Tài liệu Tăng cường bảo mật cho mạng IP

Tăng cường bảo mật cho mạng IP  
Nội dung chính  
Tăng cường bảo mật cho mạng IP  
Tìm hiểu cách tiếp cận của Cisco với vấn đề bảo mật mạng  
Điều khiển truy cập tới Cisco Routers  
Truy cập Console  
Password cho chế độ nonprivileged ( bình thường )  
Password cho chế độ privileged ( đặc quyền )  
Giới hạn thời gian phiên làm việc  
Mã hóa password  
Truy cập Telnet  
Password cho chế độ nonprivileged  
Password cho chế độ privileged  
Hạn chế truy cập Telnet với những địa chỉ IP cụ thể  
Hạn chê truy cập Telnet với những sản phẩm của Cisco thông qua các cổng TCP  
Terminal Access Controller Access Control System (TACACS)  
Chế độ nonprivileged  
Chế độ privileged  
Simple Network Management Protocol ( SNMP)  
Chế độ nonprivileged  
Chế độ privileged  
Thiết lập kiến trúc cho một firewall  
Điều khiển lưu thông trong mạng  
Cấu hình cho một Firewall Router  
Lập danh sách truy cập  
Áp dụng danh sách truy cập với các interface  
Cấu hình cho một Firewall Communication Server  
Lập danh sách truy cập  
Áp dụng danh sách truy cập với các interface  
Sử dụng banner tạo các thông báo  
Bảo vệ những dịch vụ ngoài chuẩn khác  
Tổng kết  
Danh sách tài liệu nên đọc  
*********************************************  
Tăng cường Bảo mật cho mạng IP  
Bảo mật mạng là một vấn đề rất rộng, có thể được xem xét ở mức dữ liệu (nơi mà  
những vấn đề về trộm gói tin và mã hóa dữ liệu có thể xảy ra), ở mức giao thức,  
và ở mức ứng dụng. Ngày càng có nhiều người kết nối Internet và các công ty  
ngày càng mở rộng mạng, vấn đề bảo mật cho mạng nội bộ trở nên khó khăn hơn.  
Công ty phải xác định khu vực nào của mạng nội bộ cần bảo vệ, tìm cách hạn chế  
người dùng truy cập tới những khu vực đó, xác định loại dịch vụ mạng nào cần  
sàng lọc để ngăn chặn những lỗ hổng bảo mật. Cisco Systems cung cấp rất nhiều  
tính năng ở tầng giao thức (protocol hay network layer) để  
tăng cường bảo mật cho mạng IP. Những tính năng này bao gồm điều khiển hạn  
chế truy cập  
tới routers và servers bằng console port, Telnet, Simple Network Management  
Protocol (SNMP),  
Terminal Access Control System (TACACS), thẻ chứa mã người dùng và danh sách  
truy cập  
Việc thiết lập kiến trúc của một firewal cũng sẽ được nói tới. Bài viết này chỉ nói  
đến những vấn đề  
bảo mật ở mức network-layer, nhưng nếu bỏ qua những vấn đề bảo mật ở mức  
host-level cũng  
sẽ rất nguy hiểm. Về những biện pháp bảo mật ở host-level bạn hãy xem hướng  
dẫn về các ứng dụng  
của bạn, và danh sách liệt kê ở cuối bài viết này.  
Tìm hiểu cách tiếp cận của Cisco với vấn đề bảo mật mạng  
Khi người ta nói tới bảo mật, họ muốn chắc chắn rằng người dùng chỉ thực hiện  
được những việc  
được cho phép, chỉ nhận được những thông tin được cho phép, và không thể gây  
ra hư hại với dữ  
liệu, ứng dụng hay hệ điều hành của hệ thống  
Từ bảo mật còn bao hàm nghĩa bảo vệ khỏi những tấn công ác ý từ bên ngoài.  
Bảo mật cũng liên  
quan đến điều khiển hiệu ứng của các lỗi và sự cố thiết bị. Những gì có thể bảo vệ  
chống lại những  
tấn công được tính toán kỹ lưỡng thì cũng ngăn chặn được những rủi ro ngẫu  
nhiên. Bài viết này  
cung cấp những việc mà bạn có thể làm để tăng cường bảo mật cho mạng của bạn.  
Trước khi đi  
vào chi tiết, sẽ rất có ích nếu bạn hiểu những khái niệm cơ bản không thể thiếu  
với bất cứ hệ thống nào  
(*) Biết rõ kẻ thù  
Ở đây muốn nói tới những kẻ tấn công. Hãy tìm hiểu xem ai muốn vượt qua các  
biện pháp bảo  
mật của bạn, xác định động lực thúc đẩy họ. Xác định họ muốn làm gì và những  
hư hại họ có thể gây ra  
cho hệ thống của bạn.  
Các biện pháp bảo mật không thể ngăn chặn tuyệt đối các hành động không được  
phép, mà chỉ khiến  
việc đó trở nên khó khăn hơn. Mục tiêu là khiến sự bảo mật của mạng vượt qua  
khả năng hay động lực  
thúc đẩy kẻ tấn công.  
(*) Tính toán chi phí  
Các biện pháp bảo mật hầu hết đều làm giảm đi sụ tiện lợi. Bảo mật có thể khiến  
công việc đình trệ và tạo  
thêm chi phí đào tạo và quản trị. Nó có thể đòi hỏi nhiều tài nguyên quan trọng  
cũng như những phần cứng  
chuyên dụng.  
Khi thiết kế các biện pháp bảo mật, bạn cần hiểu được chi phí của chúng, so sánh  
với lợi ích có thể có. Để  
làm được như vậy bạn phải hiểu chi phí cho bản thân các biện pháp và chi phí cho  
những lỗ hổng bảo mật có  
thể có.  
(*) Những giả định của bạn  
Mỗi hệ thống bảo mật đều có những giả định của nó. Ví dụ, bạn có thể giả sử rằng  
kẻ tấn công biết ít hơn  
bạn, rằng họ dùng những phần mềm tiêu chuẩn. Hãy kiểm tra và đánh giá cẩn  
thận các giả định của bạn.  
Mỗi giả định chưa được xem xét sẽ là một lỗ hổng bảo mật tiềm ẩn.  
(*) Điều khiển các thông tin bí mật  
Hầu hết bảo mật là dựa trên các thông tin bí mật, chẳng hạn như password và các  
khóa mã hóa.  
Điều quan trọng nhất là hiểu được khu vực bạn cần bảo vệ. Những kiến thức nào  
sẽ giúp ai đó vượt qua  
hệ thống của bạn ? Bạn phải bảo vệ cẩn thận với kiến thức đó. Càng nhiều thông  
tin bí mật, càng  
khăn cho việc bảo vệ tất cả chúng. Hệ thống bảo mật chỉ nên thiết kế cho một giới  
hạn nhất định thông  
tin cần giữ.  
(*) Hãy nhớ đến yếu tố con người  
Rất nhiều phương pháp bảo mật thất bại vì những người thiết kế không để ý đến  
việc người dùng  
nghĩ gì. Ví dụ, do chúng rất khó nhớ, password tạo 1 cách tự động thường thấy  
được ghi ở mặt dưới  
bàn phím.Nếu các biện pháp bảo mật gây trở ngại cho việc sử dụng thiết yếu của  
hệ thống, những biện  
pháp đó sẽ bị bỏ qua. Để đạt được ý muốn, bạn phải chắc chắn rằng người dùng  
có thể hoàn thành  
công việc của họ, bạn phải làm cho họ hiểu được và chấp nhận sự cần thiết của  
bảo mật.  
Người dùng nên có một sự hợp tác với hệ thống bảo mật, ít nhất ở mức độ nào  
đó.Password,  
chẳng hạn, có thể nhận được bằng cách đơn giản gọi điên đến người dùng, giả làm  
người quản  
trị. Nếu người dùng của bạn hiểu những vấn đề bảo mật và nếu họ hiểu lý do  
những biện pháp của  
bạn, họ sẽ không khiến cho kẻ xâm nhập cảm thấy dễ dàng.  
Ít nhất, người dùng nên được hướng dẫn không bao giờ đưa password hay thông  
tin bí mật qua  
đường điện thoại hay email không được bảo vệ, cảnh giác với những câu hỏi qua  
điện thoại. Một vài  
công ty đã lập ra những chương trình đào tạo về bảo mật thông thường cho nhân  
viên, nhân viên không  
được truy cập Internet khi chưa hoàn thành chương trình này.  
(*) Biết điểm yếu của bạn  
Mọi hệ thống đều có điểm yếu. Bạn cần hiểu các điểm yếu trong hệ thống của bạn  
và cách khai thác  
những điểm yếu đó. Bạn cũng nên biết khu vực có nguy cơ cao nhất và ngăn chặn  
sự truy cập đến đó.  
Hiểu được những điểm yếu là bước đầu tiên đưa chúng thành những khu vực an  
toàn.  
(*) Giới hạn phạm vi truy cập  
Bạn nên đặt những giới hạn thích hợp trong hệ thống sao cho nếu kẻ xâm nhập có  
thể truy cập đến  
một phần hệ thống, họ không thể tự động có quyền truy cập đến phần còn lại của  
hệ thống.  
(*) Hiểu môi trường làm việc của bạn  
Hiểu hệ thông của bạn hoạt động ra sao, biết được cái gì được mong đợi và cái gì  
không, quen với  
việc các thiết bị thường được sử dụng thế nào, sẽ giúp bạn phát hiện những vấn  
đề bảo mật. Chú ý  
đến những sự kiện không bình thường giúp bạn phát hiện kẻ xâm nhập trước khi  
chúng phá hoại hệ  
thống. Những công cụ giám sát có thể giúp bạn phát hiện những sự kiện không  
bình thường đó.  
(*) Giới hạn sự tin tưởng  
Bạn nên biết chính xác bạn phần mềm nào bạn tin tưởng, và hệ thống bảo mật  
của bạn không nên  
dựa trên giả định rằng tất cả các phần mềm không có lỗi  
(*) Nhớ đến physical security  
Truy cập một cách trực tiếp vào 1 máy tính ( hay một router ), một người kinh  
nghiệm có thể chiếm  
toàn bộ điều khiển trên đó.Sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu cài đặt những phần mềm  
bảo mật khi quyền  
sử dụng trực tiếp phần cứng không được quan tâm.  
(*) Bảo mật ở khắp nơi  
Hầu hết những thay đổi trong hệ thống của bạn có thể có ảnh hưởng đến bảo mật.  
Điều này đặc biệt  
đúng khi một dịch vụ mới được tạo ra. Những nhà quản trị, lập trình, và người  
dùng phải luôn để ý đến  
vấn đề bảo mật trong mỗi thay đổi họ tạo ra. Hiểu được khía cạnh bảo mật của  
mỗi thay đổi đòi hỏi  
thực hành, khám phá mỗi dịch vụ có thể được sử dụng theo những cách nào.  
Điều khiển truy cập tới Cisco Routers  
Việc điều khiển truy cập tới Cisco routers của bạn là rất quan trọng. Bạn có thể  
điều khiển truy cập tới  
routers sử dụng các phương pháp sau :  
- Truy cập console  
- Truy cập telnet  
- Truy cập bằng Simple Network Management Protocol (SNMP)  
- Điều khiển truy cập tới servers có những file cấu hình hệ thống  
Bạn có thể bảo vệ 3 phương pháp đầu tiên bằng cách sử dụng tính năng của phần  
mềm router. Với mỗi  
phương pháp, bạn có thể cho phép privileged access (truy cập với đặc quyền ) hay  
nonprivileged access  
(truy cập thông thường) đối với mỗi người dùng (hay nhóm người dùng).  
Nonprivileged access cho phép  
người dùng theo dõi router nhưng không được thay đổi router. Privileged access  
cho người dùng toàn  
quyền thay đổi cấu hìnhcho router. Với truy cập qua console port và Telnet, bạn có  
thể thiết lập 2 loại  
password. Loại thứ nhất là password đăng nhập, cho phép nonprivileged access.  
Sau khi truy cập vào router,  
người dùng có thể chuyển sang chế độ privileged bằng cách nhập password phù  
hợp. Ở chế độ privileged  
người dùng có toàn quyền thay đổi thiết lập  
Truy cập SNMP cho phép bạn đặt những chuỗi SNMP khác nhau cho cả  
nonprivileged và privileged access.  
Nonprivileged access cho phép người dùng ở 1 host gửi đến router những thông  
điệp SNMP get-request  
và SNMP get-next-request. Những thông điệp này được dùng để lấy thông tin từ  
router. Privileged access  
cho phép người dùng gửi những thông điệp SNMP set-request để thay đổi cấu  
hìnhvà trạng thái hoạt động  
của router.  
Truy cập Console  
Console là thiết bị đầu cuối gắn trực tiếp với router qua cổng console. Việc bảo  
mật được áp dụng với  
console bằng cách buộc người dùng xác nhận bản thân qua password. Theo mặc  
định, không có password  
đi kèm với console access.  
Password cho chế độ nonprivileged  
Bạn thiết lập password cho chế độ nonprivileged bằng cách đánh dòng lệnh sau  
vào file cấu hìnhcủa router.  
Password phân biệt chữ hoa, chữ thường. Ở ví dụ, password là "1forAll"  
line console 0  
login  
password 1forAll  
Khi bạn đăng nhập vào router, sẽ nhận được thông báo login như sau  
User Access Verification  
Password:  
Bạn phải nhập password "1forAll" để có quyền nonprivileged access đến router.  
Router sẽ trả lời như sau :  
router>Dấu nhắc > báo hiệu đây là chế độ nonprivileged. Bây giờ bạn có thể dùng  
rất nhiều lệnh để xem thông tin  
về hoạt động của router. Không bao giờ dùng "cisco", hay những biến thể khác  
như "pancho" cho password  
của Cisco router. Đó sẽ là những password đầu tiên kẻ xâm nhập thử khi họ nhìn  
thấy dấu đăng nhập Cisco.  
Password cho chế độ privileged  
Thiết lập password cho chế độ privileged bằng cách đưa dòng lệnh sau vào file cấu  
hìnhcủa router. Trong ví  
dụ này password là "san-tran".  
enable-password san-fran  
Để truy cập chế độ privileged, đánh lệnh sau:  
router> enable  
Password:  
Gõ password "san-fran" để được privileged access tới router. Router trả lời như  
sau :  
router#  
Dấu nhắc # báo hiệu chế độ privileged. Ở chế độ privileged, bạn có thể đánh tất  
cả các lệnh để xem thông  
tin và cấu hìnhcho router.  
Giới hạn thời gian phiên làm việc  
Đặt password đăng nhập và password enable có thể chưa đủ an toàn trong 1 số  
trường hợp. Giới hạn thời gian cho  
một console không được điều khiển ( mặc định 10 phút ) cung cấp thêm một biện  
pháp an toàn.Bạn có thể  
thay đổi giới hạn này bằng lệnh exec-timeout mm ss trong đó mm là số phút, ss là  
số giây. Lệnh sau thay  
đổi giới hạn thành 1 phut 30 giây  
line console 0  
exec-timeout 1 30  
Mã hóa password  
Tất cả password trên router đều có thể xem được bằng lệnh xem cấu hìnhcủa  
router trong chế độ privileged.  
Nếu bạn có quyền truy cập ở chế độ privileged , bạn có thể xem tất cả password ở  
dạng cleartext, theo mặc  
định. Có một cách để giấu cleartext password. Lệnh password-encryption lưu các  
password dưới dạng mã  
hóa.Tuy nhiên, nếu bạn quên password, để lấy lại quyền truy cập, bạn phải có  
quyền truy cập trực tiếp (physical access) đối với router.  
Truy cập bằng Telnet  
Bạn có thể truy cập theo chế độ nonprivileged hoặc privileged tới router thông qua  
Telnet. Giống như với  
Console, sự bảo mật với Telnet có được khi người dùng xác nhận bản thân bằng  
password. Thực tế,  
rất nhiều khái niệm tương tự mô tả ở phần "Console Access" ở trên cũng áp dụng  
cho truy cập Telnet.  
Bạn phải nhập password để chuyển từ chế độ nonprivileged sang privileged, có thể  
mã hóa password, đặt  
giới hạn thời gian cho phiên làm việc.  
Password cho chế độ nonprivileged  
Mỗi cổng Telnet của router được coi như một thiệt bị đầu cuối "ảo" ( virtual  
terminal ). Có tối đa 5 cổng  
dành cho virtual terminal (VTY) trên router , cho phép 5 phiên làm việc Telnet  
đồng thời. Trên router, các  
này đánh số từ 0 đến 4. Bạn có thể đặt nonprivileged password cho các cổng với  
lệnh cấu hình sau.Trong ví  
dụ này, cổng virtual terminal từ 0 đến 4 sử dụng password "marin" :  
line vty 0 4  
login  
password marin  
Khi người dùng telnet đến IP của router, router trả lời tương tự như sau :  
% telnet router  
Trying ...  
Connected to router  
Escape character is '^]'  
User Access Verification  
Password:  
Nếu người dùng nhập đúng nonprivileged password, dấu nhắc sau sẽ xuất hiện:  
router>  
Password cho chế độ privileged  
Bây giờ người dùng đã có nonprivileged access và có thể chuyển sang chế độ  
privileged bằng cách gõ  
lệnh enable giống như đối với Console Access.  
Hạn chế truy cập Telnet đối với những địa chỉ IP cụ thể  
Nếu bạn muốn chỉ những IP nhất định có thể dùng Telnet truy cập router, bạn  
phải dùng lệnh access-class nn in  
để xác định danh sách truy cập (từ 1 đến 99). Lệnh cấu hình sau cho phép truy  
cập Telnet đến router từ các host  
trong mạng 192.85.55.0:  
access-list 12 permit 192.85.55.0 0.0.0.255  
line vty 0 4  
access-class 12 in  
Hạn chế truy cập Telnet đối với các sản phẩm Cisco thông qua cổng TCP  
Có thể truy cập tới 1 sản phẩm của Cisco thông qua Telnet đến những cổng TCP  
nhất định. Kiểu truy cập  
Telnet thay đổi tùy theo những phiên bản phần mềm Cisco:  
- Software Release 9.1 (11.4) và cũ hơn, 9.21 (3.1) và cũ hơn  
- Software Release 9.1 (11.5) , 9.21 (3.2), 10.0 và mới hơn  
Với Software Release 9.1 (11.4) và cũ hơn, 9.21 (3.1) và cũ hơn, có thể , theo  
mặc định, thiết lập kết nối TCP  
tới sản phẩm của Cisco thông qua các cổng TCP trong Bảng 3-1  
Bảng 3-1 : Cổng TCP truy cập Telnet tới các sản phẩm Cisco ( các phiên bản cũ)  
Cổng TCP Phương thức truy cập  
7 Echo  
9 Discard  
23 Telnet ( tới cổng VTY theo kiểu quay vòng)  
79 Finger  
1993 SNMP thông qua TCP  
2001-2999 Telnet tới cổng hỗ trợ (auxiliary - AUX ), cổng terminal (TTY), và cổng  
virtual terminal (VTY)  
3001-3999 Telnet tới những cổng quay vòng ( chỉ có thể khi đã được cấu hình với  
lệnh rotary )  
4001-4999 Telnet ( stream mode ) , mirror của các cổng trong khoảng 2000  
5001-5999 Telnet ( stream mode), mirror của khoảng 3000 ( chỉ khi đã cấu hình  
rotary)  
6001-6999 Telnet (binary mode), mirror của khoảng 2000  
7001-7999 Telnet (binary mode), mirror của khoảng 300 ( chỉ khi đã cấu hình  
rotary)  
8001-8999 Xremote ( chỉ với communication servers)  
9001-9999 Reverse Xremote ( chỉ với communication servers)  
10001-19999 Reverse Xremote rotary (chỉ với communication servers, khi đã cấu  
hình rotary trước)  
Chú ý : Vì Cisco routers không có đường TTY, thiết lập truy cập ( trên  
communicaiton servers) tới các cổng  
2002,2003,2004 và lớn hơn có thể cung cấp truy cập tới VTY (trên routers) tới các  
cổng tương ứng. Để cung  
cấp truy cập tới các cổng TTY, bạn có thể tạo danh sách truy cập trong đó hạn chế  
truy cập đối với VTYs.  
Khi thiết lập những nhóm quay vòng, luôn nhớ rằng có thể truy cập đến bất cứ  
cổng nào trong nhóm (trừ khi  
có danh sách giới hạn truy cập).  
Sau đây là ví dụ minh họa một danh sách truy cập từ chối truy cập đến cổng hỗ  
trợ (AUX) và chỉ cho phép truy cập  
telnet từ địa chỉ 192.32.6.7 :  
access-class 51 deny 0.0.0.0 255.255.255.255  
access-class 52 permit 192.32.6.7  
line aux 0  
access-class 51 in  
line vty 0 4  
Chú ý : nếu lệnh ip alias được cho phép trên sản phẩm Cisco, mọi kết nối TCP tới  
bất cứ cổng nào cũng được  
coi là hợp lệ. Có thể bạn sẽ muốn vô hiệu hóa lệnh này  
Có thể bạn muốn tạo danh sách truy cập hạn chế truy cập tới sản phẩm Cisco qua  
cổng TCP.  
đến router.  
Với Software Release 9.1 (11.5), 9.21 (3.2), và bất cứ phiên bản nào của Software  
Release 10, những cải tiến  
sau đã được thực hiện :  
- Truy cập trực tiếp đến virtual terminal lines (VTYs) qua cổng trong các khoảng  
2000,4000 và 6000 đã được vô  
hiệu hóa theo mặc định  
- Kết nối tới cổng echo và discard (7 và 9) có thể được vô hiệu hóa với lệnh no  
service tcp-small-servers  
- Tất cả sản phẩm Cisco cho phép kết nối tới IP alias chỉ với cổng 23  
Với những phiên bản sau này, Cisco router chấp nhận kết nối TCP qua các cổng  
mặc định trong Bảng 3-2  
Bảng 3-2 : Cổng TCP cho truy cập Telnet tới các sản phẩm Cisco ( những phiên  
bản sau )  
Cổng TCP Phương thức truy cập  
7 Echo  
9 Discard  
23 Telnet  
79 Finger  
1993 Cổng hỗ trợ (AUX)  
4001 Cổng AUX (stream)  
6001 Cổng AUX (binary)  
Truy cập qua cổng 23 có thể bị hạn chế bằng cách tạo danh sách truy cập và gán  
nó cho một đường virtual terminal.  
Truy cập qua cổng 79 có thể vô hiệu hóa bằng lệnh no service finger. Truy cập  
qua cổng 1993 có thể được kiểm  
soát bằng danh sách truy cập SNMP. Truy cập qua cổng 2001,4001 và 6001 có thể  
được kiểm soát bằng 1 danh  
sách truy cập đặt ở 1 cổng hỗ trợ (AUX)  
Terminal Access Conroller Access Control System ( TACACS)  
Password chế độ nonprivileged và privileged được áp dụng cho mỗi người dùng  
truy cập router từ console port hay  
Telnet. Ngoài ra, Terminal Access Controller Access Control System (TACACS)  
cung cấp 1 cách xác nhận mỗi  
người dùng dựa trên từng cơ sở riêng biệt trước khi họ có thể có quyền truy cập  
vào router hay communication  
server. TACACS được xây dựng ở Bộ quốc phòng mỹ và được mô tả trong Request  
For Comments (RFC) 1492.  
TACACS được Cisco sử dụng để cho phép quản lý tốt hơn, xem ai có quyền truy  
cập tới router trong chế độ  
nonprivileged và privileged .  
Với TACACS enabled, router nhắc người dùng nhập username và password. Sau đó,  
router gọi TACACS server để  
xác định password có đúng không. Một TACACS server thường chạy trên một trạm  
làm việc UNIX. Domain TACACS  
servers có thể nhận được thông qua anonymous ftp đến ftp.cisco.com trong thư  
mục /pub. Sử dụng /pub/README  
để tim tên file. Một server hỗ trợ TACACS đầy đủ có kèm trong CiscoWorks Version  
3.  
Lệnh cấu hình tacacs-server host xác định UNIX host chạy một TACACS server sẽ  
xác nhận lại yêu cầu gửi từ routers.  
Bạn có thể đánh lệnh tacacs-server host nhiều lần để chỉ ra nhiều TACACS server  
cho một router.  
Nonprivileged Access  
Nếu tất cả server đều không sẵn sàng, bạn có thể bị khóa đối với router. Lúc này,  
lệnh cấu hình tacacs-server  
last resort [password | succeed] cho phép bạn xác định xem có cho người dùng  
đăng nhập không cần password  
( từ khóa succeed) hay buộc người dùng cung cấp password chuẩn ( từ khóa  
password)  
Các lệnh sau chỉ ra một TACACS server và cho phép đăng nhập nếu server gặp sự  
cố:  
tacacs-server host 129.140.1.1  
tacacs-server last-resort succeed  
Buộc người dùng truy cập qua Telnet xác nhận bản thân qua lệnh cấu hìnhsau :  
line vty 0 4  
login tacacs  
Privileged Access (truy cập với đặc quyền)  
Phương pháp kiểm tra password này cũng có thể áp dụng với chế độ privileged  
dùng lệnh enable use-tacacs.  
Nếu tất cả server đều không sẵn sàng tiếp nhận, lệnh cấu hìnhenable last-resort  
[succeed | password] cho biết  
có để người dùng đăng nhập không cần password hay không. Nếu bạn dùng lệnh  
enable use-tacacs, bạn cũng  
phải dùng lệnh tacacs-server authenticate enable. Lệnh tacacs-server extended  
cho phép thiết bị Cisco chạy  
chế độ TACACS mở rộng. Hệ thống UNIX phải chạy extended TACACS daemon, có  
thể nhận được bằng anonymous  
ftp tới ftp.cisco.com, tên file là xtacacsd.shar. Daemon này cho phép  
communication servers và những thiết bị  
khác giao tiếp với hệ thống UNIX và cập nhật thông tin mà thiết bị đó gửi.  
Lệnh username <user> password [0 | 7] <password> cho phép bạn lưu một danh  
sách user và password trong  
thiết bị Cisco thay vì trên một TACACS server. Số 0 lưu password dạng cleartext  
trong file cấu hình. Số 7 lưu  
ở dạng mã hóa. Nếu bạn không có một TACACS server và vẫn muốn xác định từng  
user bạn có thể dùng những  
lệnh cấu hìnhsau :  
username steve password 7 steve-pass  
username allan password 7 allan-pass  
Token Card Access ( truy cập bằng thẻ )  
Sử dụng TACACS cho routers và communication server, có thể hỗ trợ các loại key  
devices , hay token card.  
Mã của TACACS server có thể thay đổi để hỗ trợ việc này mà không cần thay đổi  
cấu hình của router hay  
communication server. Sự thay đổi này không thể trực tiếp từ Cisco  
Hệ thống token card dựa trên một tấm thẻ bạn phải có để xác nhận bản thân.  
Bằng cách móc nối ( hook )  
với mã của TACACS server, các công ty thứ 3 ( third-party) có thể cung cấp những  
dịch vụ này. Một trong  
những sản phẩm như vậy là Enigma Logic SafeWord, ngoài ra còn có Security  
Dynamics SmartCard.  
Simple Network Management Protocol (SNMP) Access  
SNMP là một phương pháp khác dùng truy cập router. Với SNMP, bạn có thể thu  
thập thông tin hay cấu hình  
routers. Thu thập thông tin với thông điệp get-request và get-next-request, cấu  
hình routers với thông điệp  
set-request. Mỗi thông điệp SNMP có một community string ( chuỗi công cộng ! ),  
là 1 password ở dạng cleartext  
được gửi trong mỗi gói tin giữa trung tâm điều khiển( management station ) và  
router, nơi có chứa một SNMP agent.  
Chuỗi SNMP được dùng để xác nhận các thông tin gửi đi giữa manager và agent.  
Chỉ khi manager gửi thông điệp  
với community string đúng thì agent mới trả lời. SNMP agent trên router cho phép  
bạn thiết lập những community  
string cho truy cập ở chế độ nonprivileged và privileged. Bạn có thể thiết lập  
community strings trên router thông qua  
lệnh cấu hình snmp-server community <string> [RO | RW ] [access-list].  
Tuy nhiên, SNMP community strings được gửi ở dạng cleartext. Do đó, bất cứ ai có  
khả năng lấy đựợc 1 gói tin nào  
đó có thể sẽ tìm ra chuỗi này, có thể giả mạo người dùng sửa đổi routers qua  
SNMP. Vì vậy sử dụng lệnh no snmp-server  
trap-authentication có thể ngăn chặn những kẻ xâm nhập bắt các thông điệp (gửi  
giữa SNMP managers và agents)  
để tìm community strings.  
Người ta đã cải tiến bảo mật của SNMP version 2 (SNMPv2) , được mô tả trong  
RFC 1446. SNMPv2 dùng thuật  
toán MD5 để xác nhận giao tiếp giữa server và agent. MD5 xác nhận tính tương  
thích của dữ liệu, nguồn gốc cũng  
như thời gian. Hơn nữa SNMPv2 có thể dùng chuẩn mã hóa dữ liệu DES để mã hóa  
thông tin.  
Chế độ nonprivileged  
Dùng từ khóa RO của lệnh snmp-server community để cung cấp truy cập  
nonprivileged tới routers qua SNMP.  
Lệnh cấu hình sau làm agent trong router chỉ cho phép các thông điệp SNMP get-  
request và get-next-request,  
được gửi đi với community string "public" :  
snmp-server community pubic RO 1  
Bạn có thể chỉ rõ danh sách địa chỉ IP được phép gửi thông điệp tới router bằng  
tùy chọn access-list với lệnh  
snmp-server community. Ở ví dụ sau, chỉ hosts 1.1.1.1 và 2.2.2.2 được phép truy  
cập nonprivileged tới router  
qua SNMP:  
access-list 1 permit 1.1.1.1  
access-list 1 permit 2.2.2.2  
snmp-server community public RO 1  
Chế độ privileged  
Sử dụng từ khóa RW của lệnh snmp-server community để cung cấp truy cập  
privileged tới router qua SNMP.  
Lệnh sau khiến agent trong router chỉ cho phép thông điệp SNMP set-request,  
được gửi với community string  
là "private" :  
snmp-server community private RW 1  
Bạn có thể chỉ rõ danh sách IP được phép gửi thông điệp tới router bằng tùy chọn  
access-list của lệnh snmp-server  
community. Ở ví dụ sau , chỉ có hosts 5.5.5.5 và 6.6.6.6 được phép truy cập  
privileged tới router qua SNMP :  
access-list 1 permit 5.5.5.5  
access-list 1 permit 6.6.6.6  
snmp-server community private RW 1  
Điều khiển việc truy cập đến các Servers chứa các file cấu hình  
Nếu 1 router thường xuyên download file cấu hình từ một server Trivial File  
Transfer Protocol (TFTP) hay Maintenance  
Operations Protocol (MOP), bất cứ ai có thể truy cập server này cũng có thể thay  
đổi file cấu hình của router trên server đó.  
Communication servers có thể đươc cấu hình để chấp nhận một kết nối LAT  
( Local Area Transport).Protocol translator  
và các translating router có thể chấp nhận kết nối X.29. Sự khác biệt về kiểu truy  
cập này cần được chú ý khi tạo  
một kiến trúc firewall.  
Thiết lập kiến trúc firewall của bạn  
Một kiến trúc firewall là 1 mô hình tồn tại giữa bạn và thế giới bên ngoài nhằm bảo  
vệ bạn khỏi những kẻ xâm  
nhập. Trong phần lớn tình huống, những kẻ xâm nhập được đại diện bởi mạng  
Internet và hàng ngàn mạng kết  
nối với nó. Điển hình như một firewall dựa trên nhiều bộ máy khác nhau trong  
hình 3-1  
Hình 3-1 : <không có>  
Trong kiến trúc này, một router được nối với Internet (exterior router), buộc mỗi  
giao tiếp mạng đi vào application gateway (cổng ứng dụng ).  
Một router được nối với mạng nội bộ (interior router) chỉ tiếp nhận những gói tin  
từ cổng ứng dụng.  
Cổng ứng dụng thiết lập policies ( chính sách ) đối với từng người dùng và từng  
ứng dụng. Hệ quả là nó điều  
khiển được sử phân phát của các dịch vụ cả đến và đi từ mạng nội bộ. Ví dụ, chỉ  
một số người dùng được  
phép giao tiếp với Internet, hay chỉ một số ứng dụng được phép thiết lập kết nối  
với bên ngoài. Nếu chỉ 1 ứng  
dụng được phép gửi thư, chỉ những gói thư được đi qua router.  
Điều khiển lưu thông trong mạng  
Phần này sử dụng tình huống minh họa trong hình 3-2 để mô tả việc sử dụng  
danh sách truy cập ngăn chặn lưu  
thông dữ liệu đến và đi từ một firewall router và một firewall communication  
server  
Hình 3-2 : <không có>  
Trong bài viết này firewall router cho phép kết nối "đến" từ 1 hay nhiều server hay  
host. Một router được thiết kế hoạt  
động như 1 firewall là điều ta mong muốn, vì nó định rõ mục đích của router là  
external gateway và tránh làm  
phiền các router khác với nhiệm vụ này. Trong tình huống mạng nội bộ cần được  
cô lập, firewall router sẽ cung  
cấp điểm cô lập mà không ảnh hưởng đến phần còn lại của mạng.  
Cấu hình một Firewall Router  
Trong cấu hình của firewall router dưới đây, subnet 13 của Class B là firewall  
subnet, trong khi đó subnet 14 cung  
cấp kết nối Internet qua một nhà cung cấp dịch vụ :  
interface ethernet 0  
ip address B.B.13.1 255.255.255.0  
interface serial 0  
ip address B.B.14.1 255.255.255.0  
router igrp  
network B.B.0.0  
Cấu hình đơn giản này không có sự bảo mật và cho phép tất cả mọi lưu thông từ  
thế giới bên ngoài đến mạng. Để  
có sự bảo mật với firewall router, sử dụng danh sách truy cập và nhóm truy cập  
như mô tả dưới đây.  
Xác định danh sách truy cập  
Danh sách truy cập xác định những lưu thông thực tế sẽ được cho phép hay từ  
chối, trong khi đó 1 nhóm truy  
cập áp dụng 1 danh sách truy cập nhất định cho 1 interface. Danh sách truy cập  
có thể dùng để từ chối kết nối  
ẩn chứa mối nguy hại về bảo mật và cho phép tất cả các kết nối khác, hoặc cho  
phép những kết nối chấp nhận  
được và từ chối tất cả kết nối còn lại. Đối với một firewall, cách thứ 2 là cách an  
toàn hơn.  
Trong bài viết này, email và news đến được cho phép với 1 số hosts, nhưng FTP,  
Telnet và rlogin chỉ cho phép  
những host nằm trong firewall subnet.Khoảng IP mở rộng (từ 100 đến 199) và các  
số cổng TCP hay UDP được  
dùng để lọc lưu thông .Khi một kết nối sắp được hình thành cho email,Telnet,  
FTP,... nó sẽ cố mở một dịch  
vụ ở một cổng xác định. Do đó bạn có thể lọc những kết nối đó bằng cách từ chối  
các gói tin tìm cách  
sử dụng dịch vụ đó. Về danh sách của những dịch vụ và cổng thường gặp, xem  
phần "Lọc các dịch vụ  
TCP và UDP" ở phần sau.  
Một danh sách truy cập được gọi sau quyết định của router nhưng trước khi gói tin  
được gửi đến 1 interface.  
Chỗ tốt nhất để xác định danh sách truy cập là tạo 1 file chứa các lệnh access-list,  
đặt file đó trong thư mục TFTP  
mặc định và nạp file đó vào router.  
Server chứa file đó fải chạy TFTP daemon và có kết nối TCP đến firewall router.  
Trước khi nạp, mọi xác định  
trước đó của danh sách truy cập này được gỡ bỏ bằng lệnh no access-list 101  
Lệnh access-list có thể được dùng để cho phép các gói tin trả về từ những kết nối  
được thiết lập trước đó. Với  
từ khóa established, sẽ có sự phù hợp nếu gói TCP chứa acknowledgement (ACK)  
hay reset(RST) bits set.  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255  
established  
Nếu firewall routers nào chia sẻ mạng với 1 nhà cung cấp bên ngoài, bạn sẽ muốn  
cho phép truy cập từ các host  
đó tới mạng của bạn. Trong bài viết này, nhà cung cấp bên ngoài có một cổng nối  
tiếp sử dụng firewall router  
Class B địa chỉ (B.B.14.2) là địa chỉ nguồn như sau :  
access-list 101 permit ip B.B.14.2 0.0.0.0 0.0.0.0 255.255.255.255  
Ví dụ sau minh họa cách từ chối lưu thông từ 1 người dùng cố gắng che giấu một  
địa chỉ nội bộ của bạn với  
bên ngoài ( không dùng danh sách truy cập "đầu vào" 9.21 ) :  
access-list 101 deny ip B.B.0.0 0.0.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255  
Lệnh sau cho phép Domain Name System (DNS) và Network Time Protocol (NTP)  
gửi yêu cầu và trả lời :  
access-list 101 permit udp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
53  
access-list 101 permit udp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
123  
Lệnh sau từ chối cổng Network File Server (NFS) User Datagram Protocol (UDP) :  
access-list 101 deny udp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
2049  
Lệnh sau từ chối OpenWindows ở cổng 2001 và 2002, từ chối X11 ở cổng 6001 và  
6002 :  
access-list 101 deny tcp 0.0.0.0 255.255.255.2550.0.0.0 255.255.255.255 eq  
6001  
access-list 101 deny tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
6002  
access-list 101 deny tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
2001  
access-list 101 deny tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255 eq  
2002  
Lệnh sau cho phép Telnet đến communication server (B.B.13.2) :  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.2 0.0.0.0 eq 23  
Lệnh sau cho phép FTP đến host ở subnet 13 :  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 eq 21  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 eq 20  
Ở những ví dụ sau, mạng B.B.1.0 nằm trong mạng nội bộ.Các lệnh sau cho phép  
kết nối TCP và UDP tới các  
cổng lớn hơn 1023 với những host hết sức giới hạn. Nhớ đừng để communication  
servers bộ dịch giao thức  
( protocol translator ) nằm trong danh sách này :  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 gt 1023  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.100 0.0.0.0 gt 1023  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.101 0.0.0.0 gt 1023  
access-list 101 permit udp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 gt 1023  
access-list 101 permit udp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.100 0.0.0.0 gt 1023  
access-list 101 permit udp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.101 0.0.0.0 gt 1023  
Chú ý : chuẩn FTP sử dụng cổng >1023 cho kết nối dữ liệu của nó; do đó, cổng  
>1023 phải đựợc mở. Chi tiết hơn  
đọc phần "Cổng File Transfer Protocol (FTP) " ở phía dưới  
Lệnh sau cho phép DNS truy cập tới DNS server(s) liệt kê bởi Network Information  
Center (NIC) :  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 eq 53  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.100 0.0.0.0 eq 53  
Lệnh sau cho phép SMPT email theo chiều đến với 1 số máy :  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.13.100 0.0.0.0 eq 25  
access-list 101 permit tcp 0.0.0.0 255.255.255.255 B.B.1.100 0.0.0.0 eq 25  
Lệnh sau cho phép news transfer protocol (NNTP) server của mạng nội bộ nhận  
kết nối NNTP từ danh sách cho phép :  
access-list 101 permit tcp 16.1.0.18 0.0.0.1 B.B.1.100 0.0.0.0 eq 119  
access-list 101 permit tcp 128.102.18.32 0.0.0.0 B.B.1.100 0.0.0.0 eq 119  
Lệnh sau cho phép Internet control message protocole (ICMP) cho thông điệp báo  
lỗi :  
access-list 101 permit icmp 0.0.0.0 255.255.255.255 0.0.0.0 255.255.255.255  
Mỗi danh sách truy cập có ẩn câu lệnh "từ chối tất cả những thứ khác" ở cuối danh  
sách để chắc chắn các thuộc tính  
không được đề cập đến sẽ bị từ chối.  
Cổng File Transfer Protocol (FTP)  
Hiện nay nhiều site chặn các phiên làm việc TCP từ ngoài vào nhưng cho phép kết  
nối ra ngoài. Vấn đề ở chỗ chặn kết  
nối từ ngoài vào sẽ ngăn cản những chương trình FTP client truyền thống, vì  
những chương trình này dùng lệnh "PORT"  
cho server biết chỗ để gửi file. Máy khách mở một kết nối "điều khiển" đến server,  
nhưng server sau đó sẽ mở một  
kết nối "dữ liệu" ở một cổng nào đó ( >1023) trên máy khách.  
Rất may , còn có 1 cách khác cho phép máy khác mở một socket "dữ liệu" và cho  
phép bạn có cả firewall và FTP.  
Máy khách gửi 1 lệnh PASV đến server, nhận lại một số hiệu cổng cho socket dữ  
liệu, mở socket dữ liệu trên  
cổng đó và bắt đầu gửi .  
Để thực hiện phương pháp này, chương trình FTP client phải hỗ trợ lệnh PASV. Vấn  
đề duy nhất với phương pháp  
này là nó không thực hiện được nếu server chặn luôn kết nối bất kỳ từ ngoài vào  
Mã nguồn cho 1 chương trình FPT hoạt động được với firewall có thể nhận được  
bằng anonymous FTP tại ftp.cisco.com, file /pub/passive-ftp.tar.Z .Đây là phiên  
bản BSD 4.3 FTP có sửa chữa để hỗ trợ PASV.  
Chú ý : Cẩn thận khi cung cấp dịch vụ anonymous FTP. Rất nhiều FTP server có lỗi  
ở khu vực này.  
Áp dụng danh sách truy cập với các Interfaces  
Sau khi danh sách truy cập được nạp vào router và lưu trên NVRAM, phải gán nó  
cho một interface phù hợp.  
Trong bài viết này, lưu thông đến từ bên ngoài qua cổng nối tiếp 0 được lọc trước  
khi được đặt vào subnet 13  
(ethernet 0). Do đó lệnh access-group , dùng 1 danh sách truy cập lọc các kết nối  
đến, phải được gán cho  
Ethernet 0 như sau :  
interface ethernet 0  
ip access-group 101  
Để điều khiển truy cập Internet từ mạng nội bộ, lập một danh sách truy cập và áp  
dụng nó với gói tin gửi đi trên  
cổng nối tiếp 0 của router. Để làm được vậy, những gói tin gửi về từ các hosts sử  
dụng Telnet hay FTP phải  
được cho phép truy cập đến firewall subnetwork B.B.13.0  
Sàng lọc dịch vụ TCP và UDP  
Vài cổng TCP và UDP thường gặp được liệt kê ở bảng 3-3  
Bảng 3-3 : Một số cổng và dịch vụ TCP và UDP thường gặp  
Dịch vụ Loại cổng Số cổng  
FTP-Data TCP 20  
FTP-Commands TCP 21  
Telnet TCP 23  
SMTP-Email TCP 25  
TACACS UDP 49  
DNS TCP và UDP 53  
TFTP UDP 69  
finger TCP 79  
Sun Remote  
Procedure Call(RPC) UDP 111  
Network News  
Transfer Protocol (NNTP) TCP 119  
Network Time  
Protocol (NTP) TCP và UDP 123  
NeWS TCP 144  
Simple Management  
Network Protocol (SNMP) UDP 161  
SNMP (traps) UDP 162  
Border Gateway  
Protocol (BGP) TCP 179  
rlogin TCP 513  
rexec TCP 514  
talk TCP và UDP 517  
ntalk TCP và UDP 518  
Open Windows TCP và UDP 2000  
Network File System (NFS) UDP 2049  
X11 TCP và UDP 6000  
Lời khuyên của CERT  
Computer Emergency Response Team (CERT) khuyên nên lọc những dịch vụ trong  
bảng 3-4  
Bảng 3-4 : Lời khuyên của CERT với các dịch vụ TCP, UDP và cổng  
Dịch vụ Loại cổng Số cổng  
DNS zone transfers TCP 53  
TFTP daemon (tftpd) UDP 69  
link TCP 87  
Sun RPC TCP và UDP 1111  
NFS UDP 2049  
BSD UNIX các lệnh  
bắt đầu bằng r- TCP từ 512 đến 514  
line printer daemon (lpd) TCP 515  
UNIX-to-UNIX copy  
program daemon (uucpd) TCP 540  
Open Windows TCP và UDP 2000  
X Windows TCP và UDP 6000+  
Phần lớn dịch vụ RPC không có số cổng cố định. Bạn nên tìm những cổng có dịch  
vụ này và chặn lại. Cisco  
khuyên nên chặn tất cả cổng UDP trừ DNS nếu có thể.  
Chú ý : Cisco khuyên bạn nên lọc dịch vụ finger ở cổng 79 để ngăn chặn người  
ngoài tìm hiểu cấu trúc thư  
mục của người dùng và tên của host mà người dùng đăng nhập  
danh sách truy cập "đầu vào"  
Trong Software Release 9.21, Cisco giới thiệu khả năng gán danh sách truy cập  
"đầu vào" cho 1 interface. Điều này cho phép  
người quản trị có thể lọc các gói tin trước khi chúng đi qua router. Trong nhiều  
trường hợp, danh sách truy cập "đầu vào"  
và danh sách truy cập "đầu ra" đạt được những tính năng như nhau; tuy nhiên,  
danh sách truy cập "đầu vào" được ưa thích hơn  
với 1 số người và có thể dùng để ngăn chặn một vài kiểu che giấu địa chỉ trong khi  
danh sách truy cập "đầu ra" sẽ không  
cung cấp đủ độ bảo mật.  
Hình 3-3 minh họa 1 host đang bị đánh lừa. Ai đó ở bên ngoài đang mạo nhận  
rằng đến từ mạng 131.108.17.0.Router interface  
cho rằng gói tin đến từ 131.108.17.0.Để tránh việc này, 1 input access list được  
áp dụng cho router interface đối với bên ngoài.  
Nó sẽ chặn bất cứ gói tin nào từ ngoài vào với địa chỉ nguồn trong mạng nội bộ  
mà router biết (17.0 và 18.0)  
Hình 3-3 : <không có>  
Nếu bạn có nhiều mạng nội bộ nối với firewall router và router đang dùng bộ lọc  
"đầu ra", lưu thông giữa các mạng  
nội bộ sẽ bị ảnh hưởng bởi bộ lọc. Nếu bộ lọc "đầu vào" chỉ được dùng với router  
interface với bên ngoài, mạng  
nội bộ sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể.  
Chú ý : Nếu 1 địa chỉ sử dụng source routing, nó có thể gửi và nhận thông qua  
firewall router. Vì lý do này, bạn  
nên vô hiệu hóa source routing trên router với lệnh no ip source-route  
Cấu hình một Firewall Communication Server  
Trong bài viết này, firewall communication server có 1 modem ở line 2  
interface Ethernet 0  
ip address B.B.13.2 255.255.255.0  
!
access-list 10 deny B.B.14.0 0.0.0.255  
access-list 10 permit B.B.0.0 0.0.255.255  
!
access-list 11 deny B.B.13.2 0.0.0.0  
access-list 11 permit B.B.0.0 0.0.255.255  
!
line 2  
login tacacs  
location FireWallCS#2  
!
access-class 10 in  
access-class 11 out  
!
modem answer-timeout 60  
modem InOut  
telnet transparent  
terminal-type dialup  
flowcontrol hardware  
stopbits 1  
rxspeed 38400  
txspeed 38400  
!
tacacs-server host B.B.1.100  
tacacs-server host B.B.1.101  
tacacs-server extended  
!
line vty 0 15  
login tacacs  
Xác định danh sách truy cập  
Trong ví dụ này, số hiệu mạng được dùng để cho phép hay từ chối truy cập;do đó  
khoảng IP chuẩn được sử dụng  
(từ 1 đến 99 ). Với những kết nối từ bên ngoài đến modem lines, chỉ những gói tin  
từ những host trong mạng nội bộ Class B và những gói tin từ các host trong  
firewall subnetwork được cho phép:  
access-list 10 deny B.B.14.0 0.0.0.255  
access-list 10 permit B.B.0.0 0.0.255.255  
Những kết nối đi chỉ được cho phép đến các hosts trong mạng nội bộ và  
communication server  
access-list 11 deny B.B.13.2 0.0.0.0  
access-list 11 permit B.B.0.0 0.0.255.255  
Áp dụng danh sách truy cập với các đường kết nối  
Áp dụng 1 danh sách truy cập với 1 đường kết nối bằng lệnh access-class. Trong  
bài viết này, sự hạn chế trong  
danh sách truy cập 10 được áp dụng cho các kết nối đến với đường kết nối 2, sự  
hạn chế trong danh sách truy  
cập 11 được áp dụng cho các kết nối đi với đường kết nối 2  
line 2.  
access-class 10 in  
access-class 11 out  
Sử dụng banners để tạo một thông báo  
Ta có thể dùng cấu hình banner exec để tạo ra các thông báo, sẽ được hiện trong  
tất cả các kết nối. Ví dụ,  
trên một communication server, bạn có thể đưa vào thông điệp sau :  
banner exec ^C  
If you have problems with the dial-in lines, please  
send mail to [email protected].  
If you get the message "% Your account is expiring", please send mail with name  
and voicemail box to [email protected], and  
someone will contact you to renew your account.  
Unauthorized use of these resources is prohibited.  
Bảo vệ những dịch vụ ngoài chuẩn  
Có rất nhiều dịch vụ ngoài chuẩn từ Internet. Trong trường hợp của 1 kết nối vào  
Internet, những dịch vụ này có  
thể rất tinh vi và phức tạp. Ví dụ của những dịch vụ này là World Wide Web  
(WWW), Wide Area Information  
Service (WAIS), Gopher và Mosaic. Hầu hết những hệ thống này liên quan đến  
việc cung cấp thông tin cho  
người dùng theo những cách tổ chức khác nhau, cho phép tim kiếm thông tin một  
cách có cấu trúc.  
Phần lớn những hệ thống này có những giao thức riêng. Một vài trường hợp như  
Mosaic sử dụng nhiều  
giao thức để nhận được thông tin. Bạn phải cẩn thận khi thiết kế một danh sách  
truy cập áp dụng với mỗi  
dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, các danh sách truy cập có liên quan đến nhau vì  
mối liên quan giữa các  
dịch vụ.  
Tổng kết  
Mặc dù bài viết này minh họa cách sử dụng các tính năng ở mức network-layer  
của Cisco để tăng cường tính  
bảo mật cho mạng IP, để có được sự bảo mật đúng nghĩa, bạn phải quan tâm đến  
tất cả hệ thống ở tất cả  
các mức  
Tài liệu tham khảo  
Cheswick, B. and Bellovin, S. Firewalls and Internet Security. Addison-Wesley.  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 21 trang baolam 19660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tăng cường bảo mật cho mạng IP", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • doctai_lieu_tang_cuong_bao_mat_cho_mang_ip.doc