Vận dụng mô hình TPACK để nâng cao chất lượng trong dạy và học tin học ở trường Đại học Hoa Lư

PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 138  
VẬN DỤNG MÔ HÌNH TPACK ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG  
TRONG DẠY VÀ HỌC TIN HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
ThS. HOÀNG CAO MINH  
Trung tâm Thiết bị - Thư viện  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về mô hình TPACK là mô  
hình xác định những kiến thức mà người dạy cần có để có thể giảng dạy  
hiệu quả với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trong đó tác giả trình  
bày một mô hình cụ thể trong dạy và học Tin học đó là mô hình TPACK  
và áp dụng vào tiết 23, thực hành soạn thảo văn bản, lớp D12 Tiểu học,  
trường Đại học Hoa Lư và một hoạt động ngoài giờ lên lớp. Những kết  
quả của bài viết là những đóng góp nhằm nâng cao chất lượng dạy và  
học Tin học ở trường Đại học Hoa Lư.  
Từ khóa. Mô hình TPACK, nâng cao chất lượng, công nghệ thông tin, giảng  
dạy Tin học.  
1. MỞ ĐẦU  
Giáo dục ngày nay nhất là với chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ thì  
người học chỉ học ở trên lớp thôi là không đủ mà cần phải tận dụng không gian  
và thời gian để có thể học tập mọi lúc mọi nơi, học tập suốt đời, đặc biệt là khả  
năng tận dụng thời gian trong lúc rảnh rỗi như: Khi ở trên xe buýt, dạo chơi ở  
công viên, lúc đi tham quan,... Muốn làm được điều đó thì cần có công nghệ giúp  
đỡ người học đó chính là công nghệ học tập di động (M-learning hoặc mobile  
learning). Khi Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) được áp dụng trong  
việc giảng dạy thì đã có rất nhiều ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) được  
đưa ra như sử dụng các phần mềm máy tính, các ứng dụng chia sẻ trực tuyến, lưu  
trữ trực tuyến, email, thiết kế trình chiếu các bài giảng điện tử… điều này đã làm  
thay đổi vai trò người dạy trở thành người quyết định mức độ ứng dụng cũng như  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 139  
cách thức ứng dụng ICT trong quá trình giảng dạy nhưng tất cả đều chưa mang  
lại hiệu quả như mong đợi.. Bởi thế người dạy cần phải có những kiến thức và kỹ  
năng mới, đó không chỉ đơn giản là biết sử dụng các ứng dụng của máy tính mà  
người dạy cần hội tụ đủ cả ba yếu tố về kiến thức: Kiến thức về lĩnh vực dạy-học  
(CK-Content Knowledge), kiến thức về phương pháp sư phạm (PK-Pedagogical  
Knowledge) và kiến thức về công nghệ thông tin (TK-Technological Knowledge).  
Vì vậy cần phải có một mô hình để thực hiện được yêu cầu đã nêu ở trên và đó  
chính là mô hình TPACK, đây là mô hình xác định những kiến thức mà người dạy  
cần có để có thể giảng dạy hiệu quả với sự hỗ trợ của CNTT.  
Quá trình dạy và học trong thời đại công nghệ không chỉ là các bài giảng  
trên lớp thông thường. Hạ tầng cơ sở mạng và truyền thông ngày nay cho phép  
hoạt động dạy và học có thể mở rộng không gian, thời gian, tài liệu và phương  
pháp, hình thức dạy học. Sử dụng ICT có thể giúp người học học tập mọi lúc, mọi  
nơi, học tập phù hợp với năng lực của từng đối tượng người học.  
Ngày nay, việc ứng dụng CNTT trong học tập đã được triển khai ở nhiều  
nước phát triển do những ưu thế của nó. Tại Việt nam, hạ tầng cơ sở mạng và  
truyền thông đã rất phát triển trong những năm gần đây. Tuy nhiên, còn chưa có  
nhiều nghiên cứu về ứng dụng CNTT để có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục  
và đào tạo.  
Bài viết này hướng tới việc trình bày và giới thiệu về mô hình TPACK và  
vận dụng mô hình đó để nâng cao chất lượng trong dạy và học Tin học ở trường  
Đại học Hoa Lư.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Sự cần thiết phải ứng dụng CNTT trong dạy và học  
Qua thực tế giảng dạy cho thấy các bài giảng khi có ứng dụng CNTT sẽ  
sinh động và hấp dẫn hơn rất nhiều so với bài giảng không sử dụng. Khi đó sẽ tích  
cực hóa được hoạt động nhận thức của người học, chủ động đóng góp ý kiến xây  
dựng bài và lĩnh hội tri thức mới, giúp người học thực sự là chủ thể của hoạt động  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 140  
nhận thức. Thông qua việc ứng dụng của CNTT, người học có thể quan sát các  
hiện tượng tự nhiên như quá trình lớn lên của cây cối hoặc hoa nở được làm nhanh  
và làm chậm lại hiện tượng sấm sét…, những mô hình, thí nghiệm, các mô phỏng  
trong bài học và trong thực tế, từ đó đặt người học vào những tình huống cụ thể  
của đời sống để có thể tìm hiều vấn đề một cách trực quan hơn và có hướng giải  
quyết các vấn đề đó theo cách của riêng mình. Bên cạnh đó, một giờ học có ứng  
dụng CNTT giúp người dạy và người học tương tác trực tiếp với nhau, sinh viên  
có thể phản hồi ngay lập tức về những thắc mắc cũng như ý tưởng mới của riêng  
mình. Nó tăng cường việc học tập lấy người học làm trung tâm, lĩnh hội kiến thức  
theo từng cá thể và hợp tác nhóm giữa các sinh viên. Điều đó làm cho giờ học  
sinh động, chất lượng, hiệu quả hơn và gây hứng thú cho người học trong quá  
trình tiếp nhận tri thức. Từ đó ta thấy được hiệu quả và tầm quan trọng của việc  
ứng dụng CNTT trong dạy học.  
Đối với việc dạy học hiện nay, ta thấy quá trình dạy và học chỉ diễn ra ở  
các giờ học trên lớp thôi là không đủ mà người học phải tự học ngoài giờ lên lớp  
và người dạy cũng phải có biện pháp quản lý, hỗ trợ giúp đỡ người học sao cho  
hiệu quả, đó chính là việc học tập di động. Học tập di động (M-  
learning hoặc mobile learning) đó là "học trên nhiều bối cảnh, thông qua các tương  
tác xã hội và nội dung, sử dụng các thiết bị điện tử cá nhân". [3] trang 4. Một hình  
thức giáo dục từ xa, người học sử dụng công nghệ giáo dục thiết bị di động một  
cách thuận tiện. [2] . Có nhiều công nghệ hỗ trợ cho M-learning như máy tính cầm  
tay, máy tính xách tay, smartphone và máy tính bảng. M-learning tập trung vào  
tính di động của người học có thể truy cập ở mọi nơi, tương tác với các công nghệ  
di động. Thiết bị di động cho phép tạo điều kiện tương tác trong thời gian thực,  
cho phép sinh viên có được phản hồi ngay lập tức. Giảng viên cũng có thể đánh  
giá mức độ hiểu của sinh viên bằng cách sử dụng các thiết bị di động, cung cấp  
các cập nhật theo thời gian thực về tiến trình của sinh viên, cho phép giảng viên  
thích nghi và cá nhân hóa việc giảng dạy. [1]. Tính di động mạnh mẽ của nó thể  
hiện việc thay thế sách cùng các phương tiện truyền thống và mọi người sử dụng  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 141  
sẽ được chia sẻ ngay lập tức cùng một nội dung. Sử dụng trực tiếp thiết bị di động  
trong các lớp học để tăng cường học tập lấy sinh viên làm trung tâm, hợp tác nhóm  
giữa các sinh viên thông qua các ứng dụng giao tiếp, màn hình tương tác và các  
tính năng video. Với mạng dữ liệu di động hoặc Wifi của thiết bị di động thì các  
tính năng của nó có thể truy cập thông tin theo yêu cầu, truy cập vào các hoạt  
động của lớp học. Với các công nghệ di động ngày nay có thể thay thế các tài  
nguyên cồng kềnh như sách giáo khoa, giáo cụ trực quan và công nghệ thuyết  
trình, sinh viên có thể tham gia và thao tác thông tin nhờ công nghệ tương tác và  
đa chế độ.  
Đã có nhiều quốc gia và châu lục trên thế giới ứng dụng M-Learning trong  
việc dạy và học. Nhật Bản, Đài Loan và Nam Phi là những nước đi đầu trong việc  
ứng dụng M-Learning, Hàn Quốc và Trung Quốc là những nước có tiềm năng lớn,  
còn Australia, Canada và Ấn Độ cũng đang thử nghiệm về M-Learning. Tại  
Pakistan, Trường Rehan là một trong những sáng kiến đầu tiên cung cấp các khóa  
học từ xa có thể truy cập từ điện thoại di động cơ bản. Ứng dụng này cung cấp  
các trình tự giáo dục ngắn, cho thấy cách viết tên và từ phổ biến và truyền đạt các  
khái niệm toán học và khoa học. Trường Rehan ước tính rằng hơn 40.000 cá nhân  
theo dõi bài học của mình, nhưng con số thực sự chắc chắn cao hơn. [1] . Tại  
Papua New Guinea, dự án SMS Story đã cải thiện các hoạt động trong lớp của  
giáo viên trong việc dạy trẻ đọc bằng cách sử dụng các tin nhắn ngắn và gửi qua  
SMS. [1]. Kể từ những năm 1960, các công nghệ thông tin và truyền thông khác  
nhau đã làm dấy lên sự quan tâm mạnh mẽ đến châu Phi cận Sahara như một cách  
để tăng khả năng tiếp cận giáo dục, nâng cao chất lượng và sự công bằng ở đó. Ở  
châu Phi cận Sahara, giáo viên và học sinh phải đối mặt với tình trạng thiếu tài  
liệu giảng dạy. Số lượng sách giáo khoa có sẵn là rất hạn chế, vì vậy rất ít học  
sinh có thể sử dụng sách giáo khoa trên lớp hoặc ở nhà. Do thiếu sách giáo khoa  
ở nhiều trường học ở châu Phi, máy tính bảng và điện thoại di động được chính  
phủ và các tổ chức quốc tế xem là một giải pháp để cung cấp quyền truy cập vào  
tài liệu học tập.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 142  
Ngày nay ở Việt Nam số lượng người dùng Smartphone tăng nhanh chóng,  
có nhiều địa điểm làm việc di động, có nhiều công ty phát triển phần mềm trên  
điện thoại di động và hệ thống viễn thông không ngừng được nâng cao chất lượng  
là điều kiện thuận lợi để phát triển M-Learning. Trong các trường đại học và cao  
đẳng hiện nay, đa số sinh viên sử dụng các thiết bị công nghệ di động và  
Smartphone với kỹ năng sử dụng và khai thác các ứng dụng công nghệ hiện đại  
rất tốt do đó sẽ đáp ứng được những yêu cầu của người học khi tiếp cận với M-  
Learning. Bên cạnh đó với yêu cầu tự học của sinh viên cho nên việc triển khai  
ứng dụng CNTT trong dạy và học Tin học là rất cần thiết.  
2.2. Giới thiệu về mô hình TPACK  
TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge) là mô hình xác  
định những kiến thức mà người dạy cần có để có thể giảng dạy hiệu quả với sự hỗ  
trợ của công nghệ thông tin (CNTT). Mishra & Koehler (2006) đã phát triển  
TPACK dựa trên nền tảng lý thuyết do tác giả Shulman đưa ra năm 1986 là mô  
hình Pedagogical Content Knowledge (PCK). [5]. Đó là mối tương tác giữa kiến  
thức về nội dung giảng dạy (viết tắt là CK) và phương pháp sư phạm (viết tắt là PK).  
Bằng những lập luận của mình Mishra & Koehler đã cho thấy sự cần thiết  
của việc kết hợp cả ba yếu tố nội dung giảng dạy, phương pháp sư phạm và công  
nghệ từ đó đưa ra kiến thức về công nghệ (viết tắt là TK) để bổ sung cho lý thuyết  
của tác giả Shulman. Lý thuyết mới này có tên là kiến thức nội dụng sư phạm  
công nghệ, từ đó đề xuất mô hình TPCK . [4] gồm ba khối kiến thức chính:  
+ Kiến thức về nội dung giảng dạy – CK (Content Knowledge)  
+ Kiến thức phương pháp – PK (Pedagogical Knowledge)  
+ Kiến thức công nghệ – TK (Technological Knowledge)  
Đối với mô hình TPACK thì bao gồm ba thành tố chính đan xen lẫn nhau  
như sơ đồ dưới đây:  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 143  
Ba vòng tròn với những thành phần giao nhau là ba thành tố chính của  
TPACK, mỗi vòng tròn là một mảng kiến thức quan trọng của người dạy: kiến  
thức về lĩnh vực dạy-học (CK–Content Knowledge), kiến thức về phương pháp  
sư phạm (PK– Pedagogical Knowledge) và kiến thức về CNTT (TK–  
Technological Knowledge)  
Khi kết hợp ba mảng kiến thức lại với nhau sẽ tạo thành một mô hình tổng  
hợp về năng lực cần có của người dạy gọi là TPACK (Technological Pedagogical  
Content Knowledge). Với sự tương tác của ba mảng kiến thức trên thì các dạng  
kiến thức mới được hình thành cũng được mô hình TPACK đề cập đến:  
1 - Kiến thức phương pháp sư phạm sử dụng trong lĩnh vực dạy-học (PCK  
– Pedagogical Content Knowledge).  
2 - Kiến thức về các công cụ CNTT chuyên dùng trong lĩnh vực dạy-học  
(TCK – Technological Content Knowledge).  
3 - Kiến thức về cách kết hợp giữa phương pháp sư phạm và công nghệ  
(TPK – Technological Pedagogical Knowledge).  
Người dạy cần có cả ba mảng kiến thức trên để ứng dụng CNTT vào việc  
dạy-học đạt hiệu quả cao, tuy nhiên việc vận dụng, mức độ tham gia của từng khối  
kiến thức trong những hoàn cảnh, bài học cụ thể phải hợp lý.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 144  
Khi có mô hình TPACK ta sẽ thấy được những mô hình đào tạo khác kém  
hiệu quả mà người dạy chỉ đơn giản tập trung vào một loại năng lực nào đó. Đây  
chính là cơ sở cho việc phân tích kiến thức, năng lực của người dạy để từ đó có  
những giải pháp đào tạo người dạy đáp ứng yêu cầu dạy-học.  
Ngoài ra, TPACK cũng tạo cơ sở để người thiết kế những hoạt động học  
tập hiệu quả hơn. TPACK cho thấy việc học đạt hiệu quả cao nhất khi người dạy  
và người học cùng sử dụng sức mạnh của CNTT để khám phá tri thức trong môi  
trường học tập có gắn kết chặt chẽ với thực tiễn.  
Bên cạnh đó TPACK có thể hỗ trợ người dạy đánh giá một hoạt động học  
tập hiệu quả bằng cách đưa ra các câu hỏi liên quan đến các thành tố của mô hình  
TPACK, như:  
a.ꢀ tưởng dạy-học trong hoạt động học tập này có phù hợp với mục tiêu  
của bài học không? (CK)  
b. ꢀ tưởng dạy-học này thì phương pháp sư phạm nào hỗ trợ tốt nhất? (PCK)  
c. Để giúp người học lĩnh hội kiến thức hiệu quả nhất thì cần sử dụng các  
công cụ CNTT như thế nào? (TCK)  
d. Công cụ CNTT nào sẽ hỗ trợ hiệu quả nhất cho phương pháp sư phạm  
mà người dạy sử dụng? (TPK)  
e. Để triển khai hoạt động học tập này thì người dạy cần biết công cụ CNTT  
nào? (TK)  
f. Để hoạt động học tập đạt hiệu quả cao nhất thì tất cả các yếu tố trên cần  
được phối hợp thế nào? (TPACK)  
2.3. Vận dụng mô hình TPACK trong dạy và học tin học  
Tiết 23: Thực hành soạn thảo văn bản (Học phần tin học đại cương, lớp D12  
Tiểu học)  
a.Giờ học trên lớp  
Về kiến thức:  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 145  
- Ôn tập các thao tác soạn thảo cơ bản  
- Ôn tập các cách định dạng kí tự, định dạng đoạn văn bản, định dạng trang văn  
bản.  
- Ôn tập cách định dạng kiểu dáng (style).  
Về kĩ năng:  
- Rèn kỹ năng thực hành thành thạo các kiểu định dạng kí tự, định dạng đoạn văn  
bản, định dạng trang văn bản, định dạng kiểu dáng (style).  
- Về thái độ:  
- Rèn luyện tính khoa học, thái độ ham học hỏi.  
- Tập trung chú ý quan sát, tích cực học tập.  
Về năng lực hướng tới:  
- Thao tác thực hành các kĩ năng soạn thảo cơ bản, các kĩ năng định dạng kí tự,  
định dạng đoạn văn bản, định dạng trang văn bản, định dạng kiểu dáng (style).  
- Phương pháp và phương tiện dạy học:  
- Dạy học theo mô hình TPACK.  
- Sử dụng slide bài giảng, máy chiếu, máy tính, sách giáo trình, tài liệu giảng dạy.  
Hoạt động 1: Ôn tập kiến thức đã học  
Chuẩn bị:  
Giảng viên sử dụng Kahoot tạo trò chơi để kích thích sự hứng thú của người  
học, đem lại sự hào hứng cho sinh viên trước khi bắt đầu vào bài học mới.  
Tổ chức lớp :  
Giảng viên giới thiệu cho sinh viên truy cập vào địa chỉ: kahoot.it và nhập  
mã pin để tham gia trò chơi ôn tập nội dung về soạn thảo văn bản, chờ đến khi số  
sinh viên tham gia được thông báo trên máy giảng viên đầy đủ và hỏi cả lớp đã  
sẵn sàng thì click vào nút play để cho sinh viên bắt đầu chơi.  
- Kết quả được đánh giá như sau  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 146  
+ Bạn nào đạt số câu trả lời đúng nhiều nhất sẽ là người chiến thắng giành được  
9 điểm và nếu không sai bất kỳ câu hỏi nào thì được 10 điểm  
+ Các bạn về thứ 2, thứ 3 lần lượt sẽ giảm 1 điểm.  
Tổng kết  
Sau khi sinh viên hoàn thành xong trò chơi giáo viên thông báo kết quả  
được tổng hợp tự động trên kahoot, công bố điểm cho sinh viên và ôn tập lại các  
kiến thức đã học.  
Hoạt động 2: Thực hành soạn thảo văn bản  
Chuẩn bị:  
Giảng viên đăng nhập vào google classroom của lớp học đang giảng dạy  
gửi yêu cầu sinh viên thực hiện soạn thảo và định dạng theo mẫu bài tập số 1 trang  
107 (Tài liệu giảng dạy) và nộp bài muộn nhất sau 15 phút.  
Tiến hành hoạt động:  
Sinh viên thực hành soạn thảo văn bản theo mẫu trong khoảng thời gian là  
15 phút. Giảng viên bao quát các máy tính trong lớp và hỗ trợ những sinh viên  
còn gặp khó khăn vướng mắc trong quá trình soạn thảo, đồng thời quan sát trên  
máy chiếu khi có sinh viên làm xong trước và nộp bài trong google classroom thì  
chữa bài cho những sinh viên đó.  
Sau khi hết giờ, giảng viên chiếu 3 bài bất kỳ sinh viên đã gõ lên máy chiếu.  
Các sinh viên khác nhận xét bài thực hành đó và bổ sung sửa lỗi (nếu có). Các bài  
thực hành của sinh viên sẽ được giảng viên nhận xét, đánh giá và cho điểm rồi gửi  
cho sinh viên sau buổi học đó.  
Hoạt động 3: Chơi trò chơi để củng cố và nâng cao kĩ năng gõ văn bản  
Chuẩn bị:  
Giảng viên cài sẵn vào 40 máy tính trong phòng máy phần mềm Typingmaster.  
Tiến hành hoạt động:  
- Giảng viên hướng dẫn sinh viên sử dụng phần mềm.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 147  
- Giảng viên chia lớp thành 4 nhóm và cho các nhóm tự thi đấu để chọn ra người  
xuất sắc nhất.  
- Giảng viên yêu cầu sinh viên xuất sắc nhất của mỗi nhóm đại diện các nhóm vào  
phần kiểm tra và tiến hành thi đấu giữa các nhóm trong thời gian qui định.  
- Kết quả đánh giá như sau:  
Nhóm đạt tỉ lệ đúng nhiều nhất và hoàn thành sớm nhất giành được 10 điểm  
Nhóm xếp thứ 2 giành 9 điểm  
Nhóm xếp thứ 3 giành 8 điểm  
Nhóm xếp thứ 4 giành 7 điểm  
Tổng kết:  
Giảng viên sử dụng Netop school để chiếu kết quả của các máy tính đã thi  
đấu lên máy chiếu cho cả lớp quan sát và tổng kết công bố điểm của các  
nhóm.  
b) Hoạt động ngoài giờ lên lớp  
Chuẩn bị của giảng viên:  
- Giảng viên tạo câu hỏi trắc nghiệm trên google form cho sinh viên có thể tự học  
bằng cách làm các câu hỏi trắc nghiệm trên điện thoại di động để ôn lại các vấn  
đề trong nội dung bài học, các vấn đề trong bài thực hành và trao đổi và thảo luận  
với giảng viên trong google classroom.  
- Giảng viên thực hiện các bài giảng điện tử Elearning, upload lên GoogleDrive  
và chia sẻ trong google classroom để sinh viên nắm vững hơn các nội dung bài  
học.  
- Giảng viên upload các tài liệu tham khảo lên GoogleDrive và chia sẻ để sinh  
viên tìm hiểu thêm các kiến thức về soạn thảo văn bản.  
- Tạo các chủ đề thảo luận trên công cụ Padlet để sinh viên cùng nhau thảo luận,  
trao đổi nội dung bài học  
Tiến hành hoạt động:  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 148  
- Giảng viên hướng dẫn sinh viên tham gia vào các nội dung trên.  
3. KẾT LUẬN  
Ứng dụng CNTT thực sự rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học giúp  
cho giờ học sinh động và gây hứng thú cho người học trong quá trình tiếp nhận  
tri thức. Để vận dụng có hiệu quả điều này cho quá trình dạy và học thì cần phải  
hiểu rõ mô hình TPACK.  
TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge) là mô hình xác  
định những kiến thức mà người dạy cần có để có thể giảng dạy hiệu quả với sự hỗ  
trợ của công nghệ thông tin (CNTT). TPACK là sự tác động lẫn nhau của ba dạng  
tri thức chính: Kiến thức về nội dung giảng dạy – CK (Content Knowledge); Kiến  
thức phương pháp – PK (Pedagogical Knowledge); Kiến thức công nghệ – TK  
(Technological Knowledge).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Agence Française de Développement, Agence universitaire de la  
Francophonie, Orange, & UNESCO. (2015).  
[2]. Crescente, Mary Louise; Lee, Doris (March 2011). "Critical issues of m-  
learning: design models, adoption processes, and future trends". Journal of the  
Chinese Institute of Industrial Engineers . 28(2): 111–123.  
[3]. Crompton, H. (2013). "A historical overview of mobile learning: Toward  
learner-centered education". In ZL Berge & LY Muilenburg (Eds.), Handbook of  
mobile learning (pp. 3–14). Florence, KY: Routledge.  
[4]. Mishra & Koehler (2006), Technological Pedagogical Content Knowledge:  
A Framework for Teacher knowledge. Teachers College Record. 108 (6). 1017–  
1054.  
[5]. Shulman, Knowledge and Teaching: Foundations of the New Reform, 1987.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
pdf 11 trang baolam 25261 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng mô hình TPACK để nâng cao chất lượng trong dạy và học tin học ở trường Đại học Hoa Lư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_dung_mo_hinh_tpack_de_nang_cao_chat_luong_trong_day_va_h.pdf