Thơ Hoàng Cầm nhìn từ lăng kính phê bình cổ mẫu

8
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 8-17  
THƠ HOÀNG CẦM NHÌN TỪ LĂNG KÍNH PHÊ BÌNH CỔ MẪU  
Huỳnh Thị Diệu Duyên*  
Trường Đại học Phú Yên  
Ngày nhận bài: 24/04/2021; Ngày nhận đăng: 24/09/2021  
Tóm tắt  
Hoàng Cầm là một trong những gương mặt lớn của thi đàn Việt Nam hiện đại. Thơ  
Hoàng Cầm ẩn giấu nhiều kí hiệu, biểu tượng, và sâu hơn, là cổ mẫu. Từ lăng kính phê bình cổ  
mẫu, bài viết nhận diện và phân tích giá trị biểu đạt, giá trị thẩm mĩ của cổ mẫu trong thế giới  
nghệ thuật thơ Hoàng Cầm. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn tìm hiểu và trình  
bày về cổ mẫu Linh âm và Tự ngã.  
Từ khóa: Hoàng Cầm, cổ mẫu, phê bình cổ mẫu, Tự ngã, Linh âm.  
đời của thuyết phê bình cổ mẫu đã cung cấp  
một cách đọc khác mang tính đa giác: tâm  
lí, văn hóa, nhân học. Đặc biệt, đối với các  
tác giả mà sáng tác của họ mang nhiều dấu  
vết của chất liệu văn hóa dân gian, ẩn tàng  
năng lượng tinh thần vô thức cộng đồng…,  
phê bình cổ mẫu hứa hẹn những khám phá  
bất ngờ ở tầng sâu bút pháp tư duy, thế giới  
thẩm mĩ của nhà văn.  
1. Đặt vấn đề  
Phân tâm học ra đời và phát triển  
mạnh mẽ vào đầu thế kỉ XX đã mang đến  
sự thay đổi lớn lao trong nhận thức về trung  
tâm tâm thức con người. Nó không chỉ cho  
thấy khoa học văn học từ cội nguồn sâu xa  
luôn gắn liền với tâm lí học mà quan trọng  
hơn, còn chứng minh một cách xác đáng  
rằng vô thức đóng vai trò như là dự phóng  
tạo nên sự thăng hoa trong hoạt động sáng  
tạo của người nghệ sĩ.  
Thi sĩ Hoàng Cầm (1922 - 2010) -  
người được mệnh danh là cây bút “dệt thơ  
từ những giấc mơ” - bước vào giữa thi đàn  
Việt Nam bằng “nguồn sáng linh diệu phía  
sau những ngôn từ” (Erich Fromm, 2002).  
Thơ ông chất chứa những khoảng lặng đầy  
“mê hương”, “ám ảnh” với những phát tích  
từ huyền tưởng, giấc mơ, mộng ảo…  
Chúng ẩn giấu vô số kí hiệu, biểu tượng, và  
sâu hơn là cổ mẫu - mã nghệ thuật dẫn đưa  
vào thế giới thơ thi nhân.  
C.G.Jung - cha đẻ của trường phái  
Tâm lí học chuyên sâu - khẳng định, vô  
thức tập thể, đặc biệt là cổ mẫu, chính là  
đầu mối khởi phát cho việc lí giải các động  
cơ sáng tạo nghệ thuật đích thực. Nói cách  
khác, trong văn chương nghệ thuật, quá  
trình sáng tạo của nhà văn luôn chịu sự tác  
động vô hình từ vô thức tập thể thông qua  
các cổ mẫu. Quan điểm mới mẻ, đầy táo  
bạo này đã đặt nền móng cho sự hình thành  
thuyết phê bình cổ mẫu (Archetypal  
Criticism), đánh dấu sự chuyển dịch khái  
niệm cổ mẫu từ một thuật ngữ tâm lí học  
vào địa hạt văn chương với tư cách là cội  
nguồn sinh thành nên các hệ biểu tượng đầy  
sức ám ảnh trong sáng tác văn học. Sự ra  
____________________________  
Chính bằng “đôi hài cổ mẫu” (chữ  
dùng của Trần Nữ Phượng Nhi), chúng tôi  
tìm thấy trong thơ Hoàng Cầm âm vọng  
Cội nguồn thiết tha với cổ mẫu Đất, khát  
vọng kiếm tìm không thỏa linh giới Mẫu  
trong cảm quan Mẫu hệ đong đầy qua cổ  
mẫu Người đàn bà Mẹ, tình yêu siêu năng  
chứa đựng “nguyên vẹn kí ức trùng khơi”  
về giấc mơ hạnh phúc với cổ mẫu Linh âm  
* Email: [email protected]  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 8-17  
9
và Hành trình tìm về bản thể, về với ta  
thông qua cổ mẫu Tự ngã. Trong phạm vi  
bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn tìm hiểu  
và trình bày về cổ mẫu Linh âm và Tự ngã -  
“hạt nhân tâm thức” Hoàng Cầm.  
có thể thay đổi tùy theo các thời đại, các tộc  
người và các cá nhân (Jean Chevalier -  
Alain Gheerbarnt, 2002). Cổ mẫu, vì vậy,  
mang trong nó xu hướng được phú bẩm và  
trao truyền.  
Từ những định nghĩa trên, có thể  
2. Cổ mẫu và cổ mẫu trong văn chương  
Cổ mẫu (tiếng Anh: archetype,  
hiểu một cách sơ giản, cổ mẫu (Archetype)  
chính là những “hình tượng có giá trị bền  
vững, phổ quát, thoát thai từ vô thức tập  
thể” (Nhiều tác giả, 2009). Trong họa đồ  
tâm thức của con người, cổ mẫu nằm ở tầng  
sâu nhất: Tôi → Ý thức → Vô thức cá nhân  
→ Vô thức tập thể → Vô thức tập thể  
không bao giờ ý thức được… Nó có từ  
nguyên thủy và là một thành phần trong gia  
tài tinh thần nhân loại.  
tiếng Pháp: archétype) là một thuật ngữ của  
ngành Tâm lí học chuyên sâu do C.G.Jung  
sáng lập. Về nghĩa từ nguyên, Archetype là  
từ ghép có tiếp đầu ngữ arche là cổ, khởi  
đầu, cơ sở, nguyên lí và type là mẫu, loại,  
dấu ấn, hình ảnh, mô phạm, quy phạm…  
Do vậy, khi dịch sang tiếng Việt, Archetype  
được định danh theo nhiều cách khác nhau:  
sơ nguyên tượng (Kim Định), siêu mẫu (Vũ  
Đình Lưu, Đỗ Lai Thúy), nguyên mẫu  
(Phan Quang Định), mẫu cổ (Trần Đình Sử,  
Đỗ Đức Hiểu), cổ mẫu (Phương Lựu,  
Nguyễn Thị Thanh Xuân), mẫu gốc (Hồ  
Thế Hà)… Ngay chính C.G.Jung, trong các  
công trình của mình, cũng đã dùng nhiều  
tên gọi để miêu tả Archetype như: siêu  
tượng, hình ảnh nguyên thủy, vết tích bàn  
cổ.  
Khi bàn về con đường thoát thai  
của cổ mẫu từ huyền thoại cổ đến sáng tạo  
văn chương, N.Frye cho rằng sự tuần hoàn  
sinh mệnh trong thiên nhiên sẽ quyết định  
một cách tương ứng những cổ mẫu đi vào  
văn học cũng tất yếu sẽ mang những trình  
thức diễn biến tuần hoàn. Trên tinh thần đó,  
N.Frye đã gợi mở một cái nhìn khoáng đạt  
và cởi mở hơn về cổ mẫu trong văn học.  
Theo ông, cổ mẫu là những ý tượng điển  
hình xuất hiện trở đi trở lại một cách  
thường xuyên trong tác phẩm. Chúng mang  
tính tự trị, vừa có thể bổ sung trong dạng  
thức biểu tượng của riêng nó vừa tham gia  
vào tình huống có sẵn với những xung năng  
và tư tưởng riêng.  
Theo Từ điển văn học (bộ mới), cổ  
mẫu là “khái niệm dùng để chỉ những mẫu  
của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần  
bẩm sinh, trong tưởng tượng của con  
người, chứa đựng trong vô thức tập thể của  
cộng đồng nhân loại; vô thức tập thể này là  
yếu tố đặc trưng của tất cả các vô thức cá  
nhân” (Đỗ Đức Hiểu, 2004). Các tác giả Từ  
điển biểu tượng văn hóa thế giới xem  
Archetype “biểu hiện ra như những cấu trúc  
tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hay  
được thừa kế, một thứ ý thức tập thể; chúng  
thể hiện qua các biểu tượng đặc biệt chứa  
đầy một công suất năng lượng lớn” (Jean  
Chevalier - Alain Gheerbarnt, 2002). Và  
lưu ý thêm, “nhưng cái chung cho cả nhân  
loại là những cấu trúc ấy, vốn hằng định,  
chứ không phải những hình ảnh bề ngoài,  
Trải nghiệm về cổ mẫu, vì vậy, như  
C.G.Jung chia sẻ, “là một trải nghiệm căng  
thẳng và xáo trộn. Chúng ta dễ dàng khi nói  
một cách điềm tĩnh về cổ mẫu, nhưng đối  
diện thực sự với chúng là một việc hoàn  
toàn khác hẳn” (Carl Gustav Jung, 2007).  
Đọc tác phẩm văn chương dưới lăng kính  
phê bình cổ mẫu cũng vậy. Người đọc luôn  
đứng trước câu hỏi: Có thể đưa hình tượng  
được triển khai trong tác phẩm nghệ thuật  
này đến cổ mẫu nào của vô thức tập thể?  
10  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 8-17  
Và làm sao để có thể nhận diện chính xác  
cổ mẫu giữa mê cung từ ngữ?... Dựa trên lí  
thuyết cổ mẫu và phê bình cổ mẫu, có ba  
tiêu chí nhận diện quan trọng: trội bật, linh  
hoạt và lan tỏa, ảnh hưởng. Tuy vậy, nhận  
diện cổ mẫu quả thật là một công việc đòi  
hỏi sự tinh tế, nhạy cảm, thêm chút cơ  
duyên. Có lẽ chính bởi thế, cổ mẫu và  
những trang viết về nó luôn đầy sức ám  
gợi, hấp dẫn như chính lời mời gọi ân cần  
của C.G.Jung: “… tôi có quyền hi vọng là  
các thính giả của tôi đã kịp suy nghĩ, không  
phải về những điều tôi nói, mà chính là về  
sự vận dụng cụ thể tất cả những điều đó  
vào tác phẩm thơ ca – nghệ thuật, như thế  
là đắp da đắp thịt cho bộ khung xương tư  
tưởng trừu tượng của tôi”.  
xa, siêu việt” (Trần Nữ Phượng Nhi, 2011).  
Cho nên, có thể thấy hấp lực của Linh âm  
(ở nam giới) rất lớn và không đơn thuần chỉ  
liên quan đến những yếu tố dục năng mà  
còn tiềm ẩn bên trong những đặc tính về  
thẩm mĩ, đạo đức, phẩm hạnh, tinh thần.  
Ở một cách diễn giải khác, Linh âm  
là thành tố nữ tính trong tâm hồn người đàn  
ông. Nó đưa lại sự yêu thương, say mê,  
nhung nhớ, khát vọng… cũng như đưa lại  
sinh lực sống dồi dào, dẫn đến sự “phối kết  
hợp nhất” hai yếu tố âm dương trong người  
nam góp phần làm nên những đặc tính nhân  
cách. Hơn thế nữa, Linh âm có mặt trong  
vô thức nam giới còn nhằm điều hòa tâm lí.  
Nó thực hiện chức năng “môi giới giữa cái  
tôi và cái mình, cái mình ấy là hạt nhân của  
psyché (cái tâm)” (Erich Fromm, 2002).  
Theo C.G. Jung, cổ mẫu Linh âm  
3. Cổ mẫu Linh âm (Anima) trong thơ  
Hoàng Cầm  
Linh âm (Anima) là một trong năm  
phát triển qua bốn chặng đường. Chặng đầu  
tiên là giai đoạn mang tính cơ thể và sinh lí,  
Linh âm được tượng hình với vóc dáng  
Eva. Chặng thứ hai là giai đoạn có tính  
hình thức lãng mạn và thẩm mĩ, Linh âm  
tồn tại dưới hình dạng Eros hàm chứa nhiều  
nét giới tính. Chặng thứ ba, chịu ảnh hưởng  
của các yếu tố quy phạm xã hội, Linh âm  
mang những nét đức hạnh và đạo đức, được  
tinh thần hóa và tâm linh hóa, tồn tại dưới  
hình dạng ni, nữ tu hay Đức Trinh nữ  
Maria. Và chặng cuối cùng là sự tiến hóa  
đỉnh cao, mang tính minh triết, ý nghĩa tinh  
thần, Linh âm tồn tại dưới hình dạng hiền  
mẫu, đưa lại kinh nghiệm nội tâm đầy sáng  
tạo và thấm nhuần tâm linh.  
cổ mẫu quan trọng nhất trong đời sống  
nhân loại. Cổ mẫu này ám chỉ mặt nội tâm  
bị che giấu của nhân cách một người đàn  
ông. Cụ thể hơn, Anima là “chỉ số đàn bà  
trong vô thức của đàn ông” (Erich Fromm,  
2002) (đối lập với Animus là chỉ số đàn ông  
trong tâm linh nữ giới). Ý chỉ rằng, “Mọi  
người đàn ông đều mang trong mình một  
hình ảnh phụ nữ vĩnh cửu; đó không phải là  
hình ảnh của một người phụ nữ cụ thể mà  
là một hình ảnh nữ tính xác định” (Murray  
Stein, 2011). Theo như khám phá của C.G.  
Jung, Linh âm mang tính chất tích cực  
trong tâm thức nam giới, tác động đến nhân  
cách họ theo hai khía cạnh: Ở khía cạnh  
cảm hứng sáng tạo, “nhờ linh âm mà linh  
dương tiêu cực được chuyển đổi thành tích  
cực với nhiều cảm hứng đầy khởi sắc và  
sáng tạo” (Trần Nữ Phượng Nhi, 2011);  
còn khía cạnh thứ hai là “những nỗi niềm  
khắc khoải, nhớ nhung, mong ước tìm về  
những bến bờ vượt không gian, vượt thời  
gian, những bến bờ vĩnh cửu, xa cách, cao  
Tìm hiểu thơ Hoàng Cầm từ góc  
nhìn cổ mẫu, chúng tôi nhận thấy Linh âm  
chiếm một vị trí quan trọng trong tâm thức  
nhà thơ. Lí giải cho điều này, có lẽ xuất  
phát từ bối cảnh không gian văn hóa quê  
hương, sự nghiệp thi ca và nhất là biến cố  
lớn lao trong cuộc đời Hoàng Cầm: vụ án  
Nhân văn - Giai phẩm. Thêm nữa, cũng cần  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 8-17  
11  
lưu ý đến tính nữ ở những vai nam trong  
quan họ hay chèo, một đặc trưng văn hóa  
dân gian đồng bằng Bắc Bộ. Tất cả những  
tác nhân văn hóa và tâm lí trên đã đẩy nhà  
thơ rơi vào trạng thái mất cân bằng, ngày  
càng có xu hướng chuồi sâu vào bản thể.  
Thực tế đó đòi buộc trong sâu thẳm tâm  
thức nhà thơ sự tự hòa giải, bổ cứu, cân  
bằng. Và Linh âm - yếu tố nữ tính nằm  
trong vô thức tập thể - chịu trách nhiệm  
quan trọng đó. Cổ mẫu này bảo toàn nhân  
cách nhà thơ, điều khiển và chi phối  
khuynh hướng ứng xử văn hóa của nhà thơ  
trước cuộc đời và thi ca.  
nữ vừa thực vừa mộng ảo ấy, nhà thơ  
dường như đã “tựa vào vai người đẹp, vào  
nhân cách người xưa qua sự đằm thắm, đa  
tình nhằm hướng đến một sắc màu huyền  
thoại vĩnh viễn” (Lương Minh Chung, 2012).  
Riêng đối với Mẹ và Chị, họ không  
chỉ đơn giản là hình ảnh, mà là siêu tượng,  
linh ảnh. Nhà thơ nâng Mẹ và Chị từ cái  
“ngắn ngủi, tạm thời” cá nhân lên sự vĩnh  
cửu, phổ quát của cộng đồng, của nhân loại.  
Mẹ - Chị tích hợp quá khứ - hiện tại - tương  
lai; Mẹ - Chị vừa bình dị, chân thực vừa  
lộng lẫy kiêu sa trong ánh hào quang huyền  
thoại. Từ trong sâu thẳm của vô thức nhà  
thơ, Mẹ - Chị là bến hóa sinh “đưa Em nhẹ  
gót về xanh xưa/ Chỉ tay xuống đất làm  
mưa/ Mát chân Em khỏa lững lờ nguồn  
xuân” (Xanh xưa).  
Trong thơ Hoàng Cầm, chúng tôi  
nhận thấy loạt hình ảnh nhân vật nữ có  
phong cách rất riêng. Đó là những nhân vật  
trong văn chương và huyền thoại lịch sử:  
Mị Châu, nàng Tô Thị, Nguyên phi Ỷ Lan,  
Thúy Kiều, Hồ Xuân Hương…; là những  
người phụ nữ Kinh Bắc xúng xính mớ ba  
mớ bảy, đẹp nết đẹp người: Gái Tam Sơn,  
gái Cầu Lim Nội Duệ… Đậm nét nhất là  
những bà mẹ và người chị Kinh Bắc. Họ  
cũng chính là cội nguồn cảm hứng sáng tạo  
thơ Hoàng Cầm. Về Kinh Bắc mở đầu bằng  
hình ảnh người mẹ mở lối, dẫn đường cho  
đứa con xa: Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc  
(Đêm Thổ). Ở 7 nhịp sau của tập thơ, có 2  
nhịp (Rồi tất cả cùng đi và Điểm trang) in  
đậm dáng hình người con gái Kinh Bắc và  
nhịp 5 (Còn em) thao thức hình bóng Chị.  
Sang đến Mưa Thuận Thành, hình ảnh nữ  
giới xuất hiện mỗi lúc một đậm nét: Sao tơ  
tình em càng óng mịn/ Môi thơm mận tía  
vườn quê (Từ nguồn đến biển), Em nói  
như gió nghẹn/ Chiều nghiêng mây Thị  
Mầu (Anh đứng đây là đâu)… Họ không  
chỉ từ huyền sử, từ kí ức trở về trong thơ  
Hoàng Cầm như một bảng giá trị của văn  
hóa truyền thống mà còn như chứng tích  
của tín ngưỡng tôn thờ người Mẫu. Chính  
bằng cách đắm chìm trong thế giới người  
Có thể khẳng định, hình ảnh người  
phụ nữ đóng vai trò là hình tượng trung  
tâm, là biểu tượng uyên nguyên giàu chất  
văn hóa, đưa đến sự thống ngự của Âm tính  
trong thơ thi sĩ Hoàng Cầm.  
Phần lớn cổ mẫu Linh âm trong thơ  
Hoàng Cầm tượng hình với vóc dáng Eva.  
Nhà thơ say mê ngắm nhìn và miêu tả vẻ  
đẹp hình thể người phụ nữ: Gái Tam Sơn  
đờ đẫn môi trầu/ Ngực áo phập phồng bưởi  
ngọt (Hội vật), Tuột hàng khuy lơi yếm tóc  
buông mành/ Đùi chảy dài búp thon nhún  
vội (Thi đánh đu), Tê tê ngực nở bồi hồi/  
Gió thơm tóc cuốn nắng cười Em chi (Gọi  
đôi)… Trong cách miêu tả này, người đọc  
nhận ra có một mạch nguồn phồn thực đang  
chảy lênh láng trên mảnh đất vô thức  
Hoàng Cầm. Nhà thơ đã “thừa hưởng cái  
bản tính thuần nhiên của cha ông nguyên  
thủy và nhân loại sơ khai để nhìn đời bằng  
đôi mắt quý trọng bản chất tự nhiên” (Trần  
Nữ Phượng Nhi, 2011). Không ngần ngại  
hay e dè, Hoàng Cầm ca ngợi vẻ đẹp của  
người phụ nữ bằng cảm quan tín ngưỡng  
phồn thực, bằng cảm thức cây lá, hoa trái:  
12  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 8-17  
môi hoa, bầu vú lửa, miệng hé hạt na, cổ  
tay tròn đẫn mía gie, hai gò tịch mịch má  
hồng ngâm, vú xuân đường phèn căng bưởi  
Nga My… Và chuyện ân ái trong mắt nhà  
thơ là cuộc tính giao bất tận của vũ trụ:  
Động phòng cưỡng gió ôm hôn, Sao lặng  
ngàn xưa gió động phòng… Dường như, vô  
thức cá nhân cộng hưởng vô thức nhân loại  
nói chung và tín ngưỡng phồn thực nói  
riêng đã tạo nên một Hoàng Cầm với sắc  
diện hào hoa đa tình. Trong đó, hình ảnh  
Chị là hiện thân cụ thể cho vẻ đẹp hình thể  
ám ảnh nguồn thơ: mây uốn hàng cau cúi  
ngó vành môi (Đèn nhang 2), tua khăn  
buông còn buộc búp hoa lan (Cỏ Bồng thi),  
tung tóe dội gầu trăng nước giếng/ Mát lùa  
kẽ tóc (Tắm đêm), Ngửa mặt hứng mưa đồi  
cỏ ngát/ Nguôi dần cơn sốt bỏng môi hoa  
(Thi ăn mía thổi cơm), Gầu giai ai vớt Chị  
ơi/ lòa lõa thân trăng (Đợi mùa), Đến khi  
xé lụa bừng da thịt/ Ngửa mặt phù du khép  
gió xanh (Dáng thơ)…  
hư, cái hoang đường kì ảo.  
Chính trong bầu khí quyển đặc biệt  
đó, cặp đôi Chị - Em dễ khiến người đọc  
liên tưởng đến đôi nam nữ đầu tiên của  
nhân loại: Adam - Eva. Và chiếc lá Diêu  
bông, cỏ Bồng thi, quả vườn ổi tựa như trái  
cấm vườn Địa đàng năm xưa. Chúng cứ  
chập chờn ảo mê, hư thực cuốn Em bước  
vào hành trình kiếm tìm vi phạm cấm kị.  
Và phải chăng, tục tìm lá quý, lá độc, đố lá  
lạ của trai gái yêu nhau vào mùa xuân trong  
rừng ngày xưa của nền văn hóa Việt -  
Mường vẫn còn dư ảnh trong tiềm thức  
Hoàng Cầm? Còn Chị, qua khát vọng chạm  
đến cấm vật của Em, phải chăng là hiện  
thân của “nguyên vẹn kí ức trùng khơi” về  
giấc mơ hạnh phúc (không chỉ là tình yêu  
lứa đôi) của nhân loại; là biểu tượng của  
“người mẹ vô lượng” phục sinh tâm hồn  
nhà thơ?  
Mặt khác, trong thơ Hoàng Cầm,  
đặc biệt là ở tập thơ Về Kinh Bắc, cái Tôi  
trữ tình của nhà thơ luôn có xu hướng tìm  
đến với những vẻ đẹp giàu thiên tính nữ,  
với thế giới của khăn - yếm - áo - váy cùng  
chuỗi hình ảnh biểu trưng cho người nữ,  
người mẹ như da trứng bóc, ngón tay  
măng, da trinh nữ, búp thanh xuân …  
Chính sự hiện diện của cái Tôi trữ tình  
khuynh nữ đã gợi ý chúng tôi truy nguyên  
về cổ mẫu Linh âm. Bởi lẽ, theo C.G.Jung,  
tính nữ tượng trưng cho phương diện  
Anima của vô thức cộng đồng.  
Trong mối quan hệ sóng đôi với  
Em, Chị và Em tạo thành một cặp thành tố  
tương hỗ Âm - Dương xoắn bện. Cặp đôi  
nhân vật - chủ thể trữ tình này thường xuất  
hiện, hoặc trong không gian bảng lảng màn  
sương huyền thoại “Em mười hai tuổi tìm  
theo chị/ Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa”  
(Quả vườn ổi), “Chị đưa em đến bến này/  
Trước vực sau khe/ Ù ù gió thổi/ (…)/ Ù ù  
gió thổi/ Em vọng ai đâu mà hóa đá” (Cỏ  
Bồng thi)… hoặc nhòe mờ ranh giới giữa  
trò chơi - cuộc đời “Cỗ bài tam cúc mép  
cong cong/ Rút trộm rơm nhà đi trải ổ/ Chị  
gọi đôi cây!/Trầu cay má đỏ/ Kết xe hồng  
đưa Chị đến quê Em” (Cây tam cúc), “Váy  
Đình Bảng buông chùng cửa võng/ Chị  
thẩn thơ đi tìm/ Đồng chiều/ Cuống rạ/ Chị  
bảo/ - Đứa nào tìm được lá Diêu Bông/ Từ  
nay ta gọi là chồng” (Lá Diêu bông)… Thế  
giới của Chị - Em, do vậy, là thế giới hợp  
nguyên của cái thực, cái đời thường và cái  
Truy nguyên về cổ mẫu Linh âm,  
chúng tôi tìm thấy chìa khóa lí giải năng  
lượng sáng tạo và nét đặc trưng trong cảm  
xúc và tư duy thơ Hoàng Cầm. Ở đó, tâm  
thức Mẫu đóng vai trò hạt nhân. Nó được  
thể hiện ở sự gắn bó với mẹ và đặc biệt, là  
ảo mộng luyến ái với chị - sự phóng chiếu  
tình cảm từ mối quan hệ với mẹ sang một  
người phụ nữ khác. Cho nên, Hoàng Cầm  
của Về Kinh Bắc là một Hoàng Cầm - cậu  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 8-17  
13  
bé con luôn “Nằm mơ ru võng mẹ/ Vòng tay  
quê bế bồng (Theo dòng mẫu hệ); cũng  
đồng thời là một cậu bé con ôm “khối tình  
nghẹn” (chữ dùng của PGS.TS. Chu Văn  
Sơn) “Em đứng nhìn theo em gọi đôi” (Cây  
tam cúc). Hai mạch cảm xúc này là tiền đề  
thôi thúc chuyến hành trình Về Kinh Bắc,  
và sau đó, trở thành thi cảm chủ đạo của tập  
thơ.  
C.G.Jung, là tầng vô thức sâu nhất. Nó  
đóng vai trò như “hạt nhân tâm thức” con  
người. Đối với nam giới, Tự ngã thường  
biểu hiện thông qua hình dạng người như  
lão hiền nhân, sư phụ, thần trời, thần đất…  
Còn ở nữ giới là hình ảnh người nữ cao  
sang, ni cô, tiên nữ, thần nữ tình yêu…  
Ngoài ra, những hình ảnh động vật như voi,  
ngựa, bò, gấu… hay vật thể như đá quý,  
kim cương, saphia cũng là những biểu  
tượng của Tự ngã.  
Về phương diện tư duy thơ, sự hiện  
diện và chi phối của cổ mẫu Linh âm đã  
góp phần hình thành lối tư duy duy cảm ở  
nhà thơ Hoàng Cầm. Biểu hiện rõ nét nhất  
là lối thơ tự động, câu chữ như bật ra từ  
tiếng nói vọng về của tâm linh, tiềm thức; ở  
những khoảng lặng, khoảng trống; ở sự liên  
tưởng, sự chuyển kênh, lối tư duy đứt đoạn  
“tiêu diệt mất ý đồ liên kết để thay vào đó  
sự bùng nổ của các từ” (Lương Minh  
Chung, 2012). Thơ Hoàng Cầm, do vậy,  
khó có thể đọc bằng logic lí trí thông  
thường: Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/  
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/ Thân cây cụt  
vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn  
khiêng nắng sang sông (Đêm Thổ), Dòng  
dây vục mãi đêm hồ tinh/ Ấp vú mình trần  
con dế trũi (Tắm đêm)… Nó hướng người  
đọc đến sự cảm hơn là hiểu, như chính nhà  
thơ đã tự nhận xét “Cái tứ của thơ phải đọc  
được ngoài lời. Có nhiều bài thơ mang một  
tứ rất lạ, khó giảng, khó bình, chỉ cảm thấy  
được thôi” (Lại Nguyên Ân chủ biên, 2011).  
Qua phân tích, có thể thấy, cổ mẫu  
C.G.Jung xem Tự ngã như là cổ  
mẫu bậc nhất mà từ đó tất cả các cổ mẫu  
khác và hình ảnh cổ mẫu phát sinh. Theo  
C.G. Jung, Tự ngã bao gồm những mặt đối  
lập và “có một đặc điểm nghịch lí, loạn  
cương thường (phi đạo đức). Nó vừa là  
nam vừa là nữ, ông già và trẻ con, sức  
mạnh và bất lực, lớn và nhỏ (Jung cũng có  
thể bổ sung thêm tốt và xấu). Hoàn toàn có  
thể rằng, điều dường như nghịch lí này lại  
chính là phản ánh của những biến đổi hai  
mặt đối nghịch (enantiodromia) của thái độ  
ý thức mà có thể có một ảnh hưởng có lợi  
hay bất lợi trên tổng thể” (Murray Stein,  
2011). Một cách chung nhất, Tự ngã là cổ  
mẫu “tập trung tất cả những biểu hiện rời  
rạc của vô thức tập thể trong tâm thức con  
người làm thành hình mẫu bản vị chi phối  
đến quá trình hình thành nhân cách thành  
toàn của con người, mà Jung gọi là “thành  
toàn tự ngã” (individuation)” (Trần Nữ  
Phượng Nhi, 2011).  
Linh âm thực sự là nguồn năng lượng dạt  
dào, là nơi nương dựa sáng tạo cho hồn thơ  
Hoàng Cầm. Nhà thơ luôn quay về với  
người mẹ, người chị, người tình. Trong cõi  
riêng Hoàng Cầm, họ là “vùng đất linh,  
cấm địa và bí mật” (Lại Nguyên Ân, 2011)  
làm nên một sa mạc Tình Cầm âm thịnh  
dương suy.  
Theo C.G.Jung, cuộc đời con người  
chia làm hai giai đoạn lớn được đánh dấu  
bằng sự chuyển đổi khuynh hướng từ ngoại  
giới (nửa đầu) sang nội giới (nửa sau).  
Khuynh hướng nội giới thúc đẩy con người  
nhận thức lại bản thân và thế giới, phục hồi  
những hiểu biết, suy nghĩ, kinh nghiệm vì  
một lí do nào đó đã bị lãng quên, đồng thời  
có cái nhìn sâu hơn, xa hơn về bản chất  
thực tại. Khảo thơ Hoàng Cầm, chúng tôi  
4. Cổ mẫu Tự ngã trong thơ Hoàng Cầm  
Tự ngã, theo lí thuyết của  
14  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 8-17  
nhận thấy, càng về cuối đời, nhà thơ càng  
có khuynh hướng đào sâu bản thể Về với ta,  
về với những kí ức, hoài niệm, với những  
giá trị sâu sắc tiềm ẩn trong cuộc sống: Ta  
con phù du ao trời chật chội/ Đứng cánh  
bèo đo gió lặng tìm sao/ Uống nước mắt  
con vành khuyên nhớ tổ/ vừa rụng chiều  
nay/ dềnh mặt nước hương sen/ Ta soi/ chỉ  
còn ta đạp lùi tinh tú/ Ngủ say rồi/ đôi cá  
đòng đong (Về với ta).  
và được mô tả như sau:  
Người anh hùng như những  
người giải nguy, vị cứu tinh thực hiện một  
cuộc hành trình dài với những nhiệm vụ bất  
khả: chiến đấu với quái vật, trả lời những  
câu đố nan giải, vượt qua những chướng  
ngại tưởng chừng như không thể… để cứu  
vương quốc, triều đại. Trong quá trình đó,  
người anh hùng được khai tâm, soi sáng trở  
nên chín chắn và trưởng thành. Sự chuyển  
đổi đó được nhìn nhận như một biến thể  
của cổ mẫu cái chết thành tái sinh (Trần  
Nữ Phượng Nhi, 2011).  
Tự ngã của Hoàng Cầm là Tự ngã  
của một con người mang bản mệnh phù du,  
bi phẫn nhưng cao ngạo, thể hiện qua hành  
động đo gió, tìm sao, đạp lùi tinh tú giữa  
thế giới ao tù chật chội. Chính cái Tự ngã  
đó đã xui nhà thơ uống nước mắt con vành  
khuyên nhớ Tổ, “biến ao trời thành nẻo  
Thiên Thai, biến cầu Lim thành xứ Liêu  
Trai để làm một cõi đi về” (Lại Nguyên Ân,  
2011), về với bản lai diện mục của chính  
mình. Nếu Bùi Giáng rong chơi “từ Quê  
nhà xuyên qua Bờ bãi, vượt Suối băng  
Rừng, thông lưu Sa mạc, tiến ra Cồn, Đảo,  
về phía tuyết băng, lại vút trên ngàn, rồi cất  
cánh phiêu bồng” (Trần Nữ Phượng Nhi,  
2011) thì Hoàng Cầm lặng lẽ tìm về cây đa,  
giếng nước, sân đình, tuần du khắp dặm dài  
quá khứ, đi từ nguồn ra đến biển, khắp đủ  
nghìn phương. Nhưng cuối cùng, vẫn là Về  
với ta, với cậu bé của ngày xưa Là em cưới  
Chị xanh thiêm thiếp/ Sinh một đàn con  
mây trắng bay (Chị em xanh). Thật vậy,  
suốt Về Kinh Bắc và Mưa Thuận Thành,  
ta luôn bắt gặp dấu ấn của một cuộc Hành  
trình.  
Như vậy, Hành trình mang đến cho  
con người khả năng lớn lao trong việc giải  
thoát tâm linh và dự phần vào giải tỏa, bù  
đắp những ức chế, thiếu hụt trong tinh thần  
con người. Ta hiểu vì sao từ sau Vụ án  
Nhân văn - Giai phẩm, Hoàng Cầm “xê  
dịch” nhiều hơn trước. Thơ ông, không chỉ  
riêng Về Kinh Bắc hay Mưa Thuận  
Thành, được nối dài bởi những chuyến đi:  
Em cứ về bên ấy, Ngã ba sông, Tương biệt  
hành… Trong đó, Ta con chim cu về gù  
rặng tre/ đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng/  
đưa mây lành những phương trời lạ/ về tụ  
nóc cây rơm là chuyến Hành trình lớn nhất  
cuộc đời Hoàng Cầm. Cho nên, nhà thơ  
nuôi mãi ước vọng: Em đàn anh hát níu  
xuân xanh trong mặc cảm cô đơn và nỗi  
hoang mang Anh đứng đây là đâu. Hoàng  
Cầm và thơ ông cứ đứng ở thế trước vực  
sau khe, cheo leo mỏm đá và chỉ cần một  
cái chép miệng là vàng son ngút khói tan.  
Nhưng trên hết, cốt cách lãng du bàng bạc  
chất Liêu Trai lẫn cái lúng liếng đa tình của  
người Quan họ và nội tâm sâu thẳm, khát  
bừng sức sống vẫn là dòng mạch chủ đạo  
làm nên thi lực cho cõi thơ Hoàng Cầm.  
Hoàng Cầm hay nhắc nhiều đến về  
Ngay từ xa xưa, Hành trình đã xuất  
hiện như một môtip quen thuộc trong các  
câu chuyện thần thoại, cổ tích. Với tư cách  
biểu tượng, Hành trình biểu trưng cho “sự  
tìm chân lí, hòa bình, bất tử, là tìm kiếm và  
phát hiện một trung tâm tinh thần” (Jean  
Chevalier - Alain Gheerbarnt, 2002). Hành  
trình còn có một tên gọi khác là sự truy tìm  
và đi. Chúng là những động thái, động  
hướng bao trùm lên Tự ngã nhà thơ. Trong  
đó, Hoàng Cầm lấy về làm khởi bút của đi.  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 8-17  
15  
Khác với Bùi Giáng rong chơi phiêu bồng,  
thong dong ca giữa Nhiên giới, Hoàng Cầm  
đã bước chân đi là “mất hút, là đuổi theo  
cái gì vô vọng” (Lại Nguyên Ân, 2011), là  
như lạc vào bến mê: bé dại đi rồi, đi (Đèn  
nhang 2), Lẽo đẽo em đi vườn mai sau  
(Quả vườn ổi), đi đầu non cuối bể (Lá diêu  
bông), Em đi chân đất khuất vào cõi anh  
(Đi bên em ), đi tìm mây ngũ sắc… Còn về  
là về quê, về gù rặng tre, về sân đất trắng,  
về tụ nóc cây rơm, về với ta… Nhưng xét  
đến cùng, Về Kinh Bắc cũng là đi 8 nhịp  
tuần du. Đi cũng có nghĩa về khi nhà thơ  
chối từ, trốn tránh hiện tại, tìm lại thời xa,  
thời siêu hiện tại: thời Kinh Bắc bát ngát  
mùa. Cho nên, cái tôi “về” là về Kinh Bắc,  
còn những hình sắc kia “về” là về trong giá  
đồng. Cái tôi “đi” là đi tuần du, những hình  
sắc kia “đi” là đi vào hư vô sau khi đã  
thăng đồng.  
giữa cõi dương (thế giới người sống) - cõi  
âm (nơi hồn người chết nương mình). Do  
vậy, Đêm vừa là chính nó, vừa là lòng đất  
mà cũng là cái chết.  
Theo các tác giả của Từ điển biểu  
tượng văn hóa thế giới, Đêm chính là  
“hình ảnh của cái vô thức, trong giấc ngủ  
đêm, vô thức được giải phóng” (Jean  
Chevalier - Alain Gheerbarnt, 2002). Thú  
vị thay, Hoàng Cầm thường tâm sự rằng đa  
số những tứ thơ, vần thơ… và thậm chí là  
cả bài thơ chợt văng vẳng bên tai thi sĩ vào  
giữa đêm. Nhà thơ viết về đêm, viết ban  
đêm. Sự cô độc đối diện với bản ngã, đối  
thoại với âm bản, làm nên một Tự ngã chân  
thật, tự do là mình, dám là mình, phá tung  
những cấm kị, rào chắn: Ngửa mặt hứng  
mưa đồi cỏ ngát/ Nguôi dần cơn sốt bỏng  
môi hoa (Thi ăn mía thổi cơm).  
Đêm phủ đầy bóng sáng xuống toàn  
Chính Hành trình đào sâu vào bản  
bộ thi phẩm Hoàng Cầm. Thử làm phép  
đếm đơn giản, ta thấy, Đêm xuất hiện ở  
37/84 bài thơ được khảo sát với tổng số 65  
lần. Dường như, nhà thơ thao thức, khắc  
khoải hướng về Đêm. Tuy nhiên, Đêm  
trong thơ ông không yên bình, êm đềm kiểu  
như: đêm qua trời sáng trăng rằm hay sáng  
trăng trải chiếu hai hàng/ bên chàng đọc  
sách, bên nàng quay tơ… mà mang cảm  
thức về cái biến động, vô thường, sức ép,  
sự uy hiếp. Đêm của sự tàn phá, hủy diệt:  
Dù nghẹn ngào thuốc độc tam ban/ đã  
ngấm tủy xương từ chén rượu đêm qua  
(Đèn nhang 1), Tiếng hí khải hoàn chìm  
lịm/ Bình pha lê nghiêng rượu liệm đêm tàn  
(Ngựa 1), Ơi đêm Đông Hồ/ nát nhàu thân  
tố nữ (Thi sợi bún), Hạt mưa hoa nhài/  
Tàn đêm kĩ nữ (Mưa Thuận Thành… Có  
thể thấy, vô thức cá nhân nhà thơ đã hòa  
vào vô thức cộng đồng trong gương mặt  
nguyên thủy của đêm: lòng đất và cái chết.  
Như trên đã nói, Đêm bao trùm lên  
thể, tìm đến cõi thật người là cốt lõi làm  
nên Tự ngã và cấu thành bản vị Hoàng  
Cầm: một quá trình giải phóng năng lượng  
Tự ngã phong trần lận đận, hào hoa đa tình  
và một bản vị u uất, trầm cảm. Nhà thơ  
sống với cõi mơ nhiều hơn cõi thực, quá  
khứ ảo sinh nhiều hơn thực tại hiện hữu. Kí  
ức về giấc mơ thúc đẩy những đi - về trong  
thơ ông. Đêm trở thành bầu khí quyển,  
thành kẻ đồng lõa giúp Hoàng Cầm thỏa  
sức vùng vẫy trong miền kí ức.  
Đêm, theo nghĩa thông thường nhất,  
chỉ khoảng thời gian từ tối cho đến sáng,  
khi một phần trái đất không đón nhận được  
ánh mặt trời. Người Hi Lạp xem Đêm là  
con gái của Hỗn mang. Đi vào Đêm là một  
hành trình dấn thân đầy mạo hiểm. Bởi lẽ,  
Đêm chứa đầy tất cả các khả năng tiềm tàng  
của cuộc đời, đầy rẫy những ác mộng và  
quái vật, ý nghĩ đen tối. Người phương  
Đông quan niệm Đêm, cũng như bóng tối,  
âm tính và mở ra cánh cửa tương thông  
thi giới Hoàng Cầm. Qua đó, hé lộ tâm thế  
16  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 8-17  
của nhà thơ: sống trong vô thức thường  
trực. Cõi mộng, cõi mê mới chính là cõi  
thực: mơ về quá khứ (đêm vàng Kinh Bắc)  
và mộng khối tình nghẹn (Lá Diêu Bông,  
Cỏ Bồng thi, Chị em xanh…). Nên Đêm,  
thông qua mộng - mê - mơ, từ sự trốn chạy  
thực tại, từ nỗi sợ hãi, chằng chịt tổn  
thương trở thành không – thời gian giải  
thoát tâm linh, đưa nhà thơ vào cõi nguyên  
sơ tự do, đầy ắp hơi thở phồn thực phồn  
sinh: Chạy ra bến sông khỏa ánh trăng mát  
rợi/ Tiếng hát cất lên nhuộm mùi hoa bưởi  
(Lão làng tiên chỉ), Lung liêng hồn liệng  
quỳ khe núi/ Gọi suối trần tâm khép nép về  
(Dáng thơ), Thôi Em!Cỏ mịn chân đê/ Anh  
đưa Em nhẹ gót về xanh xưa (Xanh xưa)…  
Như thế với bước chân vô thức, lãng du  
trong hư vô, nhà thơ đã tìm thấy ở Đêm  
điểm tựa vô lượng cho cuộc đời bằng sự  
siêu thăng trên giá đồng thi ca: “…Cây  
Tam cúc, Quả vườn ổi, Cỏ Bồng thi, Bên  
kia sông Đuống, Chùa Hương, Về với ta…  
(…) bao giờ cũng ra đời trong đêm (…).  
Trong đời làm thơ của tôi, hồi còn trai trẻ,  
tôi đã “mất” khá nhiều những câu thơ xuất  
thần bất chợt trong đêm khuya” (Vĩ thanh).  
Là một sản phẩm của vô thức nhân  
len chèn nguyệt tận/ Phụt nửa đêm đèn nến  
lặn, thậm chí dám ngắm nhìn: Gầu giai ai  
vớt Chị ơi/ lòa lõa thân trăng (Tắm đêm).  
Nhưng oái oăm thay, chỉ một khoảnh khắc  
ngắn ngủi, đầy “mê”, “mộng” ấy không đủ  
để giúp Tự ngã nhà thơ thoát khỏi chới với,  
chơi vơi, ngẩn ngơ trong vai của kẻ mộng  
du không biên giới: Từ buổi ấy em cầm  
chiếc lá/ Đi đầu non cuối bể/ Gió quê vi vút  
gọi/ Diêu bông hời… ới Diêu bông (Lá  
Diêu bông), Lẽo đẽo em đi vườn mai sau  
(Quả vườn ổi), Em đi chân đất khuất vào  
cõi anh (Đi bên em… Cho nên, rốt cùng,  
đối diện với Hoàng Cầm vẫn là “đêm đợi  
chờ”, “đêm dài trĩu vai”, “đêm quạnh”.  
5. Kết luận  
Linh âm và Tự ngã là hai cổ mẫu  
lớn trong thơ Hoàng Cầm. Từ góc nhìn phê  
bình cổ mẫu, nếu sự thống ngự của Linh âm  
là nguyên cớ của phần tính âm nhuộm khắp  
thi giới Hoàng Cầm thì cổ mẫu Tự ngã đưa  
đến hình dung về một Hoàng Cầm phong  
trần lận đận, hào hoa, đa tình và u uất. Từ  
đó cho thấy, mỗi cổ mẫu trong thơ Hoàng  
Cầm đều chất chứa những giá trị tâm tình  
sâu kín và đặc biệt của nhà thơ với cuộc  
đời. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng  
xác quyết cho tính đúng đắn của việc đọc  
thơ Hoàng Cầm từ lăng kính phê bình cổ  
mẫu - một cách đọc hứa hẹn những khám  
phá bất ngờ ở tầng sâu tư duy và thế giới  
nghệ thuật của nhà thơ  
loại “di căn” trong tâm thức thơ ca Hoàng  
Cầm, Đêm đã tạo nên một Tự ngã dan díu  
với hư vô, buồn rã rượi, sầu lênh láng, nén  
nghẹn búp thanh xuân nhưng mặt khác, lại  
“cả gan” vi phạm cấm kị: Chen Nga hoàng/  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lại Nguyên Ân (chủ biên) (2011), Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo, NXB Hội Nhà văn, H.  
Edward Amstrong Bennet (2002), Jung đã thực sự nói gì? (Bùi Lưu Phi Khanh dịch), Nxb  
Văn hóa thông tin, H.  
Jean Chevalier - Alain Gheerbarnt (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Phạm Vĩnh  
Cư dịch), NXB Đà Nẵng- Trường viết văn Nguyễn Du.  
Lương Minh Chung (2012), Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ Ngữ  
văn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, H.  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 8-17  
17  
Nhiều tác giả (2009), Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng và thách thức (Tuyển  
tập chuyên khảo do Viện Harvard – Yenching tài trợ), Thế giới, Hà Nội.  
Erich Fromm (2002), Ngôn ngữ bị lãng quên (Lê Tịnh dịch), NXB Văn hóa thông tin, H.Đỗ  
Đức Hiểu (chủ biên), (2004), Từ điển Văn học (bộ mới), NXB. Thế giới, H.  
Carl Gustav Jung (2007), Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lưu dịch), NXB Tri thức, H.  
Trần Nữ Phượng Nhi (2011), Thơ Bùi Giáng dưới lăng kính phê bình cổ mẫu, Luận văn  
Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn, TP.Hồ Chí Minh.  
Murray Stein (2011), Bản đồ tâm hồn con người của Jung (Bùi Lưu Phi Khanh dịch), NXB  
Tri thức, H.  
HOANG CAM’S POETRY FROM THE PRISM OF ARCHETYPAL CRITICISM  
Huynh Thi Dieu Duyen  
Phu Yen University  
Received: April 24, 2021; Accepted: September 24, 2021  
Abstract  
Hoang Cam is one of the typical faces of the modern Vietnamese poetry. Hoang  
Cam’s poetry hides a variety of signs, symbols and more deeply, archetypes. From the  
prism of archetypal criticism, the article identifies and analyzes the expressive and aesthetic  
values of the archetype in Hoang Cam’s art world of poetry. Within the scope of this article,  
we limit the study and presentation of the archetypal Anima and Self.  
Keywords: Hoang Cam, archetype, archetypal criticism, Anima, Self  
pdf 10 trang baolam 26740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thơ Hoàng Cầm nhìn từ lăng kính phê bình cổ mẫu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftho_hoang_cam_nhin_tu_lang_kinh_phe_binh_co_mau.pdf