Hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực của con giáp là vật nuôi trong tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
182  
HÌNH ẢNH BIỂU TRƯNG MANG SẮC THÁI TIÊU CỰC  
CỦACON GIÁPLÀ VẬT NUÔI TRONG TỤC NGỮ TIẾNG HÀN  
VÀ TIẾNG VIỆT1  
Hoàng Thị Yến1,*, Nguyễn Thùy Dương1, Đỗ Phương Thùy1, Hoàng Thị Hải Anh2  
1. Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2. Bộ môn Tiếng Hàn, Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Hạ Long,  
Số 258 Bạch Đằng, Uông Bí, Quảng Ninh, Việt Nam  
Nhận bài ngày 23 tháng 08 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 08 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 16 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Các hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực của vật nuôi trong tục ngữ là kết quả  
biểu trưng hóa các chất liệu thẩm mĩ mang sắc thái tiêu cực. Hai dân tộc Việt - Hàn có nhiều điểm tương  
đồng trong việc biểu trưng hóa các nét tiêu cực của con giáp là vật nuôi thành các hình ảnh biểu trưng  
mang sắc thái tiêu cực. Điều này thể hiện ở 26 hình ảnh biểu trưng có sự đồng nhất hoàn toàn và đồng  
nhất bộ phận về số lượng và loài của các con giáp. Nét khác biệt trong cách tư duy và tri nhận thế giới  
của hai dân tộc Việt - Hàn cũng được thể hiện qua các đơn vị tục ngữ có yếu tố chỉ con giáp là vật nuôi.  
Trong ngữ liệu tiếng Hàn tồn tại 15 ô trống, tiếng Việt có 3 ô trống của các con giáp là chất liệu tạo  
thành các hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực trong tục ngữ.  
Từ khóa: hình ảnh biểu trưng, sắc thái tiêu cực, con giáp, vật nuôi, tục ngữ tiếng Hàn  
Mở đầu*  
Hiện nay, hướng tiếp cận từ góc độ  
Nam và Hàn Quốc phát triển ngày càng sâu  
rộng, nghiên cứu đối chiếu tiếng Hàn, tiếng  
Việt đã đạt nhiều thành tựu, phản ánh rõ qua  
sự tăng mạnh về số lượng và nâng cao về  
chất lượng. Đặc biệt, mảng nghiên cứu đối  
chiếu thành ngữ và tục ngữ Hàn - Việt được  
nhiều người quan tâm, ví dụ như: tác giả  
Nguyễn (2013) nghiên cứu về Văn hóa ứng  
xử của người Hàn qua thành ngữ, tục ngữ,  
tác giả Lê (2015) quan tâm đến các Thành  
ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói về động vật và  
thực vật... Ở phạm vi hẹp hơn, các công trình  
đối chiếu tục ngữ có yếu tố chỉ con giáp  
trong hai ngôn ngữ có thể kể tới các công  
trình tiêu biểu sau: tác giả Son (2015) tiến  
hành So sánh biểu trưng của 12 con giáp  
ngôn ngữ - văn hóa, đối chiếu giữa các ngôn  
ngữ... là xu thế phổ biến trong nghiên cứu  
ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu tục ngữ  
nói riêng. Trong tiếng Hàn, ở lĩnh vực hẹp  
với các đơn vị tục ngữ có thành tố chỉ con  
giáp, xuất hiện khá nhiều các nghiên cứu đối  
chiếu tiếng Hàn với các ngôn ngữ khác, ví  
dụ: tác giả Choi (2006) tiến hành đối chiếu  
nhóm tục ngữ có yếu tố chỉ con giáp trong  
văn hóa Hàn - Nhật, tác giả Kim (2011) thực  
hiện đối chiếu nhóm tục ngữ có yếu tố chỉ  
con giáp trong tiếng Hàn và tiếng Trung...  
Trong bối cảnh hợp tác toàn diện giữa Việt  
1
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Hà Nội trong đề tài mã số QG.18.21.  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
183  
trong tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc, các  
tác giả Hoàng và Hoàng (2019) tiếp cận vấn  
đề ở hướng nghiên cứu mới, thực hiện phân  
tích "Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ của tục ngữ  
tiếng Hàn có yếu tố chỉ con giáp"... Gần đây  
nhất có công trình của nhóm tác giả Hoàng,  
Lâm và Bae (2020) thực hiện đối chiếu đa  
ngữ, nghiên cứu về "Cultural components in  
Korean sokdam (sokdam 俗談) using the  
lexical element of “dog” in comparison with  
Vietnamese and English equivalents”  
(Thành tố văn hóa dân tộc Hàn qua ngữ liệu  
tục ngữ có yếu tố chỉ con chó (liên hệ với  
tiếng Việt và tiếng Anh)... Tuy nhiên, vẫn  
tồn tại nhiều khoảng trống trong đối chiếu  
tục ngữ có yếu tố chỉ con giáp, đặc biệt là đối  
chiếu hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu  
cực. Bài viết của chúng tôi giới hạn phạm vi  
ngữ liệu ở nhóm con giáp là vật nuôi, hướng  
tới mục đích góp phần lấp dần chỗ trống này.  
khoa trương...) hay dựa vào hình thức (vần,  
nhịp, cấu trúc sóng đôi).  
Theo chúng tôi, hình ảnh biểu trưng  
của các con giáp trong tục ngữ thường được  
chiếu với những con người có phẩm chất,  
tính cách đa dạng; có thể đại diện cho các vị  
thế hay thân phận, tầng lớp khác biệt trong  
xã hội; có thể tượng trưng cho những việc,  
sự vật cụ thể mang một tính chất đặc trưng,  
khái quát nào đó. Nói cách khác, các con  
giáp trong tục ngữ với những đặc tính (về  
hình thức, đặc điểm sinh học, tính cách,  
phẩm chất) và hành động, trạng thái của nó  
khi đi vào trong thành ngữ, tục ngữ đã được  
biểu trưng hóa, khiến cho các đơn vị ngôn  
ngữ đặc biệt này có thêm một tầng nghĩa mới  
- nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng. Ngoài sắc  
thái mang tính trung lập của các hình ảnh  
biểu trưng, ta có thể qui chúng về hai nhóm  
với tiêu chí phân biệt là sắc thái tích cực và  
tiêu cực.  
1. Một số khái niệm tiền đề  
1.1. Về biểu trưng  
1.2. Về khái niệm tục ngữ  
Tục ngữ thường được hiểu là biểu  
thức cố định có kết cấu câu ngắn gọn, có vần  
điệu và cấu trúc ổn định chuyển tải thông  
điệp nghệ thuật. Tục ngữ có giá trị giáo huấn,  
truyền kinh nghiệm và giá trị phê phán, châm  
biếm sâu sắc và phản ánh cuộc sống vật chất  
và đời sống tinh thần, phong tục, tập quán  
của dân tộc đó. Tuy nhiên, thuật ngữ 속담 俗  
談 tục đàm trong tiếng Hàn tương ứng với  
"tục ngữ" trong tiếng Việt trong thực tế lại  
có thể bao gồm cả các đơn vị có hình thức là  
một câu nhưng biểu đạt ý nghĩa tương đương  
với một số thành ngữ trong tiếng Việt, ví dụ  
như: 개와 고양이다 (là) chó và mèo, tương  
ứng với thành ngữ Như chó với mèo trong  
tiếng Việt, 돼지 죽 같다 như cháo lợn... Vì thế,  
khi liên hệ với tiếng Việt, chúng tôi sử dụng  
nguồn ngữ liệu gồm cả tục ngữ và thành ngữ  
- với ý nghĩa tương đương để phân tích.  
Biểu trưng (symbol) là khái niệm  
quen thuộc và được sử dụng trong nhiều  
ngành khoa học, tồn tại rộng rãi trong các  
nền văn hóa trên thế giới. Theo Viện Ngôn  
ngữ học (2006, tr. 66), "biểu trưng" được  
hiểu như sau: "biểu hiện một cách tượng  
trưng và tiêu biểu nhất", ví dụ: "Con rồng là  
biểu trưng cho một tín ngưỡng". Theo tác giả  
Nguyễn (2008), biểu trưng gồm hai mặt: cái  
biểu trưng được biểu hiện ra bằng hình ảnh,  
âm thanh, màu sắc và cái được biểu trưng gợi  
lên một cái gì đó thông qua sự liên tưởng.  
Tác giả cho rằng: i) tục ngữ thường có nghĩa  
đen và nghĩa biểu trưng, chính nghĩa biểu  
trưng tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa của tục  
ngữ, vì thế, nó được vận dụng trong những  
hoàn cảnh và mục đích, đối tượng khác nhau  
ii) có thể tạo nghĩa biểu trưng trong tục ngữ  
dựa vào quan hệ liên tưởng (so sánh/tỉ dụ (Ăn  
cơm không rau như đau không uống thuốc),  
ẩn dụ (Kiến tha lâu đầy tổ), hoán dụ (Lưỡi  
không xương nhiều đường lắt léo); dựa vào  
mối quan hệ kết hợp (điệp ngữ, tương phản,  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Để đảm bảo độ tin cậy của nghiên  
cứu, chúng tôi dựa vào nguồn ngữ liệu  
khoảng 3500 đơn vị tục ngữ có yếu tố chỉ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
184  
con giáp là vật nuôi trong công trình của tác  
giả Song (1997). Đồng thời, để phát hiện các  
nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ và  
văn hóa của hai dân tộc Hàn - Việt, chúng tôi  
cũng thực hiện thao tác liên hệ với tiếng Việt  
dựa trên nguồn tư liệu thành ngữ, tục ngữ thu  
thập từ các công trình của các tác giả tiêu  
biểu như Mã (1999), Hoàng (2003), Vũ  
(2008), Nguyễn (2016)... với khoảng 1000  
đơn vị. Các đơn vị tục ngữ được dẫn trong  
bài viết này chỉ là các ví dụ điển hình trong  
nguồn ngữ liệu.  
ii) tách ra các đơn vị có giá trị biểu trưng  
phân thành hai nhóm sắc thái tích cực và tiêu  
cực; iii) phân tích các hình ảnh biểu trưng có  
sắc thái tiêu cực của các con giáp là vật nuôi  
theo nhóm các đơn vị tục ngữ có yếu tố chỉ  
con giáp, liên hệ với tiếng Việt; iv) tách ra  
và phân tích các hình ảnh biểu trưng khác  
của các con giáp trong tục ngữ tiếng Việt;  
v) tổng hợp và đối chiếu nhằm xác định và  
phân tích mức độ đồng nhất hay khác biệt  
giữa số lượng và loài vật mà các hình ảnh  
biểu trưng trong hai ngôn ngữ được chiếu  
đến; vi) tách ra và phân tích các ô trống -  
không tồn tại các hình ảnh biểu trưng tương  
ứng ở mỗi ngôn ngữ.  
Nhiệm vụ trọng tâm của bài viết là  
phân tích hình ảnh biểu trưng có sắc thái tiêu  
cực của các con giáp là vật nuôi trong tục  
ngữ tiếng Hàn, có liên hệ với tiếng Việt.  
Chúng tôi thực hiện theo các bước sau:  
i) chuyển đạt các đơn vị tục ngữ có yếu tố  
chỉ con giáp tiếng Hàn sang tiếng Việt;  
Đặc điểm của các con giáp là vật  
nuôi trong tâm thức người Hàn và người Việt  
được tác giả Song (1997), Phạm (2013) giới  
thiệu sơ lược như bảng tổng hợp dưới đây.  
tên  
Song (1997, tr. 1)  
bảo thủ, cố chấp  
--- (thỏ: ôn thuận)  
Phạm (2013, tr. 59-61)  
trâu/bò  
mèo/thỏ  
chăm, có lợi, khỏe, đáng nuôi, phàm ăn  
nhanh, có lợi, đẹp, khôn, đáng nuôi, không ồn  
ào, không đáng sợ  
ngựa  
dê/cừu  
gà  
---  
ôn thuận  
nhanh, có lợi, đẹp, khôn, khỏe, đáng nuôi  
có lợi, đáng nuôi, không đáng sợ  
bảo thủ, cố chấp  
trách nhiệm, trung thành  
tham lam  
nhiều, có lợi, đáng nuôi, hiền  
chó  
nhanh, chăm, có lợi, đáng nuôi, phàm ăn, bẩn  
có lợi, đáng nuôi, phàm ăn, chậm, hiền, bẩn  
lợn  
Quan sát bảng trên, có thể phát hiện  
khoảng trống về đặc trưng của con mèo, con  
ngựa trong tiếng Hàn. Ngoài hai điểm: i) sự  
tham lam (tiếng Hàn) và phàm ăn (tiếng  
Việt) của lợn; ii) ôn thuận (tiếng Hàn) và  
không đáng sợ (tiếng Việt) của dê/cừu... ít  
thấy có sự tương đồng trong quan niệm về  
vật nuôi của các tác giả trên. Tác giả Phạm  
(2013) quan tâm đến các đặc điểm cụ thể của  
vật nuôi trong khi Song (1997) lại đặt sự chú  
ý vào đặc trưng khái quát. Để có thể hiểu rõ  
hơn về hình ảnh biểu trưng của các con giáp  
trong tâm thức cũng như những nét tương  
đồng và khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa  
của hai dân tộc Hàn - Việt, chúng ta cần tìm  
hiểu một cách có hệ thống và sâu sắc hơn từ  
nhiều nguồn tư liệu đa dạng, trong đó có kho  
tàng tục ngữ, thành ngữ của mỗi dân tộc.  
Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi  
phân tích hình ảnh biểu trưng mang sắc thái  
tiêu cực của 7 con giáp là vật nuôi trong tục  
ngữ tiếng Hàn, xét trong mối liên hệ với  
tiếng Việt. Bài viết theo hướng nghiên cứu  
định tính nên chú trọng đến việc nhận diện  
các hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu  
cực và phân tích các đơn vị tục ngữ điển  
hình. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm  
phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo về  
ngôn ngữ nói chung và tục ngữ con giáp nói  
riêng, giúp những người đang học tập và  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
185  
nghiên cứu về ngôn ngữ hai nước có cái nhìn  
sâu sắc hơn về tục ngữ và hình ảnh biểu  
trưng của các con giáp, hiểu thêm về phương  
pháp tư duy và liên tưởng hay cách nghĩ,  
cách cảm của hai dân tộc Hàn - Việt. Trên cơ  
sở đó, người học tiếng Hàn và tiếng Việt có  
thể vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ và  
văn hóa nói chung, về tục ngữ và hình ảnh  
biểu trưng của các con giáp trong tục ngữ nói  
riêng để đạt được thành công hơn trong giao  
tiếp liên văn hóa Hàn - Việt.  
소귀에 경 읽기 đọc kinh tai bò, 소한테  
염불하기다 niệm Phật cho bò: ý nói những  
người chậm hiểu thì nói nhiều cũng không  
thẩm thấu, không tiếp thu được gì. Trong  
tiếng Việt có câu: Đàn gảy tai trâu, Nước đổ  
đầu vịt, Nước đổ lá khoai. Trâu/bò tượng  
trưng cho kẻ ngu dốt: 성난 황소 바위받기다 bò  
mộng nổi điên đập vào đá: hành động ngu  
dốt, tự hại... Người Việt chê cười kẻ thiếu  
hiểu biết là: Ngu như bò, Bụng trâu đầu  
trắm...; châm biếm người ngu dốt không  
nghe theo người chỉ đạo, gây nên tình trạng  
lộn xộn: Bò đi đằng này, trâu đi đằng kia...  
3. Kết quả nghiên cứu  
2) Người ngoan cố, bướng bỉnh:  
Người Hàn liên tưởng hình ảnh trâu/bò với  
người ngoan cố với hình ảnh 고집이 소  
고집이다 ngoan cố bò, mức độ cao hơn khi  
có sự gia tăng của yếu tố bên ngoài: 소 고집에  
닭 고집이다 ngoan cố bò lại thêm ngoan cố  
gà. Đối với những kẻ bảo thủ, ương ngạnh  
đến cực độ, người Hàn xưa châm biếm bằng  
cách nói cường điệu hóa cao độ: 만 마리의  
소도 못 당할 고집이다 ngoan cố đến mức vạn  
con bò cũng không thể địch nổi... Người Việt  
dùng hình ảnh tương tự là Đầu bò đầu bướu  
hay những hình ảnh khác như Cứng đầu  
cứng cổ, Ương như ổi, Ngang như cua... để  
chỉ người cứng đầu, khó bảo - nhất là thanh  
thiếu niên ở lứa tuổi dậy thì, đang nổi loạn.  
3.1. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của  
trâu/bò  
Trong tiếng Trung chi Sửu là 우 牛  
ngưu, bên cạnh việc sử dụng yếu tố Hán để  
cấu tạo từ như trường hợp của 우마 (牛馬  
ngưu mã trâu ngựa) hay 마소 (馬소 mã - so  
ngựa trâu/bò); trong tiếng Hàn có sự phân  
biệt 소 bò và 물소 bò nước/trâu hoặc  
검은소/검정소 bò đen và 황소/누런소 bò vàng.  
Về sự khác biệt này, có ý kiến cho rằng,  
người Trung Hoa phải vay mượn của  
phương Nam danh từ chỉ "con trâu" vì ngộ  
nhận rằng trâu không sống được ở lưu vực  
sông Hoàng Hà - cái nôi của nền văn minh  
Trung Hoa. Tuy nhiên, người ta tìm được  
những chứng cứ cho thấy từ thời xa xưa,  
những động vật nhiệt đới và á nhiệt đới -  
trong đó có con trâu từng sống ở khu vực này  
(An, 2018, tr. 45). Trong tiếng Việt và cảm  
quan của người Việt, Sửu thường tương ứng  
với trâu (nói tuổi Sửu hoặc tuổi con trâu, chứ  
không nói tuổi con bò). Trong ngữ liệu tục  
ngữ tiếng Hàn và tục ngữ tiếng Việt, những  
hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực  
của trâu/bò được thể hiện như sau:  
3) Tầng lớp người lao động nghèo  
khổ: Trâu/bò đại diện cho tầng lớp dưới,  
nghèo khổ, chịu nhiều cực nhọc, vất vả. Hai  
câu tục ngữ 가난이 소새끼만도 못 하다 nghèo  
không bằng bê con, 가난이 쇠 아들이다 nghèo  
là con trai của bò... ý nói, thân phận con  
người chỉ ngang bằng hoặc thấp hơn thân  
phận là con của con trâu/bò. Xuất phát từ đặc  
tính của trâu/bò, cũng như người Việt, người  
Hàn cho rằng: 소띠는 일이 되다 tuổi Sửu  
nhiều vất vả... Thân phận bần cùng, khốn  
khổ, bị nhiều tầng lớp áp bức của người dân  
trong xã hội cũ được người Việt thể hiện qua  
các câu tục ngữ sau: Trâu đạp cũng chết, voi  
đạp cũng chết, Làm thân trâu ngựa, Làm  
kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ...  
1) Người đầu óc không được nhanh  
nhạy, ngu ngơ: Tục ngữ tiếng Hàn có câu:  
소가 크다고 왕노릇 할까 bò vì to mà làm tướng  
được sao?: ý nói muốn chỉ huy người khác  
ngoài sức khỏe ra còn phải có đầu óc, không  
có tài trí thì không thể làm tướng được. Ở  
mức độ khác trâu/bò đại biểu cho những  
người chậm hiểu qua hình ảnh quen thuộc:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
186  
4) Trẻ non dại, ngờ nghệch: Bê con  
mới sinh non nớt, như đứa trẻ không thể  
nhận biết và không có ý thức đề phòng nguy  
hiểm: 갓난 송아지 범 무서운 줄 모른다 bê mới  
sinh không biết sợ hổ, 미련한 송아지가 백장  
무서운 줄 모른다 bê ngốc không biết sợ đồ  
tể... Người Việt có hình ảnh Nghé mới ra  
ràng... chỉ người non dại, ngơ ngác.  
nguy hiểm đe dọa đến tính mạng: 뜨는 소가  
푸줏간에 먼저 간다 bò chậm thì đến lò mổ  
trước: chậm chạp nên không được việc, thiếu  
hiệu quả, sẽ sớm bị đào thải. Tục ngữ cũng  
cho thấy đặc điểm của người chậm chạp, đó  
là i) ít lời: 뜰 소는 소리를 내지 않는다 bò lờ đờ  
không kêu; ii) đôi khi, trong những tình  
huống đặc biệt, họ có những hành động bất  
ngờ: 뜬 소 울 넘는다 bò lờ đờ nhảy rào...  
Trong tiếng Việt, người ngu ngơ, chậm chạp  
thường chịu thiệt và được so sánh với hình  
ảnh: Trâu chậm uống nước đục, Trâu chậm  
uống nước dơ, trâu ngơ ăn cỏ héo...  
5) Kẻ kiêu ngạo, thiếu giáo dục:  
Trâu/bò hoang không được thuần hóa nên  
tính cách ngỗ ngược, thường phá phách nổi  
loạn. Câu 놓아 먹인 소다 bò thả rông/bò  
hoang chỉ người không có phép tắc. Người  
có chút sức mạnh thường "ảo tưởng sức  
mạnh", hay kiêu căng: 기운이 세다고 황소가  
왕 노릇할까? bò mộng kiêu khoe rằng mình  
khỏe? Vì thế, người Hàn khuyên: i) 으렁대는  
소는 받지 않는다 không nhận bò kêu gầm gào:  
người to mồm thường không có thực lực,  
không nên dùng; ii) 거들거리는 소는 받지  
않는다 không mua bò nghênh ngáo: người  
kiêu ngạo sẽ sớm thất bại, vì thế không nên  
tiếp nhận. Đối với kẻ cứng đầu, người Việt  
cho rằng, nếu thuở nhỏ Vô sừng vô sẹo thì  
khi lớn lên sẽ khó sửa, cũng như Sừng trâu  
cong khó uốn. Có lẽ một trong những lí do  
tạo nên cách nghĩ này là do quan niệm cũ của  
người Việt cho rằng: Có ăn có chọi mới gọi  
là trâu... Việc giáo dục không đúng cách sẽ  
khiến những đứa trẻ trở nên hiếu chiến, lớn  
lên sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội:  
Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết, Buộc trâu  
đâu nát rào đấy, Trâu mộng húc nhau, đồng  
cỏ cằn....  
7) Người hiền lành/ít lời nổi giận/tấn  
công người khác: Trong ngữ liệu tục ngữ  
tiếng Hàn có câu: 순한 소도 성낼 적이 있다 bò  
hiền cũng có khi giận dữ, 말없는 소가 성낸다  
bò không lời nổi giận: ý nói những người  
hiền bình thường không chấp nhặt, độ lượng,  
nhưng một khi vượt qua giới hạn, họ có thể  
nổi giận. Thậm chí, không nói lời nào mà có  
hành động bộc phát đáng sợ, ví dụ như: 뜨는  
소는 소리 없이 뜬다 bò lờ đờ vọt lên không  
tiếng, 받으러 덤비는 황소 같다 như bò mộng  
lao đến húc...  
8) Người thiếu trách nhiệm: Hình  
ảnh 밭갈이 못하는 소가 멍에 나무란다 bò  
không biết cày ruộng mắng vai cày: phê  
phán người thiếu năng lực, không hoàn  
thành được công việc lại đổ trách nhiệm sang  
người khác... Người Việt dùng hình ảnh  
Trâu lấm vẩy càn để chỉ kẻ có lỗi trốn tránh  
trách nhiệm, vu oan cho người khác.  
9) Cha mẹ đông con, vất vả, khổ cực:  
Tục ngữ Hàn dùng hình ảnh cái ách/vai cày,  
cái gùi hàng... để tượng trưng cho gánh nặng  
trên vai của các bậc cha mẹ những gia đình  
đông con: 새끼 많은 소 멍에 벗을 날 없다 bò  
nhiều con không có ngày tháo ách: ý nói cha  
mẹ đông con vất vả cả đời...  
6) Người chậm chạp: Trong tiếng  
Hàn, biểu trưng cho người chậm chạp có các  
đơn vị tục ngữ với các hành động cụ thể như:  
i) hành động chậm: 누워 뜨는 소다 bò chậm  
(đứng lên nằm xuống chậm chạp), ii) đi  
chậm: 느릿느릿 걸어도 황소 걸음이다 dù đi  
chậm chạp cũng là bước chân bò mộng: dù  
chậm nhưng là bò mộng nên sải bước rộng.  
Đối với những đối tượng này, cách nhìn  
nhận của người Hàn thể hiện trong tục ngữ  
khá đa dạng: i) coi đó là ưu điểm: 뜨는 소가  
부리기 좋다 bò chậm dễ dạy; ii) có thể là mối  
10) Người vô cảm, không quan tâm  
đến người và vật xung quanh: Một trong  
những hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu  
cực của trâu/bò chính là người vô cảm,  
không biểu lộ cảm xúc gì, ví như: i) không  
nghe: 소귀에 북소리다 tiếng trống tai bò; ii)  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
187  
không thấy, hoặc nhìn mà như không nhìn,  
không để đối phương vào mắt: 소 닭 보듯  
한다 như bò nhìn gà, 소가 개 보듯 한다 như  
bò nhìn chó. Người Việt dùng hình ảnh: Đàn  
gảy tai trâu...  
3.2. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của mèo  
Mèo là vật nuôi trong nhà có các tật  
xấu như ăn vụng, lười biếng, ỉa bậy, cũng là  
động vật ăn thịt có vẻ ngoài lạnh lùng...  
Trong tục ngữ tiếng Hàn, con mèo biểu trưng  
cho các hình ảnh có sắc thái tiêu cực sau đây:  
11) Kẻ mất gốc: Người Việt thường  
gọi những người Tham phú phụ bần là những  
kẻ mất gốc. Người Hàn cũng có cách nhìn  
nhận tương tự như vậy: 큰 소가 송아지 적  
생각을 못 한다 bò lớn không nghĩ đến thời là bê:  
phê phán những kẻ Giàu có quên thuở hàn vi...  
1) Kẻ trộm, kẻ ăn vụng: Người Việt  
hay dùng cụm từ mèo ăn vụng, trong khi  
người Hàn lại chỉ thẳng hành động ăn vụng  
thức ăn đó là hành động trộm cắp và gọi con  
mèo có tính xấu đó là 도둑 고양이 mèo trộm:  
고양이가 반찬맛을 알면 도둑고양이가 된다  
mèo biết mùi thức ăn sẽ thành mèo trộm: chỉ  
ranh giới giữa việc giữ mình trong sạch và  
việc sa ngã, phạm tội rất mong manh. Tục  
ngữ Hàn có hình ảnh: 도둑고양이가 제상에  
오른다 mèo ăn vụng lên cả bàn thờ thì người  
Việt có câu Đói quá hóa liều: vì túng thiếu,  
con người có thể trở nên táo tợn, bất chấp lễ  
nghi, phép tắc. Câu tục ngữ Mèo già ăn vụng  
mèo con phải đòn cho thấy bất công trong xã  
hội, ức hiếp kẻ yếu. Câu Im ỉm như mèo ăn  
vụng lại chỉ ra bộ dạng lén lút làm việc xấu  
của người không đàng hoàng...  
Tục ngữ Việt cũng cho thấy một số  
cách nhìn nhận khác của người Việt về hình  
ảnh biểu trưng tiêu cực của trâu/ bò như sau:  
1) Lũ lưu manh, xấu xa: Đầu trâu  
mặt ngựa, Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã;  
2) Kẻ tham lam: Cơm đâu no bụng  
chó, cỏ đâu no bụng trâu;  
3) Người ghen ghét, đố kị: Trâu buộc  
thì ghét trâu ăn, Bò cười trâu ngã, Trâu cày  
ghét bò buộc;  
4) Người có hình thức bẩn: Lấm như  
trâu đầm, Bẩn như trâu đầm, Cổtrâu cổ bò(bẩn  
mốc); hình thức xấu: Béo như trâu trương;  
2) Kẻ đáng ghét vì gây thiệt hại,  
phiền toái: Những hành động xấu của mèo  
xuất hiện trong tục ngữ tiếng Hàn là: i) tha  
đồ ăn: 미운 고양이가 조기 물고 부뚜막에  
오른다 mèo đáng ghét ngậm cá đù leo lên mặt  
bếp; ii) ỉa bậy: 얄미운 고양이가 아랫문 이불  
속에 똥 싼다 mèo đáng ghét ỉa cả vào thảm  
chùi chân... Hậu quả nghiêm trọng hơn là  
gây thiệt hại đến kinh tế gia đình: i) bắt gà  
con: 미운 고양이가 병아리만 잡아먹는다 mèo  
đáng ghét chỉ bắt gà con; ii) bắt gà mái  
giống: 미운 고양이가 씨암탉 물어죽인다 mèo  
đáng ghét bắt gà mái giống... Trong tiếng  
Việt có các câu sau: i) Chưa tập bắt chuột đã  
tập ỉa bếp: ý chê cười các bạn nhỏ học điều  
hay thì chậm nhưng bắt chước những điều  
dở, thói xấu thì nhanh; ii) Con mèo xán vỡ  
nồi rang, con chó chạy lại nó mang lấy đòn:  
kẻ gây chuyện nhưng trốn tránh, để người  
khác chịu tội, tương tự như câu Quýt làm  
cam chịu; iii) Lèo nhèo như mèo vật đống  
5) Kẻ lười biếng: Sáng tai họ, điếc tai  
cày  
6) Người bệnh tật, gầy yếu: Trâu hoa  
tai, bò gai sừng  
7) Người thất thế, sa cơ, hết thời:  
Trâu lành không ai mặc cả, trâu ngã lắm kẻ  
cầm dao, Trâu quá sá, mạ quá thì, Trâu quá  
tuổi khó vực  
8) Điềm không may: Trâu trắng đi  
đâu, mất mùa đấy...  
Trong tục ngữ tiếng Hàn xuất hiện 11  
hình ảnh biểu trưng của trâu bò. Trong tiếng  
Việt, ngoài 9 hình ảnh tương ứng với tiếng  
Hàn (có 2 ô trống không có đơn vị tục ngữ  
có yếu tố chỉ trâu/bò có biểu hiện tương ứng)  
còn có 8 hình ảnh khác. Như vậy, giữa hai  
nhóm tục ngữ của hai ngôn ngữ có các điểm  
tương đồng và khác biệt ngang nhau.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
188  
rơm: làm không được lại chỉ quấy nhiễu, gây  
phiền toái...  
người. Các biểu hiện của sự giả dối được chỉ  
rõ trong tục ngữ như sau: i) trong suy nghĩ:  
고양이가 쥐 생각하듯 한다 như mèo nghĩ về  
chuột: chỉ trích đó là suy nghĩ xấu xa, định  
hại người chứ không phải có ý tốt; ii) ăn  
chay: 고양이 채소먹기다 như mèo ăn rau: kẻ  
giả nhân giả nghĩa, ăn chay nhưng trong lòng  
thâm độc, đầy dã tâm; iii) giả mạo: 입 가리고  
고양이 흉내낸다 che miệng bắt chước tiếng  
mèo kêu... Tục ngữ Việt có câu tương tự:  
Mèo già khóc chuột...  
3) Kẻ vô dụng: Theo nếp nghĩ thông  
thường, đã là mèo thì tất nhiên là biết bắt  
chuột và còn phải bắt chuột giỏi. Vì thế, mèo  
không thể bắt chuột cũng giống như kẻ vô  
dụng. Trong tục ngữ tiếng Hàn có hình ảnh:  
쥐 못 잡는 고양이 mèo không thể bắt chuột, 쥐  
못 잡는 고양이가 먹기는 더 먹는다 mèo không  
bắt được chuột chỉ biết ăn: chỉ con mèo vô  
dụng, đã không làm tròn nghĩa vụ lại không  
được nết gì... Người Việt mượn hình ảnh  
mèo để châm biếm những người làm việc  
không đạt hiệu quả như sau: Chữ viết như  
mèo quào, Lôi thôi như mèo sẩy chuột, Mèo  
cào không xẻ vách vôi, Làm như mèo mửa...  
7) Người vô ơn, bạc tình bạc nghĩa:  
Mèo bắt và ăn thịt chuột. Trong tâm thức của  
người Hàn và người Việt, mèo là động vật  
khá lạnh lùng, ít biểu cảm và ác. Tục ngữ  
Hàn phê phán thái độ vô ơn, thậm chí Lấy  
oán trả ơn của người đời qua hình ảnh:  
고양이새끼 길러 놓으면 앙갚음 한다 nuôi mèo  
con, mèo trả oán.  
4) Kẻ mạnh, áp bức người yếu:  
Trong tục ngữ Hàn, con mèo tượng trưng  
cho kẻ hủy diệt, chết chóc trong quan hệ đối  
với chuột - tượng trưng cho kẻ bị đè nén, áp  
bức: 고양이 간 데 쥐 죽은 듯한다 như nơi mèo  
tới là chuột chết. Thái độ ức hiếp của kẻ  
mạnh đối với người yếu thế: 고양이가 쥐  
놀리듯 한다 như mèo vờn chuột. Vì thế, tục  
ngữ Việt có câu: Giết một con mèo, cứu vạn  
con chuột và Mèo ra cửa chuột xướng ca...  
8) Người lười biếng: Dân tộc Hàn  
cần cù lao động, vì thế, họ không chấp nhận  
và chế giễu người lười biếng bằng câu tục  
ngữ: 고양이에게 반찬 가게를 맡기고 낮잠을  
잔다 giao cửa hàng ăn cho mèo rồi ngủ cả  
ngày; chê người không chú tâm vào công  
việc, uể oải bằng hình ảnh: 빌려온 고양이  
같다 như mèo mượn. Hình ảnh điển hình cho  
người lười được người Việt liên tưởng với  
câu: mèo nằm xó bếp... Người Việt cũng chê  
người lười biếng là: Mèo lười, Ăn như rồng  
cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa...  
5) Đại diện cho giai cấp/tầng lớp  
trên: Truyền thống cha truyền con nối trong  
xã hội phong kiến gây nhiều bất công và nỗi  
khổ cho người dân. Tục ngữ Hàn phê phán  
thói hung hăng, cậy thế của con cháu tầng  
lớp quí tộc phong kiến: 앙칼없는 양반새끼  
없고 할퀴잖는 고양이새끼 없다 không có con  
cháu quí tộc không hung hăng, không có mèo  
con nào không biết cào. Người xưa lên án  
những bất công trong xã hội, một người làm  
nhưng người khác hưởng: 개가 쥐를 잡고  
먹기는 고양이가 먹는다 chó bắt chuột nhưng  
mèo ăn chuột. Trong tiếng Việt được chiếu  
với các hình ảnh: Cốc mò cò xơi, Ki cóp cho  
cọp nó xơi... Có trường hợp, cả kẻ áp bức và  
người chịu áp bức đều được liên tưởng tới  
mèo nhưng cấp bậc trên dưới khác nhau:  
Mèo già ăn vụng mèo con phải đòn.  
9) Người ngu ngốc, kiêu ngạo: Với  
thói huênh hoang, ngu dốt còn giả vờ là  
người hiểu biết, người Hàn dùng hình ảnh  
châm biếm sau: 죽은 고양이가 산 고양이 보고  
아웅 한다 mèo chết nhìn mèo sống kêu "meo".  
Người Việt dùng hình ảnh tương tự nhưng  
trực tiếp hơn: Thằng chết cãi thằng khiêng.  
Trong tiếng Việt còn có các hình ảnh châm  
biếm người hay "tự luyến" như sau: Mèo  
khoe mèo dài đuôi, chuột khen chuột nhỏ dễ  
chui dễ trèo...  
10) Người ăn ít: Mèo thường ăn ít, lại  
kén chọn đồ ăn: 고양이 밥 먹듯 한다 như mèo  
ăn cơm. Người Việt cũng dùng hình ảnh  
tương tự: Ăn (ít) như mèo. Ngoài ra, còn có  
6) Kẻ giả nhân giả nghĩa: Người dân  
Hàn lên án thói giả dối, thâm hiểm của con  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
các câu như: Mèo uống nước bể chẳng bao  
189  
1) Người hung dữ: Người hung dữ  
giờ cạn, hay: Nam thực như hổ, nữ thực như  
miu: khuyên con gái ăn uống chậm rãi, từ tốn  
nhưng con trai phải mạnh mẽ, nhanh nhẹn...  
được liên tưởng với hình ảnh con ngựa có  
các tính cách sau: 사나운 말은 물고 찬다 ngựa  
dữ cắn và đá. Với những con ngựa bất kham,  
người Hàn có những cách huấn luyện, thuần  
hóa được truyền lại trong tục ngữ như: i) có  
gùi hàng riêng: 사나운 말에 지우는 길마는  
따로 있다 với ngựa dữ, có gùi thồ hàng riêng;  
ii) chất hàng nặng: 사나운 말에는 무거운 길마  
지운다 chất hàng nặng cho ngựa dữ; iii) dùng  
dây cương và roi: 사나운 말은 고삐와 채찍으로  
길 들인다 dùng dây cương và roi để trị ngựa  
dữ; iv) luôn dùng hàm thiếc: 사나운 말 재갈  
떠날 날 없다 ngựa dữ không có ngày tháo bỏ  
hàm thiếc... Câu Đầu trâu mặt ngựa  
trong tiếng Việt được dùng để chỉ những kẻ  
vô lại, bất lương.  
Bên cạnh đó, trong nguồn ngữ liệu  
tiếng Việt còn có các hình ảnh sau:  
1) Người hèn nhát: Mèo già lại thua  
gan chuột nhắt...  
2) Người có thân phận thấp, bị áp  
bức: i) làm việc vất vả, quá sức: Mèo vật  
đống rơm; Mèo mù móc cống; ii) người ít tài  
cán hoặc đang túng quẫn: Mèo mù vớ cá rán:  
may mắn đến bất ngờ; iii) kẻ yếu luôn bị ức  
hiếp: Mèo tha miếng thịt thì đòi, kễnh tha con  
lợn mắt coi trừng trừng, Mèo tha miếng thịt  
xôn xao, hùm tha con lợn thì nào thấy chi...  
3) Kẻ ăn chơi: các hình ảnh: Mèo  
đàng chó điếm, Chó khô mèo lạc, Mèo mả gà  
đồng chỉ những đối tượng không ra gì, lưu  
manh, ăn chơi đàng điếm. Bởi vì, trong tâm  
thức của người Việt: Mèo lành chẳng ở mả,  
ả lành chẳng ở hàng cơm: ý nói mèo ngoan  
ở nhà, người ngoan nấu ăn cơm nhà.  
2) Người có tài nhưng nhiều tật:  
Người Việt coi Ngựa chứng là ngựa hay,  
người Hàn cũng có suy nghĩ và cách nhìn  
như vậy: 사나운 말이 천리 간다 ngựa dữ đi  
ngàn dặm: Người hung dữ cũng giống như  
ngựa dữ, là người có sức khỏe tốt, làm việc  
hiệu quả, có thể làm những việc lớn, phi  
thường... Người Hàn cũng không thiên vị và  
chỉ ra rằng: 천리마에도 못 된 버릇이 있다 thiên  
lí mã cũng có tật xấu của nó... Người Việt  
quan niệm: Người tài nhiều tật hoặc Người  
có tật có tài...  
4) Điềm xấu: Mèo đến nhà thì khó,  
chó đến nhà thì sang: dân gian cho là tiếng  
mèo kêu gần giống với chữ nghèo.  
Số lượng các hình ảnh biểu trưng có  
sắc thái tiêu cực của con mèo trong tiếng  
Hàn ít hơn trong tiếng Việt mặc dù các đơn  
vị tục ngữ có yếu tố chỉ mèo/thỏ tiếng Hàn  
gần gấp ba lần tục ngữ có yếu tố chỉ con mèo  
trong tiếng Việt. Khi chiếu các hình ảnh biểu  
trưng từ tục ngữ tiếng Hàn, chỉ có một ô  
trống về hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ  
tiếng Việt, tuy nhiên lại xuất hiện 4 ô trống  
hình ảnh biểu trưng trong tiếng Hàn khi thực  
hiện thao tác đối chiếu ngược lại. Điều này  
cho thấy, sức liên tưởng của người Việt từ  
chất liệu thẩm mĩ là con mèo phong phú hơn  
so với người Hàn.  
3) Người vô cảm, ngây ngốc: Ngữ  
liệu tục ngữ ngựa có hình ảnh: 말귀에  
염불하기다 như niệm Phật tai ngựa. Tuy  
người Việt không có cách dùng này nhưng  
có cách nói tương tự: Đàn gảy tai trâu (trong  
khi người Hàn dùng: 소귀에 북소리다 tiếng  
trống tai bò hoặc điếc không sợ súng...  
4) Người thất thế, sa cơ, thất bại:  
Cuộc sống là vô thường, luôn biến đổi và  
họa phúc khó lường. Quan niệm này thấm  
đẫm tư tưởng của Phật giáo. Người tài cũng  
có khi sa cơ, thất thế: 네 발 가진 말도 넘어질  
때가 있다 ngựa bốn chân cũng có khi ngã. Vì  
thế, con người ta sống trên đời không nên  
kiêu ngạo khi đắc chí, phải luôn thận trọng  
vì một khi thất bại, có thể dẫn đến hậu quả  
khôn lường: 넘어지는 말이 수레 부순다 ngựa  
3.3. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của ngựa  
Các hình ảnh tiêu cực của ngựa trong  
tục ngữ là: người hung dữ, người có tài  
nhưng có tật, người vô cảm, người thất thế,  
người già, người mất tự do...  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
190  
1) Người vô dụng: Bò đất ngựa gỗ  
ngã xe đổ... Quan niệm của người Việt về đời  
người như sau: Lên voi, xuống chó hay Sông  
có khúc, người có lúc, Tái ông mất ngựa, đời  
người thường Khổ tận cam lai...  
2) Người cô độc: Đơn thương, độc mã  
3) Người lông bông: Lông bông như  
ngựa chạy đường quai  
5) Người già: Trong tục ngữ tiếng  
Hàn, hình ảnh người già được biểu trưng bởi  
con ngựa già, với các đặc tính sau: i) không  
chạy giỏi: 젊어서 잘 뛰던 말도 늙으면 못 뛴다  
ngựa già không thể chạy như thuở trẻ; ii)  
ham ngủ: 늙은 천리마가 잠만 잔다 thiên lí mã  
già cũng chỉ ngủ; iii) ham ăn: 늙은 말이 콩 더  
달란다 ngựa già đòi thêm đỗ: không còn sức  
để xông pha nhưng lại đòi hỏi. Người Việt  
Nam vẫn nói: Người già cũng như đứa trẻ.  
Vì thế, con cháu hiếu thảo phải bao dung,  
phụng dưỡng cha mẹ cho tốt mới làm tròn  
đạo hiếu. Tất nhiên, dù có một thời tuổi trẻ  
oanh liệt nhưng khi Tuổi cao sức yếu, gối  
mỏi lưng còng, người cao tuổi vẫn phải chấp  
nhận một hiện thực: 늙으면 용마도 삯말보다도  
못한다 già thì long mã cũng không bằng  
ngựa trạm cho thuê...  
4) Người hay gấp vội: Ngựa le te  
cũng đến bến giang, voi đủng đỉnh cũng sang  
qua đò, Ngựa lồng, cóc cũng lồng: khuyên  
không nên vội vàng, nhanh ẩu...  
5) Người hiếu chiến: Ngựa non háu đá  
6) Người bản tính khó đổi, cố chấp:  
Ngựa quen đường cũ  
7) Hình phạt: Ngựa xéo voi giày  
Có thể cho rằng, với nhóm tục ngữ  
có yếu tố chỉ con ngựa, người Việt cũng có  
cái nhìn ít nhiều có phần khe khắt hơn so với  
người Hàn nên thấy ở ngựa nhiều điểm tiêu  
cực, nét xấu hơn. Ngoài 4 hình ảnh tương  
đương trong so sánh với tục ngữ có yếu tố  
chỉ ngựa, tục ngữ Việt còn biểu đạt 7 hình  
ảnh biểu trưng khác - tương đương với 7 ô  
trống trong tiếng Hàn.  
6) Người mất tự do: Khi mất tự do,  
con người phải sống một cuộc sống không  
như ý muốn, ví dụ như: i) tù túng: 말은  
변두리로 가지 않는다 ngựa không ra bìa  
rừng; ii) bị trói buộc: 말에 재갈 물린다 bắt  
ngựa ngậm hàm thiếc... Vì thế, khát khao của  
những người bị cầm tù mong được bay nhảy  
tự do càng thêm mãnh liệt: 매인 말은 항상  
뛰고 싶어한다 ngựa bị buộc luôn muốn nhảy.  
Tục ngữ tiếng Việt cũng có các biểu hiện  
tương đương như: Cương ngựa ách trâu,  
Làm thân trâu ngựa, Sống kiếp trâu ngựa.  
Người lao động trong xã hội phong kiến luôn  
ở vị thế thấp, vì thế, khi làm việc thường phải  
Ra sức khuyển mã...  
3.4. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của dê/  
cừu  
Sự khác biệt khi dùng dê (염소) hay  
cừu (양) trong 12 con giáp ở các nước Đông  
Bắc Á so với Việt Nam, theo chúng tôi, ít  
nhiều có liên quan đến đặc điểm khí hậu  
vùng miền. Cừu là động vật gần gũi với  
người phương Bắc nhưng nó cũng sống tốt ở  
vùng nhiệt đới. Dê gần gũi với người dân  
vùng nhiệt đới và có thể chăn thả ở đồng cỏ  
hoặc vùng núi đá. Ở Việt Nam, dê phân bố  
rộng khắp các vùng miền nhưng cừu chủ yếu  
được chăn thả ở một vài địa phương vùng  
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung... Dù  
là dê hay cừu, thì cũng đều là động vật ăn cỏ,  
được hai dân tộc cho là loài động vật hiền  
lành, ôn thuận... Trong tục ngữ tiếng Hàn,  
con dê/cừu được biểu trưng hóa thành các  
hình ảnh mang sắc thái tiêu cực sau:  
7) Người lao động khổ cực: Trong xã  
hội phong kiến, người dân thường bị áp bức,  
bóc lột đến tận cùng, sống cuộc đời nô lệ như  
trâu ngựa: 말에 짐을 무겁게 실으면 걷지를 못  
한다 nếu chất nặng ngựa không thể đi được.  
Người Việt thường nói: Kiếp trâu ngựa,  
Thân trâu ngựa... để nói về những người lao  
động chân tay thường Ăn no vác nặng...  
1) Người dân chịu áp bức: Trong xã  
hội phong kiến, người dân Hàn cũng như  
người dân Việt thường chịu nhiều tầng áp  
bức. Hình ảnh 양 열 마리에 목자가 아홉이다  
TrongtiếngViệtcòncócáchìnhảnhsau:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
191  
chín người mục đồng chăn 10 con cừu trong  
tiếng Hàn và Mười dê chín người chăn trong  
tiếng Việt thể hiện thực trạng của xã hội  
phong kiến - quan nhiều, phiền toái và nhiễu  
nhương lắm, cũng biểu thị ý nghĩa một đầu  
việc mà nhiều người giành nhau làm. Bên  
cạnh đó, người Việt còn đưa vào tục ngữ  
hình ảnh người dân bị đánh đập, chịu hi sinh:  
Câu Đánh như đánh dê tế đền ý nói đánh  
luôn tay không ngừng. Câu Nộp dê cho sói  
lên án xã hội cũ đẩy con người vào tình  
huống nguy hiểm đến tính mạng.  
trưng trong tiếng Hàn và 3 hình ảnh biểu  
trưng trong tiếng Việt - tương ứng với 3/5  
hình ảnh của tiếng Hàn. Không có các hình  
ảnh biểu trưng khác biệt trong tiếng Việt so  
với tiếng Hàn như các tiểu nhóm khác. Có  
thể thấy, tuy là vật nuôi nhưng trong nhận  
thức của hai dân tộc, dê/cừu có vị thế và ảnh  
hưởng khá khiêm tốn.  
3.5. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của gà  
Gà là gia cầm duy nhất trong 12 con  
giáp. Các hình ảnh biểu trưng mang sắc thái  
tiêu cực của gà trong tục ngữ tiếng Hàn  
không nhiều, có thể kể đến như sau:  
2) Người bảo thủ, ngoan cố: Câu tục  
ngữ 염소 같은 고집이다 cố chấp như dê thể  
hiện một cách nhìn khá khác biệt của người  
Hàn so với quan niệm của người Việt thường  
coi dê là con vật hiền lành, vô hại...  
1) Người có địa vị thấp, năng lực yếu  
kém: Hình ảnh gà - đại diện cho người có địa  
vị thấp, xấu xí, năng lực kém được sử dụng  
trong sự đối sánh với phượng hoàng - đại  
diện cho những người có địa vị cao, vẻ ngoài  
đẹp đẽ, có năng lực xuất chúng, được mọi  
người kính phục: 닭의 새끼 봉이 되랴 gà con  
sao thành phượng hoàng được, 닭이 천이면  
봉이 한 마리 ngàn gà có một phượng hoàng:  
ý nói trong đám đông người, ắt có người xuất  
sắc. Trong tiếng Hàn và tiếng Việt cũng có  
một thành ngữ gốc Hán với biểu hiện tương  
tự: Quần kê nhất hạc 군계일학 群鷄一鶴.  
Người Việt ví người vô dụng với hình ảnh:  
Gà đất, chó ngói...  
3) Người ngốc nghếch: Khi con  
người ảo tưởng về sức mạnh của bản thân sẽ  
có thái độ/hành động huênh hoang, sớm  
muộn cũng sẽ nhận bài học: 염소 뿔 세다세다  
하니까 황소에게 덤빈다 dê tự kiêu là sừng  
khỏe liền bị bò vàng tấn công. Người Việt  
dùng hình ảnh: Châu chấu đá xe để biểu đạt  
hình ảnh cuộc đọ sức giữa người yếu và kẻ  
mạnh. Tuy nhiên, câu Nực cười châu chấu  
đá xe, tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng  
thể hiện cái nhìn lạc quan của người Việt  
trong cuộc đấu tranh không cân bằng.  
2) Người viết chữ xấu/vẽ xấu: Người  
Hàn cười người viết chữ xấu hoặc không có  
tài vẽ bằng câu 닭 발 그리듯 như thể vẽ chân  
gà. Người Việt dùng hình ảnh sinh động  
hơn: Chữ như gà bới...  
4) Đứa trẻ non dại: Dê con được  
người Hàn dùng để tượng trưng cho những  
người chỉ biết đi theo, làm theo người khác.  
Đó là những người mãi không lớn, không có  
chủ kiến, phải dựa dẫm, phụ thuộc vào người  
khác: 염소새끼 어미 따라다니듯 한다 như dê  
con theo mẹ, những đứa trẻ hiếu thắng: Dê  
cỏn buồn sừng, Dê non ngứa sừng...  
3) Người gây chuyện rối tung, lộn  
xộn: Xuất phát từ tập tính hay bới đất của gà,  
tục ngữ tiếng Hàn dùng hình ảnh: 닭이 헤집어  
놓은 것 같다 như thể gà bới đất để nói đến  
những việc lộn xộn, không theo một trật tự  
nào, thậm chí là tình huống sự việc Rối như  
bòng bong... Trong tục ngữ Việt xuất hiện  
tình huống lộn xộn khi nhà không có người  
quản: Vắng chúa nhà gà bới bếp, Vắng chủ  
nhà gà vọc niêu tôm...  
5) Kẻ giả mạo: Dê khoác áo cọp:  
mượn oai kẻ khác để dọa nạt, đánh lừa  
người.  
Tương ứng với số lượng khá hạn chế  
của các đơn vị tục ngữ có yếu tố chỉ dê/cừu  
trong tiếng Hàn và tiếng Việt, các hình ảnh  
biểu trưng có sắc thái tiêu cực trong hai ngôn  
ngữ cũng có số lượng ít hơn so với các nhóm  
đơn vị khác. Cụ thể là, có 5 hình ảnh biểu  
4) Người ngoan cố: 소 고집에 닭  
고집이다 ngoan cố bò lại thêm ngoan cố gà.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
192  
5) Người vô cảm: 소 닭 보듯, 닭 소  
보듯 한다 như bò nhìn gà, như gà nhìn bò.  
trong tiếng Việt. Tuy nhiên, ở chiều ngược  
lại, trong tiếng Hàn lại tồn tại 13 ô trống - tục  
ngữ có yếu tố chỉ con gà trong tiếng Hàn  
không xuất hiện 13 hình ảnh biểu trưng là kết  
quả của quá trình biểu trưng hóa con gà trong  
tục ngữ Việt. Cũng có thể thấy, các hình ảnh  
biểu trưng trong tiếng Việt thể hiện những  
trạng thái tình cảm khá phong phú của con  
người - tạo nên sự khác biệt khá rõ trong so  
sánh với tiếng Hàn.  
6) Việc nhỏ nhặt: Hình ảnh 닭을 잡는  
데 도끼를 쓴다 dùng rìu bắt gà: ý nói việc sử  
dụng công cụ không phù hợp với thực tế  
công việc. Búa rìu thường dùng để chém,  
chặt, đốn gỗ hoặc bắt thú lớn. Gà là động vật  
nhỏ, khi bắt chỉ cần dùng tay, khi cắt tiết  
cũng chỉ cần con dao nhỏ. Vì thế, Dùng rìu  
bắt gà là việc làm không cần thiết. Tương tự,  
người Việt cũng có câu: Dùng dao mổ trâu  
để giết gà.  
3.6. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của chó  
Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của chó  
thường có liên quan đến vị thế - là vật nuôi,  
những thói xấu, tiêu cực của chó. Trong tục ngữ  
tiếng Hàn, chó đại diện cho người ở tầng lớp  
dưới, kẻ xấu, kẻ lười biếng, người thiếu hiểu  
biết, tình trạng thất bại, hỗn độn, vô giá trị...  
Người Việt đưa thêm khá nhiều hình  
ảnh biểu trưng của gà vào tục ngữ, đó là:  
1) Người đố kị: Con gà tức nhau  
tiếng gáy, vì thế Gà chết vì tiếng gáy  
2) Người tội nghiệp: i) đứa trẻ: Gà  
con lạc mẹ, Gà con nhúng nước; ii) người  
lớn: Ủ rũ như gà phải mưa, Ủ rũ như gà rù...  
1) Tầng lớp nghèo khổ: Tầng lớp  
dưới đáy của xã hội thời nào cũng chịu nhiều  
áp bức: 여윈 강아지에 물 것 꼬이듯 한다 như  
bu lại cắn chó con gầy yếu; 똥 싼 개 나무라듯  
한다 như mắng chó ỉa bậy... Người Việt than:  
Khổ như chó, Nhục như chó...  
3) Những người không đoàn kết: Gà  
cùng chuồng đá nhau, Gà cùng một mẹ chớ  
hoài đá nhau, Gà nhà lại bới bếp nhà...  
4) Người không kín đáo, thận trọng:  
Gà đẻ gà cục tác  
2) Người mất tự do: Hình ảnh chó bị  
xích vô cùng quen thuộc với người dân hai  
nước Hàn, Việt: 매인 개가 도망치려고 하듯  
한다 như chó bị xích định chạy trốn. Trong  
tục ngữ Việt, người dân bị áp bức thường: i)  
lang thang không nhà cửa, bị bẩn, chịu đói:  
Bơ vơ như chó lạc nhà, Bẩn như chó, Cơm  
đâu no chó, thóc đâu no gà; ii) chịu đè nén,  
áp bức: Chửi chó mắng mèo, Đồ chó chết,  
Không có trâu bắt chó đi cày...  
5) Người hiếu chiến: Gà giò ngứa  
cựa, Hăng máu gà  
6) Người mang đến xui xẻo: Gà mái  
gáy gở, Gà mái gáy sáng lụn bại cửa nhà  
7) Người giả mạo: Gà mượn áo công  
8) Người tật nguyền: Gà què ăn quẩn  
cối xay, Gà què bị chó đuổi  
9) Người góa vợ: Gà trống nuôi con  
10) Người đờ đẫn: Lờ đờ như gà ban  
hôm, Lờ đờ như gà mang hòm  
3) Người có hình thức xấu xí: Trong  
tục ngữ tiếng Hàn, hình thức xấu có hai lí do  
sau: i) vì bẩn thỉu: 개 제 밑 핥듯 한다 như chó  
liếm hạ bộ của mình; ii) do quần áo lôi thôi:  
개 좆 같은 의관이다 y quan như dái chó...  
Người Việt cũng nói: Bẩn như chó...  
11) Người bối rối: Lúng túng như gà  
mắc tóc  
12) Người hay sợ hãi: Nháo nhác như  
gà con lạc mẹ, Nháo nhác như gà phải cáo  
4) Kẻ xấu: Khi mắng người, đặc biệt  
đối với những kẻ vô liêm sỉ, hại người, người  
Việt mắng: Đồ chó. Người Hàn mắng với  
hàm ý sâu cay hơn: 개씹으로 나온 놈이다 kẻ  
chui ra từ âm hộ chó. Đặc biệt với những kẻ  
phản bạn, lời mắng sẽ là: 개하고 사귄 셈이다  
13) Người gấp vội: Te tái như gà mắc  
đẻ, Te tái như gà mái nhẩy ổ  
Kết quả phân tích cho thấy, khi chiếu  
từ tục ngữ tiếng Hàn, chỉ có 2 ô trống của  
hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
193  
coi như làm bạn với chó... Trong tục ngữ  
Việt, kẻ xấu và kẻ độc ác được phác họa như  
sau: i) kẻ xấu: Ăn cùng chó, ló xó cùng ma,  
Hà tiện mới có, có phũ như chó mới giàu,  
Chó dại cắn càn, Mèo đàng chó điếm, Chó  
cậy gần nhà... ; ii) kẻ độc ác, vô tình: Chó cái  
bỏ con, Chó cái cắn con; Chó cắn áo rách,  
Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng...  
con một ngày không biết sợ hổ... Có thể thấy,  
cua (ở đồng bằng hoặc miền biển), hổ (ở  
miền núi) là những con vật nguy hiểm, con  
người có thể bị cua cắp, bị hổ ăn thịt. Trong  
tiếng Việt, kẻ thiếu hiểu biết, ngu ngốc có  
những biểu hiện sau: Chó con không sợ hổ,  
Chó chê mèo lắm lông, Chó chùa bắt nạt chó  
làng, Chó dại tha cứt về nhà, Chó cắn ma,  
Chó sủa trăng, Ngu như chó...  
5) Kẻ hay gây chuyện, phiền toái:  
Chó và mèo là vật nuôi trong nhà, chính vì  
thế, chúng cũng là những kẻ hay gây nhiều  
phiền toái cho con người nhất: 미운 강아지가  
부뚜막에 똥 싼다 chó con đáng ghét ỉa trên bệ  
bếp... Kẻ phiền toái, gây chuyện: Chó ăn  
vụng bột, Chó càn bứt giậu, Nuôi gà gà mổ  
mắt, nuôi chó chó liếm mặt...  
9) Người thất bại, bất lực: Trong  
tiếng Hàn, tục ngữ có yếu tố chỉ con chó có  
hình ảnh 고양이 쫓던 개다 chó từng đuổi mèo  
và hình ảnh 닭 쫓던 개 지붕 쳐다보듯 한다 như  
chó đuổi gà nhìn mái nhà. Đây cũng là hai  
hình ảnh gần gũi trong bức tranh về làng quê  
Việt Nam. Khi chó đuổi mèo và gà, chúng  
thường nhảy hoặc bay lên chỗ cao (mái nhà,  
đống rơm). Chó không thể trèo cao nên đành  
bất lực, đứng từ dưới nhìn lên. Sự thất bại  
còn thể hiện ở các câu tục ngữ dùng nguyên  
âm Hán Việt: Cẩu khẩu nan sinh xuất tượng  
ngà, Cẩu phụ sinh cẩu tử...; hay các câu:  
Chó cụp tai, Chó gầy hổ mặt người nuôi, Lên  
voi xuống chó... Trong tiếng Việt có câu Như  
chó với mèo (tương ứng với câu 개와  
고양이다 chó và mèo trong tiếng Hàn) có hai  
cách lí giải: một là, trong suy nghĩ của người  
Việt, chó và mèo sống gần nhau nhưng lại có  
quan hệ không tốt lắm. Tuy nhiên, cũng có  
một cách lí giải khác cho rằng, đó là chúng  
vui đùa chứ không phải là ghét nhau.  
6) Người vô trách nhiệm: Người  
không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của  
mình là kẻ vô trách nhiệm. Chó là vật nuôi  
trong nhà, sống gần gũi với con người và có  
trách nhiệm coi nhà, cảnh báo khi có trộm  
hoặc trực tiếp ngăn chặn, đuổi trộm. Trong  
tục ngữ tiếng Hàn có câu: 도둑을 보고도 짖지  
않는 개다 dù có thấy trộm, chó cũng không  
sủa: phê phán thái độ bàng quan, vô trách  
nhiệm đến cao độ của con người...  
7) Kẻ lười biếng: Kẻ lười không chịu  
lao động, cả ngày chỉ rong chơi được người  
Hàn ví với hình ảnh: 매일 개처럼  
돌아다니기만 한다 hàng ngày đi lại như chó.  
Người Việt cũng có chung phương thức liên  
tưởng như vậy, ông cha ta thường nói: Như  
chó dái chạy dông, Lông nhông như chó dái,  
Chó chạy ruộng khoai...  
10) Tình trạng hỗn loạn: Tình trạng  
hỗn loạn được người Hàn ví với 개판이다  
tình trạng chó. Trật tự trong nhà sẽ không  
được duy trì, bảo vệ khi: i) người bảo vệ lại  
không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ: 도둑 못  
지키는 개다 chó không thể coi trộ; ii) làm việc  
quan trọng, thiêng liêng thì kẻ bảo vệ coi giữ  
lại trộm mất đồ quan trọng nhất: 채비  
차리다가 신주 개 물려 보낸다 bày đồ cúng thì  
chó tha mất bài vị... Trong tiếng Việt, tình  
trạng hỗn loạn thể hiện ở các câu sau: Chó  
cắn xe, xe cán chó: chỉ sự xung đột, đối  
nghịch, đánh giết lẫn nhau...; Đã khó chó cắn  
thêm: ý nói người đã khổ lại thêm tai họa...  
8) Người thiếu hiểu biết, non dại:  
Người ít tiếp xúc, không đi nhiều hiểu rộng  
sẽ hạn chế trong nhận thức. Với cấu trúc [A  
không biết/không sợ B] với A lần lượt là chó  
miền núi, chó miền biển, chó con một ngày  
tuổi, B là cua hoặc hổ, ta có các hình ảnh sau:  
i) 산골 개 게 무서운 줄 모른다 chó miền núi  
không biết sợ cua, ii) 바닷가 개는 호랑이  
무서운 줄을 모른다 chó bờ biển không biết sợ  
hổ; iii) 하룻강아지 범 무서운 줄 모른다 chó  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
194  
Trong tục ngữ Việt, chó còn có các  
hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực sau:  
thị đối với người có thân phận thấp hoặc lên  
án kẻ ti tiện, phẩm chất xấu hèn.  
3) Người nghèo, chỉ lo kiếm ăn: Tục  
1) Kẻ thiếu tự trọng: Chó chui gầm  
chạn, Chó hùa đàn, Chó nhà quê đòi ăn mắm  
mực, Ngay lưng như chó trèo chạn, Chó  
chực chuồng chồ  
ngữ  
Hàn  
có  
câu:  
상놈  
새끼는  
돼지새끼이고,양반 새끼는 고양이새끼다 con  
nhà buôn là lợn con, con quí tộc là mèo con:  
ý nói con nhà nghèo (lợn con) chỉ lo kiếm  
tiền lo bữa ăn hàng ngày, con nhà giàu (mèo  
con) thư nhàn, khoe mẽ...  
2) Tình cảm không hòa thuận: Anh  
em cọc chèo như mèo với chó, Ăn ở như chó  
với mèo... chỉ mối quan hệ không hòa thuận;  
Chó ăn vã mắm chỉ sự tranh giành, bất hòa.  
4) Người đố kị, ghen ghét: Ngữ liệu  
tục ngữ tiếng Hàn có yếu tố chỉ con lợn xuất  
hiện khá nhiều đơn vị có hình ảnh biểu trưng  
cho người đố kị, ghen ghét. Có thể phân  
thành hai cấp độ như sau: cấp độ thứ nhất là  
thói ghen ghét thông thường ta vẫn gặp trong  
cuộc sống hàng ngày, ví dụ như: i) 똥 묻은  
돼지가 겨 묻은 돼지를 흉본다 lợn vấy cứt nói  
xấu lợn vấy cám; ii) 누운 돼지가 앉은 돼지  
3) Tình huống tuyệt vọng: Chó chạy  
cùng đường, Mang chết chó cũng lè lưỡi...  
Số lượng 9 hình ảnh biểu trưng có  
sắc thái tiêu cực tương đương trong tục ngữ  
tiếng Hàn và tiếng Việt cho thấy mức độ gần  
gũi, tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ  
của hai dân tộc đối với con chó - động vật  
gần gũi và thân thiết nhất với con người. Sự  
khác biệt về nhận thức và tư duy của hai dân  
tộc thể hiện ở 1 ô trống trong tục ngữ Việt và  
3 ô trống của hình ảnh biểu trưng trong tục  
ngữ Hàn.  
2
흉본다 lợn nằm nói xấu lợn ngồi (ganh ghét  
đố kị). Trong tiếng Việt có các đơn vị tương  
đương như: Chó chê mèo lắm lông, Lươn  
ngắn chê trạch dài, Thờn bơn méo miệng chê  
trai lệch mồm... Cấp độ thứ hai có mức độ  
nghiêm trọng hơn, đó là sự ghen ghét, đố kị  
giữa những người cùng cảnh ngộ: 매달린  
돼지나 그을린 돼지나 lợn bị trói hay lợn bị  
thui. Về mức độ bị ngược đãi, ta thấy có bị  
trói và bị thui. Nếu xếp theo mức độ ghen  
ghét tăng dần, ta có các biểu hiện sau: i)  
cười: 매달은 돼지가 그을린 돼지 타령한다 lợn  
bị trói cười lợn bị thui; ii) mắng: 달아매인  
돼지가 누운 돼지를 나무란다 lợn bị trói mắng  
lợn nằm; iii) nói xấu: 그을린 돼지가 매달린  
돼지를 흉본다 lợn bị thui nói xấu lợn bị trói  
và ngược lại: 달아매인 돼지가 그을린 돼지를  
흉본다 lợn bị trói nói xấu lợn bị thui...  
3.7. Hình ảnh biểu trưng tiêu cực của lợn  
Lợn là gia súc nuôi lấy thịt, to béo,  
hiền lành, ăn nhiều... Trong tục ngữ tiếng  
Hàn, lợn được biểu trưng hóa thành các hình  
ảnh tiêu cực sau:  
1) Người cô đơn: Hình ảnh lợn nhà  
quan trong câu tục ngữ: 관가 돼지 배 앓는  
격이다 như lợn nhà quan đau bụng: đại diện  
cho thân phận người làm trong phủ quan lại.  
Khi bị ốm đau thì chỉ biết chịu khổ một  
mình, không có ai quan tâm, chăm sóc...  
2) Người có thân phận thấp kém:  
Người có địa vị xã hội thấp thường phải sống  
với thân phận đầy tớ: i) bị áp bức: 돼지처럼  
대접하고 짐승처럼 먹인다 đối đãi như lợn, cho  
ăn như thú vật; ii) thậm chí là bị hi sinh:  
기우제 날 돼지 신세다 thân phận lợn ngày làm  
lễ cầu mưa... Người Việt thường dùng hình  
ảnh: Phường chó lợn thể hiện thái độ miệt  
5) Người thiếu giáo dục: Người thiếu  
giáo dục thường hỗn hào, mất nết giống như  
hình ảnh: 놓아 먹인 돼지다 như lợn thả rông...  
6) Người tham lam và ngu ngốc:  
Trong suy nghĩ của người Hàn và người Việt  
có sự tương đồng về hình ảnh biểu trưng của  
2 고생하는 사람이 팔자 편한 사람을 흉보듯이  
사리 판단을 제대로 못 하는 사람을 비웃는 말  
(Song, 1997, tr. 167): người khổ sở nói xấu người số  
sướng...  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
195  
lợn, thể hiện ở các đơn vị tục ngữ như: 돼지  
같은 놈이다 kẻ như lợn (tham và ngu), 돼지  
욕심이다 lòng tham của lợn. Tiếng Việt cũng  
có các câu: Tham như lợn, Ngu như lợn...  
chỉ con lợn có số lượng hình ảnh biểu trưng  
có sắc thái tiêu cực là bằng nhau: 7 hình ảnh.  
Tuy nhiên, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn  
chỉ có 2 hình ảnh tương đồng với nhau, mỗi  
nhóm tục ngữ ở hai ngôn ngữ đều tồn tại 5 ô  
trống hình ảnh đặc trưng có sắc thái tiêu cực.  
Điều này có nghĩa là, đối với con giáp là vật  
nuôi - lợn, hai dân tộc có cái nhìn khá khác  
biệt. Có thể đặt vấn đề bước đầu tìm hiểu căn  
nguyên của sự khác biệt này từ ảnh hưởng  
của những yếu tố liên quan như đặc điểm  
môi trường địa lí, phương thức chăn nuôi và  
giá trị kinh tế... đến loài vật này.  
7) Người tham ăn: Lợn là gia súc có  
nết ăn tục, ăn nhiều. Với người tham ăn,  
người Hàn nói: 돼지를 그려 붙이겠다 sẽ vẽ  
dán ảnh lợn (cho người tham ăn) hoặc mắng:  
일에는 굼벵이요,먹는 데는 돼지다 làm như bọ  
rùa, ăn như lợn. Người Việt thường chê  
người ăn tục là Ăn như lợn, chê người tham  
ăn lười làm là: Ăn thì tham như mõ, Làm thì  
lười như hủi...  
8) Người thiếu linh hoạt: Lợn không  
biết lùi: 돼지는 앞으로만 간다 lợn chỉ đi về  
phía trước: Người Hàn chê người thiếu linh  
hoạt, cứng nhắc, khuyên nên tùy theo tình  
huống cụ thể cần biết tiến biết lùi... Người  
Việt có hình ảnh: Ôm cây đợi thỏ, Há miệng  
chờ sung...  
4. Luận bàn  
Dựa trên nội dung đã phân tích và kết  
quả đối chiếu giữa tiếng Hàn và tiếng Việt ở  
trên, chúng tôi tổng hợp thành một số nhận  
xét sau:  
4.1. Về số lượng  
Trong tục ngữ tiếng Việt, chúng tôi  
tách thêm được 5 hình ảnh sau:  
Tổng số có 49 hình ảnh biểu trưng,  
trong đó, tiếng Hàn có 34/49 hình ảnh  
(69,4%) (15 khoảng trống chiếm 30,6%),  
tiếng Việt có 46/49 hình ảnh (93,9%) (3  
khoảng trống chiếm 6,1%). Số lượng các  
hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ có yếu tố  
chỉ con giáp trong tiếng Hàn không nhiều -  
dù có số lượng tục ngữ lớn hơn - trong so  
sánh với tiếng Việt. Điều này cho thấy đặc  
điểm tư duy và cách tri nhận thế giới của hai  
dân tộc ít nhiều có những khác biệt nhất  
định, so với người Hàn, trong tục ngữ, người  
Việt dường như lời ít mà ý nhiều hơn.  
1) Kẻ không biết mình, biết ta: Lợn  
chê chó có bọ: kẻ không nhận thấy cái dở,  
cái xấu của mình lại đi chê bai người khác.  
2) Kẻ khoe khoang, kệch cỡm: Lợn  
cưới áo mới: khoe khoang một cách lố bịch,  
kệch cỡm, không phù hợp hoàn cảnh.  
3) Người bất nhân, bội bạc: Lợn kia  
trắng mắt thì nuôi, người kia trắng mắt là  
người bỏ đi: một quan niệm về tướng mạo -  
mắt trắng là tướng người bội bạc, bất nhân;  
Trắng như mắt lợn luộc: trắng dã, vô tình.  
4.2. Nhóm đồng nhất về loài và số lượng  
hình ảnh biểu trưng  
4) Nhà đông con: Rẻ như bèo nhiều  
heo cũng hết: ý nói Của không con nhà nhiều  
con cũng hết...  
Nhóm các hình ảnh biểu trưng và con  
giáp là vật nuôi đồng nhất hoàn toàn cả về  
loài và số lượng loài có số lượng là 15/49  
(30,6%), có thể gộp thành hai nhóm lớn  
chiếu với 3 hoặc 1 con giáp như sau:  
5) Kẻ a dua: Voi đú chó đú lợn sề  
cũng hộc.  
Nhóm các đơn vị tục ngữ có yếu tố  
con giáp  
tiểu  
nhóm  
nhóm  
hình ảnh biểu trưng  
Hàn - Việt  
trâu/bò, dê, chó  
trâu/bò, mèo, lợn  
mèo, gà, chó.  
1. hình ảnh biểu  
trưng chiếu với  
3 con giáp  
1
2
3
người non dại/trẻ dại  
kẻ kiêu ngạo và vô giáo dục  
kẻ gây hại, đáng ghét  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
196  
1
2
người chậm chạp  
kẻ hung dữ/ người có tài, nhiều tật/ người  
mất tự do  
kẻ trộm/tầng lớp trên/kẻ mạnh áp bức  
người/ kẻ giả nhân nghĩa/người ăn ít  
trâu/bò  
ngựa  
2. hình ảnh biểu  
trưng chiếu với  
1 con giáp  
3
mèo  
4
5
việc nhỏ/ chữ xấu  
tình trạng hỗn loạn  
gà  
chó  
Như vậy, trong tục ngữ tiếng Hàn và  
tiếng Việt, ở nhóm 1, các hình ảnh biểu trưng  
được chiếu với nhiều con giáp (3); ngược lại,  
ở nhóm 2, các con giáp có thể chiếu với một  
hoặc hơn một hình ảnh biểu trưng, ví dụ:  
trâu/bò và chó được chiếu với 1 hình ảnh,  
ngựa chiếu với 3 hình ảnh, mèo được chiếu  
với 5 hình ảnh biểu trưng.  
4.3. Nhóm khác biệt về loài và hình ảnh  
biểu trưng  
Nhóm các hình ảnh biểu trưng và vật  
nuôi không đồng nhất hoàn toàn về loài và  
số lượng loài có 11 tiểu nhóm. Cụ thể có thể  
gộp thành các nhóm lớn hơn như sau:  
i) nhóm đồng nhất về hình ảnh biểu trưng  
nhưng khác nhau về số lượng con giáp;  
ii) nhóm đồng nhất về hình ảnh biểu trưng và  
số lượng vật nuôi nhưng không đồng nhất  
hoàn toàn về loài.  
con giáp  
tiểu  
nhóm  
nhóm  
hình ảnh biểu trưng  
Hàn - Việt  
Hàn  
Việt  
1
người dân nghèo khổ,  
thân phận thấp bị áp bức  
trâu/bò, dê,  
gà, chó, lợn  
-
mèo  
1. đồng nhất về  
hình ảnh, khác về  
số lượng  
2
3
1
kẻ vô dụng  
-
mèo, gà  
dê, gà  
ngựa  
ngựa  
kẻ ngoan cố, cố chấp  
trâu/bò  
người ngu ngốc, thiếu  
linh hoạt  
trâu/bò, mèo,  
2. đồng nhất về  
hình ảnh, số lượng,  
khác về loài  
dê  
gà  
chó, lợn  
2
người sa cơ, thất thế  
chó  
ngựa  
trâu/bò  
4.4. Nhóm đồng nhất về hình ảnh, khác biệt  
về loài  
4.5. Nhóm khuyết hình ảnh biểu trưng  
Nhóm các hình ảnh biểu trưng tồn tại  
khoảng trống, tức là không xuất hiện hình  
ảnh biểu trưng ở một trong hai ngôn ngữ, có  
thể tổng hợp thành 2 nhóm lớn như dưới đây:  
i) nhóm 15 khoảng trống của hình ảnh biểu  
trưng trong tục ngữ tiếng Hàn - có các con  
giáp là vật nuôi không được biểu trưng hóa  
để tạo thành 15 các hình ảnh biểu trưng có  
sắc thái tiêu cực như trong tục ngữ Việt;  
ii) nhóm 3 khoảng trống của hình ảnh biểu  
trưng trong tục ngữ tiếng Việt - có các con  
giáp là vật nuôi trong tiếng Việt không được  
biểu trưng hóa để tạo thành 3 hình ảnh biểu  
trưng như trong tục ngữ tiếng Hàn.  
Nhóm đồng nhất về hình ảnh biểu  
trưng nhưng khác biệt hoàn toàn về con giáp  
vật nuôi, số lượng các con giáp được chiếu  
đến cũng có thể bằng hoặc nhiều/ít hơn:  
hình ảnh  
con giáp  
con giáp  
stt  
biểu trưng tiếng Hàn tiếng Việt  
cha mẹ đông  
1
trâu/bò  
lợn  
con, vất vả  
kẻ đố kị  
2
3
4
lợn  
mèo  
lợn  
trâu/bò, gà  
lợn  
kẻ vô ơn  
người cô độc  
ngựa  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
197  
thấy, người Hàn Quốc và người Việt có  
nhiều điểm tương đồng trong việc biểu trưng  
hóa các con giáp là vật nuôi thành các hình  
ảnh biểu trưng sau: kẻ non dại, ngốc nghếch;  
kẻ kiêu ngạo; kẻ hay gây phiền toái... Những  
nét khác biệt rõ nhất trong cách tư duy và tri  
nhận thế giới thể hiện ở ô trống các con giáp  
của hình ảnh biểu trưng ở hai ngôn ngữ, ví  
dụ như: kẻ hèn nhát, kẻ giả mạo điềm xấu  
(trong tiếng Hàn) và kẻ mất gốc, người già...  
(trong tiếng Việt). Mức độ tương đồng hay  
khác biệt ở mỗi nhóm tục ngữ có yếu tố chỉ  
con giáp là vật nuôi ít nhiều có sự khác nhau:  
i) mức độ tương đồng cao có nhóm tục ngữ  
có yếu tố chỉ con chó; ii) mức độ khác biệt  
cao có nhóm tục ngữ có yếu tố chỉ con lợn;  
iii) mức độ tương đồng và khác biệt ngang  
nhau có nhóm tục ngữ có yếu tố chỉ con  
trâu/bò... Nhận thức rõ những điểm tương  
đồng và khác biệt này sẽ giúp ích cho chúng  
ta hiểu sâu hơn về phương thức tư duy, đặc  
trưng văn hóa của hai dân tộc.  
hình ảnh  
biểu trưng  
stt  
tiếng Hàn tiếng Việt  
người hiền  
nhưng cục  
1
trâu/bò  
trâu/bò  
-
-
kẻ mất gốc,  
quên thuở  
hàn vi  
2
3
4
người già  
ngựa  
-
người bệnh  
gầy yếu  
-
trâu/bò  
5
6
kẻ hèn nhát  
kẻ giả mạo  
-
-
mèo  
dê, gà  
người hiếu  
chiến  
7
-
-
ngựa, gà  
trâu/bò,  
mèo, gà  
7
8
điềm xấu  
....  
Có thể căn cứ vào tổng số các hình  
ảnh biểu trưng, sự đồng nhất hay khác biệt  
về hình ảnh biểu trưng và số lượng, loài các  
con giáp hay... để phán đoán mức độ tương  
đồng hay khác biệt trong phương thức tư  
duy, cách thức tri nhận thế giới của người  
Hàn Quốc và người Việt. Các hình ảnh biểu  
trưng và các con giáp được biểu trưng hóa  
thuộc các nhóm đồng nhất hoàn toàn và đồng  
nhất bộ phận về hình ảnh và số lượng, loài  
vật nuôi cho thấy mức độ gần gũi, đồng cảm;  
các hình ảnh và con giáp thuộc các nhóm  
không đồng nhất hoặc ít đồng nhất về hình  
ảnh và số lượng, loài vật nuôi là chứng cứ  
cho thấy sự khác biệt về cách nghĩ, cách cảm  
của hai dân tộc.  
Tài liệu tham khảo  
An, C. (2018). Từ thập nhị chi đến 12 con giáp. Nxb  
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.  
Choi, M. Y. (2006). Han - Il Yangguke dongmul  
sokdam bigyo bunsoek - 12 ji dongmulul  
jungsimeuro [Master’s thesis, Kyunghee  
University, Korea].  
Hoàng, T. Y. (2020). Ý nghĩa có sắc thái tích cực của  
tục ngữ so sánh tiếng Hàn (trọng tâm là các  
đơn vị có yếu tố chỉ con giáp). Ngôn ngữ và  
đời sống, 295(3), 11-19.  
Hoàng, T. Y., & Hoàng, T. H. A. (2019). Đặc điểm  
tín hiệu thẩm mĩ của tục ngữ tiếng Hàn có  
yếu tố chỉ con giáp. Nghiên cứu Nước ngoài,  
Kết luận  
Hoàng, T. Y., Lâm, T. H. B., & Bae, Y. S. (2020).  
Cultural components in Korean sokdam  
(sokdam 俗談) using the lexical element of  
“dog” in comparison with Vietnamese and  
English equivalents, The Vietnamese Studies  
Các hình ảnh biểu trưng mang sắc  
thái tiêu cực của vật nuôi trong tục ngữ  
thường có xuất phát điểm từ những nét hạn  
chế, tật xấu hay phẩm chất/tính chất xấu mà  
con người gắn cho các con giáp, đó là kết quả  
biểu trưng hóa các chất liệu thẩm mĩ mang  
sắc thái tiêu cực. Kết quả nghiên cứu cho  
Review,  
18(1),  
55-108.  
Hoàng, V. H. (2003). Thành ngữ học tiếng Việt. Nxb  
Khoa học xã hội.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
198  
Kim, M. H. (2011). Han - Jung 12 jisin dongmul  
sokdam bigyo yeongu [Master’s thesis,  
Dongju University, Korea].  
Nguyễn, V. N. (2008). Biểu trưng trong tục ngữ  
người Việt. Nxb ĐHQGHN.  
Lê, T. H. (2015). Thành ngữ, tục ngữ Hàn Quốc nói  
về động vật và thực vật (một vài so sánh với  
Việt Nam) [Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại  
học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học  
Phạm, T. T. (2013). 12 con giáp trong văn hóa của  
người Việt. Nxb Văn hóa - Thông tin.  
Son, S. Y. (2015). So sánh biểu trưng của 12 con giáp  
trong tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc [Luận  
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội  
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội].  
Quốc  
gia  
Hà  
Nội].  
Mã, G. L. (1999). Tục ngữ và ca dao Việt Nam. Nxb  
Giáo dục.  
Nguyễn, L. (2016). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt  
Nam. Nxb Đà Nẵng.  
Song, J. S. (1997). Dongmul sokdam sajeon.  
Dongmunseon.  
Nguyễn, T. H. H. (2013). Văn hóa ứng xử của người  
Hàn qua thành ngữ, tục ngữ (so sánh với  
Việt Nam) [Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại  
học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học  
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh].  
Viện Ngôn ngữ học. (2006). Từ điển tiếng Việt. Nxb  
Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học.  
Vũ, N. P. (2008). Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam.  
Nxb Văn học.  
SYMBOLIC IMAGE WITH NEGATIVE NUANCE  
OFZODIACANIMALS BEING DOMESTICANIMALS  
IN KOREANAND VIETNAMESE PROVERBS  
Hoang Thi Yen1, Nguyen Thuy Duong1, Do Phuong Thuy1, Hoang Thi Hai Anh2  
1. Faculty of Korean Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
2. Faculty of Foreign Languages, Ha Long University,  
258 Bach Dang, Uong Bi, Quang Ninh, Vietnam  
Abstract: Symbolic images with negative nuance of domestic animals in proverbs is the result  
of symbolizing aesthetic materials with negative nuance. Vietnamese people and Korean people have  
many similarities in symbolizing negative features of zodiac animals being domestic animals into  
symbolic images with negative nuance. This is proved by 26 symbolic images with both partial and  
impartial homogeneity in terms of number and species of zodiac animals. The differences in the way of  
thinking and perceiving the world of Vietnamese and Korean people are also reflected in proverbial  
units of zodiac animals being domestic animals. The corpus of Korean language has 15 blanks, and the  
corpus of Vietnamese language has 3 blanks of zodiac animals, which are the materials to establish  
symbolic images with negative nuance in proverbs.  
Keywords: symbolic image, negative nuance, zodiac animals, domestic animals, Korean  
proverb  
pdf 17 trang baolam 24400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình ảnh biểu trưng mang sắc thái tiêu cực của con giáp là vật nuôi trong tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_anh_bieu_trung_mang_sac_thai_tieu_cuc_cua_con_giap_la_v.pdf