Motif nghệ thuật trong tác phẩm của James Joyce và Franz Kafka

Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 1-7  
1
MOTIF NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM  
CỦA JAMES JOYCE VÀ FRANZ KAFKA  
Lê Minh Kha1,*, Nguyễn Hữu Tình2  
1Trường Đại học Quy Nhơn  
2NCS Học viện Khoa học xã hội  
Ngày nhận bài: 25/08/2021; Ngày nhận đăng: 30/09/2021  
Tóm tắt  
Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản liên quan đến motif nghệ thuật trong tác phẩm của  
hai nhà văn lớn của phương Tây thế kỷ XX: James Joyce (1882-1941) và Franz Kafka (1883-  
1924). Qua sự so sánh những tương đồng và dị biệt trên phương diện motif nghệ thuật, đặc biệt  
là dạng motif huyền thoại và phi lý trong sáng tác của họ, bài viết làm nổi bật những đặc sắc  
trong tư duy nghệ thuật của mỗi tác giả, đồng thời, chỉ ra những đóng góp của họ đối với tư duy  
nghệ thuật hiện đại.  
Từ khóa: James Joyce, Franz Kafka, motif nghệ thuật, motif huyền thoại, các motif phi lý  
Trước hết, có thể thấy rằng, nghiên  
cứu và giảng dạy văn học từ góc độ motif –  
nhất là những motif bắt nguồn từ thẳm sâu  
tâm thức nhân loại – là hướng tiếp cận đã  
có từ lâu. Theo nhiều nhà nghiên cứu, motif  
được nhìn nhận là một phạm trù của nghiên  
cứu văn học kể từ đầu thế kỷ thứ XX, nhất  
là trong những công trình mang tính khai  
phá của A.N.Veselovski và V.Ja.Propp –  
những học giả đã khảo sát motif như những  
yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn của  
văn bản, ngôn bản; đó là những sự vật, hình  
ảnh, là đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện dân  
gian (chiếc gương thần, hình tượng người  
vợ ngốc, trận chiến bố với con, rắn đánh  
cắp công chúa). Khởi nguồn từ việc nghiên  
cứu các loại hình truyện cổ dân gian, motif  
dần trở thành một hướng tiếp cận trong việc  
nghiên cứu các tác phẩm văn học viết. Nhất  
là trong bối cảnh văn học phương Tây từ  
đầu thế kỷ XX trở đi, các motif huyền thoại  
đánh dấu sự trở lại và phát sáng của những  
huyền thoại xưa trong một cảm quan mới,  
một dáng vẻ mới, với những tác phẩm của  
các nhà văn thuộc chủ nghĩa hiện đại như  
James Joyce (1882 – 1941) và Franz Kafka  
1. Đặt vấn đề  
Tiếp nhận và giảng dạy văn học  
nước ngoài ở Việt Nam đã có một lịch sử  
dài lâu với nhiều giai đoạn, đặc điểm và  
thành tựu. Với riêng nền văn học phương  
Tây, quá trình ấy là một bức tranh đa sắc  
màu, với nhiều quan điểm, đường hướng  
tiếp cận, mở ra hành trình vô tận của những  
giao lưu, gặp gỡ và tiếp biến văn hóa – văn  
học. Trong số những đường hướng đó, nổi  
lên hướng tiếp cận từ phương diện motif  
nghệ thuật, như một thành tố có khả năng  
mở ra những trường liên tưởng, những khả  
thể tiếp nhận và giảng dạy giàu tiềm năng.  
Ở đây, chúng tôi hiểu motif là những thành  
tố nghệ thuật được hình thành ổn định và  
được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn  
học nghệ thuật. Từ việc khảo sát motif nghệ  
thuật trong sáng tác của nhà văn phương  
Tây, người dạy và người học có thể mở ra  
những chân trời vô tận của thế giới nghệ  
thuật mang màu sắc “xứ lạ phương xa”,  
cảm nghiệm những cái hay, cái đẹp trong  
những sáng tác của các bậc thầy văn học.  
__________________________  
* Email: [email protected]  
2
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 1-7  
(1883 – 1924). James Joyce là nhà văn lớn  
của Ireland, bậc thầy của kỹ thuật “dòng ý  
thức”, còn Franz Kafka là nhà văn Tiệp viết  
văn bằng tiếng Đức, một trong những tác  
giả nổi bật của dòng Văn học phi lý. Mỗi  
người một phong cách, một dáng vẻ trong  
hành trình nhận thức và biểu hiện thực tại,  
trong đó, có việc sử dụng một cách sáng tạo  
các motif nghệ thuật. Trong bài báo này,  
chúng tôi chủ yếu khảo sát các motif nghệ  
thuật mang màu sắc huyền thoại và phi lý  
thông qua một số tiểu thuyết và truyện ngắn  
tiêu biểu của James Joyce và Franz Kafka.  
2. Nội dung  
2.1. James Joyce và motif huyền thoại  
James Joyce, được xem là người mở  
đầu cho lối viết huyền thoại của văn học  
phương Tây hiện đại với nghệ thuật sử  
dụng các motif – điển mẫu huyền thoại vẽ  
nên một thế giới mơ hồ, trộn lẫn giữa hư và  
thực. Điển mẫu huyền thoại trong sáng tác  
của ông đã tạo nên mối liên kết mật thiết  
giữa huyền thoại và tiểu thuyết hiện đại.  
Trong Chân dung người nghệ sĩ thời trẻ và  
Ulysses, James Joyce “đã cho thấy sự kết  
nối giữa một thể loại truyện cổ huyền thoại  
và tiểu thuyết hiện đại thế kỉ XX” (J.Joyce,  
2001, tr.12). Sử dụng điển mẫu huyền  
thoại, lấy tên tiểu thuyết trùng tên với nhân  
vật anh hùng trong huyền thoại là một cách  
mà nhà văn cho tiểu thuyết trở về với  
huyền thoại. Tiêu đề Ulysses của Joyce là  
một tiêu đề mang tính biểu tượng cao.  
Ulysses là tên nhân vật anh hùng trong  
Odyssey, nhưng ở tiểu thuyết của Joyce,  
người đọc không thấy một ai là Ulysses.  
Cái tên Ulysses gợi dẫn người đọc trở về  
với Odyssey. Do thủ pháp liên văn bản mà  
nhà văn cho chúng ta thấy một Ulysses thời  
hiện đại giữa lòng Dublin là Bloom. Bloom  
mang trên mình nhiều điển mẫu vẫn lang  
thang giữa thành phố Dublin hiện đại. Theo  
dõi bước chân của Bloom đến nơi này nơi  
khác ở Dublin trong ngày 16.VI.1904,  
chúng ta liên tưởng đến hang động của  
nàng tiên Calypso, thành phố Ithaka... Việc  
liên tưởng đó là do người đọc chúng ta  
nhận ra thôi chứ hành trạng của nhân vật  
vẫn đang diễn ra trong một xã hội hiện đại.  
Nói một cách khác là môtíp huyền thoại  
trong tiểu thuyết gợi độc giả liên tưởng đến  
huyền thoại, còn nội dung và nhân vật sự  
kiện đều hướng đến con người đang sống ở  
thế giới hiện đại.  
Sau Joyce, nhiều nhà văn khác cũng đã  
tiếp nối con đường này để mở rộng biên  
giới tiểu thuyết. Điều đó cho thấy văn học  
hiện đại và hậu hiện đại không chỉ tiếp nối  
văn học thời Phục hưng thể hiện sự tái sinh  
của lòng đam mê văn chương nghệ thuật,  
phản ứng lại với những luật lệ hà khắc, với  
lối sống gò bó mất tự do về phương diện  
tinh thần của con người trong "đêm trường  
Trung Cổ" mà nó còn thúc đẩy hoạt động  
sáng tác của các nhà văn phát triển theo  
nhiều hướng khác nhau trên cơ sở khai thác  
triệt để những giá trị của văn học Hy Lạp  
cổ đại. Các tiểu thuyết gia hiện đại và hậu  
hiện đại đã phát triển một trong những đặc  
tính của văn học là tính đa chiều đa diện,  
mơ hồ lấp lửng trên cả hai phương diện nội  
dung và hình thức. Các tác giả không chỉ  
hướng đến xóa nhòa lằn ranh giữa các thể  
loại, hòa trộn các thể loại vào nhau tạo nên  
những cái nhìn mới, ấn tượng mới mà còn  
sử dụng huyền thoại xưa như là chất liệu để  
kiến tạo nên những tiểu thuyết hiện đại  
mang màu sắc huyền thoại. Màu sắc huyền  
thoại trong tiểu thuyết gắn liền với những  
motif, những điển mẫu huyền thoại.  
Bản chất của huyền là kì ảo, là hư  
tưởng, là mơ, nên huyền thoại chính là mơ,  
là mộng dù rằng cái mộng, cái mơ ấy xuất  
phát từ cái thực của đời sống. Cuộc sống  
thực có quá nhiều điều không thể giải thích,  
không thể lý giải, nên con người cần đến  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 1-7  
3
mơ, cần đến huyền thoại. Chính vì điều đó  
mà James Joyce đã chọn điển mẫu huyền  
thoại làm nơi để khai thác cõi người bởi  
điển mẫu huyền thoại chính là con đường  
của giấc mơ.  
Nhìn từ Chân dung người nghệ sĩ thời  
trẻ và Ulysses, thủ pháp điển mẫu của  
James Joyce đã mở ra một thế giới tiểu  
thuyết với những cách tân không ngừng.  
Điển mẫu thúc đẩy các tiểu thuyết gia trở  
về với huyền thoại, trở về với mộng, với  
những giấc mơ. Chỉ có sử dụng giấc mơ,  
nhà tiểu thuyết mới khả năng bước sâu vào  
thám hiểm cõi người. Kahlil Gibran (1883  
– 1931) kêu gọi: hãy kỳ vọng vào giấc mơ,  
nơi đó đang ẩn giấu cánh cửa để đi đến điều  
trường tồn bất diệt.  
Là một trong những nhà tiên phong  
trong công cuộc cách tân tiểu thuyết, James  
Joyce đưa giấc mơ vào tiểu thuyết của  
mình, nói cách khác, ông đã xây dựng cặp  
đôi tiểu thuyết Chân dung người nghệ sĩ  
thời trẻ và Ulysses theo con đường của giấc  
mơ, tức sử dụng điển mẫu huyền thoại để  
thực hiện "tham vọng mỹ học" (Kundera):  
biến cái thật thành mơ và cái mơ thành thật  
ở đời. Nghĩa là từ một điển mẫu trong  
huyền thoại, một ám ảnh về cái họ  
Deadalus của người thợ tài hoa trong huyền  
thoại, tác giả để cho nhân vật Stephen  
Dedalus suy tư về tiền thân của mình, suy  
tư về cuộc đời, về thế giới. Nhân vật rơi  
vào cõi mơ và gặp chính mình trong cõi ấy.  
Và một hình tượng anh hùng Ulysses trong  
sử thi huyền thoại hóa thân thành một phàm  
phu tục tử Bloom trở mình trong cái ngáp  
dài chưa dứt cơn buồn ngủ của Dublin tù  
đọng. Theo nghĩa đó, Chân dung người  
nghệ sĩ thời trẻ là một giấc mơ. Ulysses là  
một giấc mơ. "Sáng tác là tạo ra một thế  
giới ảo" (Nhật Chiêu) và trong thế giới ảo  
đó nhà văn xua nhân vật của mình đi tìm  
những giấc mơ, đi vào những giấc mơ. Săn  
đuổi những giấc mơ, James Joyce đã cho  
tiểu thuyết chức năng liên kết với đời sống  
bằng những ý nghĩa triết học, bằng liên văn  
bản, bằng dụ ngôn, bằng huyền thoại,  
nhưng rõ ràng là nhà văn cũng đã tạo cho  
mình một cơ hội được gặp lại chính mình  
trong tiểu thuyết, trong giấc mơ của đời.  
James Joyce đã gặp lại mình ở Stephen, ở  
Bloom khi lang thang trong tiểu thuyết,  
lang thang trong cõi người. Vì cõi người  
này nói như Pedro Calderon de la Barca  
(1600 – 1681) là một giấc mộng mà ông đã  
viết trong tác phẩm Life is a dream (đời là  
một giấc mộng), là một giấc mơ dài.  
2.2. Franz Kafka và các motif phi lý  
Cùng với James Joyce, Franz Kafka –  
nhà văn người Tiệp, được xem là người  
khai mở cho dòng văn mang cảm quan  
huyền thoại hiện đại, Franz Kafka đã sử  
dụng rất thành công các motif phi lý để  
biểu hiện ý thức về thực tại và khai mở một  
hiện thực mới. Đi vào thế giới nghệ thuật  
của Kafka, ta nhận ra nhiều motif phi lý ẩn  
chứa sức nặng tư tưởng và cảm quan mới  
về đời sống, trong sự gắn kết và trộn lẫn,  
hòa quyện cái bi với cái hài, thực tại và hư  
ảo, hiện hữu và hư vô. Ở đây, chúng tôi đặc  
biệt chú trọng đến các motif: motif bất khả  
tri, motif biến dạng – những motif đóng vai  
trò hết sức quan trọng đối với việc tạo lập  
cái nhìn nghịch dị về thực tại của nhà văn.  
Giữa các motif này có sự gắn kết trong việc  
biểu hiện một thế giới luôn bất an, tràn  
ngập cái phi lý và nỗi lo âu tha hóa. Đó là  
cái thế giới của những cơn ác mộng bắt  
nguồn từ chính thực tại phi nhân và tâm  
thức cô đơn, khủng hoảng của con người  
trong thời đại mất Chúa.  
Ở nhiều tác phẩm của Kafka, motif  
bất khả tri thể hiện sự không thấu hiểu,  
không nghe thấy, không nhìn thấy, là một  
motif có tần số xuất hiện rất cao và nói lên  
được những vấn đề hệ trọng trong cảm  
4
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 1-7  
quan về hiện thực của nhà văn. Thế giới  
của Kafka là một thế giới mà nhiều nhân  
vật không có khả năng tri giác, mặc dù vẫn  
có đầy đủ mọi giác quan. Trong truyện Hoá  
thân, nhân vật Gregor, sau một đêm ngủ  
dậy đã hoá thành một con bọ với hình dáng  
dị thường “lưng rắn như thể được bọc kín  
bằng sắt, “cái bụng khum tròn, nâu bóng,  
phân chia làm nhiều đốt cong cứng đờ”  
(Franz Kafka, 2003, tr.6). Nhưng khổ sở  
hơn cho Gregor, cùng với sự hoá thân, anh  
đã phải từ bỏ tiếng nói của con người để  
gánh lãnh một thứ thanh âm chút chít khổ  
sở của loài côn trùng. Mọi người từ bố mẹ  
anh, em gái anh đến lão quản lý đều không  
thể nào nghe được, hiểu đựơc tiếng nói của  
con bọ người Gregor - cái sinh thể kỳ dị,  
đêm hôm trước vẫn là một người con kiếm  
được nhiều tiền cho gia đình, người anh hết  
lòng với cô em gái, người chào hàng đắc  
lực của cửa hàng: “Ra là thế, người ta  
không còn hiểu được những lời anh thốt ra  
nữa, tuy rằng anh vẫn hiểu mình khá rõ  
ràng, thậm chí còn rõ hơn trước kia, có lẽ  
đôi tai anh đã dần quen với âm thanh của  
lời mình nói” (Franz Kafka, 2003, tr.26).  
Trong đau đớn, tuyệt vọng, Gregor cất  
tiếng gọi cầu cứu: “Mẹ ơi, mẹ ơi!” khi nằm  
bò trên sàn cách mẹ anh không xa; đó là  
tiếng gọi thiêng liêng của tình mẫu tử, tiếng  
gọi đợi chờ một bàn tay nâng đỡ, tình  
thương yêu dịu dàng của mẹ. Nhưng trước  
hình thù kỳ quái của Gregor, trước tiếng  
gọi đã không còn là của một con người, bà  
mẹ càng thêm kinh khiếp: mẹ anh lại rú lên  
lần nữa, rồi bà chạy đi, và ngã vào vòng tay  
bố anh vừa hối hả lao tới đỡ. Không những  
vậy, cùng với sự biến dạng hình hài, mất đi  
giọng nói con người, Gregor cũng cảm thấy  
những âm thanh của loài người ngày càng  
trở nên khó lĩnh hội, đặc biệt là tiếng nói  
của người bố: “Đối với Gregor thì dù sao  
cái tiếng động sau lưng anh không còn  
giống tiếng nói của một người cha”  
(Franz Kafka, 2003, tr.32). Có thể nói rằng,  
tác phẩm Hoá thân bắt đầu bằng sự kiện  
Gregor biến thành bọ sau một sớm tỉnh giấc  
boăn khoăn, nối tiếp bằng những chuỗi  
không thấu hiểu và kết thúc bằng cái chết  
của nhân vật chính. Ý vị mỉa mai, bi đát thể  
hiện ở việc Gregor không tìm được sự cảm  
thông ngay nơi gia đình thân thuộc của  
mình, khi giữa anh và họ là hố thẳm ngăn  
cách giữa bọ và người. Anh bị đẩy ra ngoài  
lề gia đình mình và cả guồng quay của xã  
hội, anh không còn giống họ nên sẽ bị loại  
trừ trong mặc cảm xa lạ, lưu đày.  
Motif bất khả tri còn hiển hiện qua  
dạng truyện ngắn như Bức thông điệp của  
hoàng đế. Mở đầu câu chuyện, hoàng  
thượng “đã gửi bức thông điệp cho bạn,  
một kẻ cô đơn, một kẻ kém cỏi nhất trong  
thần dân của ngài, kẻ đã chạy trốn trước  
ánh sáng chở che của Hoàng đế cho tới khi  
trở nên rất nhỏ bé ở một nơi xa xôi hẻo lánh  
nhất” (Franz Kafka, 2003, tr.797). Bức  
thông điệp ấy được tên sứ giả khoẻ mạnh  
đem theo, chạy qua những mê cung của dục  
vọng, những sân nhỏ sân sau từ cung điện  
này đến cung điện khác nhưng hắn chẳng  
bao giờ vượt nổi để chuyển tải thông điệp  
của người đã khuất. Vì không nhận được  
thông điệp nên suốt đời bạn sẽ không đọc  
được thông điệp, và dĩ nhiên, chẳng thể biết  
thông điệp muốn nói điều gì. Do vậy, bạn  
cũng đánh mất sự liên lạc với thế giới, với  
cuộc đời này trong cô đơn và cái chết:  
“Còn bạn thì cứ ngồi bên cửa sổ của mình  
mà mơ mộng đó là sự thật khi màn đêm  
buông xuống” (Franz Kafka, 2003, tr.798).  
Thế giới đã đánh mất những sợi dây kết  
nối, mối quan hệ giữa con người và con  
người, con người và thế giới, con người với  
chính mình cũng chìm trong đáy sâu của sự  
lạc lõng, vô phương hướng.  
Thân phận bi đát của con người  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 1-7  
5
trong cái nhìn nghịch dị, hiện lên đầy ám  
ảnh trong truyện Người cưỡi xô. Truyện  
khắc họa mối tương phản kỳ lạ giữa ông  
lão và người vợ: Ông lão nhân hậu – bà vợ  
độc ác, ông lão bị điếc nhưng nghe thấy –  
người vợ bình thường lại không nghe được  
lời thỉnh cầu của nhân vật tôi. Nhân vật tôi  
như một linh hồn dật dờ giữa không gian  
tuyết băng lạnh lẽo, rất cần than để sưởi  
ấm: “Tôi phải có than, tôi không thể bị chết  
cóng; phía sau tôi là lò sưởi tàn nhẫn, đằng  
trước mặt là bầu trời độc ác, thế là tôi phải  
len qua chúng, trên hành trình tìm đến sự  
cứu giúp từ người bán than” (Franz Kafka,  
2003, tr.794). Nhưng niềm hy vọng mong  
manh ấy cũng vỡ tan trong sự bất lực và bi  
kịch không thấu hiểu giữa người và người:  
Ông lão điếc xúc động trước lời thỉnh cầu  
của nhân vật tôi nhưng đành bất lực; trong  
khi người vợ bình thường lại nhẫn tâm  
trước lời cầu xin “mỗi một xẻng than xấu  
nhất” để chống lại cái rét cắt da cắt thịt của  
linh hồn tôi: “Không có gì ở đây cả, tôi  
chẳng nghe thấy gì, chỉ có sáu tiếng  
chuông, và bây giờ chúng ta phải đóng cửa  
hàng” (Franz Kafka, 2003, tr.796). Và sau  
đó, nhân vật tôi “đáp xuống dãy núi băng  
và vĩnh viễn biến mất” trong nỗi thống khổ  
của kiếp người như một định mệnh nghiệt  
ngã an bài. Con người lang thang vô định  
trong một thế giới không thể thấu hiểu,  
không có sự cảm biết giữa người với người,  
và chết trong nỗi cô đơn lạnh lẽo. Con  
người bị tước mất khả năng tìm hiểu và  
thiết lập quan hệ với thế giới một cách bình  
thường vì con người không phải là chủ mà  
là nạn nhân của thế giới! Đó là cái thế giới  
bi – hài, nơi con người đã đánh mất chiếc  
chìa khóa trước cánh cửa cuộc đời, mãi mãi  
cửa không thể mở, và con người cũng  
không thể bước vào, để được sống như một  
con người.  
motif bất khả tri là motif biến dạng. Nhiều  
nhà nghiên cứu đã nhận xét, cùng với bất  
an và lo âu, tha hóa là một trong những từ  
chìa khóa trong văn học nghệ thuật những  
năm đầu thế kỷ XX. Sự tha hoá ấy trong tác  
phẩm Kafka hiện hình cụ thể thông qua sự  
biến dạng của các nhân vật, dưới nhiều  
hình thái khác nhau. Nhân vật Gregor  
Samsa, một sớm tỉnh giấc, thấy mình biến  
thành một con bọ khổng lồ: “Chân anh  
nhiều ra, mảnh khảnh đến thảm hại so với  
phần còn lại của thân hình to đùng, vung  
vẩy bất lực trước mắt anh” (Franz Kafka,  
2003, tr.15). Khi trở thành bọ, anh có thể di  
chuyển bò ngang, bò dọc, bám trên thành  
tường, trần nhà; giọng anh chút chít khổ sở,  
thức ăn của loài người khiến anh tởm lợm.  
Nhưng nghịch lý thay, chính từ sự biến  
dạng ấy, anh lại bắt đầu bừng ngộ, nhận  
thức được những điều trước đây với tư cách  
một con người anh không nhận thức được.  
Đó là những suy nghĩ về công việc chán  
ngắt, nhọc nhằn, “chạy rong hết hàng ngày  
này sang ngày khác”; về dự định thoát khỏi  
cái nghề nghiệp khốn khổ này trong tương  
lai: Tuy nhiên, guồng máy công việc vẫn có  
sức mạnh kinh hoàng, ngay cả khi đã thành  
bọ, như một quán tính, gánh nặng cơm áo  
gạo tiền vẫn chưa chịu buông tha anh, anh  
vẫn lo trễ giờ đi làm: “Còn bây giờ, ôi  
chao, mình phải dậy ngay, kẻo trễ chuyến  
tàu năm giờ”.  
Trái với nhân vật Gregor, người  
nghệ sĩ trong Vô địch nhịn ăn là một trường  
hợp biến dạng khác. Nhân vật trở thành  
một nắm xương tàn trong khi dùng cái phi  
lý của việc nhịn ăn để chống chọi lại cái phi  
lý của sự bất dung hoà giữa cuộc đời và  
người nghệ sĩ. Lúc đầu, khi trò nhịn ăn còn  
đang thịnh, việc biểu diễn của người nghệ  
sĩ thu hút rất nhiều người đến xem, “tất cả  
mọi người đều muốn đến xem chàng nghệ  
sĩ ít nhất là một lần trong ngày” (Franz  
Song hành, gắn kết chặt chẽ với  
6
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 1-7  
Kafka, 2003, tr.760). Tuy nhiên, cùng với  
thời gian, mọi người đã xao nhãng, thôi  
không còn chú ý đến tài biểu diễn nhịn ăn  
của người nghệ sĩ thì cũng là lúc cuộc đời  
của người nghệ sĩ trở nên thật hẩm hiu, bi  
đát, chiếc cũi nơi anh biểu diễn trở thành  
vật cản khi người ta đến xem chuồng thú.  
Anh chết như bộ xương khô bên đống rơm  
rạ khi chẳng còn có thể ăn được thức ăn của  
loài người, thích nghi trở lại với cuốc sống  
loài người: “Bởi vì tôi phải nhịn đói, không  
thể khác được”; “Bởi vì tôi không tìm thấy  
được món ăn ưa thích. Nếu thấy được xin  
ông hãy tin tôi, tôi đã không làm cao đến  
thế đâu mà đã ăn no như ông và như tất cả  
mọi người rồi” (Franz Kafka, 2003, tr.761).  
Motif biến dạng còn được thể hiện  
trong những căn bệnh, những khuyết tật  
hình dạng nơi các nhân vật Kafka. Trong  
Vụ án, ông luật sư Hun nằm liệt giường, cô  
y tá Leni với vết tật thân thể: ngón giữa và  
ngón đeo nhẫn của bàn tay phải, giữa hai  
ngón có da dính liền đến tận đốt thứ hai, rồi  
người trông coi nhà thờ bước đi với những  
“bước chân khập khiễng”, ngộ nghĩnh đến  
mức gợi cho Joseph.K. nhớ lại đến một thời  
thơ ấu cố bắt chước động tác của kỵ sĩ phi  
ngựa. Không chỉ biến dạng về nhân hình,  
các nhân vật của Kafka còn biến dạng, tha  
hoá về nhân tính: Người họa sĩ Titoreli có  
dòng họ mấy đời làm nghề vẽ truyền thần  
cho các quan toà nhưng lại gạ gẫm bán tháo  
hàng chục bức tranh phong cảnh cho nhân  
vật K. đang chẳng có một chút tâm trạng  
nào để xem tranh, mua tranh. Người em gái  
Grete trước đây hiền lành, yêu quý anh trai,  
bây giờ trở nên tàn nhẫn khi bỏ quên anh  
mình trong đống đồ đạc bẩn thỉu nơi căn  
buồng tối, và đỉnh điểm là sự phủ nhận triệt  
để người anh trai cô đã từng yêu quý: “Có  
lẽ bố mẹ không nhận ra nhưng con thì thấy  
rõ quá rồi: Ta phải làm sao tống khứ nó đi”  
(Franz Kafka, 2003, tr.64). Motif biến dạng  
đã thể hiện được những vấn nạn, những ám  
ảnh của con người trong thời đại Kafka: nỗi  
lo âu và sự tha hoá. Thoạt nhìn, ta có thể  
cười cợt trước hình dạng kỳ lạ của Gregor  
khi biến dạng thành bọ, trước trò biểu diễn  
phi lý của nghệ sĩ nhịn ăn, trước căn bệnh  
liệt giường của luật sư Hun, trước bước đi  
khập khiễng của người quản lý nhà thờ;  
nhưng motif biến dạng của các tác phẩm  
Kafka đem đến nhiều hơn một sự phủ định  
triệt để cái xã hội không cho phép con  
người được sống với những phẩm chất tốt  
đẹp của mình.  
3. Kết luận  
Như vậy, đều là những bậc thầy của  
văn chương hiện đại, James Joyce và Franz  
Kafka thường xuyên sử dụng các motif  
huyền thoại và phi lý trong sáng tác của  
mình với những cảm quan nghệ thuật độc  
đáo. Giữa họ có sự gặp gỡ, tương đồng:  
bằng việc sử dụng những motif huyền  
thoại, kết hợp những mặt đối lập, tương  
phản trong một chỉnh thể nghệ thuật toàn  
vẹn, Joyce và Kafka đã tạo nên cảm giác về  
sự lấp lửng, mơ hồ rất khó cắt nghĩa ở  
những hình tượng nghệ thuật mà ông sáng  
tạo. Nhờ thế, tác phẩm của hai ông luôn mở  
ra trước muôn vàn diễn giải, và không  
ngừng vẫy gọi hành trình khám phá nơi  
người đọc, để cùng với nhà văn khám phá  
ra những điều ẩn giấu đằng sâu thực tại và  
bên trong bản thể của con người. Tuy  
nhiên, giữa hai nhà văn cũng có những  
khác biệt trong nghệ thuật sử dụng các  
dạng motif nghệ thuật: James Joyce quay  
về thần thoại, quá khứ để dựng xây huyền  
thoại mới; Kafka khám phá huyền thoại và  
phi lý ngay trong cái hiện tại đời thường tẻ  
nhạt và bộ máy quan liêu quyền lực vây  
bủa khắp nơi. Mỗi người đều có giọng điệu,  
tiếng nói, tư duy nghệ thuật riêng không  
trộn lẫn.  
Hiểu được những đặc trưng trong  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 1-7  
7
motif nghệ thuật của hai bậc thầy văn  
chương này, người dạy và người học có  
thêm chiếc chìa khóa để giải mã thế giới  
nghệ thuật của hai ông. Thông qua giọt  
nước thấy cả bầu trời, thông qua những  
motif nghệ thuật thấy được tư duy nghệ  
thuật của người nghệ sĩ, thi pháp nghệ thuật  
của một thời kỳ văn học.  
của Tzevan Todorov về văn chương:  
“Chúng tôi đã nhiều lần nêu lên phận vị  
nghịch lý của văn chương: văn chương chỉ  
sống trong điều mà ngôn ngữ thường ngày  
gọi là mâu thuẫn. Văn chương đảm nhận  
phản đề giữa ngôn từ và xuyên ngôn từ,  
giữa hiện thực và hư ảo” (T.Todorov, 2008,  
tr.220). Có thể nói, những mâu thuẫn, lấp  
lửng ấy chính là điều làm nên sức hấp dẫn  
lạ thường của James Joyce và Franz Kafka  
– những người viết “Kinh Thánh hiện đại”  
Với riêng hành trình tiếp nhận và  
giảng dạy tác phẩm James Joyce và Franz  
Kafka, dường như ta hiểu thêm nhận xét  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
James Joyce (2001). The Collected Works. Wordsworth Classics. New York  
Franz Kafka (2003). Tuyển tập tác phẩm. Nhiều người dịch. Nxb Hội nhà văn & Trung tâm  
văn hóa ngôn ngữ Đông Tây. Hà Nội.  
Milan Kundera (1998). Nghệ thuật tiểu thuyết. Nguyên Ngọc dịch. Nxb Đà Nẵng.  
Tzetan Todorov (2008). Dẫn luận về văn chương kỳ ảo. Lê Hồng Sâm – Đặng Anh Đào  
dịch. Nxb ĐHSP. Hà Nội.  
ARTISTIC MOTIFS IN THE WORKS OF JAMES JOYCE AND FRANZ KAFKA  
Le Minh Kha1,*, Nguyen Huu Tinh2  
1Quy Nhon University  
2Graduate Academy of Social Sciences  
*Email: [email protected].vn  
Received: August 25, 2021; Accepted: September 30, 2021  
Abstract  
The article discusses the basic issues of motifs in the works of the two writers who  
played important roles in the development of the modern Western literature: James Joyce  
(1882-1941) and Franz Kafka (1883-1924). Through the comparison between the  
similarities and differences of their artistic motifs, especially the legendary and absurd  
motifs in their works, this article highlights the features in each author’s artistic thinking,  
simultaneously appreciates their contributions to the modern artistic thinking.  
Keywords: James Joyce, Franz Kafka, legendary motif, absurd motifs  
pdf 7 trang baolam 24920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Motif nghệ thuật trong tác phẩm của James Joyce và Franz Kafka", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmotif_nghe_thuat_trong_tac_pham_cua_james_joyce_va_franz_kaf.pdf