôi nhà, bởi “ý thức về căn tính (a sense of identity) được xác định bởi không  
gian sinh tồn của con người; có nghĩa là, khi ta sở hữu không gian, ta sẽ tạo ra một điểm trung  
tâm, một xuất phát điểm để từ đó có thể đặt ra các mục tiêu cuộc đời” [6;221]. Từ nhan đề đến  
các tình huống truyện đều xoay quanh nhân vật Biswas và ước mơ cháy bỏng của cả cuộc đời  
46 năm của ông: có một chốn nương thân và trên hết là khẳng định cái Tôi độc lập, tự chủ, thoát  
khỏi cái bóng của một gharjamai.  
Căn lều  
vách đất  
của cha  
mẹ  
Căn hộ  
Tulsi ở  
thủ đô  
Port of  
Spain  
Nhà ở  
Green  
Vale  
Ngôi nhà  
trên phố  
Sikkim  
Căn nhà  
Hanuman  
Nhà ở  
Chase  
Nhà ở  
Shorthills  
Biswas  
Hình 1. Những ngôi nhà mà ông Biswas đã sống trong Một Ngôi nhà dành cho ông Biswas  
Bắt đầu từ căn lều vách đất của các cụ thân sinh Biswas ở một bãi lầy là ngôi nhà đầu tiên  
trong cuộc đời ông, một ngôi nhà thôn quê, nhưng vẫn là tài sản gia đình và là “ngôi nhà duy  
28  
Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hóa  
nhất mà ông còn có một số quyền” [5;39]. Trớ trêu thay, khi người ta bắt đầu phát hiện ra mỏ  
dầu trong khu vực, bà Bibti, mẹ của Biswas, bị ép bán nhà. Từ lúc này trở đi, trong con người  
ông dường như đã mất mát đi gốc rễ, cội nguồn, đánh mất chính mình và cảm giác ấy càng được  
củng cố sau mỗi lần chuyển nhà. Ông Biswas chuyển tới nhà Hanuman House, sau đó là một  
loạt các nhà: Chase, Green Vale, Shorthills, căn hộ Tulsi ở thủ đô Port of Spain, cho đến khi  
cuối cùng đã mua ngôi nhà của chính ông, nơi ông qua đời tại phố Sikkim. Nhưng cái gì khiến  
cho ngôi nhà trở nên quan trọng trong cuộc đời của ông Biswas? Ta cần chú ý từ nhan đề cuốn  
tiểu thuyết là “Một ngôi nhà dành cho ông Biswas”, với từ Ngôi nhà được in viết hoa. Đến cuối  
truyện, Naipaul kết thúc toàn bộ cuốn sách với từ “ngôi nhà”. Có phải khái niệm về một nơi trú  
ngụ đã ám ảnh nhân vật và độc giả từ đầu đến cuối? Hay chính hành trình tìm kiếm ngôi nhà  
của ông Biswas là nỗi đau đáu của con người muốn khẳng định chủ quyền của bản thân, muốn  
tìm cách kết nối với xung quanh trong cái phông nền xã hội hậu thuộc địa khắp châu lục Á và  
Phi, phổ biến với lối sống tập thể mà đại diện là hình ảnh ngôi nhà chung của đại gia đình Tutsi?  
Mô típ ngôi nhà gợi người đọc nhớ đến hình ảnh những ngôi nhà gắn với từng tầng lớp xã hội  
trong tiểu thuyết Gasby vĩ đại của F. Scott Fitzgerald; hay như ngôi nhà trong Một chuyện đau  
buồn của James Joyce rút ra từ tập Người Dublin. Ngay cả sau này, khi ông Biswas phát hiện ra  
rất nhiều khiếm khuyết của ngôi nhà đấy, nhưng không gian ngôi nhà vẫn ẩn chứa bao khát  
vọng, và cảm giác đạt được thành tựu lớn cũng không thể phai mờ.  
Với một cốt truyện đơn giản về ba thế hệ trong một gia đình, diễn ra trong một bối cảnh  
trải rộng khắp đất nước Trinidad và Tobago, tác phẩm đã khắc họa được một phần của bức tranh  
độc đáo về đạo Hinđu tại một đảo quốc ở Nam Mỹ. Đây là những minh chứng rõ nhất cho quan  
điểm của nhà nghiên cứu Barnouw cho rằng “là một người gốc Tây Ấn được giáo dục ở Anh,  
Naipaul luôn cố gắng tìm hiểu và ghi lại những vấn đề của các nền văn hoá khác qua những khó  
khăn trong quá tìm hiểu gốc gác đa sắc tộc của chính mình” [7;1]. Câu chuyện đã góp phần vào  
việc nhận diện không gian văn hóa và bức tranh phong phú, đa dạng về cuộc sống của người  
dân nhập cư gốc Ấn.  
Mở rộng hơn, ở khía cạnh của lí thuyết đa văn hoá, cuốn tiểu thuyết giúp người đọc có cái  
nhìn thấu đáo hơn về cuộc sống xã hội của một quốc gia thuộc địa ngay sau bước chuyển đổi  
lớn lao là giành độc lập dân tộc. Theo Doreen Massey thì không gian văn hoá cộng đồng trong  
Một Ngôi nhà dành cho ông Biswas đã thực sự là một không gian không có rào chắn ngăn giữa  
cái “bên trong” và “bên ngoài” bởi ở đó, các nhân vật luôn trong quá trình đấu tranh để tìm  
điểm dung hoà giữa những tín ngưỡng và truyền thống ông cha với những đổi thay của lịch sử  
trong một xã hội đa dạng chủng tộc và tôn giáo. Điều đó thể hiện rõ nét nhất qua sự thay đổi  
những tập tục tang lễ Hindu ở vùng biển Caribbe dưới ảnh hưởng của sự giao thoa văn hoá.  
Trong trường hợp đám ma của cụ thân sinh ra Biswas, người chết không được hỏa táng theo  
đúng phong tục vì “Việc hỏa táng bị cấm và Raghu phải được chôn cất” [5;32]. Tuy nhiên, đến  
cuối truyện, khi ông Biswas chết, xác ông được hỏa táng: “Việc hỏa táng, một trong số ít được  
Sở Y tế cho phép, được tiến hành trên bờ suối bùn và thu hút khá đông mọi người” [5;590].  
Trong một xã hội được ví như “bát trộn salad” thì cái tồn tại “bên trong” và những giá trị văn  
hoá du nhập từ “bên ngoài” đã được tái hiện thành công qua ngòi bút của Naipaul, những tục lệ  
đi theo cả cuộc đời của người Hinđu. Naipaul không trực tiếp phê phán những tục lệ này, mà  
qua những suy nghĩ, hành động và lời nói của nhân vật, ta có thể thấy một phần sự thật: cuộc  
sống đã thay đổi, thời gian và sự tiếp cận, giao thoa giữa những nền văn hóa sẽ thử thách niềm  
tin và tín ngưỡng của các cộng đồng. Một số phong tục trước kia có thể là phù hợp, thì nay đã  
trở nên lỗi thời, và thậm chí trở thành hủ tục. Những truyền thống này phản ánh rõ nét cuộc  
sống đa văn hóa Hinđu, Tin lành và đạo Hồi ở Trinidad và Tobago những năm giữa thế kỉ XX,  
mà nếu thiếu đi những hiểu biết về không gian đa văn hoá đó, độc giả “sẽ thấy cuốn sách và các  
nhân vật trong đó quá lập dị” [8].  
29  
Đinh Thị Lê  
2.2. Không gian văn hoá xã hội đầy biến động của châu Phi qua tiểu thuyết Khúc  
quanh của một dòng sông  
Viết về châu Phi, nhà báo vĩ đại người Ba Lan, Ryszard Kapuscinski, sau hơn 40 năm chu du  
khắp châu lục này nhận định, đây là một “lục địa quá lớn để có thể mô tả. Đó là một đại dương thực  
sự, một hành tinh riêng biệt, một vũ trụ đa dạng, vô cùng phong phú” [8]. Không hề nói quá khi  
châu Phi là một thế giới hoàn toàn lạ lẫm, “vô phương thấu hiểu” với nhiều người bên ngoài bởi  
vì tài liệu viết về lục địa này cũng khá hạn chế, nhất là từ văn học. Mãi đến năm 1899, kiệt tác  
Giữa lòng tăm tối của Joseph Conrad mới khai thác thành công đề tài châu Phi trong một  
chuyến hành trình ngược sông và ngược dòng vào “lòng tăm tối” của sự sống, của con người.  
Trong suốt thế kỷ XX tiếp theo Conrad, cũng có rất ít nhà văn lựa chọn và xử lí đề tài châu Phi,  
cho đến V.S. Naipaul với Khúc quanh của dòng sông. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cuốn tiểu  
thuyết là một góc nhìn khác đầy u ám, bi quan về châu Phi, nhưng có một thực tế không thể phủ  
nhận: cuốn tiểu thuyết đã dẫn dắt người đọc khám phá một châu Phi mới lạ, hậu thực dân, một  
châu Phi sau những khủng hoảng chính trị và xung đột văn hoá, một châu Phi “đa chủng tộc, đa  
ngôn ngữ, đa tôn giáo và hỗn loạn” [9; 39].  
Nếu soi chiếu chiều không gian đặc sắc này theo thuyết về nơi chốn và căn tính của Doreen  
Massey, không khó nhận ra điểm trùng khớp đầy thú vị. Massey cho rằng địa điểm không đóng  
băng trong một thời điểm mà là cả một quá trình. Bằng việc xây dựng một không gian văn hoá  
đan xen cả quá khứ lẫn hiện tại, V.S. Naipaul đã tái hiện được một châu Phi xưa và nay, “một  
quá trình” được đan cài khéo léo qua cách nhìn và quan điểm sống của người dân. Chính bản  
thân V.S. Naipaul đã từng phát biểu về Joseph Conrad - sáu mươi năm trước, trong thời kỳ hòa  
bình vĩ đại - đã ở khắp mọi nơi trước tôi và “có một tầm nhìn về những nửa thế giới như những  
nơi liên tục trong quá trình kiến tạo và hoàn thiện…” [11; 194]. Qua góc nhìn của Salim, một  
nhân vật đa văn hoá, V.S.Naipaul đã tái hiện không gian một quốc gia châu Phi với đủ gam màu  
sáng tối, quá khứ, hiện tại, buồn vui, bình yên lẫn bất ổn, khâm phục lẫn chê trách.  
Đó là một châu Phi hậu thực dân, một mảnh đất giàu truyền thống bộ tộc, đặc trưng với lối  
sống tập thể từ bao đời nay và “ở đây không ai có thể sống mà không thuộc về một bộ lạc nào  
đó, và Ferdinand, vẫn theo tục lệ bộ lạc, đã được nhận vào bộ lạc của mẹ nó” [10]. Những người  
dân châu Phi bên khúc quanh của dòng sông, sống bằng nghề bán hàng rong trên những chiếc  
xuồng nhỏ bé, gắn bó cuộc đời mình với những dòng kênh. Ở vùng đất ấy, những sinh hoạt tập  
thể, những phong tục tập quán đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân, từ đó, hình thành nên tín  
ngưỡng và niềm tin, sự ngưỡng vọng tổ tiên. Thế giới tâm linh hiện hữu trong sự hài hoà với  
thiên nhiên chính là một nét độc đáo trong bản sắc các dân tộc sinh sống ở châu Phi. Những  
người dân lam lũ vùng cây bụi vẫn tin vào vai trò của phù thuỷ, chẳng hạn như Zabeth là một  
phù thuỷ và luôn có mùi đặc trưng của các thứ dầu xoa lên cơ thể. Ai cũng tin rằng Zabeth được  
bảo vệ. Đức tin đóng vai trò quan trọng, trở thành một sợi chỉ nối giữa các thế hệ. Trong không  
gian văn hoá ấy, con người cũng phát triển những tư tưởng hiện sinh rất giản đơn nhưng không  
kém phần mới lạ. Dù cho thời thế có đổi thay, từ thời người A rập còn cai quản, đến lúc người  
châu Âu tới và đi, nhưng “có rất ít thay đổi trong cách suy nghĩ của người dân. Họ vẫn vẽ hình  
những con mắt to ở mũi thuyền để cầu may mắn, và các ngư dân có thể trở nên rất giận dữ,  
thậm chí hăng máu, nếu một người khách nào đó chụp hình họ - nghĩa là đang buộc họ phải rời  
khỏi linh hồn của mình” [10]. Mọi người ở đây vẫn sống như thế, không hề có sự phân biệt rạch  
ròi giữa quá khứ và hiện tại, và đối với họ chỉ có sự hiện hữu của hiện tại. Tư tưởng hiện sinh  
đó đơn giản là “ánh sáng của bình minh vẫn luôn phải nhường chỗ cho bóng đêm, và con người  
luôn sống trong hoàng hôn vĩnh hằng” [10]. Tín ngưỡng dân gian hướng về tổ tiên hoà trộn với  
chủ nghĩa hiện sinh, đã tạo nên một căn tính đặc biệt cho không gian của Khúc quanh của dòng  
sông thể hiện tài năng bậc thầy trong việc kiến tạo không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul.  
30  
Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hóa  
2.3. Không gian lữ thứ trong tiểu thuyết Bí ẩn khi tới  
Tiểu thuyết Bí ẩn khi tới là một cuốn tự sự đặc sắc của V.S Naipaul, tái hiện những mâu thuẫn  
giằng xé nội tâm của nhân vật chính, những chấn thương văn hoá của một người Trinidad nhập  
cư vào Anh. Truyện kể được chia thành 5 phần, sắp xếp theo chiều không gian từ ngoại biên,  
tiến dần vào trung tâm là khu dinh thự, rồi lại di chuyển ra ngoài. Cuốn tiểu thuyết là một sự  
tổng hoà của tự truyện, và những suy ngẫm về sự thay đổi của một con người và cách trở thành  
một nhà văn. Nếu nhìn thoáng qua trên bề mặt thì mạch truyện có vẻ rời rạc, đứt quãng, nhưng  
ẩn sau tất cả những mẩu chuyện không đầu không cuối, chính là không gian tâm trạng với  
những dòng chảy của cảm xúc và suy tư của tác giả trước thời cuộc. Không có tuyến tính; trong  
thực tế tất cả các tuyến tính đã bị phá vỡ với sự lặp đi lặp lại của những ký ức xuất hiện theo trật  
tự xoắn ốc. Phần đầu tiên dẫn đến phần thứ hai và thứ ba. Phần thứ tư là đối trọng với phần thứ  
hai. Phần thứ ba và thứ năm là sự tiếp nối của phần hai.  
Hình 2. Cấu trúc năm phần của tiểu thuyết Bí ẩn khi tới của V.S. Naipaul  
Không gian trong Bí ẩn khi tới được tái hiện rõ nét những điểm nhấn, mảng nhấn trong bố  
cục của một bức tranh phong cảnh tinh xảo, có các lớp rõ ràng: tiền cảnh, trung cảnh, hậu cảnh.  
“Ngôi nhà tranh giờ quá yên tĩnh;... trên ngọn đồi phía bên kia, ở dưới thung lũng, nơi một con  
đường vắt ngang đồng cỏ cũ kĩ dẫn đến một tòa nhà trang trại nhỏ bị bỏ hoang, tất cả đều tối  
đen và rỉ sét trong một mảnh đất bé xíu...” [12; 81]. Một kiểu bố cục tối ưu, tạo cảm giác gần, xa  
rất rõ, tôn lên nét đẹp yên bình, trữ tình của làng cảnh, một bức tranh thung lũng Wiltshire với  
từng thân cây, từng bờ giậu, từng cái lá, từng bông tuyết. Trong lao động nghệ thuật của nhà  
văn, ông đã luôn lao tâm khổ tứ, sao cho nắm bắt được những cái hồn của những bông tuyết rơi  
trên những ngọn đồi, hay đứng yên rất lâu trên cây cầu mục nát để bí mật quan sát một con nai  
nhỏ, say sưa ngắm nhìn thần sắc của đôi mắt nai, và bằng một thứ ngôn ngữ dung dị, mang đậm  
dấu ấn hội hoạ mang đến cho độc giả một bức tranh có một không hai về nước Anh hiện tại.  
Nếu soi chiếu dưới lí thuyết đa văn hoá của Doreen Massey, địa điểm (place) không chỉ có  
một bản sắc riêng biệt mà là tổng hoà của nhiều bản sắc, thì không gian chính trong Bí ẩn khi tới  
là làng quê nước Anh, vùng thị trấn Salisbury gần với khu bãi đá cổ Stonehenge. Ở đó, sự tổng  
hoà của những bản sắc như ông chủ nhà của nhân vật Tôi, một quý tộc Anh đã hết thời hoàng  
kim, của những người quản gia và làm thuê trong khu dinh thự rộng lớn cũng được khắc hoạ rõ  
nét và cả những người thuê nhà như chính bản thân tác giả. Một phiên bản nước Anh thu nhỏ  
đang tàn lụi dần như ngôi nhà lớn khu dinh thự đã mất đi cái hào nhoáng và quyền năng trước  
kia của nó. Nhà văn nhận ra mình chỉ là một kẻ xa lạ, mất phương hướng “đã đến quá muộn để  
thấy nước Anh, trái tim của đế chế, như trong tưởng tượng của mình” [12; 52]. Bởi vậy, không  
gian trong tiểu thuyết chính là không gian của tâm tưởng trải dài theo mỗi bước chân của người  
khách tha hương, là những khám phá và thay đổi nhận thức của tác giả trong thời gian mười  
năm sống ở vùng nông thôn Wiltshire nước Anh. Nhà văn đã học cách nhìn ngắm quang cảnh  
31  
Đinh Thị Lê  
và những đổi thay khi mùa qua, để rồi khám phá và chiêm nghiệm lại những giá trị của chính  
bản thân mình trong mối tương quan với những con người ông đã gặp trên đường đời. Ông suy  
ngẫm về quy luật hài hòa của tự nhiên, biết chấp nhận thực tế đổi thay, để rồi nhận ra bí ẩn của  
sự đốn ngộ. Tác phẩm, vì thế, ẩn chứa một triết lí sâu xa về cuộc đời và nhân thế.  
3. Kết luận  
Tóm lại, không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul đã thể hiện rõ nét tài năng và sự am  
tường văn hoá, lịch sử, xã hội của một nhà văn tha hương, luôn suy tư, chiêm nghiệm về việc  
sống “một nửa cuộc đời”. Sự tổng hoà của tất cả các nền văn hoá tạo nên một cảm quan đa văn  
hoá độc đáo của một nhà văn luôn đau đáu đi tìm cái Tôi, cái cảm giác mình thuộc về một nơi  
nào đó. V.S. Naipaul giống như một sứ giả văn hoá, một nhà folklore học đem đến cho độc giả  
Việt một vốn hiểu biết phong phú về không chỉ một mà là nhiều nét văn hoá mới lạ. Lồng ghép  
trong từng câu chữ là lối sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán đa dạng và độc đáo, trải dài qua  
ba châu lục: châu Nam Mĩ, châu Phi và châu Âu, đa dạng ngôn ngữ và chủng tộc, với nhiều biến  
cố và thăng trầm của lịch sử.  
Việc nghiên cứu không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul theo lí thuyết đa văn hoá của  
Massey về địa điểm và căn tính: Địa điểm là tổng hoà của nhiều bản sắc; Địa điểm là cả một  
quá trình và Địa điểm không có rào chắn ngăn giữa cái “bên trong” và “bên ngoài”; đã thể hiện  
cái mẫn tiệp của một nhà văn tài năng, luôn trăn trở trước thời cuộc. Đây có thể là lí do chính  
khiến tính đa văn hóa trong tác phẩm của ông được thể hiện rất sắc sảo, vượt lên cấp độ thời  
gian và không gian, thể hiện được những vấn đề thời sự, mang tầm nhân loại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bryden, Roland., 1973. “Interview with V.S. Naipaul”. The Literature. Vol. 89. March 22,  
1973.  
[2] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2000. Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Đại  
học Quốc gia Hà Nội.  
[3] Massey, Doreen., 1994. Power -geometry and a Progressive Sense of Place. Bird et al. 59-  
69. Space, Place and Gender. Cambridge, MA: Polity, 1994. Print.  
[4] Lyotard, J.-F., 1984. The Postmodern Condition, Manchester: Manchester University  
Press.  
[5] Naipaul V.S., 1992. A House for Mr. Biswas. New Delhi: Penguin.  
[6] Consuelo Lopez de Villages, 1980. Identity and Environment: Naipaul's Architectural  
Vision, Revista / Review Interamericana, 10 (Summer 1980), p.221.  
[7] Barnouw D., 2003. Naipaul's Strangers. Bloomington: Indiana UP.  
[8] Kapuꢀciꢁski, Ryszard., 1998. Shadow of the Sun: My African Life, translated by Klara  
Glowczewska, Knopf Publisher.  
[9] Achebe, Chinua., 2009. The Education of a Child British-Protected: Essays, 2009, Knoff  
Publisher.  
[10] V.S. Naipaul., 1994. A bend in the river - Khúc quanh của dòng sông, bản dịch của Cao  
Việt Dũng năm 2004. Nxb Lao động.  
[11] Robert D. Hamner, 1990. Joseph Conrad: Third World Perspectives, Three continents  
Press.  
[12] V.S. Naipaul., 1987. The enigma of Arrival, First Vintage Book Edition, May 1988.  
32  
Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hóa  
ABSTRACT  
The space of V.S. Naipaul’s novels in the light of multicultural theory  
Dinh Thi Le  
United Nations International School of Hanoi  
It is a self-evident truth that V.S. Naipaul 's novels hold powerful appeal to readers  
worldwide thanks to his real-life experience of migration and changes in psychology and  
lifestyles between multicultural spaces. The writer has successfully created a diversified, rich,  
traditional hybrid space of the Trinidad and Tobago, an African cultural space before the  
historical upheavals, and English villages and towns after the the golden age of wealthy nobles  
and landowners. Studying these spatial dimensions through the prisms of Doreen Massey's  
multicultural theory will offer an insight into the relationship between place and identity, as well  
as the artistic talent of V.S. Naipaul, a passionate and gifted writer, who devoted his life to “the  
history of oppressed peoples”, contributing a great voice to “marginal” cultures.  
Keywords: Naipaul, novel, space, multicultural theory, Doreen Massey.  
33  
pdf 8 trang baolam 29020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Không gian tiểu thuyết của V.S. Naipaul nhìn từ lí thuyết đa văn hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhong_gian_tieu_thuyet_cua_v_s_naipaul_nhin_tu_li_thuyet_da.pdf