Tâm thức lưu vong trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
TÂMTHỨC LƯUVONGTRONGTIỂUTHUYẾTCỦA JOHN MAXWELLCOETZEE  
Chu Đình Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Hân  
Nhận bài:  
15 – 04 – 2020  
Tó m tắt: Là nhà văn Nam Phi nhưng hiện nay đang sống và làm việc tại Australia, cho nên trong sâ u  
thẳm, J.M. Coetzee mang cảm thức lưu vong sâu sắc. Điều này tác động đến hệ thống sá ng tá c của  
ô ng. Khô ng chỉ mất căn cước quốc tịch, nơi sống, cá c nhâ n vật trong tiểu thuyết của Coetzee cò n mang  
Chấp nhận đăng:  
10 – 06 – 2020  
tâ m thức lưu vong tâ m hồn. Mỗi câ u chuyện mà ô ng phản á nh cò n ẩn chứa những ngụ ngô n chí nh trị,  
thể chế nhà nước Apartheid. Bài bá o lí giải một vài khí a cạnh của diễn ngô n chí nh trị, tâ m thức lưu vong  
giúp chúng ta thấu hiểu bi kịch Apartheid đã tác động mạnh mẽ đến đời sống con người Nam Phi nó i  
riêng, nhâ n loại nó i chung.  
Từ khóa: John Maxwell Coetzee; Apartheid; tâm thức lưu vong; ngụ ngôn chính trị; Nam Phi.  
duyệt bởi chính quyền da trắng. Họ phải chọn kiếp sống  
lưu vong khắp nơi trên thế giới. Các nhà xuất bản, tạp  
chí văn học từ chối in tác phẩm của họ. Tuy nhiên, mặc  
dù phải sống lưu vong nhưng họ vẫn tiếp tục viết để  
khơi dậy sức sống và sự can đảm của người dân Nam  
Phi đang hằng ngày chống lại ách thống trị của chính  
1. Mở đầu  
J.M. Coetzee là nhà văn Nam Phi nhưng không ít  
lần bị giới chính trị và bạn đọc ở quốc gia này từ chối vì  
đã phản ánh tình hình đen tối của đất nước, nên ông tự  
xem mình là nhà văn phương Tây với hành trình trải  
quyền da trắng. Trong thập niên 1930, Solomon Plaatje1  
là nhà văn da đen Nam Phi đầu tiên có tác phẩm xuất  
bản bằng tiếng Anh. Mhudi là một dạng tiểu thuyết lịch  
sử, phản ánh sự kiện thất bại của bộ lạc Ndebele vào  
những năm 1800 do liên minh giữa người da đen và  
người da trắng. Can Themba2 và Nathaniel Nakasa3 là  
thế hệ các nhà văn viết truyện ngắn về đời sống thành  
nghiệm những vùng đất mới. J.M. Coetzee sinh ra ở  
Nam Phi, có nguồn gốc Do Thái. Ông học tập và giảng  
dạy nhiều nơi trên thế giới: Anh, Pháp, Mỹ, Úc,... Sự  
nghiệp của J.M. Coetzee có thể chia làm hai giai đoạn:  
trước và sau khi trở thành công dân Úc (năm 2002). Tuy  
nhiên, ở các tiểu thuyết của J.M. Coetzee, dù lấy bối  
cảnh ở Nam Phi hay ở bất cứ quốc gia nào, thì người  
đọc vẫn có thể thấy được đây là câu chuyện của đất  
nước, quốc gia mình. Con người, nhân vật trong tiểu  
thuyết của ông không hẳn là người bản địa, nhưng cũng  
không hẳn thuộc về chính quốc. Đây là đặc điểm tâm  
thức lưu vong khác biệt trong sáng tác của ông với các  
nhà văn khác trên thế giới.  
1Solomon  
Tshekisho  
Plaatje (9/10/1876  
-
19/6/1932) là một trí thức, nhà báo, nhà ngôn ngữ học,  
chính trị gia, dịch giả và nhà văn người Nam Phi.  
Plaatje là thành viên sáng lập và Tổng thư kí đầu tiên  
của Đại hội Dân tộc Phi (ANC).  
2Can Themba (1924-1967) là nhà văn da đen Nam  
Phi nổi tiếng với truyện ngắn The Suit.  
3Nathaniel Nakasa (1937-1965) là học giả da đen  
nổi tiếng với bài báo The Human Meaning of Apartheid  
(1960) gây ảnh hưởng lớn đến những người Nam Phi  
lưu vong ở châu Âu và châu Mỹ.  
2. Nội dung  
Thế kỉ XX, những năm đầu thế kỉ XXI, ở Nam Phi,  
các nhà văn da đen trong đó có cả những nhà văn da  
trắng viết về người da đen bị hành hạ, đàn áp, kiểm  
*
Tác giả liên hệ  
Chu Đình Kiên  
Trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế  
Email: chudinhkiengdmn2015@gmail.com  
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 07-14 | 7  
Chu Đình Kiên  
thị và chế độ Apartheid vào những năm 1950. Sau này,  
cả hai đều phải lưu vong để khỏi bị giam tù. Cuối thập  
niên 1970 và đầu 1980, ở Nam Phi xuất hiện nền văn  
chương phản kháng: thơ, truyện ngắn, truyện dài đều  
đồng loạt ca ngợi công cuộc đấu tranh chống lại chính  
sách kì thị chủng tộc của tập đoàn cầm quyền da trắng.  
Các nhà văn đã dùng ngòi bút của mình để đấu tranh  
trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Chưa bao giờ như lúc  
này, văn chương Nam Phi có những tiếng nói tác động  
sâu sắc đến chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid. Các  
tác phẩm trở thành nơi biểu lộ khát vọng được sống  
trong tự do, bình đẳng, hạnh phúc của người dân nô lệ.  
Trong số những khuôn mặt nổi bật của văn chương  
Nam Phi thời kì này có thể kể đến Zakes Mda,  
Phaswane Mpe, Sello Duiker, Mark Behr,... Sống lưu  
vong ở nước ngoài hơn 30 năm, Zakes Mda (1948) là  
kịch gia, nhà thơ và tiểu thuyết gia. Tác phẩm Ways of  
Dying (xuất bản năm 1995) kế đó là She Plays with the  
Darkness đã được nhận giải M-Net Book Prize. Tác  
phẩm The Heart of Redness (2001) phản ánh sự căng  
thẳng giữa người da đen chấp nhận các giá trị phương  
Tây và người da đen khác muốn phục hồi, bảo vệ giá trị  
truyền thống, kể cả tập tục lễ nghi vô cùng phản khoa  
học và lạc hậu. Tiểu thuyết cũng phản ánh sự tan vỡ ảo  
tưởng của những người da đen lưu vong. Họ trở về với  
nhiều niềm tin và hi vọng một chính phủ mới. Nhưng  
khi chứng kiến đất nước với những người cầm quyền  
mới chẳng khác gì tập đoàn thống trị cũ, chỉ có khác  
màu da, họ hoàn toàn suy sụp, đổ vỡ. Nhà cầm quyền  
mới cũng tham nhũng, bất công, đàn áp, phân rẽ và  
thậm chí còn kì thị hơn cả những người da trắng trong  
chế độ cũ.  
bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế không phải  
như vậy. Người da đen là những người bị tước đoạt tên  
tuổi và thân phận trở thành những công cụ nô lệ, vô bản  
sắc, vô sở hữu ngay cả thân xác mình… Cộng đồng da  
đen là những người bị cưỡng đoạt ngôn ngữ và văn hóa,  
lịch sử, tín ngưỡng tổ tiên trở thành những kẻ không  
nguồn cội… Sống sót sau những chuyến tàu buôn  
nghiệt ngã, khi đặt chân lên “miền đất hứa” họ mất tên  
tuổi, cái tên mà người da đen có được là do người da  
trắng đặt cho. Bị lưu vong, họ trắng tay giữa nước Mỹ  
giàu sang. Dưới những trang văn của Toni Morrison,  
người da đen không chỉ mang nỗi đau bị phân biệt mà  
còn mang nỗi đau lưu vong... Tất cả đẩy họ vào bi kịch  
đau đớn nhất - bi kịch bị ruồng bỏ, bi kịch lưu vong.  
Bên cạnh những nhà văn da đen, còn có những  
khuôn mặt “khổng lồ” trong văn giới Nam Phi như:  
Nadine Gordimer, Athol Fugard, J.M. Coetzee,... Tất cả  
họ đều là người da trắng, sự nghiệp của họ gắn liền với  
phong trào tranh đấu chống sự kì thị chủng tộc  
Apartheid. Trong cuộc đấu tranh ấy, họ bị ruồng bỏ, trở  
thành người cô đơn, kẻ ngoại cuộc. J.M. Coetzee cũng  
như nhiều nhà văn Nam Phi khác đều mang mặc cảm  
tha hương. Từ những nghiên cứu về một số tác phẩm  
của J.M. Coetzee, chúng tôi đi tới nhận định tâm thức  
lưu vong trong sáng tác của J.M. Coetzee có những đặc  
trưng sau:  
2.1. Lưu vong mang tâm thức đánh mất căn  
cước và hành trình truy tìm quốc tịch trong vô  
vọng  
Đặc điểm thú vị về con người của J.M. Coetzee là  
ông không tự nhận mình là nhà văn của Nam Phi mà  
xem mình là người viết văn trải nghiệm, một trí thức  
phương Tây. Đối với ông, mặc cảm lưu vong, tha hương  
trở thành nỗi niềm thường trực trên từng câu chữ. Các  
nhân vật của ông đều loay hoay đi tìm quốc tịch của  
mình và nhận dạng văn hóa bản địa. Từ quốc tịch của  
hai nước khác nhau: chính quốc và thuộc địa, người da  
trắng tìm kiếm nguồn gốc thông qua những vết tích  
trong gia đình, văn hóa ăn mặc, giao tiếp, lối sống.  
Nhưng tất cả đều bế tắc, mất phương hướng giữa hoang  
mạc Nam Phi và trên quốc gia khác.  
Trong số những nhà văn da đen, tiêu biểu phải kể  
đến Toni Morrison4 với huyền thoại Mắt biếc (1970).  
Tác phẩm đã viết lại nỗi đau khổ tận cùng của chủng tộc  
da đen bằng câu chuyện đầy xúc động, ám ảnh. “Tại  
một miền đất chỉ yêu thích những đứa bé tóc vàng, mắt  
xanh, ai sẽ khóc than cho những giấc mơ của một cô bé  
da đen?”. Cuốn tiểu thuyết viết về người da đen trên đất  
Mỹ - nơi được mệnh danh là văn minh, bình đẳng  
Các nhân vật mang cảm thức lưu vong trong tiểu  
thuyết của Coetzee xuất hiện rõ nét trong giai đoạn sáng  
tác ở Anh và Úc, khi ông làm trợ giảng, học tập và sau  
đó trở thành giáo sư văn chương chính thức của trường  
4Toni Morrison (1931-2019) là nhà văn người Mỹ,  
giành giải thưởng Nobel năm 1993, nổi tiếng với tiểu  
thuyết The Bluest Eye (1970, dịch ở Việt Nam là Mắt biếc).  
8
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 07-14  
Đại học Adelaide. Trong Ruồng bỏ, đó là vị giáo sư  
trước đây là một kĩ thuật viên chuyên về đồ cổ, làm việc  
trong Học viện mĩ thuật Dobrovnik, nhưng ở Úc nghề  
đó không được sử dụng. Marijana là người phụ nữ có  
học thức, có văn hóa, có bằng Phục chế, nhưng ở đây  
bằng cấp của cô không có ích… Gia đình cô nhập cư rất  
khó khăn, vất vả. Họ phải đổi nghề, chịu thân phận thấp  
kém, không tìm thấy tiếng nói chung trong cộng đồng  
của mình. Tất cả không thuộc về nơi này. Đó là số phận  
của người di cư, rời bỏ quê hương mình. Nhưng bằng  
niềm tin và sức mạnh vươn lên gia đình cô đã nỗ lực  
thoát khỏi bi kịch để tồn tại. “Vợ chồng Jokić ắt phải  
giữ một kiểu niềm tin nào đó. Trong khi các con họ…  
sẽ trở thành một hình ảnh riêng về Australia, đầy đủ hơn  
và nhạt nhẽo hơn” (Coetzee, 2008, 92). Cô trở thành  
một điều dưỡng viên lành nghề, nhân hậu, mẫu mực,  
một người mẹ tốt. Cô cố gắng giữ lại những nét văn hóa  
đặc trưng của người phụ nữ Croatia: “lúc làm việc,  
Marijana không đội mũ y tá mà trùm khăn giống các bà  
nội trợ vùng Balkan” (Coetzee, 2008, 57). Chiếc khăn là  
sợi dây để cô gắn kết thân phận lưu vong với cố quốc.  
Không quên gốc rễ, con người muốn hòa nhập với môi  
trường mới thì phải thay đổi cách sống cho phù hợp với  
hoàn cảnh. Dượng của Paul Rayment - một người Hà  
Lan, đã nói một câu làm chúng ta phải suy ngẫm: “thời  
gian và sự làm việc chăm chỉ sẽ mài mòn thái độ thù  
địch” (Coetzee, 2008, 93). Nhưng tất thảy đều mang  
một thân phận ngụ cư với những éo le, khó khăn mà chỉ  
họ mới thấu cảm.  
Bằng kĩ thuật xử lí điểm nhìn trần thuật từ bên  
trong và trò chơi độc thoại độc đáo - nhân vật tự đối  
thoại với mình, Coetzee đã để Paul Rayment có khoảng  
không gian nói hết những thầm kín trong con người cá  
nhân. Nhờ đó, người đọc hiểu thêm một kiểu con người  
lưu vong tinh thần trong tiểu thuyết của ông. Từ Magda  
trong Giữa miền đất ấy, bà Curren trong Tuổi sắt đá đến  
giáo sư David trong Ruồng bỏ đều là những kẻ lưu vong  
tinh thần. Paul Rayment cũng không ngoại lệ. Ông tự  
lưu đày mình trong cuộc sống cô độc. Không theo tôn  
giáo nào, các khái niệm gia đình, quê hương bắt đầu rời  
xa trong suy nghĩ kiệt quệ của ông. Cha, mẹ và chị gái  
là những người thân quen giữa nước Úc rộng lớn, nhưng  
ông băn khoăn: “cả ba người ấy có phải là gia đình ông  
không?”. Càng già ông càng thấy tủi phận vì không có  
gia đình. Gia đình là nơi ông gắn kết thân phận lưu vong  
của mình với xã hội nhưng nó đã nhanh chóng tan biến.  
Ông không có con, “không con giống như sự rồ dại, rồ  
David Lurie, đó là Michael K trong Cuộc đời và thời đại  
của Michael K, đó là Magda một “gái già trinh tiết” tại  
một trang trại hẻo lánh trong Giữa miền đất ấy; đó là bà  
Curren trong Tuổi sắt đá,... Tạp chí Baltimore Sun (Mỹ)  
cho rằng: tất cả các trang viết của Coetzee là đều giống  
nhau trong việc tập trung miêu tả một nhân vật trung  
tâm. Chưa một nhân phẩm nào được trực tiếp đưa ra,  
tuy nhiên có vài cảnh huống được xây dựng lên làm cho  
người đọc phải suy nghĩ về nó, về hành trình tìm lại  
nguồn gốc của mình… Họ không chỉ lưu vong nơi ở mà  
còn trong tâm hồn.  
Người chậm được Coetzee hoàn thành vào năm  
2005, sau ba năm sống trên đất nước Úc, khoảng thời  
gian đủ cho ông suy ngẫm về kiếp người lưu vong. Gia  
đình Paul Rayment có một hành trình từ Pháp đến Úc  
với mong muốn “tìm được cho mình một nơi an toàn  
trên mảnh đất xa lạ” (Coetzee, 2008, 266). Nhưng trên  
mảnh đất ấy, gia đình ông đối diện với muôn vàn khó  
khăn, cuộc sống bị đảo lộn. Paul Rayment phải đổi  
nghề, sống độc thân, ít giao tiếp với thế giới bên ngoài.  
Em gái làm nghề dạy học, người mẹ lúng túng về ngôn  
ngữ và không thể tìm cách tiếp cận với công việc của  
người bản xứ, Paul Rayment lao vào khoa học để tránh  
xa cuộc sống bên ngoài đang ngày càng biến đổi với tốc  
độ chóng mặt.  
Khi lưu vong trên quê người, ngôn ngữ là thứ rào  
cản lớn nhất để người di cư hòa nhập. Nhưng Paul  
Rayment nhận ra thứ ngôn ngữ thứ hai này “nó không  
xuất phát từ đáy lòng” (Coetzee, 2008, 270) nên việc  
giao tiếp, thấu hiểu lẫn nhau là rất khó. Tiếng Anh đối  
với ông là một công cụ giao tiếp và nó chỉ mang chức  
năng đó, không đem lại cho ông những cảm nhận về văn  
hóa, quê hương. Nhiều lần Paul Rayment trăn trở về  
nguồn gốc quê hương mình, nhưng ông cũng không  
phải là người Pháp dù từ Pháp tới, lại càng không phải  
là người Anh, hay người Hà Lan. “Tôi cũng ở trên mảnh  
đất xa lạ” là dòng tâm sự cô đơn, buồn tủi của những kẻ  
mất căn cước trên hành tinh. Họ hoài nghi về lịch sử của  
mình: “Dân di cư không có lịch sử riêng của họ sao?  
Chẳng lẽ các người dừng lịch sử lại khi di chuyển từ  
điểm này đến điểm khác trên địa cầu” (Coetzee, 2008,  
69). Khao khát tìm kiếm “giấy thông hành” thật khó với  
những người như Paul Rayment.  
Gia đình của Marijana Jokić từ Croatia chuyển đến  
Úc và cũng gặp rất nhiều khó khăn. Chồng của Marijana  
9
Chu Đình Kiên  
dại khủng khiếp, thậm chí là tội lỗi” (Coetzee, 2008,  
43), nên hành trình tìm kiếm quê hương trên đất người  
của Paul Rayment thật mong manh. Đằng sau những  
tâm sự chua chát là mặc cảm của kẻ tha hương: “Người  
Pháp không có tổ ấm. Tôi không có nhà ở Pháp. Rõ  
ràng là không. Tôi không là chúng ta của bất cứ ai”  
(Coetzee, 2008, 90). Paul Rayment từ Pháp sang Úc  
cũng như chính J.M. Coetzee từ Nam Phi qua đây, cho  
nên trên từng trang viết của ông vừa khắc khoải day dứt  
vừa chạm tận đáy những suy tư thầm kín của kẻ mang  
mặc cảm lưu vong.  
tiểu thuyết mới của mình. Ông chọn một đoạn ngắn  
trong đó kể chuyện Simón dạy Davíd đọc chữ Tây Ban  
Nha. Quyển sách mà Simón dùng để dạy Davíd là  
cuốn Những cuộc phiêu lưu của Don Quixote với nhiều  
tranh minh họa dành cho trẻ em. Nhưng Davíd là cậu bé  
đặc biệt. Davíd có những khả năng kì lạ và óc tưởng  
tượng sống động. Cậu từ chối tiếp nhận thế giới như  
vốn có với các trật tự và khuôn thước của nó. Đối với  
Davíd, những con số, những chữ cái, những từ vựng tồn  
tại rời rạc, không dính vào với nhau. Giữa những thứ ấy,  
theo Davíd có một vực thẳm mà ta có thể rơi vào. Trong  
vực thẳm ấy là cả một bí ẩn.  
2.2. Cảm thức ngụ cư và nỗi hoài vọng quê  
hương bản địa  
Trong các phát biểu và tiểu luận của mình, J.M.  
Coetzee nhiều lần bày tỏ sự khâm phục sức sáng tạo của  
Cervantes, ông gọi đó là “người khổng lồ gánh trên vai  
tất cả chúng ta”. Đối với ông thì Don Quixote chính là  
tiểu thuyết tiêu biểu của sự thoát li thực tế. Làm sao để  
tạo dựng một thế giới có thể hoán đổi, nơi tình cảm và  
xúc cảm còn quan trọng hơn cả bối cảnh chính trị và  
khuôn thước xã hội. Simón đã chủ định chọn Don  
Quixote có lẽ là để cho Davíd thấy được một người  
hùng không sợ óc tưởng tượng của mình, không đoạn  
tuyệt với thế giới quan của mình và không sợ phải mất  
công bảo vệ thế giới quan đó. Don Quixote là một cuốn  
sách khác thường - Simón giảng giải cho Davíd như  
vậy. Tác phẩm cho người đọc thấy thế giới qua con mắt  
của hai nhân vật Don Quixote và Sancho. Don Quixote  
thì thấy cần phải chọi lại những gã khổng lồ, còn  
Sancho thì thấy đó chẳng qua chỉ là chiếc cối xay gió.  
Phần đông trong chúng ta đồng tình với Sancho - đều  
quan niệm rằng trên thực tế những gã khổng lồ chỉ là  
chiếc cối xay gió. Vị họa sĩ vẽ chiếc cối xay gió chắc  
cũng đồng tình như thế. Ngay cả tác giả của tiểu thuyết  
này cũng đồng tình. Nhưng cách nhìn nhận của Don  
Quixote vẫn có quyền tồn tại, như thế giới tưởng tượng  
của Davíd khi nhìn vào bức tranh minh họa sẽ nghĩ ra  
một phương án riêng cho câu chuyện về cuộc phiêu lưu  
của Hiệp sĩ Mặt buồn.  
Tiểu thuyết The Childhood of Jesus (Thời thơ ấu  
của Chúa, 2013) của J.M. Coetzee thể hiện rõ hoài cảm  
này trong sâu thẳm con người ông. Ngay khi mới ra đời,  
tác phẩm tạo nên nhiều luồng ý kiến đánh giá trái chiều.  
Có nhận xét hào hứng xem tác phẩm là một kiệt tác, tác  
giả xứng đáng nhận giải Booker lần thứ ba, nhưng ý  
kiến khác lại lưỡng lự, bởi câu chuyện mới này lạ lùng,  
gây sốc cho những độc giả truyền thống.  
Cốt truyện The Childhood of Jesus diễn ra ở một  
thành phố cảng có tên Novilla và sử dụng ngôn ngữ Tây  
Ban Nha trong một đất nước… không tên. Tất cả dân  
bản địa và dân ngụ cư ở đây, vì nhiều nguyên nhân mà  
người đọc không rõ, đều quên hết dĩ vãng của mình,  
rời bản địa đến đây để bắt đầu cuộc đời mới “sạch như  
tờ giấy trắng”. Ở thị trấn có hai nhân vật chính: bác  
Simón 44 tuổi và cậu bé Davíd 5 tuổi không biết mặt  
bố mặt mẹ, hoàn cảnh giống Jesus... Hai bác cháu cũng  
như những người ngụ cư khác được gọi bằng tên mới,  
được giúp có nhà có cửa, có công ăn việc làm. Simón  
hiểu rõ hoàn cảnh trẻ con thiếu mẹ, thậm chí đã kiếm  
được một phụ nữ địa phương chấp thuận: không làm  
mẹ nuôi mà làm mẹ thật của đứa trẻ. Còn bản thân  
Simón thì lân la ở câu lạc bộ làm quen tìm kiếm bạn  
đời… Song, tại chỗ ở mới, bác cháu Simón lại không ở  
được lâu. Họ gặp những người sống lâu năm ở đây với  
những luật lệ hà khắc. Cuối cùng, họ phải trốn khỏi thị  
trấn mong tìm chỗ ở mới, nơi có thể một lần nữa làm  
lại cuộc sống từ đầu.  
Cuộc phiêu lưu của Don Quixote của Cervantes vốn  
được coi là cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ - kết thúc bằng sự  
quy hàng của trí tưởng tượng trước thực tại: chàng hiệp  
sĩ trở về nhà rồi chết. Nhưng tiểu thuyết mới của J.M.  
Coetzee thì kết thúc bằng niềm hi vọng: Simón và  
Davíd bỏ trốn khỏi Novilla đi tìm chỗ cư trú mới. Dọc  
đường, Davíd tìm kiếm môn đệ - những người sẵn lòng  
tin tưởng vào cậu. Davíd gặp bất kì người nào chưa  
Một năm trước khi công bố The Childhood of  
Jesus, Coetzee quay về quê hương Nam Phi để thuyết  
giảng trước các sinh viên Đại học Tổng hợp Cape Town  
- nơi ông đã giảng dạy nhiều năm - và giới thiệu cuốn  
10  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 07-14  
quen cũng sẵn sàng bảo người ta rằng mình sẽ trở thành  
là một trong những lí do giúp J.M. Coetzee được vinh  
dự nhận giải thưởng Nobel Văn học vào năm 2003.  
thân nhân của họ. Chỗ ở mới mà các nhân vật đang  
kiếm tìm nó như thế nào? Có lẽ, đó là xứ sở có tự do  
cho bất kì ý tưởng và óc tưởng tượng nào. Liệu họ có  
tìm thấy một xứ sở như thế? Trong một lần trả lời phỏng  
vấn, J.M. Coetzee cho rằng: The Childhood of Jesus là  
câu chuyện về những con người muốn rũ bỏ các xiềng  
gông, khuôn thước, giành lấy tự do trong hành động, tự  
do trong suy nghĩ và tự do trong tưởng tượng.  
Năm 2002, J.M. Coetzee đã rời Nam Phi sang  
Australia sinh sống với người vợ sau là Dorothy  
Driver ở Adelaide, nơi ông giữ một chức vụ danh dự  
tại Đại học Adelaide và nhận quyền công dân vào  
năm 2006. Có lẽ, nhà văn đã cảm thấy mình là vị  
khách được mong đợi nhưng thẳm sâu trong tiềm  
thức vẫn mang mặc cảm “người dưng”. Cũng như  
nhiều người Nam Phi cùng thế hệ, J.M. Coetzee từng  
khao khát được rời sang một đất nước nào đó để cho  
những chuyện ở cố quốc khuất khỏi mắt mình. Không  
ít lần, ông trích dẫn vào tiểu luận của mình câu nói  
của nhà thơ William Plomer (1903-1973, sinh ở Nam  
Phi, học và sống phần lớn cuộc đời tại Anh): Let us  
go to anothercountry/ Not yours or mine/And start  
again (Hãy để chúng tôi đi đến một quốc gia khác/  
Không phải của bạn hay của tôi/ Và bắt đầu lại một lần  
nữa).  
Trong hầu hết tiểu thuyết của J.M. Coetzee, đất  
nước được mô tả có nhiều cái không: không đường biên  
giới, không kiểm tra hộ chiếu, người đến không còn biết  
cội rễ của mình, tất cả dùng chung một ngôn ngữ và  
không hề nhắc nhở đến khuôn mặt, màu da. Có lẽ, J.M.  
Coetzee nhìn thấy một tương lai, một thế giới, châu Phi  
hay châu Âu, da đen hay da trắng, không còn phân biệt  
chủng tộc sắc tộc. Ông tâm sự: “Tôi là người hằng nuôi  
mơ ước về tự do (cũng như bất kì một tù nhân nào) và  
thường tưởng tượng ra những con người bứt khỏi gông  
xiềng và hướng về phía mặt trời” (Wästberg, 2003).  
Tiểu thuyết của J.M. Coetzee luôn viết về một vùng  
đất cụ thể của Nam Phi. Đó là không gian thành phố  
Cape Town với các con đường, bờ biển, ranh giới phân  
cách khu vực người da đen và người da trắng; không  
gian của những hoang mạc, nông trại với cát, bụi, cái  
nóng khô khốc và quyết liệt của thời tiết. Nhưng vượt  
lên không gian của một quốc gia, tiểu thuyết của ông  
mờ nhòe hóa không gian khiến cho nó trở nên phổ quát  
ở bất cứ vùng đất, miền quê nào trên thế giới. Có lẽ đây  
Trong tiểu thuyết của J.M. Coetzee có hai kiểu lưu  
vong cơ bản. Kiểu thứ nhất, lưu vong trên quê hương  
của quốc gia khác. Đặc điểm này xuất hiện rõ nét từ sau  
tiểu thuyết Người chậm (2005). Từ năm 2002, J.M.  
Coetzee trở thành công dân nước Úc. Tâm thức lưu  
vong của Paul Rayment trong Người chậm cũng chính  
là tâm sự thầm kín của Coetzee. Thứ hai, là kiểu lưu  
vong trên chính quê hương mình. Nam Phi không thuộc  
về da trắng và càng không hẳn về da đen chính quốc.  
Đây là dạng phổ biến không chỉ người da trắng mà cả  
người da đen. Giữa miền đất ấy đặt ra các mối quan hệ:  
người da trắng với người da trắng, người da đen với  
người da trắng ở xứ thuộc địa. Tính cách độc đoán, gia  
trưởng, tàn bạo, khốc liệt của Bass biểu tượng cho chủ  
nghĩa thực dân xâm lược. Magda mồ côi mẹ, kí ức về  
mẹ nhạt nhòa là biểu tượng cho ý niệm mơ hồ về chính  
quốc. Anna bị Bass cưỡng hiếp, Hendrik trả thù Magda  
rồi rời bỏ nông trại. Bi kịch ấy trở nên phổ biến ở Nam  
Phi trong mối quan hệ đen - trắng không quê hương, bị  
bỏ rơi. Tiểu thuyết của J.M. Coetzee bác bỏ một hiện  
thực cụ thể về xã hội Nam Phi để hướng đến những  
vùng đất khác nhau, vì vậy một hiện thực huyền ảo  
được mở ra. Đợi bọn mọi đã phản ánh số người da đen  
bị giam giữ, bị chết ngày càng nhiều vào cuối những  
năm 1970 đồng thời thấy được sự bất lực của các quan  
tòa. Tác phẩm đưa người đọc đến vùng biên ải xa xôi  
với những cuộc truy lùng bọn mọi của đế chế ba. Ráo  
riết, khẩn cấp, báo cáo... làm không khí câu chuyện bao  
trùm sự ngột ngạt, căng thẳng. Câu chuyện vùng biên ải  
không tên này cũng chính là câu chuyện chung có thể  
xảy ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Curren trong Tuổi  
sắt đá biểu tượng cho người già da trắng trôi dạt trên  
châu Phi da đen. K trong Cuộc đời và thời đại của  
Michael K là người da đen bản xứ cũng không có kết  
nối với quê hương mình. Anh trở thành kẻ vô gia cư,  
không có quê hương nơi mình sinh ra. Hành trình của  
anh đưa mẹ về thị trấn Hoàng Tử Albert là dụ ngôn cho  
kiểu con người tìm kiếm nguồn gốc quốc tịch. Nhưng  
về đến nơi, anh vẫn không nhận được bất kì tín hiệu về  
quá khứ của quê hương. Có thể nói, tâm thức lưu vong  
trở thành vấn đề trung tâm trong sáng tác của J.M.  
Coetzee. Mỗi trang văn là hành trình tìm kiếm quốc tịch  
của bản thân ông cũng như thế hệ nhà văn đương thời.  
11  
Chu Đình Kiên  
2.3. Lưu vong tâm hồn trước bối cảnh xung đột  
văn học cho J.M. Coetzee, nhưng ông còn có nhiều  
cuốn tiểu thuyết hấp dẫn khác như: Cuộc đời và thời đại  
của Michael K (1983), Foe (1986). Bề mặt, tác phẩm  
Foe là một hình thức kể lại tiểu thuyết Robinson  
Crusoe, nhưng bề sâu của nó mang điều gì đó hoàn toàn  
khác khi viết về tương quan chủng tộc trong một xã hội  
mà người da đen thường bị tách biệt với người da trắng  
mà khoảng cách lớn nhất là ngôn ngữ và văn hoá. Mỗi  
hình tượng hay xung đột trong tiểu thuyết của ông được  
xây dựng đều ngầm ẩn/ hàm chứa cho một trạng thái xã  
hội. Magda, vị Quan tòa không tên, Curren, David  
Lurie, Paul Rayment đều biểu tượng cho kiểu người trí  
thức, già, da trắng kiêu hãnh trên lục địa đen châu Phi bị  
đẩy từ “trung tâm” ra “ngoại vi”, lưu vong, cô đơn -  
kiểu lớp người bị bỏ rơi sau chiến tranh, bên lề xã hội.  
Còn Bass, Đại tá Joll, Petrus mô phỏng kiểu ông chủ da  
trắng độc ác, tàn bạo, thủ đoạn, gia trưởng. Hendrik, cô  
gái mọi không tên, Michael K, Melanie đại diện cho  
người nô lệ, phụ nữ da đen yếu thế, phụ thuộc, im lặng...  
Lucy và Curren biểu tượng cho người phụ nữ da trắng  
thỏa hiệp hoàn cảnh để sinh tồn, im lặng trở thành  
phương cách sống giữa miền Nam Phi bất công, chia rẽ.  
Mỗi hoàn cảnh, tình thế, bối cảnh cũng là những dụ  
ngôn về nền chính trị Apartheid. Trong Giữa miền đất  
ấy, chi tiết Bass bị bắn chết trong ngôi nhà của mình có  
thể có nhiều giả thuyết, nhưng thủ phạm đáng ngờ nhất  
chính là Magda. Đó phải chăng là dự báo của J.M.  
Coetzee, người da trắng trên đất Phi châu bị thanh trừng  
bởi người da đen và cũng có thể chính là người da trắng  
hoang tưởng, huyễn hoặc. Hành trình gian khổ của vị  
Quan tòa đưa cô gái mọi trở về bộ tộc của cô ta trong  
Đợi bọn mọi là một kiểu dụ ngôn cho tình hình chia rẽ  
Nam Phi: có rất nhiều người da trắng tiến bộ nhận thấy  
sự vô lí đến phi lí của chế độ phân biệt chủng tộc và sẵn  
sàng bảo vệ người da đen, đứng về phía họ để bảo vệ  
khẳng định bình đẳng...  
chính trị và nguy cơ đen, nguy cơ trắng mới  
Sau khi chế độ Apartheid kết thúc năm 1994, tình  
hình chính trị, xã hội Nam Phi tưởng sẽ tốt đẹp, tuy  
nhiên quốc gia này đối diện hàng loạt vấn đề như:  
AIDS, tội ác, căng thẳng giữa các chủng tộc: da đen là  
tốt, da trắng là xấu. Căng thẳng giữa các nhà hoạt động  
chống Apartheid địa phương và những người lưu vong  
trở về, cuộc đấu tranh để duy trì giá trị truyền thống ở  
châu Phi với quá trình đô thị hóa / hiện đại hóa, cách  
ứng xử của những người châu Phi da đen tìm việc làm  
từ các nước láng giềng Nam Phi, các vấn đề về bản sắc,  
sự di chuyển giai cấp ngày càng tăng của dân số da đen  
và kết quả của sự dịch chuyển thân phận, đồng tính,  
nghèo đói khiến chính quyền nhà nước mới gặp nhiều  
khó khăn… Một trong những vấn đề lịch sử Nam Phi  
đặt ra hậu Apartheid chính là nguy cơ đen và nguy cơ  
trắng. Khi Aparthied sụp đổ, không có nghĩa là mọi tàn  
dư được xóa hết. Trên thực tế đó chỉ là sự đổ vỡ của  
một mô hình chính sách, còn hậu quả của nó để lại trong  
đời sống hàng ngày và trong tiềm thức của con người  
vẫn còn ám ảnh. Câu hỏi về cái gì xảy ra đằng sau cánh  
cửa khép kín chính là điểm trăn trở trong văn chương  
của J.M. Coetzee. Trường hợp này cũng đã xảy ra với  
William Faulkner [xem thêm tài liệu (Chu, 2019b)]. Tuy  
nhiên, điều khác biệt ở J.M. Coetzee khi viết về sự hành  
hạ con người đằng sau cánh cửa căn phòng tối ở chỗ  
ông chỉ nhìn cái căn phòng tối đó như một dụ ngôn: đó  
là một cánh cửa khép kín có mặt cùng khắp trên mọi nơi  
khi có sự chia cách giữa con người với con người: cánh  
cửa trại, cánh cửa các trung tâm, cánh cửa các khu lao  
động, cánh cửa màu da, cánh cửa chủng tộc, cánh cửa  
ngôn ngữ, và cánh cửa tâm hồn... Nếu Salman Rushdie  
là một nhà văn băng ngang tất cả mọi biên giới, nhà văn  
“ở giữa hai bên”, thì J.M. Coetzee là một nhà văn đứng  
bên ngoài tất cả mọi cánh cửa, mọi ngăn cách: một kẻ  
ngoại cuộc.  
Một trong những đặc trưng trong sáng tác của  
Coetzee là cảm quan xã hội có từ chính đời tư cá nhân,  
nhất là vào giai đoạn sau, khi tấn bi kịch rộng lớn hơn  
của Nam Phi hạ màn, ông quay trở về lấy cảm hứng  
trong cuộc đời mình. Con trai ông qua đời sau khi bị  
ngã một cách kì bí; ông viết The Master of Petersburg,  
một cuốn tiểu thuyết về một người cha hoảng loạn, đau  
đớn khi mất đi đứa con của mình, tương tự như ông.  
Người vợ của ông qua đời vì bệnh ung thư và ông viết  
cuốn Tuổi sắt đá, tác phẩm mô tả những đau đớn tột  
Năm 1980, khi cuốn Đợi bọn mọi được xuất bản thì  
không phải bạn đọc nào cũng có thể hiểu ngay những  
biểu tượng mà J.M. Coetzee xây dựng. Ðối với nhiều  
người da trắng ở Nam Phi, cuốn tiểu thuyết là một ngụ  
ngôn buốt nhói và không chịu đựng nổi về đời sống hằng  
ngày và các tình thế đạo đức tiến thoái lưỡng nan của họ.  
Một cuốn sách dấn sâu vào bình diện tâm thần, hấp dẫn  
tới độ khiến bạn đọc bàng hoàng, bị mê hoặc. Chỉ riêng  
Đợi bọn mọi cũng đủ đem lại vị thế cao nhất về lĩnh vực  
12  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 07-14  
cùng, chưa từng được viết ra. Vừa là bi kịch về nỗi nhớ  
sáng tác của ông khi nhìn từ tâm thức thực dân và hậu  
thực dân chính là cảm thức lưu vong. Vốn không phải là  
người dân tộc Phi cho nên dù ông sống trên Nam Phi thì  
sâu kín trong con người ấy vẫn hoài niệm về nguồn gốc  
khác. Trở thành nhà văn của thế giới phương Tây như  
chính bản thân ông từng nhận về mình cũng là một  
phương cách để J.M. Coetzee thông báo về sự lưu vong  
của mình. Năm 2006, chính thức được Australia cấp căn  
cước và làm giáo sư danh dự tại Trường Đại học  
Adelaide (biểu tượng của tri thức Úc), nhưng đằng sau  
con người lạnh lùng, ít nói, tưởng chừng như vô cảm  
của ông lại chất chứa cảm thức tìm kiếm quê hương  
thực thụ của mình.  
con lẫn căn bệnh ung thư hành hạ và chính trị bạo lực  
của Nam Phi. Tất cả tạo nên hai bi kịch lớn lồng vào  
nhau: bi kịch cá nhân con người và bi kịch quốc gia.  
Vào giữa thập niên 1990, ông chiêm nghiệm về hành  
trình đời mình, và cho ra đời Ruồng bỏ, câu chuyện về  
một vị giáo sư đại học da trắng đầy kiêu hãnh bị đuổi  
việc vì liên quan đến vấn đề tình dục với sinh viên. Bị  
tước hết mọi quyền ở trường Đại học, David trở về nông  
trại cùng con gái Lucy. Ở đây ông bị đẩy tụt xuống một  
đời sống rúm ró tuyệt vọng ngoài lề của một Nam Phi  
mới. Tác phẩm ám ảnh người đọc bởi những bi kịch lớn  
của con người trong thời kì hậu Apartheid. Không ai  
ngạc nhiên khi J.M. Coetzee, lúc này 63 tuổi, thầm lặng  
lên đường sang Australia vào năm 2002, nhưng để lại  
thắc mắc, băn khoăn cho nhiều người trong giới phê  
bình nghiên cứu: giải Nobel của ông có là phải là dành  
cho nhà văn Nam Phi hay đó là nhà văn lưu vong  
phương Tây? Từ bi kịch cá nhân, J.M. Coetzee hư cấu  
đến bi kịch xã hội rộng lớn không chỉ riêng đất nước  
Nam Phi mà có thể bắt gặp bất kì nơi nào trên thế giới.  
Có thể nói bạo lực da đen - da trắng trong tiểu  
thuyết J.M. Coetzee không đẫm máu như các nhà văn  
Nam Phi cùng thời, nhưng bằng các ngụ ngôn đen, ông  
đã đem đến những điểm nhìn nhức nhối về xã hội: tình  
hình chính trị bất ổn, quyền lực xã hội thay đổi nhưng  
không triệt để, thân phận con người rẻ rúng,...  
Tài liệu tham khảo  
Chu, Đ. K. (2019a). Chế độ Apartheid trong Tuổi sắt đá  
của John Maxwell Coetzee. Tạp chí Khoa học  
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng,  
34(3), 66-72.  
Chu, Đ. K. (2019b). Con người hậu hiện đại trong tiểu  
thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K. Tạp  
chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm - Đại học  
Đà Nẵng, 33(02), 45-52.  
Coetzee, J. M. (1986). Foe (Revised ed. edition). Viking  
Press.  
Coetzee, J.M. (2008). Người chậm (Slow man) (Thanh  
Vân, Trans.). Văn học.  
Coetzee, J.M. (2004). Cuộc đời và thời đại của Michael  
K (Life and Times of Michael K) (Thanh Vân,  
Trans.). Phụ nữ.  
Coetzee, J.M. (2004a). Ruồng bỏ (Disgrace) (Thanh  
Vân, Trans.). Phụ nữ.  
3. Kết luận  
J.M. Coetzee là nhà văn của Nam Phi, Australia hay  
của phương Tây hậu hiện đại thì tâm thức căn cốt bám  
rễ trong sáng tác ông luôn mang âm hưởng của người  
dân đất nước Cầu Vồng với thân phận thuộc địa. Nỗi  
đau về một quốc gia đen bị áp đặt bởi một văn hóa  
phương Tây xa lạ luôn chống chọi khắc nghiệt. Không  
thỏa hiệp, cũng không đả phá gay gắt, cách chấp nhận  
thuộc địa và hậu thuộc địa của các nhân vật trong sáng  
tác của J.M. Coetzee đã giải mã cơ bản căn tính con  
người Nam Phi. Đặc điểm hậu hiện đại độc đáo trong  
sáng tác của ông khi viết về Apartheid là thái độ lưỡng  
phân của ông. Thời kì Apartheid, quan niệm “trắng”  
xấu, “đen” tốt nhưng ông không bênh vực “đen”, lên án  
“trắng”. Thời kì hậu Aparthied, “đen” xấu, “trắng” tốt,  
J.M. Coetzee vẫn giữ thái độ trung tính. Không ca ngợi,  
cũng không đả phá, bởi ông xem sự phân biệt chia rẽ đã  
là tội ác. Một trong những nội dung quan trọng trong  
Coetzee, J.M. (2004b). Tuổi sắt đá (Age of Iron) (Anh  
Thư, Trans.). Phụ nữ.  
Coetzee, J.M. (2005). Giữa miền đất ấy (In the Heart of  
the Country) (Song Kha, Trans.). Văn học.  
Coetzee, J.M. (2014). Đợi bọn mọi (Waiting for the  
Barbarians) (Crimson Mai & Phương Văn,  
Trans.). Văn học.  
Coetzee, John Maxwell. (2013). The childhood of Jesus.  
Viking Press.  
Lê, B. H., Trần, Đ. S., & Nguyễn, K. P. (2011). Từ điển  
thuật ngữ văn học. Giáo dục.  
Lê, H. B. (2013). Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp  
nhận. Đại học Sư phạm.  
13  
Chu Đình Kiên  
Phượng Lựu. (2011). Lý thuyết văn học hậu hiện đại.  
Đại học Sư phạm.  
Wästberg, P. (2003). The Nobel Prize in Literature  
org/prizes/literature/2003/ceremony-speech/  
EXILIC CONSCIOUSNESS IN THE NOVEL BY JOHN MAXWELL COETZEE  
Chu Dinh Kien, Nguyen Thi Ngoc Han  
Thua Thien Hue College of Education  
Dong Nai University  
Abstract: As a South African writer but currently living and working in Australia, so deep down, J.M. Coetzee has a profound  
sense of exile, which affected his writings. Not only having lost their identity cards and places of living, but the characters in Coetzee's  
novels also have the consciousness of an exiled soul. Each story he reflected also contains allegories of the politics, the apartheid  
state institution. The article explains some aspects of political discourse and exilic consciousness, helping us understand the  
apartheid tragedy that has had a strong impact on the lives of South Africans in particular and of humanity in general.  
Key words: John Maxwell Coetzee; Apartheid; exilic consciousness; political allegory; South Africa.  
14  
pdf 8 trang baolam 30780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tâm thức lưu vong trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftam_thuc_luu_vong_trong_tieu_thuyet_cua_john_maxwell_coetzee.pdf