Văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 Chương trình 2018

Đặng Thị Lệ Tâm  
Văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1  
Chương trình 2018  
Đặng Thị Lệ Tâm  
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên  
TÓM TẮT: Văn bản thông tin là phần văn bản khá mới mẻ trong Chương trình  
20 Lương Ngọc Quyến, thành phố Thái Nguyên,  
Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn. Để chuẩn bị cho năm học 2020 - 2021, có  
tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam  
5 bộ sách giáo khoa lớp 1 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Mặc dù  
Email: letamsptn[email protected]  
mỗi bộ sách có quan điểm biên soạn, cách tiếp cận, cấu trúc và bản sắc riêng  
nhưng nội dung các văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt đều  
giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các  
năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời.  
TỪ KHÓA: Văn bản thông tin; sách giáo khoa; tiếng Việt; Tiểu học; kĩ năng sống.  
Nhận bài 18/02/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 02/3/2020 Duyệt đăng 24/4/2020.  
1. Đặt vấn đề  
cách chi tiết, giúp người đọc/nghe hiểu những gì được  
mô tả bằng cách tổ chức hoặc phân loại thông tin. “Về  
cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hóa các  
thông tin hoặc kiến thức trong văn bản thành tri thức của  
mình với mục đích sử dụng luôn trong học tập và đời  
sống hoặc làm tư liệu cho mai sau. Chỉ nguyên mục đích  
đó đã làm cho việc đọc VBTT trở nên khác với đọc văn  
bản văn học”. Như Rosenblatt (1978) đã gợi ý, người đọc  
sẽ có hai tư tưởng khi đọc VBTT, một là để trải nghiệm,  
hai là để định vị và ghi nhớ thông tin. Do đó, với hầu hết  
các VBTT, sự chú ý của người đọc sẽ tập trung chủ yếu  
vào những điều họ sẽ thu được từ việc đọc - tức là thông  
tin chứa đựng trong văn bản. [3, tr.302]. Nội dung được  
đề cập tới trong VBTT là những đề tài gần gũi với cuộc  
sống, vì vậy nó có tính thời sự, hàm chứa giá trị văn học  
và mang ý nghĩa nhân loại. Những đề tài trong VBTT rất  
Chương trình (CT) Giáo dục (GD) phổ thông môn Ngữ  
văn đã chỉ rõ có 3 loại văn bản: văn học, nghị luận và  
thông tin. Văn bản thông tin (VBTT) là phần văn bản khá  
mới mẻ trong CT, đề cập đến các vấn đề thường nhật của  
cuộc sống. Đây là loại văn bản hay, thiết thực, đưa học  
sinh (HS) trở lại với những vấn đề quen thuộc, gần gũi  
hàng ngày và có ý nghĩa GD sâu sắc. Bởi đặc trưng này  
mà việc học tập VBTT luôn gây được nhiều hứng thú với  
các bạn HS. Trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt tiểu  
học mới 2018, các VBTT được đưa vào với tư cách là  
một phương tiện, hình thức để HS tiếp cận với những tri  
thức của xã hội luôn cập nhật và phát triển.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Văn bản thông tin  
VBTT (Informative text) trong Khung CT Tiếng Anh phong phú, bao hàm mọi mặt của đời sống.  
của Úc - 2003 đã được xác định: “Là những văn bản mà  
2.2. Văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt,  
Chương trình 2018  
mục đích chính là cung cấp thông tin. Chúng bao gồm  
những văn bản có nội dung quan trọng về phương diện  
văn hóa trong xã hội và nội dung thông tin có thể được  
đánh giá như một kho lưu trữ tri thức hoặc chỉ là một  
phần của cuộc sống hàng ngày.” [1, tr.137].  
Khác với văn bản văn học, VBTT chủ yếu được viết  
để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức. Nell K. Duke  
cùng nhóm nghiên cứu của ông cũng đã đưa ra cách hiểu  
về VBTT như sau: “VBTT là loại văn bản có mục đích  
chính là chuyền tải thông tin về thế giới tự nhiên, xã hội  
và những văn bản dùng trong đời sống thường nhật. Loại  
văn bản này thường hướng đến toàn bộ các lớp, loại sự  
vật trong cách tiếp cận, mà hầu như không hoặc ít chịu sự  
chi phối bởi sự thay đổi của yếu tố thời gian” [2, tr.16].  
VBTT bao giờ cũng trình bày thông tin một cách khách  
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Bộ GD&ĐT đã công bố  
Quyết định phê duyệt danh mục SGK lớp 1 được lựa  
chọn sử dụng trong các cơ sở GD phổ thông, bắt đầu từ  
năm học 2010 - 2021. Theo đó, môn Tiếng Việt có đủ cả  
ở 5 bộ sách: Cánh diều, Kết nối tri thức cuộc sống, Chân  
trời sáng tạo, Cùng học để phát triển năng lực, Vì sự bình  
đẳng và dân chủ trong GD và đã được biên soạn theo  
định hướng đổi mới của CT GD phổ thông. Mặc dù mỗi  
bộ sách có quan điểm biên soạn, cách tiếp cận, cấu trúc  
và bản sắc riêng nhưng đều giúp HS hình thành và phát  
triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt  
lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời.  
Khi thiết kế nội dung giảng dạy và ngữ liệu trong SGK  
Tiếng Việt 1, các nhóm biên soạn SGK đã lưu ý đến tính  
quan, không hư cấu, cung cấp thông tin về đối tượng một đa dạng của kiểu loại văn bản để tạo cơ hội giúp HS  
Số 28 tháng 4/2020  
43  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
tiếp cận với càng nhiều kiểu loại văn bản cụ thể càng  
tốt. Đồng thời, các tác giả cũng thấy rất cần thiết phải  
gia tăng số lượng các VBTT với tỉ lệ hợp lí để HS rèn  
luyện kĩ năng đọc. Bên cạnh đó, SGK Tiếng Việt lớp 1  
mới không chỉ sử dụng các VBTT thuần túy được viết  
bằng ngôn từ như hiện nay mà còn đưa thêm các văn bản  
được trình bày dưới dạng đồ họa, hình vẽ, biểu tượng,  
kí hiệu, hình ảnh… tăng cường tính thiết thực, khả năng  
ứng dụng kiến thức, kĩ năng vào đời sống, tạo hứng thú  
học tập cho HS và phù hợp với trình độ, khuynh hướng  
của các em. Nội dung của các VBTT trong SGK Tiếng  
Việt lớp 1 CT 2018 về cơ bản được tập trung đề cập đến  
2 nội dung chủ yếu là: GD kĩ năng sống và cung cấp các  
tri thức về đời sống, tự nhiên và xã hội cho HS.  
2.2.1. Văn bản thông tin giáo dục kĩ năng sống  
Việc GD kĩ năng sống cho HS thông qua các bài học  
VBTT trong SGK Tiếng Việt 1 được tiếp cận theo hai  
phương diện: từ nội dung bài học và từ phương pháp  
triển khai các nội dung bài học. Nhiều bài học trong SGK  
hướng đến việc giúp HS nhận thức được các giá trị trong  
cuộc sống, sau đó biến những bài học đó trở thành những  
năng lực, phẩm chất của bản thân, bồi dưỡng nhân cách  
để sống có ích cho xã hội.  
Hình 1: Nội dung bài học “Nói thế nào?”  
làm sai. Giao tiếp tốt là chìa khóa để giúp trẻ có được  
thiện cảm từ mọi người xung quanh. Hình thành được kĩ  
năng này ngay từ nhỏ sẽ hỗ trợ các em phát triển trong  
tương lai, trở thành người giao tiếp lưu loát, lịch sự và  
thông minh.  
a. Kĩ năng giao tiếp  
Mục đích của GD kĩ năng giao tiếp cho HS tiểu học là  
giúp các em biết được các kĩ năng cần thiết khi giao tiếp  
(với bạn cũng trang lứa, với thầy cô và người lớn…), biết  
lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác, biết các đặt  
câu hỏi với thầy cô giáo và người lớn với các vấn đề chưa  
hiểu rõ, biết nói ra chủ kiến, chính kiến của bản thân…  
Trong SGK Tiếng Việt 1, bộ sách Vì sự bình đẳng và  
dân chủ trong GD, các tác giả đã đưa bài học Nói thế  
nào? (xem Hình 1) giúp HS biết cách nói khi: Ở trường,  
tùy từng nơi, từng lúc, giọng nói của em cần có độ lớn  
khác nhau. Im lặng, trật tự trong giờ ngủ, giờ ăn, khi  
nghe giảng bài, làm bài, khi đọc sách trong thư viện. Nói  
vừa đủ nghe khi thảo luận trong nhóm, khi chỉ cần người  
bên cạnh nghe thấy, khi chào hỏi thầy cô và các bạn. Nói  
to khi đọc bài trước lớp, khi phát biểu trước nhiều người.  
Nói to theo cảm xúc khi vui chơi, hoạt động ngoài trời  
[4, tr. 108].  
Rõ ràng, đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh  
cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả cũng là một  
trong những kĩ năng sống quan trọng cần thiết mà chúng  
ta cần trang bị cho con em mình khi con bước vào môi  
trường tiểu học. Chỉ có sự giao tiếp tự tin, thông minh  
mới giúp HS hòa đồng với bạn bè, thầy cô, có được  
những người bạn tuyệt vời nhất. Bên cạnh đó, cha mẹ  
và thầy cô cần dạy con phải biết chào hỏi người lớn, biết  
b. Kĩ năng tự chăm sóc bản thân (tự lập)  
Không phải lúc nào bố mẹ, thầy cô giáo cũng có thể  
bên cạnh để chăm sóc trẻ từng chút một. Chính bởi vậy,  
cha mẹ, thầy cô cũng cần dạy cho các em phải học cách  
tự lập trong cuộc sống. Với những việc nhỏ, đơn giản  
như dọn dẹp vệ sinh nhà cửa, vệ sinh cá nhân, tự giác học  
tập, soạn sách vở tới trường, đi bộ học một mình (nếu  
nhà gần) thì trẻ đều có thể làm. Nếu được chiều chuộng,  
bao bọc quá mức sẽ khiến các em trở nên lười biếng và  
thụ động, tính cách sẽ trở nên khó chịu, khi gặp những  
khó khăn sẽ dễ dàng chán nản và bỏ cuộc. Khi các em tự  
lập thì bố mẹ và thầy cô sẽ không cần lúc nào cũng phải  
lo lắng mà hoàn toàn yên tâm làm việc. Tự lập là một  
trong những kĩ năng sống cần thiết mà chúng ta nên dạy  
cho trẻ, giúp trẻ mau chóng trưởng thành, có bản lĩnh và  
kết quả học tập chắc chắn cũng sẽ tốt hơn.  
Các bài học trong SGK Tiếng Việt 1 rất đa dạng, chứa  
nhiều thông tin hữu ích như: Rửa tay trước khi ăn (Kết  
nối tri thức với cuộc sống); Sử dụng đồ điện an toàn, sử  
dụng đồ học tập an toàn (Cánh diều); Xào rau, Sử dụng  
nhà vệ sinh, Phòng bệnh (Vì sự bình đẳng và dân chủ  
cách cảm ơn khi ai đó giúp mình và biết nói xin lỗi khi trong GD), Lợi ích của việc đi bộ, Làm thế nào để luộc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
44  
Đặng Thị Lệ Tâm  
trứng ngon, Ăn thế nào cho đẹp (Cùng học để phát triển cận… Rất nhiều nguy cơ có thể xảy ra, bởi vậy việc trang  
năng lực) …  
bị những kĩ năng xử lí tình huống khẩn cấp là không thể  
Vi trùng có ở khắp nơi nhưng chúng ta không nhìn thấy thiếu để giúp trẻ luôn được an toàn.  
được bằng mắt thường. Khi tay tiếp xúc với đồ vật, vi  
trùng dính vào tay. Tay cầm thức ăn, vi trùng từ tay theo  
thức ăn đi vào cơ thể. Do đó, chúng ta có thể mắc bệnh.  
Để phòng bệnh, chúng ta phải rửa tay trước khi ăn. Cần  
rửa tay bằng xà phòng với nước sạch. (Rửa tay trước khi  
ăn [5, tr. 64]. Bàn tay là nơi phát tán vi khuẩn nhiều hơn  
bất cứ bộ phận nào trên cơ thể. Do đó, rửa tay đóng vai  
trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh. Đây  
cũng là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa sự lây  
lan của các mầm bệnh cũng như các loại bệnh truyền  
nhiễm mà hàng ngày các em đã chạm tay vào.  
Kĩ năng giải quyết vấn đề giúp HS biết cư xử linh hoạt  
đối với các tình huống bất ngờ phát sinh trong cuộc sống,  
thích nghi với sự thay đổi của môi trường bên ngoài,  
biết bảo vệ bản thân… Các VBTT trong SGK Tiếng Việt  
1 đã chú ý hướng dẫn các em biết quyết định lựa chọn  
phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn  
để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc  
sống như: Nếu không may bị lạc, Đèn giao thông (Kết  
nối tri thức với cuộc sống), Xe cấp cứu, Quy tắc giao  
thông, Làm gì khi bị lạc (Vì sự bình đẳng và dân chủ  
trong GD)…  
Dạy trẻ xử lí khi bị lạc đường là một trong những bài  
học vỡ lòng đầu đời mà cha mẹ và thầy cô đặc biệt lưu  
tâm. Các tác giả bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống đã  
giúp HS ghi nhớ những kĩ năng đối phó trong tình huống  
không may xảy ra, giúp các em tránh được những tai nạn  
không đáng có, đồng thời cũng giúp trẻ hiểu và cẩn thận  
hơn khi đi chơi cùng với người thân.  
Việc hướng dẫn HS nhận biết xe cấp cứu (Xe cấp cứu  
là xe đưa bệnh nhân nặng đến bệnh viện. Xe có màu  
trắng và có dấu cộng màu đỏ) và ghi nhớ số điện thoại  
khi cần cấp cứu (Khi cần xe cấp cứu, bạn hãy bấm số  
115) của bài học trong bộ sách Vì sự bình đẳng và dân  
chủ trong GD đã giúp các em biết cách tự bảo vệ mình  
và chăm sóc mọi người xung quanh khi gặp phải những  
tình huống nguy hiểm.  
Bài học Sử dụng đồ điện an toàn trang bị cho các em  
HS kĩ năng về an toàn điện để hạn chế rủi ro và đảm bảo  
an toàn cho các em. Đó cũng là một trong những kĩ năng  
sống cần thiết mà cha mẹ và thầy cô cần dạy để trẻ biết  
cách tự bảo vệ và chơi an toàn khi không có người lớn.  
Để sử dụng điện an toàn, em nhớ:  
- Luôn hỏi người lớn trước khi sử dụng đồ điện.  
- Không tự cắm và rút phích điện ra khỏi ổ cắm.  
- Không sờ vào công tắc điện khi tay đang ướt hoặc đi  
chân đất.  
- Khi ngửi thấy mùi khét do chập điện, cần báo ngay  
cho người lớn. Nếu có hỏa hoạn, gọi số điện thoại 114  
cho lực lượng cứu hỏa. Sau đó nhanh chóng thoát ra  
ngoài. [6, tr.137]  
Bên cạnh hướng dẫn, HS tiểu học cần có khả năng tự  
chăm sóc bản thân: Tự lập trong việc mặc quần áo, đi  
giày, ăn uống, vệ sinh cá nhân… các tác giả cũng đã đưa  
GD kĩ năng sống cho HS với bản chất là hình thành và  
phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, ứng xử  
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng  
vào SGK các bài học giúp HS biết cách phân biệt những ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống  
rõ ràng là phù hợp với mục tiêu GD phổ thông. Những  
kĩ năng sống đó không chỉ giúp các em hình thành nên  
những hành vi tích cực và khả năng thích nghi với mọi  
hoàn cảnh sống, tạo nên bản lĩnh của người thành công  
sau này, mà còn giúp các em cảm thấy tự tin hơn để khám  
phá và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn.  
loại thực phẩm an toàn và những loại có hại cho sức  
khỏe, đồng thời biết ăn đa dạng các loại thực phẩm để đủ  
chất cho sự phát triển của cơ thể.  
Chế độ ăn hợp lí, có đủ năng lượng, đủ các chất dinh  
dưỡng theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị và đảm  
bảo tính cân đối giữa các chất dinh dưỡng là kiến thức  
quan trọng, cần thiết mà mỗi HS tiểu học cần được biết.  
Việc cung cấp kiến thức hợp lí, giúp các em hiểu được  
tầm quan trọng của dinh dưỡng, biết cách lựa chọn thực  
phẩm cho bữa ăn hàng ngày...sẽ tác động tốt tới ý thức  
giữ gìn sức khỏe của trẻ sau này.  
2.2.2. Văn bản thông tin cung cấp các tri thức về đời sống, tự  
nhiên và xã hội  
HS tiểu học sau khi đọc hiểu một VBTT đã có thêm  
những hiểu biết nhất định về các lĩnh vực khoa học, lịch  
sử, địa lí…Bản thân việc dạy học đọc hiểu VBTT cũng  
hướng đến một mục đích là cung cấp cho HS những tri  
thức thông tin thuộc các lĩnh vực khác nhau. Vì thế, ngữ  
liệu trong các VBTT trong SGK Tiếng Việt 1 cũng được  
các tác giả đề cập đến các nội dung rất quen thuộc và gần  
gũi với HS.  
c. Kĩ năng giải quyết vấn đề  
Thực tế cuộc sống có những tình huống bất ngờ có thể  
xảy ra với trẻ. Nếu trẻ không được trang bị những kiến  
thức hay kĩ năng cần thiết thì rất khó có thể vượt qua. Trẻ  
cần phải ghi nhớ số điện thoại bố mẹ, địa chỉ nhà, tên và  
địa chỉ trường để phòng trường hợp trẻ đi lạc, cần biết  
cách xử lí vết thương khi chẳng may bị ngã, đứt tay chảy  
Là một địa danh nổi tiếng của Việt Nam, Vịnh Hạ Long  
không chỉ đẹp bởi cảnh sắc “mây trời, sóng nước”, vẻ  
máu, cần phải biết gọi người lớn khi có kẻ xấu định tiếp đẹp nên thơ hay vô số những đảo đá vôi nổi trên mặt  
Số 28 tháng 4/2020  
45  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
nước mà Hạ Long còn đem lại cho du khách cảm giác để phát triển năng lực); Người sáng chế chuột máy tính,  
bình yên khi hòa mình vào cảnh vật nơi đây. Đến với bài Thiên tài Ê-đi-xơn, Cầu vồng, Bút chì, Mũ bảo hiểm  
đọc Vịnh Hạ Long của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc (Chân trời sáng tạo) đã giúp các em hiểu biết đầy đủ,  
sống, các em HS sẽ được biết thêm những thông tin về toàn diện về cuộc sống; hình thành và phát triển ở các  
địa danh này. “Vịnh Hạ Long là một kì quan thiên nhiên  
của Việt Nam và thế giới. Nơi đây có những hòn đảo lớn  
nhỏ trùng điệp, soi bóng trên mặt biển xanh biếc. Du  
khách thích đến đây ngắm cảnh, tắm mát và đi dạo trên  
bãi biển” [5, tr.137].  
Một trong những tiêu chí của CT GD phổ thông là  
quan tâm đến tính chất các địa phương, vùng miền khác  
nhau nên bên cạnh bài Vịnh Hạ Long, bộ sách Kết nối tri  
thức với cuộc sống cũng đã giới thiệu về cảnh đẹp của Sa  
Pa - một địa danh thuộc vùng Tây Bắc nước ta với những  
nét đẹp hoang sơ, yên bình và giản dị. “Sa Pa ở phía Tây  
Bắc của Tổ quốc. Một ngày Sa Pa như có bốn mùa. Sa Pa  
có đào, lê, mận. Sa Pa có Thác Bạc, có Cầu Mây, có bản  
Tả Van bên chân núi” [5, tr.105].  
Bài Nam Yết của em trong bộ sách Cánh diều lại gửi  
thông điệp mang tính thời sự về chủ quyền biển đảo nước  
ta dưới dạng văn bản đa phương thức. Bài đọc với các  
câu ngắn kèm hình ảnh như: “Nam Yết nằm giữa biển,  
như nét chấm nhỏ trên bản đồ Việt Nam”; “Từ xưa, Việt  
Nam đã làm chủ Nam Yết”; “Nam Yết có nhà cửa, có  
đèn biển”; “Chiến sĩ ở đó như ở nhà”; “Nam Yết là bộ  
phận của cơ thể Việt Nam” [6, tr.121].  
em tình yêu con người, thiên nhiên; ý thức tiết kiệm bảo  
vệ tài nguyên thiên nhiên và tinh thần trách nhiệm với  
môi trường sống. Những kiến thức, ngữ liệu được đưa  
vào SGK không phải vì mục đích tự thân mà cần phải là  
“chất liệu”, “phương tiện” quan trọng của quá trình phát  
triển phẩm chất và năng lực cho HS.  
2.3. Một số gợi ý dạy học văn bản thông tin trong sách giáo  
khoa Tiếng Việt 1 Chương trình 2018  
Để có một tiết dạy VBTT đạt hiệu quả, mỗi GV dạy  
học cần lưu ý những vấn đề sau:  
Một là: Không nên quan niệm đây là những sáng tác  
tiêu biểu cho các tác phẩm văn học …để đặt ra đòi hỏi  
quá cao yêu cầu về nghệ thuật của văn bản. Về đích giao  
tiếp, các VBTT chủ yếu thoả mãn đích truyền thông  
xã hội hơn là sự thoả mãn giao tiếp thẩm mĩ. Nội dung  
VBTT là những vấn đề gần gũi, bức thiết đối với cuộc  
sống con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại, nên  
mục tiêu bài học VBTT còn là sự mở rộng nhận thức  
của HS tới đời sống xã hội và bản thân về những vấn đề  
được đặt ra từ văn bản, nên khai thác các vấn đề nội dung  
tư tưởng đặt ra ở mỗi văn bản, từ đó mà liên hệ, GD tư  
tưởng, tình cảm và ý thức cho HS.  
Bộ sách Chân trời sáng tạo lại đưa các em HS đến với  
những thông tin thú vị của Mâm cơm ngày tết ở Huế,  
Làng gốm Bát Tràng, Hồ Gươm, Bưu điện Thành phố Hồ  
Chí Minh, Nữ hoàng của đảo…Ví dụ: “Hồ Gươm còn  
gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Tên gọi này gắn với truyền thuyết  
Lê Lợi trả gươm thần sau khi đánh đuổi giặc Minh. Hồ  
Gươm nằm ở trung tâm Thủ đô Hà Nội. Nước Hồ Gươm  
quanh năm màu xanh lục. Hồ Gươm có Tháp Rùa, có  
Cầu Thê Húc, có Đền Ngọc Sơn. Quanh hồ, những hàng  
cây trăm năm tuổi bốn mùa tỏa bóng. Hồ Gươm là hòn  
ngọc xanh của Thủ đô Hà Nội”. (Hồ Gươm, [8, tr.121]).  
Việc trang bị các thông tin về đất nước và con người  
Việt Nam, về chủ quyền biển đảo trong nội dung các bài  
đọc trong sách Tiếng Việt 1 dưới nhiều dạng văn bản  
đã giúp các em hiểu và thêm yêu quê hương, đất nước  
mình. Từ đó, góp phần hình thành các phẩm chất yêu  
nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm mà CT  
đã định hướng.  
Hai là: Coi trọng khâu chuẩn bị ở cả hai phía GV và  
HS.  
Chuẩn bị về kiến thức: GV thu thập, đồng thời giao  
cho các nhóm HS cùng sưu tầm các tư liệu ngoài văn  
bản liên quan đến chủ đề văn bản trên các nguồn thông  
tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, mạng intenet, báo  
chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc…) làm chất liệu cho dạy  
học văn bản gắn kết với đời sống.  
Chuẩn bị phương tiện dạy học: Các phương tiện dạy  
học truyền thống như: SGK, bảng đen, phấn trắng, tranh  
ảnh minh hoạ …là cần thiết những tự chúng chưa thể đáp  
ứng được hết các yêu cầu dạy học VBTT theo tinh thần  
nói trên. Ở đây, nếu hệ thống tư liệu bồi đắp trực tiếp  
cho chủ đề VBTT và mở rộng chủ đề đó bên ngoài văn  
bản (báo chí, mĩ thuật, điện ảnh…) được thu thập, thiết  
kế và trình chiếu trên các phương tiện dạy học điện tử sẽ  
là các phương tiện tạo hiệu ứng tích cực nhất trong dạy  
học VBTT.  
Bên cạnh đó, các VBTT trong SGK Tiếng Việt mới  
còn đưa những nội dung về đời sống, tự nhiên và xã hội  
nhằm cung cấp thông tin cho HS, khơi dậy trí tò mò khoa  
học, bước đầu tạo cơ hội cho HS tìm hiểu, khám phá thế  
giới tự nhiên, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Các bài  
Ba là: Cần đáp ứng yêu cầu dạy học tích cực:  
GV cần lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy học,  
các cách tổ chức dạy học, các phương tiện dạy học…sao  
cho có thể khai thác tốt nhất năng lực tự học của HS. Sự  
đọc Loài chim của biển cả, Chúa tể rừng xanh (Kết nối gần gũi, thiết thực của các chủ đề nhật dụng trong bài  
tri thức với cuộc sống); Mặt trăng, Tết Trung thu, Nước học, mục đích giúp HS hoà nhập hơn nữa với đời sống xã  
ngọt và sự sống, Cá heo, Thời gian ấp trứng của chim, hội đòi hỏi không khí giờ học VBTT cần thể hiện nhiều  
Vẹt Châu Mĩ nhận ra nhau bằng cách nào? (Cùng học hơn tính dân chủ và hào hứng trong hoạt động dạy, nhất  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
46  
Đặng Thị Lệ Tâm  
là hoạt động học. GV cần tạo cơ hội nhiều nhất cho mọi đời? Có quá nhiều thứ mà chúng ta muốn trẻ phải học  
HS tham gia tự bộc lộ ý kiến khi đọc - hiểu văn bản dưới trong thời đại công nghệ ngày nay, đôi khi quên đi những  
hình thức cá nhân hay nhóm học tập, hoặc có thể tổ chức kĩ năng thiết thực nhất mà trẻ cần có trong cuộc sống.  
Việc đưa các VBTT vào SGK nói chung và SGK Tiếng  
Việt 1 CT 2018 nói riêng nhằm giảm bớt tính hàn lâm,  
tạo cơ hội rõ rệt hơn cho việc dạy văn học gắn kết với đời  
sống, nhằm GD nhân cách cho HS. Đồng thời, các bài  
đọc VBTT đã giúp HS thêm yêu thích văn học, rèn luyện  
kĩ năng sống cần thiết để rồi hàng ngày, khi tiếp cận với  
các hình thức trò chơi gọn nhẹ, thiết thực minh hoạ cho  
chủ đề văn bản …Với các yêu cầu trên, việc quan trọng  
là GV cần thiết kế được những giáo án văn bản nhật dụng  
theo hướng dạy - học gắn với cuộc sống cộng đồng.  
3. Kết luận  
Bất cứ đứa trẻ nào cũng phải tự mình bước ra cuộc cuộc sống xung quanh các em sống nhân hậu, nhân ái và  
sống, liệu trẻ có được trang bị đầy đủ hành trang để vào có trách nhiệm cao hơn.  
Tài liệu tham khảo  
[1] ACARA, (2013), The English  
–
The Australian  
Chí Minh.  
ulum .edu.au/.  
[2] Nell K. Duke - V. Susan Bernett - Armistead - P. David  
Pearson, (2003), Reading & Writing Informational Text  
in the Primary Grades. Scholastic Inc, U.S.A.  
[3] Michael R. Graves, Teaching Reading in the 21st century:  
Motivating All Learners (fifth edition), Pearson, p.302.  
[4] Lê Phương Nga (Chủ biên), (2020), Tiếng Việt 1, Bộ sách  
Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục, NXB Giáo  
dục Việt Nam.  
[5] Bùi Mạnh Hùng (Chủ biên), (2020), Tiếng Việt 1, Bộ sách  
Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), (2020), Tiếng Việt 1, Bộ  
sách Cánh diều, NXB Đại học Sư phạm Thành phố Hồ  
[7] Nguyễn Thị Hạnh (Chủ biên), (2020), Tiếng Việt 1, Bộ  
sách Cùng học để phát triển năng lực, NXB Giáo dục  
Việt Nam.  
[8] Nguyễn Thị Ly Kha (Chủ biên), (2020), Tiếng Việt 1, Bộ  
sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà  
Nội.  
[9] Phạm Thị Thu Hiền, (2016), Đề xuất về việc dạy học đọc  
hiểu văn bản thông tin ở trường trung học của Việt Nam  
trong thời gian tới, nguvan.hnue.edu.vn.  
[10] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông môn Ngữ văn, Ban hành kèm theo Thông tư số  
32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ  
Giáo dục và Đào tạo.  
INFORMATIONAL TEXTS IN VIETNAMESE LANGUAGE TEXTBOOK  
GRADE 1 UNDER THE GENERAL EDUCATION CURRICULUM 2018  
Dang Thi Le Tam  
Thai Nguyen University of Education  
20 Luong Ngoc Quyen, Thai Nguyen city,  
Thai Nguyen province, Vietnam  
ABSTRACT: Informational text is a fairly new piece of texts in Vietnamese  
Literature subject of general education curriculum. To prepare for the 2020-  
2021 school year, the Ministry of Education and Training has approved five  
sets of grade 1 textbooks, each of which has its own point of view, approach,  
structure and its own identity. However, the content of informational texts in  
these Vietnamese language textbooks is structured to help students form  
and develop good qualities and the core competencies for effective living and  
working as well as for lifelong learning.  
Email: letamsptn[email protected]  
KEYWORDS: Informational text; textbook; Vietnamese; primary; life skills.  
Số 28 tháng 4/2020  
47  
pdf 5 trang baolam 27380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 Chương trình 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_ban_thong_tin_trong_sach_giao_khoa_tieng_viet_lop_1_chuo.pdf