Tinh thần tự tôn dân tộc trong tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm: Nội dung và bài học lịch sử
1
CHUYÊN MỤC
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC
TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC
TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA
NGÔ THÌ NHẬM: NỘI DUNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
NGUYỄN TRUNG DŨNG*
LƯU ĐÌNH VINH**
Ngô Thì Nhậm với tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc đã trở thành nhà ngoại
giao kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII. Ngô Thì Nhậm thoát ra khỏi những
ràng buộc của hệ tư tưởng chính trị phong kiến, quan điểm “trung quân” của
Nho giáo, đứng về phía chính nghĩa, phía nhân dân trong việc bảo vệ những giá
trị văn hóa dân tộc và trên hết là sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ trước sự xâm
lược của nhà Thanh. Tìm hiểu tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm góp phần
học tập và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong sự
nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.
Từ khóa: tư tưởng Ngô Thì Nhậm, tinh thần tự tôn dân tộc, tư tưởng yêu nước
Nhận bài ngày: 31/5/2021; đưa vào biên tập: 15/6/2021; phản biện: 27/6/2021;
duyệt đăng:10/8/2021
1. DẪN NHẬP
định: “Dân ta có một lòng nồng nàn
yêu nước. Từ xưa đến nay, mỗi khi
đất nước bị xâm lăng thì tinh thần ấy
lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua
mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước” (Hồ Chí Minh, 2011b: 38). Yêu
nước là thước đo giá trị của mỗi cá
nhân người Việt, trở thành “cái 'lý
thường hằng' nhất, quán triệt cổ kim”
(Trần Văn Giàu, 1980: 100-101). “Bản
Tư tưởng yêu nước là nguồn lực và
cũng là động lực cơ bản giữ vai trò
quyết định trong sự phát triển chung
của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn
năm lịch sử. Nói về tinh thần yêu
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
*
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh.
** Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh.
2
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…
sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam Tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô Thì
Nhậm không bó hẹp ở tình cảm đơn
thuần mà đã thể hiện rõ thành ý chí,
nguyện vọng và trên hết là hành động
bảo vệ những giá trị tốt đẹp của văn
hóa dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh
thổ, sự bình yên cho nhân dân trước
các thế lực ngoại xâm. Đó là bước
chuyển từ lòng tự hào sang tinh thần
tự tôn dân tộc, từ trung quân sang ái
quốc, từ tình cảm đơn thuần sang
hành động lý tính trong bảo vệ đất
nước. Tinh thần tự tôn dân tộc trong
tư tưởng yêu nước của Ngô Thì
Nhậm với những biểu hiện cơ bản
của nó chính là nguyên nhân, động
lực cơ bản cho tư tưởng yêu nước
của ông.
bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam được vun đắp nên
qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước. Đó là lòng
yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường
dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức
cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình -
làng xã - tổ quốc…” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 1998: 56). Tinh thần tự tôn
dân tộc trong tư tưởng yêu nước
chính là ý chí, nguyện vọng, khát
khao sự đề cao và bảo vệ đất nước,
lãnh thổ, tiếng nói, giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc. Trong tư
tưởng yêu nước của người Việt Nam,
tinh thần tự tôn dân tộc không đồng
nhất và khác hoàn toàn với tinh thần
dân tộc cực đoan. Tinh thần tự tôn
dân tộc chính là thái độ của người
Việt trước những thế lực đã và đang
có ý định xâm phạm đất nước, làm
ảnh hưởng đến toàn vẹn lãnh thổ,
các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân
tộc Việt Nam.
2. NỘI DUNG
2.1. Tinh thần tự tôn dân tộc của
Ngô Thì Nhậm thể hiện ở việc đề
cao giá trị văn hóa Việt Nam
Một trong những nội dung cơ bản làm
nên tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô
Thì Nhậm chính là việc luôn đề cao
các giá trị văn hóa Việt Nam. Thông
qua lăng kính của Ngô Thì Nhậm, các
giá trị văn hóa của dân tộc luôn đứng
ngang hàng với văn hóa của Trung
Quốc, thể hiện rõ sức mạnh nội tại
trong suốt quá trình sinh tồn và phát
triển của dân tộc Việt Nam. Tinh thần
tự tôn dân tộc của Ngô Thì Nhậm thể
hiện trong rất nhiều tác phẩm thơ văn,
nhưng rõ nét và sâu sắc nhất là trong
tập thơ Hoàng hoa đồ phả, sáng tác
vào mùa xuân năm Quý Sửu (1793),
khi Ngô Thì Nhậm làm chánh sứ trên
đường đến Yên Kinh - nhà Thanh cầu
Tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII không
chỉ biến động về chính trị mà khó khăn
về kinh tế - xã hội và suy thoái về tư
tưởng, đạo đức. Là một trí thức, một
quan lại dưới thời Lê - Trịnh, Ngô Thì
Nhậm đã vượt qua quan niệm trung
quân của hệ tư tưởng Nho giáo đứng
về phía những người nông dân, về
phía dân tộc trong công cuộc chống
ngoại xâm. Tư tưởng này của Ngô Thì
Nhậm thể hiện đậm nét và sâu sắc
qua tinh thần tự tôn dân tộc trong
nhiệm vụ ngoại giao.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
3
phong cho Quang Toản. Tập thơ là Lời đó thật hủ lậu cạn nông” (Ngô Thì
tiếng lòng của Ngô Thì Nhậm đối với Nhậm, 2005a: 47); và âm mưu đồng
hóa văn hóa Việt Nam:
đất nước. Nếu Nguyễn Trãi dõng dạc
và hiên ngang khẳng định “như nước
Đại Việt ta vốn xưng nền văn hiến đã
lâu” thì Ngô Thì Nhậm cũng tiếp nối tư
tưởng đó mà cho rằng: “Ba ngàn năm
sử chép tự Hồng Bàng, điển lễ vinh
quang ít thấy; vài vạn dặm thấm giáo
thanh Âu Lạc, tảng nền rộng lớn bồi
thêm” (Ngô Thì Nhậm, 2001a: 188).
Quan điểm này có tác động nhất định
đối với nhân dân các nước trong khu
vực. Trong bài Núi Phân Mao, Ngô
Thì Nhậm ngụ ý bằng một điển tích
xưa để nói rằng văn hóa nước Nam là
của nước Nam, không bao giờ biến
thành văn hóa Trung Quốc được: “Úy
Đà quế đố lạc sơn sào” (Mọt quế Úy
“Thầm hiểu cảnh xuân trời Nam và
trời Bắc
Tình thì như nhau mà cảnh lại khác
nhau” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 53).
Không chỉ có những người yêu nước
Việt Nam mới nhận ra sự giống nhau
về các giá trị đạo đức của con người
mà ngay cả những nhà trí thức Trung
Quốc cũng thừa nhận điều này. Ngô
Thì Nhậm chứng minh Chu Hi – nhà
triết học nổi tiếng đời Tống, đã từng
khen các nước phiên bang ở phía Tây
Nam rằng:
“Đường đường thầy họ Chu
Là người hiền thật thấu đáo
Đà rơi vào hang núi sâu) (Ngô Thì Khen thay, nước Tây phiên
Nhậm, 2005a: 136)(1). Câu này muốn
Chữ nghĩa có nhiều tay giỏi
ngụ ý chê việc Triệu Đà thôn tính Âu
Lạc và muốn đồng hóa Âu Lạc, song
những việc đó chỉ uổng công vô ích,
người nước Nam, dòng dõi của người
Âu Lạc mãi mãi là người nước Nam
cũng như con cà cuống là sản vật của
nước Nam không bao giờ biến thành
con “mọt quế” được (Ngô Thì Nhậm,
2001a: 137). Ngô Thì Nhậm lên án
những tư tưởng thiển cận, cố tình hạ
thấp văn hóa Việt Nam của một số trí
thức Trung Quốc, để phục vụ mưu đồ
chính trị. Đứng trên mạn thuyền đến
Yên Kinh Ngô Thì Nhậm thẳng thắn
chỉ ra:
Ắt có người mở mang trước
Chẳng riêng Trung Quốc đứng đầu”
(Ngô Thì Nhậm, 2005a: 47).
Rõ ràng, bậc thầy của Nho giáo
phong kiến Trung Quốc cũng phải
công nhận rằng không phải người
Trung Quốc là giỏi nhất. Đã có lần
Chu Hi nói: “Nước Phiên ở Tây Nam
có thánh hiền giáng sinh, văn minh
cũng như Trung Quốc. Đó là khí vận
xui nên thế” (Ngô Thì Nhậm, 2005a:
48). Ngô Thì Nhậm giải thích: Điều đó
có nghĩa các nước “Man”, “Di” cũng
có những con người tài giỏi kiệt xuất.
Và một trong những nước “Man”, “Di”
như thế đã làm cho các triều đại
phong kiến phương Bắc phải rùng
mình khiếp sợ. Từ thuở dựng nước xa
“Trứng gà chia đều là ngoa
Trai một gái ba là bậy
Rằng: Di, Hạ âm dương phân biệt
4
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…
xôi, qua Ngô Quyền, qua Đinh, Lê, Lý, phát ra từ đâu thì ở đó văn minh
Trần, Lê và tiêu biểu nhất trong thế kỷ trước” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 49).
XVIII là chiến thắng vang dội của trận
Với sự thẩm thấu bề dày truyền thống
Đống Đa lịch sử dưới sự lãnh đạo tài
văn hóa của dân tộc, Ngô Thì Nhậm
tình của vị anh hùng áo vải Quang
đã nói lên sự thật – một sự thật làm
Trung Nguyễn Huệ đã khẳng định
ông thêm yêu đất nước của mình và
chân lý rằng: ở nước Nam “Hào kiệt
hơn thế nữa, sự thật đó đã trở thành
đời nào cũng có”.
sức mạnh quan trọng trong việc bảo
vệ những thành tựu văn hóa mà ông
cha đã gây dựng, bảo vệ đất nước.
Chính sức mạnh của tinh thần tự tôn
dân tộc đã tạo cho Ngô Thì Nhậm sự
tự tin, chủ động cần thiết trong hoạt
động ngoại giao với nhà Thanh, đóng
góp to lớn trong công cuộc bảo vệ hòa
bình của dân tộc sau chiến thắng Kỷ
Dậu.
“Ta về nói cùng bạn hữu
May thay sinh tại nước Nam” (Ngô Thì
Nhậm, 2005a: 48).
Tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô Thì
Nhậm thể hiện ở sự khẳng định giá trị
văn hóa Việt Nam trong nhiệm vụ đi
sứ. Ông chứng minh: Thời nhà Chu,
nước Việt Thường có mang sang biếu
Chu Công Đán chim trĩ trắng. Chu
Công Đán cho rằng mình đức trạch
chưa tới nên không nhận. Sứ giả nói:
“Tôi nghe bậc kỳ lão nước tôi bảo
rằng: Bể không nổi sóng đã ba năm
nay, hẳn là có thánh nhân giáng ở
Trung Quốc, nên sai tôi sang triều
kiến…” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 48).
Với điển tích này, Ngô Thì Nhậm
muốn nói rằng nước Việt đã có nền
văn minh từ rất sớm, cũng có những
bậc tiên tri tài giỏi không thua kém gì
Trung Quốc và đứng ngang hàng với
Trung Quốc. Theo những nhà phong
thủy Trung Quốc, do địa thế nên
Trung Quốc là nước lớn nằm ở trung
tâm vũ trụ, được các nước nhỏ chầu
bái xung quanh, cũng giống như mọi
dòng sông đều chảy vào Trung Quốc.
Cho nên việc các nước triều kiến và
dâng sản vật cho Trung Quốc là điều
hiển nhiên. Tuy nhiên, cũng theo
phong thủy Trung Quốc thì “địa khí
2.2. Tinh thần tự tôn dân tộc của
Ngô Thì Nhậm thể hiện ở khát vọng
hòa bình, giải phóng dân tộc
Năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn
Huệ ra Bắc lần thứ hai và quyết định
loại bỏ Lê Duy Kỳ tức Lê Chiêu Thống
vì “ngu muội, ươn hèn”. Lúc này, Ngô
Thì Nhậm 42 tuổi, bằng kinh nghiệm,
khả năng quan sát, ông nhận thức
được thời điểm suy tàn và biểu hiện
phản động của tập đoàn phong kiến
Lê - Trịnh. Tính chất phản động đó thể
hiện ở hành vi của một bộ phận quan
lại, cũng như trong kế hoạch của vua
Lê Chiêu Thống khi manh nha ý định
mượn quân Mãn Thanh vào trấn áp
những cuộc khởi nghĩa nông dân Đại
Việt. Sự việc này cho thấy lợi ích của
giai cấp thống trị không còn thống
nhất với lợi ích của dân tộc, nhân dân.
Lòng yêu dân và tinh thần tự hào với
truyền thống văn hóa của dân tộc là
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
5
động lực thúc đẩy Ngô Thì Nhậm dã tâm với nước ta từ trước. Nhân dịp
hưởng ứng chủ trương “chiêu hiền đãi
sĩ” của Nguyễn Huệ và đã cùng với
một số cựu thần nhà Lê như Phan
Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch... giúp nhà
Tây Sơn. Việc ra phục vụ Tây Sơn
không phải là hành động bộc phát,
chớp thời cơ hòng có được địa vị và
chức danh trong triều đình mới, mà
xuất phát từ những khát khao được
nung nấu, tôi luyện từ những ngày
tháng ở ẩn tại Thái Bình. Đặc biệt,
đứng trước họa xâm lăng của phương
Bắc, Ngô Thì Nhậm không thể tiếp tục
ở ẩn mà phải “coi trọng gốc nước, làm
ngay thẳng đạo làm người là tôn chỉ
cốt yếu” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 255).
Việc chọn theo Nguyễn Huệ khi ẩn
náu tại Thái Bình chỉ là một hành động
ngẫu nhiên để thực hiện cái tất nhiên
làm “ngay thẳng đạo làm người” mà
Ngô Thì Nhậm đã bất chấp tất cả, “cố
sống để lo liệu” (Ngô Thì Nhậm,
2005a: 294).
Lê Chiêu Thống xin cứu viện, nhà
Thanh đã chính thức mang quân ồ ạt
tràn vào Việt Nam với danh nghĩa
“phù Lê diệt Nguyễn (Tây Sơn)” và
chiêu bài “hưng diệt kế tuyệt”, nghĩa là
“làm hưng thịnh nước đã bị tiêu diệt,
làm dòng họ bị dứt được tiếp nối”.
Trước tình thế mới, với sức mạnh vũ
bão của quân Mãn Thanh, đã có nhiều
ý kiến khác nhau trong tầng lớp trí
thức lúc bấy giờ. Một bộ phận không
nhỏ trí thức với quan niệm “trung
quân” mù quáng đã chạy theo Lê
Chiêu Thống, ủng hộ quân Mãn
Thanh. Với sự thông tuệ, điềm tĩnh
Ngô Thì Nhậm đã dâng kế “Rút lui về
Tam Điệp và Biện Sơn” và đây cũng
chính là kế sách cơ sở dẫn đến thắng
lợi của trận Ngọc Hồi - Đống Đa.
Quét sạch giặc Mãn Thanh nhưng hòa
bình cho đất nước vẫn còn rất mong
manh. Trước và ngay sau chiến thắng,
Ngô Thì Nhậm đã tính toán, cũng như
dự báo được vua nhà Thanh sẽ quyết
không để cho dân Đại Việt sống trong
hòa bình. Đúng như Ngô Thì Nhậm
dự đoán, Càn Long đã “lệnh cho các
Tổng đốc, Tuần phủ ở dọc biên giới
hãy cho quân lính các doanh kịp thời
thao diễn, cốt sao cho lương đủ binh
tinh, sẵn sàng chờ sai khiến, để chuẩn
bị việc dánh dẹp hỏi tội, dụ cho các
nơi đều biết” (Hồ Bạch Thảo, 2010:
96). Tuy nhiên, với khát vọng hòa bình
cho dân tộc, bình yên cho nhân dân,
Ngô Thì Nhậm đã có sự chuẩn bị và
có những giải pháp, cách thức gìn giữ
Gặp Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ
ngay lập tức phong ông làm Lại Bộ
Thị Lang, tước Tình Phái Hầu, cùng
với một trọng thần của Tây Sơn là Võ
Văn Ước trông coi việc thiết lập mối
quan hệ với cựu thần triều Lê. Vào
giữa năm 1788, vì muốn bảo vệ ngai
vàng trước sức mạnh chính nghĩa của
quân Tây Sơn, Lê Chiêu Thống đã
trốn chạy và cầu viện nhà Thanh. Càn
Long nhận định đây chính là cơ hội để
xâm lược và “đóng đại binh ở nước ấy,
xa xa kiềm chế họ, sau này sẽ có
cách xử trí khác” (Ngô Gia văn phái,
2014: 417), cho thấy Càn Long đã có nền hòa bình, độc lập từ trước khi
6
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…
quân Mãn Thanh kéo sang biên giới xảy ra là do Tôn Sĩ Nghị vì tham lập
Đại Việt. Trong đó, ngoại giao là
phương pháp chủ yếu và quan trọng
để đảm bảo sự yên bình tuyệt đối cho
nhân dân.
đại công mà gây ra. Điểm đặc biệt của
Ngô Thì Nhậm là đã tìm được nguyên
cớ dựa vào đó để không làm mất mặt
và xoa dịu Càn Long. Nhưng suy đến
cùng, Càn Long chính là người “ngồi
trong màn trướng xa ngàn dặm” điều
khiển cuộc xâm lược này. Tác phẩm
Thanh thực lục cho thấy Càn Long
theo dõi mỗi bước tiến của đại quân
nhà Thanh và mỗi lần chiếm được
thành trì của nước An Nam, Càn Long
đều phong thưởng hậu hĩnh cho Tôn
Sĩ Nghị. Ngô Thì Nhậm đã khai thác
Khi biết tin quân Thanh chuẩn bị tràn
qua biên ải, Ngô Văn Sở đã thay mặt
Nguyễn Huệ gửi thư giải thích lý do
động binh đao trong nước và xin Tôn
Sĩ Nghị “dừng giáo gươm làm vũ,
người ngựa đã qua cửa quan, hãy
tạm đóng trên quan ải” (Ngô Thì
Nhậm, 2001: 305), dừng việc tiến
hành xua binh theo yêu cầu của vua
Lê. Nếu vẫn ngoan cố xâm lược, thì triệt để tội lỗi của Tôn Sĩ Nghị và “trần
quân dân trong nước cũng đã chuẩn tình” vì họ Tôn là quan văn, muốn lập
bị cách chống lại quân “thiên triều”,
mặc dù sự chống lại này, theo Ngô
Văn Sở là do “người trong nước lo sợ,
hoảng hốt” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 305)
mà làm. Đồng thời, nhắc nhở Tôn Sĩ
Nghị về việc xua quân sang đánh
nước An Nam, trên danh nghĩa, không
phải là ý muốn của Càn Long. Sách
lược ngoại giao lúc này của Ngô Thì
Nhậm cũng đã tính đến việc vua quan
nhà Thanh sẽ thất trận và chúng ta
phải giữ thể diện cho họ, không làm
cho họ cảm thấy nhục nhã, xấu hổ,
mà liên tiếp dụng binh đao. Do đã có
sự chuẩn bị nên khi quân Thanh đại
bại, chớp thời cơ gìn giữ hòa bình cho
đất nước, Ngô Thì Nhậm đã thay mặt
vua Quang Trung - Nguyễn Huệ liên
tiếp gửi những bản trần tình và thư từ
qua lại với Quảng Tây Tả giang binh
bị đạo Thang Hùng Nghiệp với mục
đích biện minh cho việc chống lại
quân thiên triều và cho rằng mọi việc
đại công hiển hách, cho nên “Không
xét rõ được tình hình ở xa, đem cái cớ
đằng kia bỏ nước, cái cớ đằng này
vào nước… đem tờ biểu của tôi xé
vứt xuống đất… buông tay giết hại,
thỏa bụng tham tàn” (Ngô Thì Nhậm,
2001: 308). Ngô Thì Nhậm cho rằng,
Tôn Sĩ Nghị là kẻ ngu dốt, “không suy
xét sự lý cho cùng, gây nên hấn khích
phải dùng binh, khiến cho nhân dân
phải mắc vòng cay đắng, che bịt
người trên, lấn át người dưới đến như
thế” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 309).
Thậm chí, Ngô Thì Nhậm còn gán
ghép Tôn Sĩ Nghị vào tội khi quân khi
dám lừa dối vua nhà Thanh, “che lấp
sự thông sáng của nhà vua để sự thể
suy di đến thế” (Ngô Thì Nhậm, 2001:
309). Có thể thấy, tất cả các bản trần
tình đều tỏ ý khuất phục, nhường
phần thắng trên danh nghĩa, trên lời
nói cho quan quân nhà Thanh. Tuy
nhiên, cùng với đó là lời lẽ đanh thép,
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
7
cách dùng từ mạnh bạo của người đành phải nghe theo mệnh trời mà
chiến thắng, cùng với tinh thần tự tôn thôi” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 312).
dân tộc, Ngô Thì Nhậm đã liệt kê Chắc chắn rằng, Thang Hùng Nghiệp
những thất bại của quan quân nhà và Phúc An Khang sẽ không dám trình
Thanh nói riêng và của Trung Quốc các thư từ này lên vua nhà Thanh mà
nói chung từ khi tiến hành xâm lược sẽ dùng những lời lẽ khác để thuyết
Việt Nam một cách rõ ràng và cụ thể phục làm cho Càn Long không xua
trong các bản trần tình, cốt cho nhìn quân xuống phía Nam báo thù. Cuối
gương người xưa mà tránh sai lầm cùng, Càn Long “bèn quyết ý giảng
khi xâm lược nước An Nam nhỏ bé. hòa” (Ngô Gia văn phái, 2014: 421),
Tính kiêu hãnh của người chiến thắng “quyết định không đánh nữa, nên
và tinh thần tự tôn dân tộc được thể không cần nhiều binh đóng giữ. Tất cả
hiện trong việc Ngô Thì Nhậm “sai hai số binh Quảng Đông 3.000 tên, đã
viên quan người Di là Nguyễn Hữu giáng chỉ phải triệt hồi ngay” (Hồ Bạch
Điều và Vũ Huy Phác mang biểu văn Thảo, 2010: 120), thiết lập mối quan
đến dâng” (Hồ Bạch Thảo, 2010: 106) hệ, công nhận triều đại nhà Tây Sơn
cho Thang Hùng Nghiệp cũng như và Quang Trung là “vua nước Việt
Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc An Nam” (Quách Tấn - Quách Giao, 2016:
Khang mà không phải đích thân đem 199).
đi. Bọn chúng đọc mà cay đắng tức
giận, nhưng cũng không dám chống
lại khí thế ngất trời của quân Tây Sơn,
cũng như không muốn đi vào vết xe
đổ của Tôn Sĩ Nghị, làm mất hết tiền
đồ sự nghiệp. Ngô Thì Nhậm khẳng
định, nếu quan quân Nhà Thanh mà
xâm lược nước Việt một lần nữa thì
Như vậy, tinh thần tự tôn dân tộc đã
thôi thúc những ý tưởng, những giải
pháp đúng đắn trong đối đầu và
thương thuyết với giặc xuất hiện trong
tư tưởng Ngô Thì Nhậm. Góp phần
làm nên chiến thắng quân xâm lược
Mãn Thanh đã khẳng định Ngô Thì
Nhậm là một trong những nhà ngoại
sẽ gặp thất bại vì: “Phàm quân đội, cốt giao đại tài trong lịch sử chống giặc
ngoại xâm.
ở chỗ đoàn kết một lòng, không cốt ở
chỗ đông; binh lính quý ở chỗ tinh
nhuệ, không quý ở chỗ nhiều. Kẻ
khéo thắng, là thắng ở chỗ vô cùng
mềm dẻo, chứ chẳng phải ỷ mạnh lấn
yếu, lấy đông hiếp yếu đâu. Nếu như
sự tình trước đây chưa được giải tỏ
mà thiên triều không chút khoan dung,
cố gây việc tranh chiến, thì đó là làm
cho nước nhỏ này không được hết
lòng cung kính thờ nước lớn, tôi cũng
2.3. Bài học về giáo dục truyền
thống trong công cuộc đổi mới và
hội nhập ở nước ta hiện nay
Động lực mạnh mẽ và giữ vai trò quan
trọng nhất của quá trình đổi mới đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay chính là tinh thần yêu nước và ý
chí tự cường của mỗi cá nhân, nhất là
thế hệ trẻ. Như vậy, giáo dục truyền
thống là một trong những giải pháp cơ
8
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…
bản nhất nhằm “khơi dậy mạnh mẽ tập truyền thống với hoạt động thực
tinh thần yêu nước, ý chí tự cường
dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc và khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2021a: 110).
tiễn. Ngô Thì Nhậm đã căn dặn con
cháu họ Ngô: “Văn chương của ta đã
khắc in bản gỗ, phải trân trọng cất đi.
Ngoài ra phải thu nhặt hết mà biên tập
lại” (dẫn theo Mai Quốc Liên, 1985:
61). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho
rằng: “Tinh thần yêu nước cũng như
các thứ của quý. Có khi được trưng
bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ
ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất
giấu kín đáo trong rương, trong hòm.
Bổn phận của chúng ta là làm cho
những của quý kín đáo ấy đều được
đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức
giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh
đạo, làm cho tinh thần yêu nước của
tất cả mọi người đều được thực hành
vào công việc yêu nước, công việc
kháng chiến” (Hồ Chí Minh, 2011a:
38-39). Nghiên cứu, tổng hợp tri thức
lịch sử, các giá trị truyền thống thành
lý luận, phổ biến qua sách vở cho
người dân là việc quan trọng, nhưng
quan trọng hơn nữa là chuyển hóa
những tri thức, tinh thần tự lực, tự
cường thành hành động thực tiễn
trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước.
Từ tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô
Thì Nhậm kết hợp với thực tiễn của
đất nước đã để lại những bài học có
giá trị trong việc giáo dục truyền thống,
giáo dục tinh thần yêu nước cho thế
hệ trẻ hôm nay.
Thứ nhất, bài học về việc xem trọng
các giá trị cơ bản của gia đình, xem
gia đình là trường học đầu tiên của
mỗi người. Bài học đầu tiên của Ngô
Thì Nhậm về lòng tự hào về các giá trị
của gia đình và tinh thần tự tôn các
giá trị cơ bản trong truyền thống của
dân tộc là từ ông nội Ngô Trân và cha
Ngô Thì Sĩ. Mỗi thời đại, có những giá
trị đạo đức khác nhau. Đối với thời đại
của Ngô Thì Nhậm, giáo dục con cháu
chăm lo học tập từ chương sách vở,
từ đó hun đúc tinh thần tự tôn, niềm tự
hào dân tộc, hình thành tư tưởng yêu
nước, cống hiến sức lực tài trí cho đất
nước. Kế tục sự truyền dạy của ông,
cha, trên bước đường “giúp dân,
dựng nước”, khi đi xa Ngô Thì Nhậm
thường xuyên có thư gửi khuyên dạy
con cháu: “chú cháu chúng mày ở nhà,
càng nên bảo nhau cố gắng, chăm
đọc sử sách, vì ở đời người có văn
chương là quý... chớ cho lời nói của
ta là viển vông không thiết thực” (Ngô
Thì Nhậm, 2003: 819).
3. KẾT LUẬN
Trong sự thoái trào của giai cấp
phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, Ngô
Thì Nhậm nổi lên và trở thành một
nhà trí thức yêu nước chân chính,
đóng góp to lớn cho công cuộc bảo
vệ và xây dựng đất nước. Tinh thần
tự tôn dân tộc là động lực và sức
mạnh tinh thần giúp Ngô Thì Nhậm
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngoại
Thứ hai, bài học về phát huy tinh thần
tự tôn dân tộc bằng cách gắn việc học
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
9
giao và trở thành nhà ngoại giao kiệt đã để lại nhiều bài học có giá trị cho
xuất của Việt Nam trong thế kỷ XVIII, hôm nay.
CHÚ THÍCH
(1)
Sử cũ chép rằng: Triệu Đà sau khi thôn tính nước Âu Lạc, bắt Cà cuống ở Hồ Tây dâng
cho Hán Văn Đế, nói dối là “quế đố” (con sâu ăn quế), Văn Đế biết là không phải bèn đặt tên
là Đà Cuống (tức là Triệu Đà nói dối). Con sâu này chính là con cà cuống bây giờ (Ngô Thì
Nhậm, 2005a: 136).
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1998. Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VIII.
Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021a. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII –
Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021b. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII –
Tập 2. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.
4. Hồ Bạch Thảo. 2010. Thanh thực lục – quan hệ nhà Thanh - Tây Sơn. Hà Nội: Nxb.
Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh. 2011a. Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
6. Hồ Chí Minh. 2011b. Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 7. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
7. Mai Quốc Liên. 1986. Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn. Bình Định: Nxb. Nghĩa
Bình.
8. Ngô Gia văn phái. (2014). Hoàng Lê nhất thống chí. Hà Nội: Nxb. Văn học.
9. Ngô Thì Nhậm. 2001a. Ngô Thì Nhậm - Tác phẩm 1 (Đỗ Thị Hảo - Kiều Thu Hoạch -
Trần Duy Hân - Mai Quốc Liên dịch). Hà Nội: Nxb. Văn học, Trung Tâm Nghiên cứu
Quốc học.
10. Ngô Thì Nhậm. 2003. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 1. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
11. Ngô Thì Nhậm. 2004. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 2. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
12. Ngô Thì Nhậm. 2005a. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 3. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
13. Ngô Thì Nhậm. 2005b. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 4. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
14. Ngô Thì Nhậm. 2006. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 5. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
15. Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương. 2005. Từ điển tiếng Việt.
TPHCM: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
16. Phan Huy Chú. 2006. Lịch triều hiến chương loại chí – Tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.
17. Quách Tấn - Quách Giao. 2016. Nhà Tây Sơn. Hà Nội: Nxb. Thanh niên.
18. Trần Ngọc Thêm. 1997. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. TPHCM: Nxb.TPHCM.
19. Trần Văn Giàu. 1980. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội:
Nxb. Khoa học Xã hội.
Bạn đang xem tài liệu "Tinh thần tự tôn dân tộc trong tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm: Nội dung và bài học lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_than_tu_ton_dan_toc_trong_tu_tuong_yeu_nuoc_cua_ngo_thi.pdf

