Tinh thần tự tôn dân tộc trong tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm: Nội dung và bài học lịch sử

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC  
TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA  
NGÔ THÌ NHẬM: NỘI DUNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ  
NGUYỄN TRUNG DŨNG*  
LƯU ĐÌNH VINH**  
Ngô Thì Nhậm với tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc đã trở thành nhà ngoại  
giao kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII. Ngô Thì Nhậm thoát ra khỏi những  
ràng buộc của hệ tư tưởng chính trị phong kiến, quan điểm “trung quân” của  
Nho giáo, đứng về phía chính nghĩa, phía nhân dân trong việc bảo vệ những giá  
trị văn hóa dân tộc và trên hết là sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ trước sự xâm  
lược của nhà Thanh. Tìm hiểu tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm góp phần  
học tập và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong sự  
nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.  
Từ khóa: tư tưởng Ngô Thì Nhậm, tinh thần tự tôn dân tộc, tư tưởng yêu nước  
Nhận bài ngày: 31/5/2021; đưa vào biên tập: 15/6/2021; phản biện: 27/6/2021;  
duyệt đăng:10/8/2021  
1. DẪN NHẬP  
định: “Dân ta có một lòng nồng nàn  
yêu nước. Từ xưa đến nay, mỗi khi  
đất nước bị xâm lăng thì tinh thần ấy  
lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng  
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua  
mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn  
chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp  
nước” (Hồ Chí Minh, 2011b: 38). Yêu  
nước là thước đo giá trị của mỗi cá  
nhân người Việt, trở thành “cái 'lý  
thường hằng' nhất, quán triệt cổ kim”  
(Trần Văn Giàu, 1980: 100-101). “Bản  
Tư tưởng yêu nước là nguồn lực và  
cũng là động lực cơ bản giữ vai trò  
quyết định trong sự phát triển chung  
của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn  
năm lịch sử. Nói về tinh thần yêu  
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng  
*
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
** Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
2
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…  
sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam Tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô Thì  
Nhậm không bó hẹp ở tình cảm đơn  
thuần mà đã thể hiện rõ thành ý chí,  
nguyện vọng và trên hết là hành động  
bảo vệ những giá trị tốt đẹp của văn  
hóa dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh  
thổ, sự bình yên cho nhân dân trước  
các thế lực ngoại xâm. Đó là bước  
chuyển từ lòng tự hào sang tinh thần  
tự tôn dân tộc, từ trung quân sang ái  
quốc, từ tình cảm đơn thuần sang  
hành động lý tính trong bảo vệ đất  
nước. Tinh thần tự tôn dân tộc trong  
tư tưởng yêu nước của Ngô Thì  
Nhậm với những biểu hiện cơ bản  
của nó chính là nguyên nhân, động  
lực cơ bản cho tư tưởng yêu nước  
của ông.  
bao gồm những giá trị bền vững,  
những tinh hoa của cộng đồng các  
dân tộc Việt Nam được vun đắp nên  
qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh  
dựng nước và giữ nước. Đó là lòng  
yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường  
dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức  
cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình -  
làng xã - tổ quốc…” (Đảng Cộng sản  
Việt Nam, 1998: 56). Tinh thần tự tôn  
dân tộc trong tư tưởng yêu nước  
chính là ý chí, nguyện vọng, khát  
khao sự đề cao và bảo vệ đất nước,  
lãnh thổ, tiếng nói, giá trị văn hóa  
truyền thống của dân tộc. Trong tư  
tưởng yêu nước của người Việt Nam,  
tinh thần tự tôn dân tộc không đồng  
nhất và khác hoàn toàn với tinh thần  
dân tộc cực đoan. Tinh thần tự tôn  
dân tộc chính là thái độ của người  
Việt trước những thế lực đã và đang  
có ý định xâm phạm đất nước, làm  
ảnh hưởng đến toàn vẹn lãnh thổ,  
các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân  
tộc Việt Nam.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tinh thần tự tôn dân tộc của  
Ngô Thì Nhậm thể hiện ở việc đề  
cao giá trị văn hóa Việt Nam  
Một trong những nội dung cơ bản làm  
nên tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô  
Thì Nhậm chính là việc luôn đề cao  
các giá trị văn hóa Việt Nam. Thông  
qua lăng kính của Ngô Thì Nhậm, các  
giá trị văn hóa của dân tộc luôn đứng  
ngang hàng với văn hóa của Trung  
Quốc, thể hiện rõ sức mạnh nội tại  
trong suốt quá trình sinh tồn và phát  
triển của dân tộc Việt Nam. Tinh thần  
tự tôn dân tộc của Ngô Thì Nhậm thể  
hiện trong rất nhiều tác phẩm thơ văn,  
nhưng rõ nét và sâu sắc nhất là trong  
tập thơ Hoàng hoa đồ phả, sáng tác  
vào mùa xuân năm Quý Sửu (1793),  
khi Ngô Thì Nhậm làm chánh sứ trên  
đường đến Yên Kinh - nhà Thanh cầu  
Tình hình Việt Nam thế kỷ XVIII không  
chỉ biến động về chính trị mà khó khăn  
về kinh tế - xã hội và suy thoái về tư  
tưởng, đạo đức. Là một trí thức, một  
quan lại dưới thời Lê - Trịnh, Ngô Thì  
Nhậm đã vượt qua quan niệm trung  
quân của hệ tư tưởng Nho giáo đứng  
về phía những người nông dân, về  
phía dân tộc trong công cuộc chống  
ngoại xâm. Tư tưởng này của Ngô Thì  
Nhậm thể hiện đậm nét và sâu sắc  
qua tinh thần tự tôn dân tộc trong  
nhiệm vụ ngoại giao.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
3
phong cho Quang Toản. Tập thơ là Lời đó thật hủ lậu cạn nông” (Ngô Thì  
tiếng lòng của Ngô Thì Nhậm đối với Nhậm, 2005a: 47); và âm mưu đồng  
hóa văn hóa Việt Nam:  
đất nước. Nếu Nguyễn Trãi dõng dạc  
và hiên ngang khẳng định “như nước  
Đại Việt ta vốn xưng nền văn hiến đã  
lâu” thì Ngô Thì Nhậm cũng tiếp nối tư  
tưởng đó mà cho rằng: “Ba ngàn năm  
sử chép tự Hồng Bàng, điển lễ vinh  
quang ít thấy; vài vạn dặm thấm giáo  
thanh Âu Lạc, tảng nền rộng lớn bồi  
thêm” (Ngô Thì Nhậm, 2001a: 188).  
Quan điểm này có tác động nhất định  
đối với nhân dân các nước trong khu  
vực. Trong bài Núi Phân Mao, Ngô  
Thì Nhậm ngụ ý bằng một điển tích  
xưa để nói rằng văn hóa nước Nam là  
của nước Nam, không bao giờ biến  
thành văn hóa Trung Quốc được: “Úy  
Đà quế đố lạc sơn sào” (Mọt quế Úy  
“Thầm hiểu cảnh xuân trời Nam và  
trời Bắc  
Tình thì như nhau mà cảnh lại khác  
nhau” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 53).  
Không chỉ có những người yêu nước  
Việt Nam mới nhận ra sự giống nhau  
về các giá trị đạo đức của con người  
mà ngay cả những nhà trí thức Trung  
Quốc cũng thừa nhận điều này. Ngô  
Thì Nhậm chứng minh Chu Hi – nhà  
triết học nổi tiếng đời Tống, đã từng  
khen các nước phiên bang ở phía Tây  
Nam rằng:  
“Đường đường thầy họ Chu  
Là người hiền thật thấu đáo  
Đà rơi vào hang núi sâu) (Ngô Thì Khen thay, nước Tây phiên  
Nhậm, 2005a: 136)(1). Câu này muốn  
Chữ nghĩa có nhiều tay giỏi  
ngụ ý chê việc Triệu Đà thôn tính Âu  
Lạc và muốn đồng hóa Âu Lạc, song  
những việc đó chỉ uổng công vô ích,  
người nước Nam, dòng dõi của người  
Âu Lạc mãi mãi là người nước Nam  
cũng như con cà cuống là sản vật của  
nước Nam không bao giờ biến thành  
con “mọt quế” được (Ngô Thì Nhậm,  
2001a: 137). Ngô Thì Nhậm lên án  
những tư tưởng thiển cận, cố tình hạ  
thấp văn hóa Việt Nam của một số trí  
thức Trung Quốc, để phục vụ mưu đồ  
chính trị. Đứng trên mạn thuyền đến  
Yên Kinh Ngô Thì Nhậm thẳng thắn  
chỉ ra:  
Ắt có người mở mang trước  
Chẳng riêng Trung Quốc đứng đầu”  
(Ngô Thì Nhậm, 2005a: 47).  
Rõ ràng, bậc thầy của Nho giáo  
phong kiến Trung Quốc cũng phải  
công nhận rằng không phải người  
Trung Quốc là giỏi nhất. Đã có lần  
Chu Hi nói: “Nước Phiên ở Tây Nam  
có thánh hiền giáng sinh, văn minh  
cũng như Trung Quốc. Đó là khí vận  
xui nên thế” (Ngô Thì Nhậm, 2005a:  
48). Ngô Thì Nhậm giải thích: Điều đó  
có nghĩa các nước “Man”, “Di” cũng  
có những con người tài giỏi kiệt xuất.  
Và một trong những nước “Man”, “Di”  
như thế đã làm cho các triều đại  
phong kiến phương Bắc phải rùng  
mình khiếp sợ. Từ thuở dựng nước xa  
“Trứng gà chia đều là ngoa  
Trai một gái ba là bậy  
Rằng: Di, Hạ âm dương phân biệt  
4
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…  
xôi, qua Ngô Quyền, qua Đinh, Lê, Lý, phát ra từ đâu thì ở đó văn minh  
Trần, Lê và tiêu biểu nhất trong thế kỷ trước” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 49).  
XVIII là chiến thắng vang dội của trận  
Với sự thẩm thấu bề dày truyền thống  
Đống Đa lịch sử dưới sự lãnh đạo tài  
văn hóa của dân tộc, Ngô Thì Nhậm  
tình của vị anh hùng áo vải Quang  
đã nói lên sự thật – một sự thật làm  
Trung Nguyễn Huệ đã khẳng định  
ông thêm yêu đất nước của mình và  
chân lý rằng: ở nước Nam “Hào kiệt  
hơn thế nữa, sự thật đó đã trở thành  
đời nào cũng có”.  
sức mạnh quan trọng trong việc bảo  
vệ những thành tựu văn hóa mà ông  
cha đã gây dựng, bảo vệ đất nước.  
Chính sức mạnh của tinh thần tự tôn  
dân tộc đã tạo cho Ngô Thì Nhậm sự  
tự tin, chủ động cần thiết trong hoạt  
động ngoại giao với nhà Thanh, đóng  
góp to lớn trong công cuộc bảo vệ hòa  
bình của dân tộc sau chiến thắng Kỷ  
Dậu.  
“Ta về nói cùng bạn hữu  
May thay sinh tại nước Nam” (Ngô Thì  
Nhậm, 2005a: 48).  
Tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô Thì  
Nhậm thể hiện ở sự khẳng định giá trị  
văn hóa Việt Nam trong nhiệm vụ đi  
sứ. Ông chứng minh: Thời nhà Chu,  
nước Việt Thường có mang sang biếu  
Chu Công Đán chim trĩ trắng. Chu  
Công Đán cho rằng mình đức trạch  
chưa tới nên không nhận. Sứ giả nói:  
“Tôi nghe bậc kỳ lão nước tôi bảo  
rằng: Bể không nổi sóng đã ba năm  
nay, hẳn là có thánh nhân giáng ở  
Trung Quốc, nên sai tôi sang triều  
kiến…” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 48).  
Với điển tích này, Ngô Thì Nhậm  
muốn nói rằng nước Việt đã có nền  
văn minh từ rất sớm, cũng có những  
bậc tiên tri tài giỏi không thua kém gì  
Trung Quốc và đứng ngang hàng với  
Trung Quốc. Theo những nhà phong  
thủy Trung Quốc, do địa thế nên  
Trung Quốc là nước lớn nằm ở trung  
tâm vũ trụ, được các nước nhỏ chầu  
bái xung quanh, cũng giống như mọi  
dòng sông đều chảy vào Trung Quốc.  
Cho nên việc các nước triều kiến và  
dâng sản vật cho Trung Quốc là điều  
hiển nhiên. Tuy nhiên, cũng theo  
phong thủy Trung Quốc thì “địa khí  
2.2. Tinh thần tự tôn dân tộc của  
Ngô Thì Nhậm thể hiện ở khát vọng  
hòa bình, giải phóng dân tộc  
Năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn  
Huệ ra Bắc lần thứ hai và quyết định  
loại bỏ Lê Duy Kỳ tức Lê Chiêu Thống  
vì “ngu muội, ươn hèn”. Lúc này, Ngô  
Thì Nhậm 42 tuổi, bằng kinh nghiệm,  
khả năng quan sát, ông nhận thức  
được thời điểm suy tàn và biểu hiện  
phản động của tập đoàn phong kiến  
Lê - Trịnh. Tính chất phản động đó thể  
hiện ở hành vi của một bộ phận quan  
lại, cũng như trong kế hoạch của vua  
Lê Chiêu Thống khi manh nha ý định  
mượn quân Mãn Thanh vào trấn áp  
những cuộc khởi nghĩa nông dân Đại  
Việt. Sự việc này cho thấy lợi ích của  
giai cấp thống trị không còn thống  
nhất với lợi ích của dân tộc, nhân dân.  
Lòng yêu dân và tinh thần tự hào với  
truyền thống văn hóa của dân tộc là  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
5
động lực thúc đẩy Ngô Thì Nhậm dã tâm với nước ta từ trước. Nhân dịp  
hưởng ứng chủ trương “chiêu hiền đãi  
sĩ” của Nguyễn Huệ và đã cùng với  
một số cựu thần nhà Lê như Phan  
Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch... giúp nhà  
Tây Sơn. Việc ra phục vụ Tây Sơn  
không phải là hành động bộc phát,  
chớp thời cơ hòng có được địa vị và  
chức danh trong triều đình mới, mà  
xuất phát từ những khát khao được  
nung nấu, tôi luyện từ những ngày  
tháng ở ẩn tại Thái Bình. Đặc biệt,  
đứng trước họa xâm lăng của phương  
Bắc, Ngô Thì Nhậm không thể tiếp tục  
ở ẩn mà phải “coi trọng gốc nước, làm  
ngay thẳng đạo làm người là tôn chỉ  
cốt yếu” (Ngô Thì Nhậm, 2005a: 255).  
Việc chọn theo Nguyễn Huệ khi ẩn  
náu tại Thái Bình chỉ là một hành động  
ngẫu nhiên để thực hiện cái tất nhiên  
làm “ngay thẳng đạo làm người” mà  
Ngô Thì Nhậm đã bất chấp tất cả, “cố  
sống để lo liệu” (Ngô Thì Nhậm,  
2005a: 294).  
Lê Chiêu Thống xin cứu viện, nhà  
Thanh đã chính thức mang quân ồ ạt  
tràn vào Việt Nam với danh nghĩa  
“phù Lê diệt Nguyễn (Tây Sơn)” và  
chiêu bài “hưng diệt kế tuyệt”, nghĩa là  
“làm hưng thịnh nước đã bị tiêu diệt,  
làm dòng họ bị dứt được tiếp nối”.  
Trước tình thế mới, với sức mạnh vũ  
bão của quân Mãn Thanh, đã có nhiều  
ý kiến khác nhau trong tầng lớp trí  
thức lúc bấy giờ. Một bộ phận không  
nhỏ trí thức với quan niệm “trung  
quân” mù quáng đã chạy theo Lê  
Chiêu Thống, ủng hộ quân Mãn  
Thanh. Với sự thông tuệ, điềm tĩnh  
Ngô Thì Nhậm đã dâng kế “Rút lui về  
Tam Điệp và Biện Sơn” và đây cũng  
chính là kế sách cơ sở dẫn đến thắng  
lợi của trận Ngọc Hồi - Đống Đa.  
Quét sạch giặc Mãn Thanh nhưng hòa  
bình cho đất nước vẫn còn rất mong  
manh. Trước và ngay sau chiến thắng,  
Ngô Thì Nhậm đã tính toán, cũng như  
dự báo được vua nhà Thanh sẽ quyết  
không để cho dân Đại Việt sống trong  
hòa bình. Đúng như Ngô Thì Nhậm  
dự đoán, Càn Long đã “lệnh cho các  
Tổng đốc, Tuần phủ ở dọc biên giới  
hãy cho quân lính các doanh kịp thời  
thao diễn, cốt sao cho lương đủ binh  
tinh, sẵn sàng chờ sai khiến, để chuẩn  
bị việc dánh dẹp hỏi tội, dụ cho các  
nơi đều biết” (Hồ Bạch Thảo, 2010:  
96). Tuy nhiên, với khát vọng hòa bình  
cho dân tộc, bình yên cho nhân dân,  
Ngô Thì Nhậm đã có sự chuẩn bị và  
có những giải pháp, cách thức gìn giữ  
Gặp Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ  
ngay lập tức phong ông làm Lại Bộ  
Thị Lang, tước Tình Phái Hầu, cùng  
với một trọng thần của Tây Sơn là Võ  
Văn Ước trông coi việc thiết lập mối  
quan hệ với cựu thần triều Lê. Vào  
giữa năm 1788, vì muốn bảo vệ ngai  
vàng trước sức mạnh chính nghĩa của  
quân Tây Sơn, Lê Chiêu Thống đã  
trốn chạy và cầu viện nhà Thanh. Càn  
Long nhận định đây chính là cơ hội để  
xâm lược và “đóng đại binh ở nước ấy,  
xa xa kiềm chế họ, sau này sẽ có  
cách xử trí khác” (Ngô Gia văn phái,  
2014: 417), cho thấy Càn Long đã có nền hòa bình, độc lập từ trước khi  
6
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…  
quân Mãn Thanh kéo sang biên giới xảy ra là do Tôn Sĩ Nghị vì tham lập  
Đại Việt. Trong đó, ngoại giao là  
phương pháp chủ yếu và quan trọng  
để đảm bảo sự yên bình tuyệt đối cho  
nhân dân.  
đại công mà gây ra. Điểm đặc biệt của  
Ngô Thì Nhậm là đã tìm được nguyên  
cớ dựa vào đó để không làm mất mặt  
và xoa dịu Càn Long. Nhưng suy đến  
cùng, Càn Long chính là người “ngồi  
trong màn trướng xa ngàn dặm” điều  
khiển cuộc xâm lược này. Tác phẩm  
Thanh thực lục cho thấy Càn Long  
theo dõi mỗi bước tiến của đại quân  
nhà Thanh và mỗi lần chiếm được  
thành trì của nước An Nam, Càn Long  
đều phong thưởng hậu hĩnh cho Tôn  
Sĩ Nghị. Ngô Thì Nhậm đã khai thác  
Khi biết tin quân Thanh chuẩn bị tràn  
qua biên ải, Ngô Văn Sở đã thay mặt  
Nguyễn Huệ gửi thư giải thích lý do  
động binh đao trong nước và xin Tôn  
Sĩ Nghị “dừng giáo gươm làm vũ,  
người ngựa đã qua cửa quan, hãy  
tạm đóng trên quan ải” (Ngô Thì  
Nhậm, 2001: 305), dừng việc tiến  
hành xua binh theo yêu cầu của vua  
Lê. Nếu vẫn ngoan cố xâm lược, thì triệt để tội lỗi của Tôn Sĩ Nghị và “trần  
quân dân trong nước cũng đã chuẩn tình” vì họ Tôn là quan văn, muốn lập  
bị cách chống lại quân “thiên triều”,  
mặc dù sự chống lại này, theo Ngô  
Văn Sở là do “người trong nước lo sợ,  
hoảng hốt” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 305)  
mà làm. Đồng thời, nhắc nhở Tôn Sĩ  
Nghị về việc xua quân sang đánh  
nước An Nam, trên danh nghĩa, không  
phải là ý muốn của Càn Long. Sách  
lược ngoại giao lúc này của Ngô Thì  
Nhậm cũng đã tính đến việc vua quan  
nhà Thanh sẽ thất trận và chúng ta  
phải giữ thể diện cho họ, không làm  
cho họ cảm thấy nhục nhã, xấu hổ,  
mà liên tiếp dụng binh đao. Do đã có  
sự chuẩn bị nên khi quân Thanh đại  
bại, chớp thời cơ gìn giữ hòa bình cho  
đất nước, Ngô Thì Nhậm đã thay mặt  
vua Quang Trung - Nguyễn Huệ liên  
tiếp gửi những bản trần tình và thư từ  
qua lại với Quảng Tây Tả giang binh  
bị đạo Thang Hùng Nghiệp với mục  
đích biện minh cho việc chống lại  
quân thiên triều và cho rằng mọi việc  
đại công hiển hách, cho nên “Không  
xét rõ được tình hình ở xa, đem cái cớ  
đằng kia bỏ nước, cái cớ đằng này  
vào nước… đem tờ biểu của tôi xé  
vứt xuống đất… buông tay giết hại,  
thỏa bụng tham tàn” (Ngô Thì Nhậm,  
2001: 308). Ngô Thì Nhậm cho rằng,  
Tôn Sĩ Nghị là kẻ ngu dốt, “không suy  
xét sự lý cho cùng, gây nên hấn khích  
phải dùng binh, khiến cho nhân dân  
phải mắc vòng cay đắng, che bịt  
người trên, lấn át người dưới đến như  
thế” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 309).  
Thậm chí, Ngô Thì Nhậm còn gán  
ghép Tôn Sĩ Nghị vào tội khi quân khi  
dám lừa dối vua nhà Thanh, “che lấp  
sự thông sáng của nhà vua để sự thể  
suy di đến thế” (Ngô Thì Nhậm, 2001:  
309). Có thể thấy, tất cả các bản trần  
tình đều tỏ ý khuất phục, nhường  
phần thắng trên danh nghĩa, trên lời  
nói cho quan quân nhà Thanh. Tuy  
nhiên, cùng với đó là lời lẽ đanh thép,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
7
cách dùng từ mạnh bạo của người đành phải nghe theo mệnh trời mà  
chiến thắng, cùng với tinh thần tự tôn thôi” (Ngô Thì Nhậm, 2001: 312).  
dân tộc, Ngô Thì Nhậm đã liệt kê Chắc chắn rằng, Thang Hùng Nghiệp  
những thất bại của quan quân nhà và Phúc An Khang sẽ không dám trình  
Thanh nói riêng và của Trung Quốc các thư từ này lên vua nhà Thanh mà  
nói chung từ khi tiến hành xâm lược sẽ dùng những lời lẽ khác để thuyết  
Việt Nam một cách rõ ràng và cụ thể phục làm cho Càn Long không xua  
trong các bản trần tình, cốt cho nhìn quân xuống phía Nam báo thù. Cuối  
gương người xưa mà tránh sai lầm cùng, Càn Long “bèn quyết ý giảng  
khi xâm lược nước An Nam nhỏ bé. hòa” (Ngô Gia văn phái, 2014: 421),  
Tính kiêu hãnh của người chiến thắng “quyết định không đánh nữa, nên  
và tinh thần tự tôn dân tộc được thể không cần nhiều binh đóng giữ. Tất cả  
hiện trong việc Ngô Thì Nhậm “sai hai số binh Quảng Đông 3.000 tên, đã  
viên quan người Di là Nguyễn Hữu giáng chỉ phải triệt hồi ngay” (Hồ Bạch  
Điều và Vũ Huy Phác mang biểu văn Thảo, 2010: 120), thiết lập mối quan  
đến dâng” (Hồ Bạch Thảo, 2010: 106) hệ, công nhận triều đại nhà Tây Sơn  
cho Thang Hùng Nghiệp cũng như và Quang Trung là “vua nước Việt  
Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc An Nam” (Quách Tấn - Quách Giao, 2016:  
Khang mà không phải đích thân đem 199).  
đi. Bọn chúng đọc mà cay đắng tức  
giận, nhưng cũng không dám chống  
lại khí thế ngất trời của quân Tây Sơn,  
cũng như không muốn đi vào vết xe  
đổ của Tôn Sĩ Nghị, làm mất hết tiền  
đồ sự nghiệp. Ngô Thì Nhậm khẳng  
định, nếu quan quân Nhà Thanh mà  
xâm lược nước Việt một lần nữa thì  
Như vậy, tinh thần tự tôn dân tộc đã  
thôi thúc những ý tưởng, những giải  
pháp đúng đắn trong đối đầu và  
thương thuyết với giặc xuất hiện trong  
tư tưởng Ngô Thì Nhậm. Góp phần  
làm nên chiến thắng quân xâm lược  
Mãn Thanh đã khẳng định Ngô Thì  
Nhậm là một trong những nhà ngoại  
sẽ gặp thất bại vì: “Phàm quân đội, cốt giao đại tài trong lịch sử chống giặc  
ngoại xâm.  
ở chỗ đoàn kết một lòng, không cốt ở  
chỗ đông; binh lính quý ở chỗ tinh  
nhuệ, không quý ở chỗ nhiều. Kẻ  
khéo thắng, là thắng ở chỗ vô cùng  
mềm dẻo, chứ chẳng phải ỷ mạnh lấn  
yếu, lấy đông hiếp yếu đâu. Nếu như  
sự tình trước đây chưa được giải tỏ  
mà thiên triều không chút khoan dung,  
cố gây việc tranh chiến, thì đó là làm  
cho nước nhỏ này không được hết  
lòng cung kính thờ nước lớn, tôi cũng  
2.3. Bài học về giáo dục truyền  
thống trong công cuộc đổi mới và  
hội nhập ở nước ta hiện nay  
Động lực mạnh mẽ và giữ vai trò quan  
trọng nhất của quá trình đổi mới đất  
nước và hội nhập kinh tế quốc tế hiện  
nay chính là tinh thần yêu nước và ý  
chí tự cường của mỗi cá nhân, nhất là  
thế hệ trẻ. Như vậy, giáo dục truyền  
thống là một trong những giải pháp cơ  
8
NGUYỄN TRUNG DŨNG - LƯU ĐÌNH VINH – TINH THẦN TỰ TÔN DÂN TỘC…  
bản nhất nhằm “khơi dậy mạnh mẽ tập truyền thống với hoạt động thực  
tinh thần yêu nước, ý chí tự cường  
dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn  
dân tộc và khát vọng phát triển đất  
nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng  
Cộng sản Việt Nam, 2021a: 110).  
tiễn. Ngô Thì Nhậm đã căn dặn con  
cháu họ Ngô: “Văn chương của ta đã  
khắc in bản gỗ, phải trân trọng cất đi.  
Ngoài ra phải thu nhặt hết mà biên tập  
lại” (dẫn theo Mai Quốc Liên, 1985:  
61). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho  
rằng: “Tinh thần yêu nước cũng như  
các thứ của quý. Có khi được trưng  
bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ  
ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất  
giấu kín đáo trong rương, trong hòm.  
Bổn phận của chúng ta là làm cho  
những của quý kín đáo ấy đều được  
đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức  
giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh  
đạo, làm cho tinh thần yêu nước của  
tất cả mọi người đều được thực hành  
vào công việc yêu nước, công việc  
kháng chiến” (Hồ Chí Minh, 2011a:  
38-39). Nghiên cứu, tổng hợp tri thức  
lịch sử, các giá trị truyền thống thành  
lý luận, phổ biến qua sách vở cho  
người dân là việc quan trọng, nhưng  
quan trọng hơn nữa là chuyển hóa  
những tri thức, tinh thần tự lực, tự  
cường thành hành động thực tiễn  
trong sự nghiệp xây dựng và phát  
triển đất nước.  
Từ tinh thần tự tôn dân tộc của Ngô  
Thì Nhậm kết hợp với thực tiễn của  
đất nước đã để lại những bài học có  
giá trị trong việc giáo dục truyền thống,  
giáo dục tinh thần yêu nước cho thế  
hệ trẻ hôm nay.  
Thứ nhất, bài học về việc xem trọng  
các giá trị cơ bản của gia đình, xem  
gia đình là trường học đầu tiên của  
mỗi người. Bài học đầu tiên của Ngô  
Thì Nhậm về lòng tự hào về các giá trị  
của gia đình và tinh thần tự tôn các  
giá trị cơ bản trong truyền thống của  
dân tộc là từ ông nội Ngô Trân và cha  
Ngô Thì Sĩ. Mỗi thời đại, có những giá  
trị đạo đức khác nhau. Đối với thời đại  
của Ngô Thì Nhậm, giáo dục con cháu  
chăm lo học tập từ chương sách vở,  
từ đó hun đúc tinh thần tự tôn, niềm tự  
hào dân tộc, hình thành tư tưởng yêu  
nước, cống hiến sức lực tài trí cho đất  
nước. Kế tục sự truyền dạy của ông,  
cha, trên bước đường “giúp dân,  
dựng nước”, khi đi xa Ngô Thì Nhậm  
thường xuyên có thư gửi khuyên dạy  
con cháu: “chú cháu chúng mày ở nhà,  
càng nên bảo nhau cố gắng, chăm  
đọc sử sách, vì ở đời người có văn  
chương là quý... chớ cho lời nói của  
ta là viển vông không thiết thực” (Ngô  
Thì Nhậm, 2003: 819).  
3. KẾT LUẬN  
Trong sự thoái trào của giai cấp  
phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, Ngô  
Thì Nhậm nổi lên và trở thành một  
nhà trí thức yêu nước chân chính,  
đóng góp to lớn cho công cuộc bảo  
vệ và xây dựng đất nước. Tinh thần  
tự tôn dân tộc là động lực và sức  
mạnh tinh thần giúp Ngô Thì Nhậm  
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngoại  
Thứ hai, bài học về phát huy tinh thần  
tự tôn dân tộc bằng cách gắn việc học  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
9
giao và trở thành nhà ngoại giao kiệt đã để lại nhiều bài học có giá trị cho  
xuất của Việt Nam trong thế kỷ XVIII, hôm nay.  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Sử cũ chép rằng: Triệu Đà sau khi thôn tính nước Âu Lạc, bắt Cà cuống ở Hồ Tây dâng  
cho Hán Văn Đế, nói dối là “quế đố” (con sâu ăn quế), Văn Đế biết là không phải bèn đặt tên  
là Đà Cuống (tức là Triệu Đà nói dối). Con sâu này chính là con cà cuống bây giờ (Ngô Thì  
Nhậm, 2005a: 136).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1998. Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VIII.  
Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021a. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII –  
Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.  
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021b. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII –  
Tập 2. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.  
4. Hồ Bạch Thảo. 2010. Thanh thực lục – quan hệ nhà Thanh - Tây Sơn. Hà Nội: Nxb.  
Hà Nội.  
5. Hồ Chí Minh. 2011a. Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
6. Hồ Chí Minh. 2011b. Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 7. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
7. Mai Quốc Liên. 1986. Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn. Bình Định: Nxb. Nghĩa  
Bình.  
8. Ngô Gia văn phái. (2014). Hoàng Lê nhất thống chí. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
9. Ngô Thì Nhậm. 2001a. Ngô Thì Nhậm - Tác phẩm 1 (Đỗ Thị Hảo - Kiều Thu Hoạch -  
Trần Duy Hân - Mai Quốc Liên dịch). Hà Nội: Nxb. Văn học, Trung Tâm Nghiên cứu  
Quốc học.  
10. Ngô Thì Nhậm. 2003. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 1. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
11. Ngô Thì Nhậm. 2004. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 2. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
12. Ngô Thì Nhậm. 2005a. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 3. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
13. Ngô Thì Nhậm. 2005b. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 4. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
14. Ngô Thì Nhậm. 2006. Ngô Thì Nhậm toàn tập – Tập 5. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
15. Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương. 2005. Từ điển tiếng Việt.  
TPHCM: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.  
16. Phan Huy Chú. 2006. Lịch triều hiến chương loại chí – Tập 2. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
17. Quách Tấn - Quách Giao. 2016. Nhà Tây Sơn. Hà Nội: Nxb. Thanh niên.  
18. Trần Ngọc Thêm. 1997. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. TPHCM: Nxb.TPHCM.  
19. Trần Văn Giàu. 1980. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội:  
Nxb. Khoa học Xã hội.  
pdf 9 trang baolam 34260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tinh thần tự tôn dân tộc trong tư tưởng yêu nước của Ngô Thì Nhậm: Nội dung và bài học lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_than_tu_ton_dan_toc_trong_tu_tuong_yeu_nuoc_cua_ngo_thi.pdf