Về xu hướng tương tác thể loại giữa tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
VỀ XU HƯỚNG TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI  
GIỮA TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI  
Nguyễn Thành Thi  
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Trên cơ sở xác định một quan niệm về tương tác thể loại và tương tác thể loại trong văn học  
quốc ngữ Việt Nam, bài viết mô tả khả năng biến đổi nòng cốt thể loại của truyện ngắn trong quan  
hệ tương tác với tiểu thuyết, và biến đổi của tiểu thuyết khi tiếp thu kinh nghiệm, kỹ thuật tự sự của  
truyện ngắn.  
Từ khóa: tương tác thể loại, nòng cốt thể loại, tiểu thuyết hóa, nghệ thuật tự sự  
The tendency of interaction between modern novels and short stories  
Abstract  
Based on the concept about interactions of genres and interactions of Vietnamese literature  
genre, the paper describes the transformation ability at the core-level of short stories interacting  
with novels, and the transformation of modern novels based on narrative art of short stories.  
Keywords: genre interaction, core of genre, to novelize, the narrative art  
Thành Thi, 2008a,b) sau đây:  
1. Tương tác thể loại và tương tác thể loại  
trong văn học quốc ngữ Việt Nam  
Thứ nhất, tương tác thể loại bao giờ cũng bắt  
đầu từ sự mở đường bằng văn xuôi và sự tấn  
công của văn xuôi vào thơ. (Văn xuôi đổi mới  
trước, kéo theo sự đổi mới của thơ: Cuối thế kỷ  
XIX đến 1932 văn xuôi, sau đó từ 1932 đến  
1945, cả thơ và văn xuôi cùng phát triển và có  
thành tựu. Từ 1946 đến 1986, thơ và văn xuôi  
cùng phát triển, trong đó thơ có phần trội hơn.  
Từ 1986 đến nay, văn xuôi (đặc biệt là tiểu  
thuyết) lại mở đầu đổi mới và lại lên ngôi, văn  
xuôi cũng tạo lực đẩy cho sự phát triển của thơ  
đồng thời chất văn xuôi cũng tràn vào thơ, thậm  
chí bị lạm dụng trong thơ).  
Thứ hai, bức tranh thể loại được mở rộng và  
bổ sung với sự hiện diện gần như song hành của  
phóng sự và kịch (chủ yếu là bi kịch, hài kịch,  
bi kịch lịch sử), cả hai thể loại này thường chỉ  
hiện diện trong một số thời điểm đặc biệt của  
tiến trình văn học: ví dụ thập niên ba mươi, thập  
niên tám mươi của thế kỷ XX. Riêng ba thập  
niên văn học chiến tranh, phóng sự không phát  
triển còn kịch thì chỉ phát triển kịch sử thi lịch  
Trong bài chùm bài mang tên “Lược đồ” văn  
học quốc ngữ Việt Nam, nhìn từ quá trình hình  
thành và tương tác thể loại (Nguyễn Thành Thi,  
2008, 2009), chúng tôi đã đưa ra cách hiểu về  
khái niệm tương tác:  
“Tương tác thể loại – có thể hiểu bao quát  
hơn – là hiện tượng hai hay nhiều thể loại của  
một giai đoạn, một thời kỳ, một nền văn học,  
thuộc về một hay nhiều hệ thống thể loại, tác  
động, ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập vào nhau,  
mô phỏng nhau,… để cùng biến đổi hoặc hình  
thành thể loại mới (với một cấu trúc ít nhiều thay  
đổi về “tố chất thẩm mỹ chủ đạo”, “giọng điệu”,  
“dung lượng và cấu trúc chung của tác  
phẩm”)”, và: “Sự tương tác thể loại có thể diễn  
ra trên các loại quan hệ khác nhau (giữa loại với  
loại, thể với loại, thể với thể, yếu tố với yếu tố)”.  
Từ quan niệm đó chúng tôi đã mô tả, phân  
tích bức tranh chung về tương tác thể loại trong  
văn học quốc ngữ Việt Nam trước 1945, và rút  
ra mấy đặc điểm mang tính quy luật (Nguyễn  
11  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
sử, kịch sử thi cách mạng. Như vậy, phóng sự  
và bi kịch là hai cánh chim báo bão của thời đại  
văn học mới, báo hiệu những cách tân hay cách  
mạng trong văn học. Phóng sự và nhất là kịch là  
người phát ngôn trực tiếp những tư tưởng của  
thời đại, những vấn đề nóng bỏng, nổi cộm của  
đời sống xã hội tạo những sức cộng cảm lớn lao  
trong công chúng văn học. Kịch những năm gần  
đây đang bế tắc vì mất công chúng.  
trăm chữ, hay “truyện rất ngắn” chừng trên dưới  
một ngàn chữ,…; thơ “mini”: kiểu thơ “mini”  
của Trần Dần, hoặc thơ lục bát bốn dòng mà một  
số người làm thơ hiện đại vẫn thường sử dụng).  
Bài này tìm hiểu riêng về tương tác theo hình  
thức thể với thể, cụ thể là tương tác truyện ngắn  
– tiểu thuyết. Từ đó chỉ ra hiệu lực tương tác và  
biến đổi nòng cốt thể loại qua tương tác.  
2. “Nòng cốt thể loại” của truyện ngắn và  
tiểu thuyết trong sáng tác văn xuôi quốc ngữ  
Việt Nam  
Trên bình diện lý thuyết, cũng như bình diện  
thực tiễn sáng tác, khi phân chia thể loại (hay thể  
tài) tác phẩm văn học, người ta thường căn cứ vào  
ba loại tiêu chí chủ yếu: 1) tố chất thẩm mỹ chủ  
đạo; 2) giọng điệu; 3) dung lượng và cấu trúc  
chung của tác phẩm (Lại Nguyên Ân, 2004).  
Một tổng hòa các tiêu chí như vậy làm nên  
“nòng cốt” (hay mô hình khung) của thể loại.  
Tiểu thuyết và truyện ngắn là những thể loại mới  
hình thành, đang phát triển và biến đổi, “nòng  
cốt” của chúng chưa kịp rắn lại, còn trong trạng  
thái mềm, lỏng. Do vậy quá trình tương tác ở đây  
càng dễ tạo ra hiện tượng thâm nhập, giao thoa,  
tổng hòa khá tinh tế, phức tạp.  
Thứ ba, sự tương tác giữa các thể loại văn hư  
cấu và không hư cấu cũng có tính quy luật. Văn  
không hư cấu nhất là chính luận và một số thể  
loại ký phát triển thông qua tư tưởng tác phẩm.  
Điều đáng lưu ý là văn hư cấu và văn không hư  
cấu thường tương tác theo lối tổng hợp. Và thỉnh  
thoảng cũng xảy ra hiện tượng giả hư cấu và giả  
không hư cấu.  
Thứ tư, hơn sáu thập niên đầu của văn học  
quốc ngữ là thời đại phát triển đồng đều của cả  
thơ và văn xuôi. Ba thập niên tiếp theo là thời  
đại của thơ. Những thập niên còn lại (từ 1986)  
là thời đại của tiểu thuyết và truyện ngắn, tự  
truyện, hồi ký, nhật ký,… đời tư-thế sự. Như  
vậy, trong quá trình hình thành, tương tác, một  
số thể loại lâm thời mai một đi, một số thể loại  
khác tạm thời lắng lại, chìm xuống theo tinh  
thần “đổi ngôi” - “tiếp sức” giữa các thể loại. Ở  
đó, sự hưng thịnh, “lên ngôi” của một (hay một  
số) thể loại này, thường là kết quả được “tiếp  
sức” của một (hay một số) thể loại kia, và, rất có  
thể, sự lắng lại, chìm đi của một thể loại, cũng  
là trạng thái thầm lặng chuẩn bị, tích lũy kinh  
nghiệm cho sự hưng thịnh hay “lên ngôi” tại một  
thời điểm về sau của chính thể loại đó.  
Có một câu hỏi cơ bản không thể không đặt  
ra đối với việc nghiên cứu tương tác giữa tiểu  
thuyết và truyện ngắn – hai thể loại vốn rất gần  
nhau: Đâu là các điểm tương đồng, đâu là các  
điểm dị biệt trong nòng cốt của hai thể loại trên?  
Theo sự ghi nhận bước đầu của tác giả bài  
này, có thể xác định một số điểm tương đồng và  
dị biệt như sau.  
2.1. Phần tương đồng  
– Tương tác giữa thể với thể cũng tạo ra những  
thể loại trung gian, tổng hợp mang đặc điểm “kép”  
của hai nòng cốt hay mô hình thể loại.  
Nòng cốt của truyện ngắn và tiểu thuyết đều  
có những nhân tố chung như:  
+ đều là văn xuôi nghệ thuật (khu biệt với  
văn xuôi phi nghệ thuật);  
+ đều dựa trên kiểu tư duy hư cấu (khu biệt  
với văn xuôi phi hư cấu);  
+ đều có cấu trúc phân tầng, với 1) hành động  
kể chuyện (narration), 2) cấu trúc cốt truyện  
(narrative), câu chuyện (story), đều sử dụng các  
yếu tố cơ bản là cốt truyện (narrative), câu  
chuyện (story) nhân vật (character), người kể  
chuyện (narrator), điểm nhìn (point of view), diễn  
Ví dụ: Tương tác giữa thể truyện ngắn với  
thể tiểu thuyết tạo nên truyện ngắn-tiểu thuyết  
hóa, truyện ngắn viết dài hoặc tiểu thuyết viết  
ngắn; tương tác giữa truyện ngắn với các thể văn  
học “ngắn”, cực “ngắn” (chỉ gồm 56 chữ, 28  
chữ, 24 chữ, 20 chữ,… như thơ thất ngôn bát cú,  
thất ngôn tứ tuyệt, lục ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn  
tứ tuyệt,…) tạo nên những thể loại “mini”  
(truyện ngắn “mini”: “truyện cực ngắn” một vài  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
ngôn trần thuật (narrative discourse) với “diễn  
ngôn trực tiếp” (direct discourse), “diễn ngôn  
gián tiếp” (indirect discourse) và diễn ngôn gián  
tiếp tự do (free indirect discourse), sự kết hợp  
giữa “kể” (telling) và “tả” (showing),…  
thuật liên kết chồng chéo, đa chiều, đa tuyến, đa  
tầng,… rất phức tạp. Chiến tranh và hòa bình  
(Tolstoi), Tội ác và trừng phạt, Anh em nhà  
Karamazov (Dostoievski),... là những trường  
hợp tiêu biểu cho kỹ thuật này.  
Sự khác biệt về tính chỉnh thể giữa một tập  
truyện ngắn có tính chỉnh thể cao (như Chân trời  
cũ của Hồ Dzếnh) với một bộ trường thiên tiểu  
thuyết được xây dựng theo lối ghép nối các  
truyện ngắn lại với nhau (như Xóm Cầu Mới của  
Nhất Linh) là ở điểm nào? Là ở nguyên tắc: tập  
truyện ngắn được xây dựng theo nguyên tắc  
phân tán (các “nhân” truyện tồn tại rời, độc lập),  
còn bộ tiểu thuyết, theo nguyên tắc tập trung  
(các “nhân” truyện phải được liên kết với nhau  
theo một cấu trúc mang tính quy hoạch tổng thể  
nào đó có thể chấp nhận được. Một thiên tiểu  
thuyết không bao giờ là kết quả lắp ghép thô sơ  
một số truyện ngắn gần gũi về chủ đề, nhân vật.  
Mọi cố gắng hàn gắn nối kết một số truyện ngắn  
(văn bản tự sự cỡ nhỏ) thành một cuốn tiểu  
thuyết (văn bản tự sự cỡ lớn) bằng các kỹ thuật  
hình thức, không tránh khỏi tình trạng vá víu.  
Các yếu tố, mảng khối chỉ có thể hợp lại thành  
tiểu thuyết khi được lựa chọn kiến tạo dưới một  
cái nhìn, một “dự đồ” tổng thể. Ví dụ, Xóm Cầu  
Mới của Nhất Linh, có một số chương hay, tách  
ra như những truyện ngắn độc lập. Song, xét về  
tổng thể đây là cuốn sách không thành công vì  
thiếu tính chỉnh thể toàn cục. Cho dù Nhất Linh  
có cố gắng sửa đi sửa lại đến năm bảy lần, ấp ủ  
và thực hiện sáng tác này ít nhất 15 năm.  
2.2. Phần dị biệt  
Nòng cốt của tiểu thuyết và truyện ngắn có  
những khác biệt rất rõ:  
+ “Nòng cốt thể loại” của tiểu thuyết (trường  
thiên) hình thành, xây dựng, phát triển trên cơ  
sở hình thức sơ khai là các thể tài lịch sử, ghi  
chép, du ký, (theo Eikhenbaum: tiểu thuyết  
“xuất phát từ lịch sử, từ ghi chép và nhật ký  
những chuyến du hành” (Huỳnh Như Phương,  
2007)... Và về hình thức, tính chỉnh thể của văn  
bản tiểu thuyết tồn tại dựa trên sự nối kết, lắp  
ghép một số lượng lớn tư liệu sao cho liền mạch,  
hấp dẫn, bố cục nhiều mảng khối sao phù hợp.  
Kỹ thuật tổ chức trần thuật của tiểu thuyết là kỹ  
thuật phối hợp độ căng chùng trong tiết tấu nhịp  
điệu của tác phẩm sao cho có tính nghệ thuật.  
Kết thúc ở chân điểm, với độ chùng tâm lý tạo  
sự cân bằng, tránh cảm giác hụt hẫng trong tiếp  
nhận. Đây là chỗ khác biệt rất quan trọng giữa  
viết tiểu thuyết và viết truyện ngắn.  
+ “Nòng cốt thể loại” của truyện ngắn (đoản  
thiên) hình thành và được xác lập trên cơ sở hình  
thức sơ khai là cổ tích và các giai thoại (theo  
Eikhenbaum: truyện ngắn “xuất phát từ truyện  
cổ tích và giai thoại” (Huỳnh Như Phương,  
2007). Kỹ thuật của truyện ngắn, về bản chất, là  
kỹ thuật tạo độ căng liên tục, kết thúc ở đỉnh  
điểm của độ căng tâm lý. Đây là kỹ thuật xây  
dựng chỉnh thể nghệ thuật đơn “nhân” (truyện  
ngắn cũng giống như một thực thể đơn bào,  
thậm chí đơn nhân)1.  
Trường hợp Thạch Lam viết tiểu thuyết  
Ngày Mới, Nguyễn Đình Thi viết Vỡ Bờ phần II  
cũng thế. Họ đều không thật thành công, bởi hai  
nhà văn này, thực ra, chưa sử dụng tốt kỹ thuật  
tiểu thuyết với một tư duy hư cấu tổng thể.  
Nguyên Hồng viết Cửa Biển lại khá thành công,  
tất nhiên là bởi vì ông sử dụng tương đối tốt kỹ  
thuật của thể loại này.  
Truyện ngắn thường dùng kỹ thuật kết cấu  
đơn tuyến với thủ pháp đối lập, đồng nhất, song  
hành. Thuốc (Lỗ Tấn), Bố từ Chicago về (Annie  
Saumont), Nước chảy đôi dòng, Tháng ngày qua  
(Nhất Linh), Mợ Du (Nguyên Hồng), là những  
trường hợp tiêu biểu. Tiểu thuyết không thế: kỹ  
Thử so sánh trường thiên tiểu thuyết Xóm  
Cầu Mới của Nhất Linh với tiểu thuyết Từ điển  
1 Ngoài ra, có thể khu biệt truyện ngắn và tiểu thuyết theo  
lối nói tỉ dụ của các nhà hình thức luận Nga: khi xem tác  
phẩm tự sự nói chung “là một câu”, thì truyện ngắn là câu  
đơn, tiểu thuyết là câu ghép phức hợp. Tiểu thuyết như là  
câu phức tổ hợp một hay nhiều chủ ngữ với nhiều hoặc một  
vị ngữ. Truyện ngắn thường là câu với một chủ ngữ, một  
hoặc vài vị ngữ.  
13  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Mã Kiều của nhà văn Hàn Thiếu Công (Trung  
Quốc), và Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân  
Khánh – về phương thức và kỹ thuật tự sự – sẽ  
thấy tầm quan trọng của cấu trúc tổng thể. Cùng  
viết về số phận con người trên cái nền lịch sử  
của một vùng đất mà tại sao trường hợp đầu,  
người đọc cảm thấy tác phẩm tản mạn, rời rạc  
(mặc dầu Nhất Linh, chắc chắn đã loay hoay  
dùng kỹ thuật hình thức để gắn kết các truyện  
ngắn rời thành tiểu thuyết). Hai trường hợp sau  
thì không. Ở Từ điển Mã Kiều chẳng hạn, sau  
cái vẻ rời rạc bề ngoài – nhân vật, sự kiện được  
sắp xếp không đầu không cuối theo “mục từ” và  
trần thuật theo lối “giảng nghĩa từ” – là một hệ  
thống liên kết ngầm rất chặt chẽ: các mục từ,  
mỗi từ là một “tuyến” sự kiện có vẻ rời rạc, đứt  
đoạn, nhưng chúng soi chiếu làm rõ nghĩa cho  
nhau, tết dệt thành một bức tranh lịch sử – văn  
hóa vô cùng sinh động của vùng đất Mã Kiều.  
Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) –  
tiểu thuyết văn hóa lịch sử của cả một xứ sở –  
cũng có những đặc điểm, những mạch liên kết  
tương tự. Rõ ràng, chất keo kết dính các mảng  
khối, chương đoạn trong các bộ tiểu thuyết hiện  
đại như thế này không bao giờ đơn thuần được  
tạo ra bằng kỹ thuật hình thức thuần túy, mà điều  
quan trọng là ở logic nội tại của chúng, ở mối  
quan hệ bên trong của các nhân vật, sự kiện và  
ở sức tập trung, sự hướng “tâm” của mỗi tình  
tiết, mảng khối, chương đoạn đối với “vấn đề”,  
ý tưởng chung của tác phẩm.  
thuyết, truyện ngắn.  
Thực tiễn sáng tác văn xuôi nghệ thuật Việt  
Nam cấp cho ta một số biến thể nòng cốt tiểu  
thuyết và truyện ngắn sẽ được đề cập đến ở các  
mục sau.  
3.1. Truyện ngắn hiện đại và xu hướng  
“tiểu thuyết hóa”  
Quá trình tiểu thuyết hóa truyện ngắn (hiểu  
theo nghĩa truyện ngắn biến đổi trong bối cảnh  
chịu tác động của tiểu thuyết, tiếp thu những đặc  
điểm kỹ thuật của thể loại này) là quá trình mở  
rộng chiều kích, đường biên thể loại (nhưng vẫn  
bảo đảm được tính tập trung và độ căng cố hữu  
của tự sự cỡ nhỏ: chỉ để nói một ý, tập trung vào  
một chủ đề, thể hiện một tư tưởng). Truyện ngắn  
vốn được tạo tác theo “mô hình câu đơn” với  
một vị ngữ. Khi tiểu thuyết hóa truyện ngắn có  
xu hướng được tạo tác theo mô hình câu phức  
hay tổ hợp câu đặc biệt, tổ hợp câu phức của tiểu  
thuyết. Kết quả, người ta có các tác phẩm tự sự  
cỡ nhỏ đa dạng hơn về kết cấu, dung lượng tự  
sự, và truyện ngắn sẽ gần hơn với tiểu thuyết  
trong một số trường hợp sau:  
- Khi một loạt truyện ngắn được viết như là sự  
mở rộng, tiếp nối nhau, trong đó có sự tái xuất hiện  
nhân vật, bối cảnh, theo kiểu các truyện ngắn viết  
về nhân vật trí thức quen thuộc của Nam Cao: Đời  
thừa, Trăng sáng, Nước mắt,… Bối cảnh tái xuất  
hiện ở đây là làng Vũ Đại, và nhân vật trí thức  
quen thuộc ở đây là những Hộ, Điền,...  
- Khi chiều kích của một truyện ngắn được  
mở rộng mà về bố cục, có thể gồm nhiều  
chương, khúc, về dung lượng, có thể tiệm cận  
với một truyện vừa. Tinh thần thể dục, Thế là  
mợ nó đi Tây của Nguyễn Công Hoan, Giọt máu  
của Khái Hưng, Giết chồng, báo chồng trả thù  
chồng của Nhất Linh, Nửa đêm của Nam Cao,  
Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài,…  
- Khi truyện ngắn sử dụng một số phương  
tiện tự sự khả dụng của tiểu thuyết như chuyển  
đổi thời tính trong trần thuật; dịch chuyển điểm  
nhìn; sử dụng kết cấu phân mảnh, lắp ghép;...  
Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao, Phiên chợ  
Giát, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh  
Châu là những ví dụ tiêu biểu.  
3. Khả năng biến đổi nòng cốt của truyện  
ngắn, tiểu thuyết như là hệ quả của tương tác  
thể loại  
Nòng cốt của một thể loại nói chung, của  
truyện ngắn hay tiểu thuyết nói riêng thường chỉ  
tồn tại ở dạng phổ quát, như là kinh nghiệm  
chung của một cộng đồng sáng tác và thưởng  
thức văn học. Ở đó, một vài yếu tố chính của  
nòng cốt, qua thực tiễn sáng tác và quá trình vận  
động của thể loại, đã rắn lại, và bảo đảm cho một  
mô hình thể loại có thể “đứng” được. Khi nòng  
cốt biến đổi, có thể mang lại những biến thể.  
Quá trình tương tác thể loại thường tạo ra các  
biến thể thể loại, thực chất là những biến đổi  
trong nòng cốt của mỗi thể loại, ở đây là tiểu  
- Khi một tập truyện ngắn được viết theo lối  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
tự thuật/ tự truyện, ở đó sự kiện nhân vật, bức  
tranh thế giới được kết nối, vận động theo quá  
trình hình thành, phát triển nhân cách của chủ thể  
kể và một cái “tôi” trần thuật được duy trì ở tất cả  
các truyện, kiểu như Chân trời cũ của Hồ Dzếnh.  
- Khi một loạt truyện ngắn được tác giả gắn  
kết thành một chùm truyện mang dáng dấp của  
một “tổ khúc” trong âm nhạc. Mối tình chân,  
Thương chồng của Nhất Linh, Con gái thủy thần  
(3 truyện), Chút thoáng Xuân Hương (3 truyện),  
Những ngọn gió Hua tát (10 truyện) của Nguyễn  
Huy Thiệp,… là các minh chứng sinh động.  
Xét ảnh hưởng từ chiều tiểu thuyết – truyện  
ngắn, sẽ thấy đây là một chiều tác động phổ  
biến, phong phú, để lại nhiều dấu vết nổi bật cho  
thấy tính ưu trội của kỹ thuật tiểu thuyết, kỹ  
thuật của hình thức lớn. Kỹ thuật ấy bao gồm:  
- Kỹ thuật di chuyển điểm nhìn trần thuật;  
- Kỹ thuật phân tích tâm lý, độc thoại nội  
tâm;  
các thể loại khác để tự làm giàu cho mình, đồng  
thời, có khả năng làm cho mọi thể loại khác biến  
đổi trong trường lực tương tác của mình: tất cả  
đều có thể “tiểu thuyết hóa”. Nhưng người ta  
vẫn thấy có sự xâm nhập từ truyện ngắn vào tiểu  
thuyết không ít yếu tố thuộc nòng cốt cũng như  
kỹ thuật thể loại của “tự sự cỡ nhỏ”.  
Về chiều hướng tương tác này, đáng lưu ý là  
trường hợp nhà tiểu thuyết có thể sử dụng kỹ  
thuật tự sự của truyện ngắn khi viết các chương,  
đoạn của tiểu thuyết. Kỹ thuật tự sự cỡ nhỏ của  
truyện ngắn như cách tạo tình huống, cách lựa  
chọn, sử dụng chi tiết nghệ thuật, tạo hình trong  
miêu tả, cách chạm khắc để tạo những điểm  
nhấn tự sự,… có thể giúp ích đáng kể cho nhà  
tiểu thuyết. Trong các tác phẩm loại này, mỗi  
chương hồi có thể là một ý, một sự kiện, một  
hành động được kể tương đối có đầu có cuối.  
Theo đó, nhà văn có thể thoải mái dùng kỹ thuật  
chạm trổ tinh vi của “hình thức nhỏ” miễn là vẫn  
bảo đảm tính thống nhất trong một chỉnh thể “tự  
sự cỡ lớn”. Việc chăm chút cho từng chương,  
đoạn trong các tiểu thuyết nhiều chương, đoạn  
như AQ chính truyện của Lỗ Tấn, Nửa chừng  
xuân, Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng, Số Đỏ  
của Vũ Trọng Phụng, Mẫu Thượng ngàn của  
Nguyễn Xuân Khánh, Hội thề của Nguyễn  
Quang Thân,… nếu có được sự hỗ trợ thêm của  
kỹ thuật truyện ngắn, hẳn là đều đắc dụng.  
Đặc biệt, vai trò của kỹ thuật truyện ngắn có  
thể trở nên ích dụng với công việc viết tiểu  
thuyết trong bối cảnh sự phát triển của văn học  
gắn liền với sự phát triển của báo chí truyền  
thông, khi tác phẩm tiểu thuyết, truyện dài  
thường được viết theo lộ trình đăng báo nhiều  
kỳ. Khi đó, phần văn bản tiểu thuyết viết cho  
mỗi kỳ đăng báo luôn cần đến kỹ thuật tạo độ  
“căng”, hay phối hợp độ “căng”, “chùng”; hoặc  
sử dụng một số thủ pháp kỹ thuật thắt mút mở  
nút của truyện ngắn,... Đó có thể là một phương  
thức hiệu quả nhằm gia tăng sức “vẫy gọi”  
người đọc; lôi kéo họ theo dõi văn bản từ kỳ báo  
này đến kỳ báo khác; tuyển mộ và mời gọi họ,  
đồng sáng tạo với tác giả, với cộng đồng độc giả.  
Đúng như phân tích của Wolfgang Iser trong  
“Cấu trúc mời gọi của văn bản” (Iser, 1970):  
- Kỹ thuật lắp ghép, lồng truyện, phân rã cốt  
truyện;  
- Kỹ thuật trì hoãn, tạo các khoảng lặng,  
khoảng chùng;  
- Kỹ thuật liên kết chùm.  
3.2. Tiểu thuyết hiện đại và việc tiếp thu  
kinh nghiệm kỹ thuật tự sự của truyện ngắn  
Xét ảnh hưởng, tác động từ truyện ngắn vào  
tiểu thuyết, người ta dễ dàng nhận thấy đây là  
một chiều tác động phức tạp hơn nhiều so với  
chiều ngược lại. Bởi vì, cùng lúc, tiểu thuyết  
dung nạp tinh hoa, ảnh hưởng của nhiều thể loại  
và nhiều loại yếu tố (phóng sự, hồi ký, bút ký,  
chính luận – khoa học, lịch sử, ngữ văn học,…).  
Việc tìm dấu vết của nòng cốt truyện ngắn trong  
tiểu thuyết, vì thế có thể trở nên khó khăn hơn  
nhiều. Vả chăng, sự khảo sát trên chiều tác động  
này, tuy cần thiết, nhưng không mang lại thật  
nhiều ích dụng.  
Vậy, trên thực tế, có chăng hiện tượng  
“truyện ngắn hóa” tiểu thuyết?  
Trên thực tế, hầu như quá trình này rất ít xảy  
ra hoặc xảy ra rất hạn chế. Bởi, theo quy luật vận  
động, đổi thay, phát triển của hệ thống thể loại  
của văn học hiện đại, thì tiểu thuyết là một thể  
loại lớn. Nó có thể dung nạp yếu tố của hầu hết  
15  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
“Tiểu thuyết nhiều kỳ dùng kỹ thuật cắt  
ghép. Nhìn chung nó ngắt đoạn ở chỗ phát sinh  
căng thẳng đòi hỏi phải được giải quyết, hay ở  
chỗ người ta muốn biết đôi chút về lối thoát của  
sự việc vừa xảy ra. Sự che đậy hay sự trì hoãn  
độ căng là điều cơ bản của việc cắt ghép. Thế  
nhưng một hiệu ứng ngưng hoãn như thế lại tác  
động làm cho chúng ta tìm cách hình dung ra  
việc thông tin không được cung cấp trong chốc  
lát về diễn biến của sự việc. Chuyện đó sẽ tiếp  
diễn ra sao nhỉ? Bằng việc đặt ra câu hỏi này  
hoặc tương tự như vậy chúng ta đã tăng cường  
sự tham dự của mình vào việc thực hiện diễn  
biến của câu chuyện.”  
Những mô tả và phân tích trên đây cũng cho  
thấy, tương tác thể loại vừa là động lực, vừa là  
quy luật vận động phát triển của văn học nói  
chung, truyện ngắn, tiểu thuyết riêng. Mỗi thể  
loại đều có nòng cốt và quá trình vận động phát  
triển riêng mang tính lịch sử của mình, song,  
mặt khác, cũng luôn chịu tác động của các thể  
loại khác, nhất là các thể loại gần gũi nhau trong  
tổng thể bức tranh thể loại văn học nói chung.  
Tài liệu tham khảo  
Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2004). 150 thuật ngữ  
văn học. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.  
Hàn Thiếu Công (-). Sơn Lê dịch (2008). Từ điển Mã  
Kiều. Nxb Hội Nhà văn.  
Dựa vào dẫn liệu khảo sát của Tillotson  
(Tillotson, 1962) và Ford (Ford, 1955), Iser còn  
cho rằng: không hẳn vì khía cạnh thương mại,  
Dickens cùng với các nhà văn hiện thực chủ nghĩa  
phương Tây thế kỷ XIX, trái lại, đã rất có ý thức  
trong việc tạo cơ hội cho người đọc phát huy vai  
trò “đồng tác giả” với nhà văn, khi “viết các tiểu  
thuyết của mình theo từng tuần, công bố chúng  
bằng cách đăng tải nhiều kỳ trên báo” (Iser, 1970).  
Cách công bố tác phẩm như vậy cũng cho thấy nhà  
văn khi viết và lựa chọn cách đưa từng phần tác  
phẩm tiểu thuyết đến với công chúng, luôn có ý  
thức phối hợp kỹ thuật “tự sự cỡ nhỏ” với “tự sự  
cỡ lớn”. Có thể xem đó là bằng chứng của tác động  
từ truyện ngắn sang tiểu thuyết.  
Huỳnh Như Phương (2007). Trường phái Hình thức  
Nga. Nxb Đại học Quốc gia Tp. HCM.  
Wolfgang Iser (1970). Die Appellstruktur der Texte.  
Rainer Warning (Herausgeber) (1975).  
Rezetionsästhetik: theorie und praxis.  
München: Wilhelm Fink. Huỳnh Vân (trích  
dịch 2017). Cấu trúc mời gọi của các văn bản.  
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, 60 -76.  
Tyupa, V. I. (2019). Các diễn ngôn trần thuật  
“nguồn”của văn học. Lã Nguyên (dịch từ bản  
tiếng Nga). Nghiên cứu văn học, số 02/2019.  
Nguyễn Thành Thi (2008a). “Lược đồ” văn học quốc  
ngữ Việt Nam trước năm 1945 nhìn từ quá  
trình hình thành và tương tác thể loại (Phần I).  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Tp. HCM.  
Nguyễn Thành Thi (2008b). “Lược đồ” văn học quốc  
ngữ Việt Nam trước năm 1945 nhìn từ quá  
trình hình thành và tương tác thể loại (Phần  
II). Bình luận văn học (Niên giám 2008), Hội  
Nghiên cứu và Giảng dạy văn học Tp. HCM.  
Hàn Thiếu Công (-). Sơn Lê dịch (2008). Từ điển Mã  
Kiều. Nxb Hội Nhà Văn.  
Kết luận  
Tương tác tiểu thuyết - truyện ngắn thuộc  
cấp độ tương tác giữa thể với thể. Kết quả của  
quá trình tương tác này là cả truyện ngắn lẫn tiểu  
thuyết đều có những biến đổi nhất định để tự làm  
mới, làm giàu cho bản thân mình.  
16  
pdf 6 trang baolam 25540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Về xu hướng tương tác thể loại giữa tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfve_xu_huong_tuong_tac_the_loai_giua_tieu_thuyet_va_truyen_ng.pdf