Phương pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Phương pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực  
Đỗ Ngọc Thống  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam  
Email: thongdong[email protected]  
Bài viết tập trung làm rõ và thống nhất cách hiểu về phương pháp dạy học, từ  
đó phân biệt sự khác nhau giữa dạy học theo nội dung với dạy học phát triển năng lực.  
Trong bài viết, tác giả phân tích cách hiểu về phương pháp dạy học, sự khác nhau giữa  
dạy học nội dung và dạy học phát triển năng lực. Theo tác giả, phương pháp dạy học là  
cách thức hoạt động của giáo viên khi thực hiện dạy học; quy định mô hình hoạt động  
của giáo viên nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh đối tượng và đạt được mục tiêu bài học.  
Dạy học Ngữ văn theo hướng nội dung chủ yếu là thầy cô giảng giải cái hay, cái đẹp của  
bài văn, bài thơ đó cho học sinh nghe, đọc cho học sinh chép lại những cảm xúc và suy  
nghĩ của chính thầy cô về áng văn ấy. Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực  
đòi hỏi giáo viên phải biết tổ chức hoạt động trong giờ học để học sinh làm việc, trao đổi,  
tranh luận, từ đó tự rút ra kết luận về các kiến thức và nội dung vấn đề. Cái hay, cái đẹp  
của văn bản - tác phẩm được khám phá bởi chính người học, theo quan niệm, trình độ  
và tâm lí, tình cảm, nhận thức của học sinh.  
Phương pháp dạy học; môn Ngữ văn; phát triển năng lực.  
Nhận bài 24/02/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 15/3/2018 Duyệt đăng ngày 25/3/2018.  
1. Đặt vấn đề  
Thuật ngữ PPDH hiện được sử dụng rất đa dạng và thiếu nhất  
Việc chuyển từ dạy học (DH) Ngữ văn theo chương trình nội quán, thiếu sự phân biệt với các thuật ngữ gần nó như biện pháp  
dung sang DH theo chương trình phát triển năng lực tất yếu DH, kĩ thuật DH, thậm chí lẫn với cả quan điểm và hình thức DH.  
đòi hỏi phải thay đổi phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm Có hai hướng sử dụng chữ phương pháp; phần lớn được dùng  
tra đánh giá. Muốn thế, cần làm rõ một số vấn đề thiết yếu sau: theo nghĩa chung/thông thường (nghĩa rộng) đó là những cách  
1/ PPDH phát triển năng lực khác gì DH theo nội dung? Hai thức tiến hành một công việc nào đó như trong các cụm từ phương  
cách DH này có mối quan hệ như thế nào? DH phát triển năng pháp vào bài, phương pháp dạy HS giỏi, phương pháp viết đoạn  
lực có cần nội dung không?; 2/ Tại sao cần chuyển sang PPDH văn, phương pháp dạy HS yếu kém,... Bên cạnh đó, phương pháp  
phát triển năng lực? Trong dạy hiện hành đã có DH phát triển được dùng theo nghĩa hẹp, chỉ tên một phương pháp cụ thể trong  
năng lực chưa? Hạn chế lớn nhất của PPDH hiện hành là gì? DH nói chung và DH môn học nói riêng.  
Cần điều chỉnh đổi mới ở chỗ nào?; 3/ DH phát triển năng lực  
Trong DH nói chung, đã có rất nhiều định nghĩa, cách  
cần chú ý những gì? (giáo án, quy trình lên lớp, phương tiện, hiểu về PPDH, do khuôn khổ bài viết, chúng tôi không tiện  
hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá kết quả; vai trò và công dẫn ra. PPDH theo chúng tôi, là cách thức hoạt động của  
việc người dạy, vai trò và công việc của người học).Tuy nhiên, GV khi thực hiện DH; quy định mô hình hoạt động của GV  
do khuôn khổ bài viết, ở đây chúng tôi chỉ tập trung làm rõ và nhằm giúp HS chiếm lĩnh đối tượng và đạt được mục tiêu  
thống nhất cách hiểu về PPDH, từ đó phân biệt PPDH theo nội bài học. Có thể dẫn ra một số PPDH chung cho nhiều môn  
dung với DH phát triển năng lực.  
học như: Thuyết trình; Hỏi - Đáp; Làm mẫu; Thảo luận;  
Trò chơi; Luyện tập... Đương nhiên, các PPDH chung này  
khi vận dụng vào mỗi môn học phải mang nội dung, màu  
sắc của mỗi môn học. Điều đáng lưu ý là ngoài các PPDH  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Phương pháp dạy học  
Khi đề cập tới PPDH cần phân biệt với quan điểm DH (cấp độ chung, mỗi môn học lại có những PPDH mang tính đặc  
lớn hơn) và biện pháp/kĩ thuật DH (cấp độ nhỏ hơn). PPDH còn thù của môn học đó; những phương pháp mà các môn học  
liên quan tới phương tiện và hình thức tổ chức DH.  
khác không hoặc ít sử dụng. Với môn Ngữ văn, xuất phát  
Quan điểm DH là những định hướng mang tính chiến từ bản chất của chương trình phát triển năng lực, có thể xác  
lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH, còn gọi là định một số PPDH đặc thù sau đây: Phương pháp dạy đọc  
phương pháp luận DH. Quan điểm DH thường gắn với các đúng và đọc diễn cảm; Phương pháp dạy đọc hiểu (gồm cả  
trào lưu sư phạm lớn. Ví dụ, một số quan điểm DH lớn như: đọc trừu xuất, đọc thẩm mĩ và đọc sáng tạo); Phương pháp  
DH khám phá; DH theo mục tiêu; DH phân hoá; DH theo dự dạy viết đúng; Phương pháp dạy viết đoạn văn và văn bản;  
án; DH tương tác; DH giải quyết vấn đề; DH tình huống…  
Phương pháp dạy nói và nghe.  
Theo cách hiểu này, DH lấy người học làm trung tâm hoặc  
Trong mỗi PPDH lớn nêu trên (cả phương pháp chung và  
phát huy chủ thể/tính tích cực của người học đều là quan đặc thù môn học) có nhiều biện pháp và kĩ thuật DH. Chẳng  
điểm DH chứ không phải là PPDH.  
hạn, trong phương pháp thuyết trình có: 1/ Biện pháp thuyết  
20 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
Đỗ Ngọc Thống  
minh, giới thiệu nội dung bài học; 2/ Biện pháp tóm tắt văn Tùy vào mục tiêu và yêu cầu của mỗi quan điểm DH ấy mà  
bản; 3/ Biện pháp phân tích (nội dung và hình thức)... Trong lựa chọn và điều chỉnh các PPDH cho phù hợp.  
phương pháp dạy viết đúng có: 1/ Biện pháp dạy viết đúng  
chính tả; 2/ Biện pháp dạy viết đúng ngữ pháp.  
Mục tiêu và yêu cầu của chương trình nội dung hướng  
tới cung cấp, trang bị cho người học về nội dung là chính.  
Kĩ thuật DH là những thủ thuật nhỏ thuộc mỗi biện pháp, Tức là tập trung trả lời câu hỏi GV dạy cái gì và HS biết  
PPDH của GV trong các tình huống cụ thể nhằm thực hiện những gì? Với môn Ngữ văn, chương trình nội dung nêu  
và điều khiển quá trình DH. Chẳng hạn, với môn Ngữ văn, lên hàng loạt đơn vị kiến thức về tiếng Việt, Văn học cần  
trong biện pháp viết đúng chính tả có: 1/ Các kĩ thuật dạy viết biết. Chẳng hạn với Văn học, kiến thức chính là các hiểu  
đúng dấu câu (phân biệt dấu hỏi và ngã, dấu sắc và huyền...); biết về tác giả, tác phẩm lớn từ văn học dân gian đến văn  
2/ Kĩ thuật dạy viết đúng âm và chữ (phân biệt giữa l và n, học trung đại, văn học hiện đại; từ văn học Việt Nam đến  
giữa ch và tr, s và x...)... Hoặc trong biện pháp DH tái hiện văn học nước ngoài; các kiến thức về lịch sử văn học thông  
hình tượng (thuộc phương pháp đọc hiểu văn bản văn học) có qua các bài khái quát văn học sử như: Khái quát văn học  
các kĩ thuật như: 1/ Đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc to; 2/ Đọc Việt Nam qua các thời kì lịch sử; Khái quát văn học dân  
phân vai; 3/ Hóa thân vào nhân vật, tác giả; 4/ Miêu tả tâm gian Việt Nam; Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ thứ  
trạng nhân vật; 5/ Minh hoạ/trực quan hóa bằng tranh vẽ, bức X đến hết thế kỉ XIX; Khái quát văn học Việt Nam từ đầu  
tượng, video-clip; 6/ Sử dụng câu hỏi yêu cầu liệt kê những thế kỉ XX đến năm 1945... Ngoài các bài khái quát về giai  
từ ngữ, chi tiết, hình ảnh giàu ý nghĩa…  
đoạn này, còn có các bài khái quát văn học sử về tác gia (9  
Trong thời gian qua, một số dự án có sự tham gia của nước tác gia lớn: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,  
ngoài đã giới thiệu nhiều kĩ thuật DH hiện đại như kĩ thuật Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Nguyễn Tuân,  
6-3-5; kĩ thuật mảnh ghép; kĩ thuật khăn trải bàn; kĩ thuật bể Tố Hữu, Xuân Diệu). Bên cạnh các nội dung văn học sử,  
cá; kĩ thuật bông tuyết; kĩ thuật phòng tranh; kĩ thuật công HS còn được trang bị các kiến thức về lí luận văn học, đó  
não... GV có thể vận dụng vào DH, tuy nhiên cần chú ý nắm là các thuật ngữ, khái niệm lí luận văn học như trào lưu,  
vững bản chất, vai trò và ý nghĩa của mỗi kĩ thuật DH vừa khuynh hướng, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn,  
nêu, đặc biệt là cần vận dụng đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp quá trình văn học, phong cách văn học, giá trị văn học, tiếp  
với đặc trưng bộ môn và đạt được mục tiêu bài học.  
nhận văn học...; Những bài lí luận về tính chất, đặc trưng  
Như đã nêu ở trên, ngoài việc phân biệt giữa quan điểm, của văn bản văn học, về ngôn ngữ văn học, hình tượng và  
biện pháp, kĩ thuật DH, PPDH còn liên quan đến phương ý nghĩa; Những kiến thức về thể loại văn học... Đó là chưa  
tiện và hình thức DH. Phương tiện DH chỉ các đồ dùng (vật kể hệ thống kiến thức về tiếng Việt và làm văn (tạo lập các  
chất) để phục vụ cho việc DH, nhằm mang lại hiệu quả và đạt kiểu văn bản). Chính do hướng tiếp cận nội dung, chạy theo  
được mục tiêu bài học. Với môn Ngữ văn, có thể nêu một số nội dung nên chương trình truyền thống và hiện hành buộc  
phương tiện DH như tranh ảnh minh họa, bản đồ, các video, phải ôm đồm, hàn lâm, nặng nề... dẫn đến quá tải, nhiều đơn  
clip, đĩa CD, một số phần mềm DH... có liên quan đến nội vị kiến thức không phù hợp với tâm lí lứa tuổi.  
dung môn học, máy chiếu, đầu đĩa...  
Do mục tiêu và yêu cầu của chương trình nội dung như  
Hình thức DH là cách thức tổ chức hoạt động DH của GV trên đã mô tả nên PPDH chủ yếu theo hướng giảng giải, phân  
và HS được tiến hành trong một không gian, thời gian, số tích, cắt nghĩa... vốn là các hoạt động chính của giảng văn  
lượng và theo một trật tự nhất định. Thường có các hình thức nhằm cung cấp, nhồi nhét kiến thức; HS chỉ ghi chép, học  
DH quen thuộc sau: 1/ DH trong lớp và DH ngoài lớp (sân/ thuộc lời thầy cô giảng là chính.  
vườn trường, thư viện, nhà truyền thống, di tích lịch sử, văn  
Các PPDH theo hướng giảng văn theo Phan Trọng Luận,  
hóa...); 2/ DH cả lớp và DH theo nhóm; 3/ DH dự án (Project chủ yếu thường dùng 05 phương pháp sau: “1/ Đọc diễn cảm;  
based learning) và DH qua thực hành (“learning by teaching” 2/ So sánh trong phân tích văn học; 3/ Phân tích nêu vấn đề;  
hoặc “Lernen durch Lerhen” tiếng Đức - viết tắt LdL)...  
Trên đây là một số nét cơ bản về PPDH xét trong mối quan  
4/ Gợi mở/đàm thoại; 5/ Giảng bình” [1].  
Tất cả các phương pháp nêu trên đều gắn với định hướng  
hệ với quan điểm, biện pháp, kĩ thuật, phương tiện và hình giảng cho HS thấy cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học;  
thức DH. Vấn đề là GV sau khi nắm được bản chất của mỗi tức là giúp HS nắm được nội dung văn bản, tác phẩm nói gì,  
khái niệm cần vận dụng vào thực tế DH của mình để thực hiện có ý nghĩa như thế nào. Bản thân mỗi phương pháp ấy đều  
một cách linh hoạt vì bản thân các thuật ngữ, khái niệm ấy cũng có những ưu thế của nó, tuy nhiên do định hướng truyền thụ  
rất tương đối, không phải lúc nào cũng rạch ròi minh bạch, vì thế một chiều nên khó có thể tạo nên năng lực đọc của người học,  
tùy vào bối cảnh cụ thể mà định danh cho phù hợp.  
nhất là đọc độc lập. Như thế, hạn chế của các phương pháp  
theo hướng giảng văn là hạn chế về quan điểm tiếp cận chứ  
không phải hạn chế của chính các phương pháp cụ thể. Nói  
2.2. Dạy học nội dung và dạy học phát triển năng lực  
Theo cách giới thuyết về PPDH nêu trên thì DH theo cách khác, nếu xuất phát từ một quan điểm và cách tiếp cận  
chương trình nội dung và DH theo chương trình phát triển khác thì các phương pháp của giảng văn vẫn có thể phát huy  
năng lực là hai quan điểm DH, không phải là phương pháp. được nếu biết vận dụng một cách hợp lí.  
Số 03, tháng 03/2018  
21  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Như bản thân tên gọi “giảng văn”, các phương pháp này sách giáo khoa Ngữ văn đã chuyển sang dạy đọc hiểu văn  
chủ yếu nói tới công việc của người GV, thầy đọc diễn cảm, bản từ sau năm 2000 nhưng cách dạy theo nội dung vẫn là  
thầy so sánh, phân tích, thầy nêu vấn đề rồi thầy giải quyết vấn chủ yếu, cách soạn giáo án nội dung vẫn là phổ biến.  
đề luôn; thầy gợi mở, thầy giảng bình cho HS nghe...Vì thời gian  
DH Ngữ văn phát triển năng lực đòi hỏi người GV phải  
không có nhiều, văn bản tác phẩm lại dài, ngoài ra còn phải tích biết tổ chức hoạt động trong giờ học để HS làm việc, trao  
hợp giáo dục nhiều nội dung khác... do đó chủ yếu là thầy nói đổi, tranh luận để tự rút ra kết luận về các kiến thức và nội dung  
và đọc cho trò chép, như thế mới đủ thời gian, mới không “cháy vấn đề. Cái hay cái đẹp của văn bản - tác phẩm được khám phá,  
giáo án” và quan trọng là mới đáp ứng được yêu cầu của các kì tìm ra bởi chính người học, theo quan niệm, trình độ và tâm lí,  
thi theo lối học thuộc lòng, đếm ý...  
tình cảm, nhận thức của chính các em. Cũng nhờ thông qua hoạt  
Phương pháp giảng văn cũng có ưu điểm, nhất là với động, qua làm mà HS hiểu và nhớ lâu hơn, đồng thời các em  
những thầy, cô giáo giỏi, giảng văn hay dễ làm HS say mê, được hình thành phương pháp, biết cách tìm hiểu một vấn đề,  
yêu thích văn chương; nhiều thầy cô giáo dạy rất hấp dẫn, cách tiếp cận, phân tích, đánh giá một văn bản, tác phẩm có cơ  
HS như bị thôi miên... Tuy nhiên như đã nêu, nếu nhìn từ góc sở, đúng nguyên tắc tiếp nhận nghệ thuật.  
độ phát huy tính chủ thể, tích cực của người học, đặc biệt lấy  
DH Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực phải thông  
yêu cầu hình thành cách học, phương pháp học để phát triển qua các nội dung cụ thể, xuất phát từ các văn bản cụ thể.  
năng lực tự học thì giảng văn có nhiều hạn chế, nhất là khi Không thể hình thành và phát triển kĩ năng đọc văn bản nếu  
HS ít được thực hành, tương tác, ít được yêu cầu vận dụng. không thông qua việc hướng dẫn đọc các văn bản, tác phẩm  
Đây chính là điểm hạn chế mà DH phát triển năng lực hướng văn học cụ thể. Cũng không thể phát triển kĩ năng này nếu  
tới khắc phục.  
người học không hiểu, không có những kiến thức về ngôn  
Để hình thành và phát triển năng lực, DH Ngữ văn cần xuất ngữ học (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp...) cũng như không  
phát từ người học. Trước hết, GV cần tìm hiểu xem người có những kiến thức về văn học (như kiến thức về thể loại  
học đã và có thể biết gì về những nội dung sắp học. Tiếp đến văn học, về các thành tố cấu trúc nên tác phẩm văn học, về  
cần trả lời câu hỏi, dạy nội dung này cho người học để làm nhà văn - người viết và quá trình sáng tạo nghệ thuật, kiến  
gì? Nhằm giúp HS có được kĩ năng gì để sống tốt hơn (kĩ thức về lịch sử văn học...). Nghĩa là muốn có năng lực phải  
năng đọc, kĩ năng viết, kĩ năng nghe - nói; kĩ năng suy nghĩ, có kiến thức, phải nắm được nội dung; chỉ khác ở chỗ, tất  
diễn đạt, trình bày...). Tiếp nữa là cần trả lời câu hỏi: Để HS cả các kiến thức về ngôn ngữ, văn học vừa nêu cần và chỉ  
có các kĩ năng ấy cần dạy như thế nào? Năng lực là phải vận cần khi giúp cho người học hiểu văn bản sâu hơn, có cơ sở  
dụng được, làm được nên phải để người học tự thực hành, tự hơn. Cũng có nghĩa là những kiến thức này chỉ là phương  
làm theo nguyên tắc mà người ta thường nói: “Tôi nghe tôi tiện chứ không phải là cái đích cuối cùng. Đích cuối cùng  
quên, tôi nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu”.  
của việc học đọc là hiểu văn bản và hiểu chính mình, là biết  
Điểm khác biệt lớn nhất giữa PPDH phát triển năng lực so cách đọc, phương pháp đọc các kiểu văn bản và các thể loại  
với PPDH theo nội dung là một bên tổ chức cho HS từ làm, văn học.  
thực hành mà rút ra những kết luận và có được hiểu biết, tri  
Theo định hướng nêu trên, yêu cầu đọc hiểu một bài thơ  
thức (DH phát triển năng lực); còn một bên là nói hộ, giảng cần giúp HS trả lời được hàng loạt câu hỏi như: 1/Bài thơ  
giải cho HS nghe và nhìn là chính (DH nội dung). Kết quả viết về con người/sự việc/sự vật nào?; 2/Thông qua đó bài  
là với DH phát triển năng lực, HS vừa biết, vừa làm được, thơ muốn gửi gắm điều gì/ thông điệp sâu kín nào?; 3/ Nội  
vận dụng được... còn DH theo nội dung, HS có thể biết nhiều dung thông điệp ấy được nhà thơ thể hiện bằng hình thức  
nhưng quên cũng nhanh và không làm được hoặc thực hành nào độc đáo (thể thơ, âm hưởng, ngắt nhịp, từ ngữ, hình  
rất lúng túng. DH nội dung chủ yếu hướng tới biết gì (cái) ảnh, tu từ...); 4/ Tình cảm, cảm xúc của người viết (nhà thơ)  
còn DH phát triển năng lực không chỉ hướng tới biết gì mà ở bài thơ này là gì? Được thể hiện như thế nào? Có ý nghĩa  
còn làm thế nào để biết được (cách).  
gì?; 5/ Bài thơ có tác động gì tới tâm hồn, tình cảm, suy  
Với môn Ngữ văn, trong giờ giảng văn, DH theo hướng nghĩ, hành vi và lối sống của người đọc?; 6/ Muốn hiểu và  
nội dung chủ yếu là thầy cô giảng giải cái hay, cái đẹp của đánh giá được giá trị của bài thơ thì nên bắt đầu từ đâu và  
bài văn, bài thơ đó cho HS nghe, đọc cho HS chép lại những cần chú ý những gì?  
cảm xúc và suy nghĩ của chính thầy cô về áng văn ấy. Nếu  
Các câu hỏi trên thực chất là hình thành cách đọc thơ, câu  
có hỏi đáp (đàm thoại) thì chỉ là để làm rõ nội dung câu hỏi a yêu cầu hiểu nội dung tường minh (nghĩa đen) của văn  
mà thầy cô đã nghĩ, đã định ra từ trước khi lên lớp. Chính vì bản; câu b yêu cầu hiểu nội dung hàm ẩn, khuất lấp không  
vậy, giáo án của các thầy cô trong giảng văn chủ yếu là giáo nói rõ trên văn bản; câu c yêu cầu hiểu, phân tích và đánh  
án nội dung. Giáo án nội dung là giáo án chủ yếu nêu lên giá về hình thức văn bản; câu d yêu cầu chỉ ra và phân tích  
các nội dung của tác phẩm, nội dung kiến thức đã được thầy chủ thể người viết, cái tôi trữ tình vốn là đặc trưng của thơ;  
cô chuẩn bị ở nhà, nội dung hiểu theo ý của thầy cô và ý của câu e yêu cầu nêu và phân tích tác động của văn bản đối với  
các nhà nghiên cứu, phê bình không phải nội dung xuất phát người đọc (giá trị giáo dục phẩm chất, tác dụng thanh lọc  
từ nhu cầu hiểu biết của người học. Mặc dù chương trình và tâm hồn, tình cảm và cũng là làm sáng lên giá trị của thơ  
22 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
Đỗ Ngọc Thống  
ca); câu g nhấn mạnh yêu cầu hình thành cách đọc, phương cho các em trao đổi, tranh luận để tìm ra câu trả lời hợp lí  
pháp đọc thơ.  
của các em. Qua nhiều giờ hướng dẫn đọc hiểu, GV sẽ hình  
thành và phát triển cho HS năng lực tiếp nhận văn bản – tác  
phẩm văn học đúng hướng và có hiệu quả. Đặc biệt, dần  
3. Kết luận  
Nhiệm vụ của GV là biết đặt ra các tình huống, nêu lên dần các em sẽ biết tự đọc, tự xử lí, tự tiếp nhận được các  
các vấn đề để HS tìm hiểu (cá nhân hoặc nhóm), tổ chức bài thơ tương tự.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Phan Trọng Luận, (2004), Phương pháp dạy học văn - tập 1, NXB Đại  
học Sư phạm Hà Nội,  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Dự thảo Chương trình giáo dục phổ  
thông môn Ngữ văn.  
[3] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hoàng Hòa Bình (chủ biên),  
(2014), Dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt  
Nam, Hà Nội.  
[4] Đỗ Ngọc ống, (2011), Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông  
theo hướng tiếp cận năng lực, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 68.  
[5] Đỗ Ngọc ống, (2017), Vấn đề tiếp nhận và giải mã văn bản văn  
học trong chương trình Ngữ văn mới, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số  
139.  
[6] Đỗ Ngọc ống, (2017), Định hướng đổi mới chương trình môn Ngữ  
Văn, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 143, tháng 8, tr.1.  
LITERATURE TEACHING TOWARDS THE REQUIREMENT OF  
COMPETENCY DEVELOPMENT  
Do Ngoc Thong  
The article focuses on clarifying and unifying the understanding of teaching  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam  
Email: thongdong[email protected]  
methods, then differing features between content-based teaching and towards  
competency development. Also in the article, the author analyzes the understanding  
of teaching methods, the difference between content-based teaching and towards  
competency development. The author thought that teaching methods were the ways  
teachers work in teaching; determined the model of the teacher's activity to help the  
student master the subject and achieve the goal of the lessons. In Literature teaching  
towardscontents,teachersmainlyexplainedthebeautyoftexts, poems,readforstudents  
to write down their own feelings and thoughts about that texts. Competency-developed  
teaching requires teachers to organize activities during school hours for students to  
work, discuss, and debate, thereby drawing conclusions about their knowledge and  
content. The beauty of the text - the work was explored by learners themselves, towards  
student's perception, level and psychology, emotion, and perception.  
Teaching methods; Literature subject; competency-development.  
Số 03, tháng 03/2018  
23  
pdf 4 trang baolam 21580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphuong_phap_day_hoc_ngu_van_theo_yeu_cau_phat_trien_nang_luc.pdf