Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
DOI:10.22144/jvn.2017.617
ẢNH HƯỞNG CỦA MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) TRONG KHẨU PHẦN
LÊN MỨC ĂN VÀO VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA DÊ THỊT
Nguyễn Thị Thu Hồng1 và Dương Nguyên Khang2
1Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang
2Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
ABSTRACT
Thông tin chung:
Ngày nhận: 12/09/2016
Ngày chấp nhận: 24/02/2017
Sixteen growing male crossbred goats (Bach Thao x local) with average
live weight of 15.7 ± 0.54 kg were allocated to 4 treatments in a 2*2
factorial arrangement with 4 replications. The first factor was with or
without supplementation of Mimosa pigra, the second factor was basal
diet of Water spinach or Para grass. Mimosa pigra was supplemented with
level of tannin at 30 g/kg dry matter (DM). Water spinach and Para grass
were offered ad libitum with the amount of 120% average daily intake.
Concentrate supplementation was fed at 120 g/head/day. The trial
lasted 105 days. The results showed that the intakes of DM, organic matter
(OM) and crude protein (CP) significantly increased (p<0.05) with
supplemented mimosa in the diets. Daily gain and feed conversion ratio
also significantly increased when increasing the dietary tannin content of
Mimosa pigra (p<0.05). It was also shown that improved nutrition, by
increasing Mimosa pigra in diets of growing goats, improved feed intake
and feed conversion ratio, and consequently increased growth rates.
Title:
Effects of Mimosa pigra L. in
diets on growth performance
and carcase characteristics
of male crossbred goats
(Bach Thao x local)
Từ khóa:
Dê tăng trưởng, khả năng
sản xuất, hệ số chuyển hóa
thức ăn, bổ sung, tannin
Keywords:
TÓM TẮT
Growing goat, productivity,
feed conversion ratio,
supplementation, tannin
Nghiên cứu được tiến hành trên 16 dê đực lai (Bách Thảo x cỏ) giai đoạn
sinh trưởng (15,7 ± 0,54 kg), được bố trí theo thừa số 2 nhân tố với 4
nghiệm thức. Nhân tố thứ nhất bổ sung Mai dương đáp ứng tannin ở mức
30 g/kg vật chất khô, hoặc không bổ sung Mai dương, nhân tố thứ 2 với
khẩu phần cơ bản là Rau muống hoặc cỏ Lông tây. Rau muống và cỏ Lông
tây được cho ăn tự do ở mức 120% lượng ăn vào. Tất cả khẩu phần được
bổ sung thức ăn hỗn hợp 120 g/con/ngày. Thí nghiệm được tiến hành trong
105 ngày. Kết quả chỉ ra rằng mức ăn vào của vật chất khô, chất hữu cơ
và protein thô gia tăng khi bổ sung Mai dương trong khẩu phần (p<0,05).
Mức tăng trọng bình quân/ ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn cũng gia
tăng ở khẩu phần có bổ sung Mai dương (p<0,05). Kết quả của nghiên
cứu cho thấy có cải thiện dinh dưỡng bởi sử dụng Mai dương trong khẩu
phần đồng thời làm gia tăng mức ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn và
từ đó làm gia tăng tăng trọng của dê tăng trưởng.
Trích dẫn: Nguyễn Thị Thu Hồng và Dương Nguyên Khang, 2017. Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa
pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 48b: 58-65.
58
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
1 GIỚI THIỆU
Chăn nuôi dê đóng vai trò quan trọng trong việc
2.1 Động vật thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 16 dê đực lai
(Bách Thảo x cỏ) có khối lượng (KL) trung bình là
15,7 ± 0,54 kg và khoảng 5-6 tháng tuổi. Các dê
đều khỏe mạnh, được tẩy ký sinh trùng và tiêm
phòng lở mồm long móng trước khi tiến hành thí
nghiệm.
tạo việc làm, thu nhập, bảo quản vốn và cải thiện
dinh dưỡng hộ gia đình. Dê nhỏ con không đòi hỏi
diện tích chuồng trại lớn so với gia súc khác và dễ
dàng chăm sóc quản lý bởi phụ nữ và trẻ em
(Zeleke, 2007). Ở vùng nhiệt đới dê thường có
năng suất thấp do tốc độ tăng trưởng chậm, chủ
yếu do thiếu dinh dưỡng, quản lý và các yếu tố
không di truyền như thời tiết, giới tính, chậm sinh
và tuổi tác (Gbangboche et al., 2006). Cải tiến
năng suất vật nuôi là cách hiệu quả nhất nhằm tăng
sản xuất thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người
mà không tăng sử dụng đất và không tăng khí thải
nhà kính. Để phát triển đàn dê có hiệu quả trong
điều kiện nguồn thức ăn tự nhiên ngày càng ít do
đất đai ngày càng bị giới hạn, song song việc phải
cải tiến về phẩm chất đàn dê, phương thức chăm
sóc và nuôi dưỡng thì việc tận dụng hiệu quả
nguồn thức ăn xanh sẵn có bổ sung vào khẩu phần
để giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho
người chăn nuôi là điều thật sự cần thiết.
2.2 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với
thừa số 2 nhân tố, 4 nghiệm thức với 4 khẩu phần
ăn và 4 lần lặp lại, mỗi dê là một đơn vị thí
nghiệm. Nhân tố (1) Khẩu phần cơ bản là Rau
muống (RM) hay cỏ Lông tây (LT) và nhân tố (2)
Có hay không bổ sung Mai dương (MD). Bốn
nghiệm thức tương ứng với 4 khẩu phần ăn sau:
LT: Cỏ Lông tây ăn tự do, 120 g thức ăn
hỗn hợp.
LT MD: Cỏ Lông tây ăn tự do, 120 g thức
ăn hỗn hợp, bổ sung Mai dương ở mức tannin 30
g/kg vật chất khô.
RM: Rau muống ăn tự do, 120 g thức ăn
hỗn hợp.
Cây Mai dương còn gọi là Ngưu Ma Vương,
Trinh nữ nhọn, Mắc cỡ Mỹ, tên khoa học là
Mimosa pigra L, thuộc họ Mimosaceae, có nguồn
gốc từ Trung Mỹ. Mai dương được xem là một
trong những loài cỏ dại nguy hiểm ở vùng đất ngập
nước nhiệt đới do tăng trưởng phát triển vượt trội
của chúng. Ngoài những nghiên cứu tìm giải pháp
phòng ngừa sự gây hại của cây Mai dương, đã có
những nghiên cứu tận dụng cây này để chống xói
mòn, làm phân xanh, thuốc chữa bệnh và làm cây
thức ăn cho gia súc. Hàm lượng tannin trong cây
Mai dương từ 5 đến 9%, protein thô từ 17,9 đến
21,21% cho thấy đây là nguồn thức ăn tốt cho chăn
nuôi dê (Nguyen Thi Thu Hong et al., 2008). Khi
thu cắt tận dụng sinh khối làm thức ăn cho dê cần
tiến hành liên tục với khoảng thời gian ngắn (30
đến 45 ngày/đợt) để giảm khả năng tái sinh và dần
dần kiểm soát được sự phát triển của loài cây này.
Thực hiện biện pháp này đạt được 2 mục đích là
cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc, đặc biệt là loài
dê, và kiểm soát sự phát tán của cây Mai dương
trong tự nhiên.
RMMD: Rau muống ăn tự do, 120 g thức ăn
hỗn hợp, bổ sung Mai dương ở mức tannin 30 g/kg
vật chất khô.
Thí nghiệm được tiến hành trong 105 ngày. Dê
được cho ăn thức ăn mới trong 15 ngày để thích
nghi trước khi bắt đầu thí nghiệm.
2.3 Thức ăn thí nghiệm và cách nuôi dưỡng
Dê thí nghiệm được nuôi trên các lồng cá thể,
mỗi con ở trong một ô chuồng riêng biệt được
chăm sóc, vệ sinh như nhau và được cung cấp nước
sạch tự do. Thức ăn cho dê được cân vào mỗi buổi
sáng, dê được ăn 50% khẩu phần lúc 8 giờ và 50%
lúc 14 giờ. Lượng thức ăn được tính vật chất
khô/ngày cho dê là 3% khối lượng cơ thể. Lượng
cỏ Lông tây và Rau muống được cho ăn tự do với
số lượng bằng 120% so với mức ăn vào của tuần
trước. Tất cả các khẩu phần thí nghiệm được bổ
sung cùng một mức thức ăn hỗn hợp
120g/con/ngày. Thức ăn hỗn hợp bao gồm cám
mịn, bánh dầu đậu nành, premix và muối cân đối
với mức protein thô 18%.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành tại Trại thực
nghiệm Trường Đại học An Giang từ tháng
10/2014 đến tháng 10/2015. Mẫu thức ăn cho ăn,
thức ăn thừa và thành phần hóa học của thịt được
phân tích và tiến hành tại Khu thí nghiệm trung
tâm, Trường Đại học An Giang.
Cỏ Lông tây được thu cắt hàng ngày và để ráo
trước khi cho ăn. Rau muống cũng được thu cắt
hàng ngày, sau đó được phơi héo trước khi cho dê
ăn. Rau muống và cỏ Lông tây được cân hàng ngày
vào buổi sáng, sau đó cho dê ăn 50% vào buổi sáng
và 50% vào buổi chiều. Rau muống và cỏ Lông tây
được đặt trong máng cho dê tự do chọn lựa.
59
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
Cây Mai dương trong tự nhiên ở khu đất hoang
giá tỷ lệ thịt xẻ và chất lượng thịt. Dê thí nghiệm
được cho nhịn đói 24 giờ trước khi mổ khảo sát. Tỷ
lệ thịt xẻ (%) = (khối lượng thịt xẻ/ khối lượng
sống) x 100. Mỗi nghiệm thức được thu mẫu thịt
thăn để đánh giá chất lượng thịt với các chỉ tiêu
gồm vật chất khô, protein thô và béo thô.
được cắt bỏ trước khi tiến hành thí nghiệm 30 ngày
và được chia lô để cắt với chu kỳ là 30 ngày nhằm
hạn chế biến động hàm lượng tannin trong cây với
chu kỳ cắt cố định này. Hàm lượng tannin của Mai
dương được phân tích 2 lần trong tuần. Mai dương
thu cắt hàng ngày, được cắt thành từng đoạn 50
cm, được sử dụng nguyên cành lá, cột thành bó và
treo cho dê ăn. Dê chỉ ăn lá chét hoa, thân non và
một ít trái non. Phần không ăn là sóng lá chét, trái
già và cành già. Thành phần dinh dưỡng của Mai
dương được phân tích là phần dê ăn được trong quá
trình thí nghiệm.
2.6 Xử lý thống kê
Các số liệu thô của thí nghiệm được xử lý sơ bộ
trên bảng tính Microsoft Excel 2007, sau đó là xử
lý bằng phương pháp phân tích phương sai
(ANOVA) theo mô hình tuyến tính tổng quát
(General Linear Model) trên phần mềm
Minitab version 16 (© 2010). Nếu có sự sai khác
có ý nghĩa thống kê ở mức độ p< 0,05 hay p< 0,01
thì các nghiệm thức được so sánh theo từng cặp
khác nhau qua phương pháp kiểm định Tukey,
95% CI.
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi là thành phần hóa học của
Mai dương, Rau muống và cỏ Lông tây; lượng thức
ăn tiêu thụ hàng ngày, khả năng tăng trọng và
thành phần thân thịt của dê. Thức ăn được cân trước
khi cho dê ăn và sáng hôm sau cân lại lượng thức ăn
thừa. Mẫu thức ăn được lấy đại diện để phân tích.
Mẫu thức ăn xanh được cắt ngắn, trải lên mặt
phẳng và phân chia thành 4 phần bằng nhau theo 2
đường chéo, lấy trong phạm vi 2 tam giác đối
xứng. Phần mẫu sau khi lấy trộn đều và tiếp tục lấy
theo nguyên tắc trên khi mẫu còn lại 100 g, thu
mẫu bảo quản để phân tích (Lưu Hữu Mãnh và
Nguyễn Nhật Xuân Dung, 2002). Tất cả dê thí
nghiệm được cân 2 tuần/lần trong suốt thời gian thí
nghiệm để thay đổi lượng thức ăn phù hợp theo
từng khối lượng của dê.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần hóa học của các thức ăn
dùng trong thí nghiệm
Hàm lượng vật chất khô của Mai dương là
40,6% cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị
Thu Hồng và Võ Ái Quấc (2011) là 36,04%.
Protein thô của Mai dương là 21% phù hợp với kết
quả của Vearasilp et al. (1981a) là 20 - 30%; và
tương đương với báo cáo của Nguyễn Thị Thu
Hồng và Võ Ái Quấc (2011) là 20,6%. Cây Mai
dương sử dụng trong thí nghiệm trong giai đoạn
trưởng thành nên có hàm lượng tannin là 9,14%
(Bảng 1). Theo Iason et al. (1993) hàm lượng
tannin có trong cây thay đổi theo mùa, trong giai
đoạn tăng trưởng của cây. Khi cây tăng sinh khối,
tài nguyên có sẵn để tổng hợp các hợp chất
phenolic ít do đó sự tổng hợp tannin bị hạn chế.
Tuy nhiên, trong quá trình cây ra hoa, khi nhu cầu
dinh dưỡng cho tăng trưởng giảm, carbon dư thừa
nên quá trình tổng hợp tannin gia tăng.
2.5 Phân tích thành phần hóa học
Lượng ăn vào và thức ăn thừa được phân tích
vật chất khô, protein thô và tro theo AOAC (1990).
Hàm lượng tannin tổng số được định lượng bằng
phương pháp Lowenthal theo mô tả của Vũ Thy
Thư và ctv. (2001). Sau khi kết thúc thí nghiệm, 16
dê thí nghiệm được tiến hành mổ khảo sát để đánh
Bảng 1: Thành phần hóa học của các thức ăn dùng trong thí nghiệm (%)
Thực liệu
Vật chất khô
16,2 ± 0,5
18,7 ± 1,22
40,6 ± 2,82
87,4 ± 1,02
Protein thô
11,7 ± 0,77
18,3 ± 1,82
21,0 ± 0,84
18,2 ± 1,49
Chất hữu cơ
89,0 ± 2,6
88,1 ± 1,32
89,5 ± 2,78
90,4 ± 1,22
Tannin
0,50±0,05
3,02±0,25
9,14 ± 0,71
-
Cỏ Lông tây
Rau muống
Mai dương
Thức ăn hỗn hợp
đó nhu cầu về vật chất khô, chất lượng thức ăn và
tính ngon miệng là những yếu tố quan trọng nhất
đối với lượng thức ăn tiêu thụ. Kết quả mức ăn vào
vật chất khô, chất hữu cơ và protein thô của dê thí
nghiệm thể hiện ở Bảng 2.
3.2 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương
trong khẩu phần lên mức ăn vào của dê thí nghiệm
Lượng thức ăn tiêu thụ là nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới tăng trọng của gia súc nhai lại, trong
60
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
Bảng 2: Ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm lên lượng vật chất khô (VCK), protein thô, chất hữu
cơ ăn vào của dê thí nghiệm
Thức ăn cơ bản
Mai dương
Bổ sung Không bổ sung
Chỉ tiêu theo dõi
P
P SEM
Cỏ Lông tây Rau muống
VCK ăn vào, g/ngày
VCK ăn vào, %/ KL cơ thể
Protein thô, g/ngày
646b
3,21b
90b
711a 0,001
3,42a 0,001
134a 0,001
631a 0,001
699a
3,40a
121a
622a
658b 0,012 11,3
3,23b 0,001 0,02
102b 0,001 1,84
583b 0,007 10,2
Chất hữu cơ, g/ngày
573b
tannin từ Lotus corniculatus mức ăn vào cao hơn
so với đối chứng. Với thí nghiệm trên cừu,
Athanasiadou et al. (2001) ghi nhận được mức ăn
vào gia tăng ở khẩu phần giàu tannin.
Lượng vật chất khô ăn vào (g/ngày) của các
khẩu phần bổ sung Mai dương cao hơn các khẩu
phần không bổ sung Mai dương (p<0,05) với các
giá trị 699 g so với 658 g. Kết quả này là do Mai
dương có hàm lượng vật chất khô cao hơn so với
Rau muống và cỏ Lông tây nên bổ sung vào khẩu
phần đã làm tăng lượng ăn vào. Quan sát quá trình
nuôi thí nghiệm cho thấy các thực liệu sử dụng
trong thí nghiệm có độ ngon miệng theo thứ tự là
thức ăn hỗn hợp, kế tiếp là Mai dương, Rau muống
và sau cùng là cỏ Lông tây. Lượng Mai dương bổ
sung trong khẩu phần đều được dê ăn hết. Thêm
vào đó, Mai dương có hàm lượng tannin vừa phải
9,14% cũng là yếu tố làm tăng lượng ăn vào của dê
thí nghiệm. Theo Frutos et al. (2004), nồng độ cao
của tannin trong khẩu phần của gia súc nhai lại làm
giảm lượng ăn vào và khả năng tiêu hóa chất dinh
dưỡng, với từ nồng độ thấp đến vừa phải có thể cải
thiện tiêu hóa dưỡng chất. Leinmüller et al. (1991)
báo cáo rằng tannin với nồng độ vượt quá 60 g/kg
vật chất khô trong khẩu phần làm giảm khả năng
ăn vào, khả năng tiêu hóa protein thô, chất xơ và
ảnh hưởng đến tăng trưởng của gia súc nhai lại.
Lượng vật chất khô ăn vào tính trên khối lượng cơ
thể cũng tăng lên khi bổ sung tannin trong khẩu
phần. Bổ sung các thực liệu chứa tannin vào khẩu
phần của gia súc nhai lại làm tăng mức ăn vào
được báo cáo bởi rất nhiều nghiên cứu. Như
Puchala et al. (2005) sử dụng Lespedeza cuneata
trong khẩu phần có mức tannin là 17,7% tính trên
VCK cho kết quả mức ăn vào cao hơn so với dê ăn
khẩu phần đối chứng. Khi sử dụng tannin trong
khẩu phần ở cừu hay bò sữa cũng cho kết quả là
tăng mức vật chất khô ăn vào. Woodward et al.
(2001) cũng cho rằng bò sữa ăn khẩu phần chứa
Lượng vật chất khô ăn vào của nhân tố thức ăn
cơ bản cũng có khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,001) giữa các nghiệm thức của thí nghiệm.
Nguyên nhân là do Rau muống được phơi héo đã
hỗ trợ làm tăng lượng ăn vào của dê thí nghiệm.
Thêm vào đó, Rau muống có hàm lượng protein
thô cao hơn cỏ Lông tây cũng ảnh hưởng đến
lượng vật chất khô ăn vào. Lượng vật chất khô ăn
vào tính trên khối lượng cơ thể (%) của dê thí
nghiệm cũng theo khuynh hướng trên. Mức vật
chất khô ăn vào của dê thí nghiệm tương tự với báo
cáo của Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue (2012)
với các giá trị 2,9 và 3,6%. Theo Đinh Văn Bình
(2005) nhu cầu vật chất khô đối với dê tăng trưởng
khoảng 3% khối lượng cơ thể nên kết quả của thí
nghiệm này hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu vật
chất khô cho dê.
Ảnh hưởng của sự tương tác giữa các nhân tố
trong thí nghiệm đến lượng ăn vào của dê thí
nghiệm thể hiện ở Bảng 3. Mức vật chất khô ăn
vào của các khẩu phần thí nghiệm cũng như % vật
chất khô ăn vào tính trên khối lượng dê thí nghiệm
không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Mức protein thô ăn vào (g/ngày) của các khẩu phần
thí nghiệm có khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05), cao nhất ở khẩu phần Rau muống có bổ
sung Mai dương (140 g) và thấp nhất ở khẩu phần
có Lông tây không bổ sung Mai dương (77g). Điều
này cũng phù hợp bởi vì Rau muống và Mai dương
là 2 thực liệu có hàm lượng protein thô cao.
Bảng 3: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa nhân tố thức ăn bổ sung (BS) và thức ăn cơ bản (CB) đến
lượng ăn vào của dê thí nghiệm
Cỏ Lông tây
Bổ sung Không bổ
Rau muống
Bổ sung Không bổ
P
Mức ăn vào
SE
BS*CB
MD
sung MD
MD
sung MD
Vật chất khô, g/ngày
Tannin ăn vào, g/ngày
% VCK/ KL cơ thể
Protein thô, g/ngày
Chất hữu cơ, g/ngày
665
626
732
691
16,0
0,26
0,03
2.6
0,948
0,437
0,755
0,021
0,951
19,16
3,30
103c
592
-
19,56
3,50
140a
651
-
3,12
3,33
127b
611
77d
554
14,1
61
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
(p<0,05). Tương tự như vậy, Burke et al. (2014)
cũng kết luận là mức tăng trọng bình quân trên
ngày tăng 26,1% trên cừu thí nghiệm được chăn
thả có bổ sung tannin từ Lespedeza cuneata. Với
mức tannin bổ sung trong khẩu phần là 2,5% cho
mức tăng trọng bình quân trên ngày tăng 5,5%
trong báo cáo của Ayala-Monter (2013). Min et al.
(2003) đã tổng kết rằng, hàm lượng tannin trong
khẩu phần từ 20 đến 45 g/kg VCK, cải thiện hiệu
quả sử dụng N và mức tăng trọng bình quân trên
ngày của cừu. Tầm quan trọng của lượng thức ăn
tiêu thụ trong dinh dưỡng gia súc nhai lại ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất. Các loại thực
liệu chứa tannin với một lượng vừa phải sẽ có tác
dụng có lợi cho gia súc. Lượng dưới 50 g tannin/
kg vật chất khô cải thiện tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của
gia súc nhai lại (Min et al., 2003).
3.3 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương
trong khẩu phần lên khả năng tăng trọng và hệ
số chuyển hóa thức ăn của dê thí nghiệm
Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương lên
tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của dê thí
nghiệm được trình bày trong Bảng 4.
Tăng trọng bình quân/ngày của dê thí nghiệm ở
khẩu phần có bổ sung Mai dương cao hơn 15,1%
so với khẩu phần không bổ sung (p<0,001) với các
giá trị 97,6 so với 84,8 g/con/ngày. Báo cáo của
Priolo et al. (2002) đã chứng minh với mức bổ
sung của tannin từ 10 hoặc 40 g/kg vật chất khô
cho mức tăng trọng ưu thế của cừu với các giá trị
116 và 172 g. Min et al. (2006) báo cáo gia tăng
20,8% mức tăng trọng bình quân/ ngày của bê thí
nghiệm khi bổ sung 2% tannin vào khẩu phần
Bảng 4: Ảnh hưởng của Rau muống, cỏ Lông tây và Mai dương lên tăng trọng và hệ số chuyển hóa
thức ăn của dê thí nghiệm
Thức ăn cơ bản
Cỏ Lông Rau
tây muống
Mai dương
Chỉ tiêu theo dõi
P
P
SEM
Bổ
Không
sung bổ sung
Khối lượng đầu kỳ (kg)
Khối lượng cuối kỳ (kg)
Tăng trọng tích lũy (kg)
Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày)
HSCH thức ăn (kg VCK/kg tăng trọng)
Tăng trọng tương đối, %
15,6
24,8
15,9 0,670
25,8 0,118
15,6
25,7
15,9
24,9
0,490
0,242
0,001
0,001
0,012
0,003
0,38
0,45
0,18
1,83
0,15
0,98
9,1b 10,0a 0,006
10,1a
97,6a
7,17b
49,2a
9,0b
86,9b 95,4a 0,007
7,46
45,4
84,8b
7,78a
44,0b
7,49 0,861
47,8 0,108
là Rau muống. Các kết quả trên cho thấy việc bổ
sung tannin từ cây họ đậu đều ảnh hưởng tích cực
đến mức ăn vào và cải thiện năng suất của gia súc
nhai lại. Điều này là kết quả của sự tạo phức hợp
tannin-protein và sự gia tăng hấp thu axít amin ở
ruột (Min et al., 2006). Do đó, sử dụng cây Mai
dương trong khẩu phần của dê tăng trưởng là sự kết
hợp của tăng lượng ăn vào và tăng lượng protein
thoát tiêu dẫn đến gia tăng mức tăng trọng bình
quân/ ngày.
Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí
nghiệm lên tăng trọng và hệ số chuyển hóa
(HSCH) thức ăn của dê thí nghiệm được thể hiện ở
Bảng 5. Mức vật chất khô ăn vào của các khẩu
phần có bổ sung Mai dương so với khẩu phần đối
chứng tăng 6,2% và 5,9% tương ứng với khẩu phần
cơ bản là cỏ Lông tây và Rau muống. Kết quả làm
gia tăng mức tăng trọng bình quân trên ngày của dê
thí nghiệm với các mức 16,7% cho khẩu phần cơ
bản là cỏ Lông tây và 14,1% cho khẩu phần cơ bản
Bảng 5: Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí nghiệm đến mức tăng trọng và hệ số chuyển
hóa thức ăn của dê thí nghiệm
Cỏ Lông tây
Bổ sung Không bổ Bổ sung Không bổ
MD sung MD MD sung MD
Rau muống
P
Chỉ tiêu theo dõi
SE
BS*CB
Khối lượng bắt đầu thí nghiệm (kg)
Khối lượng kết thúc thí nghiệm (kg)
Tăng trọng (kg)
Tăng trọng (g/con/ngày)
HSCH thức ăn (kg VCK/ kg tăng trọng)
15,4
25
9,66
93,6
7,12
15,9
24,5
8,60
80,2
7,80
15,7
26,3
10,60
102
16 0,54
25,3 0,63
9,33 0,25
89,4 2,59
7,77 0,21
0,840
0,736
0,681
0,803
0,747
7,22
ứng với khẩu phần có bổ sung Mai dương và
không bổ sung Mai dương. Kết quả này cho thấy
bổ sung Mai dương vào khẩu phần đã làm giảm hệ
số chuyển hóa thức ăn.
Hệ số chuyển hóa thức ăn của dê lai F1 (Bách
Thảo x cỏ) giai đoạn 3 - 9 tháng tuổi là 6,15 kg vật
chất khô (Lê Văn Thông, 2005). Hệ số chuyển hóa
vật chất khô của dê thí nghiệm với khẩu phần cơ
bản là cỏ Lông tây có các giá trị 7,12 và 7,80 tương
62
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
Hệ số chuyển hóa vật chất khô của các khẩu
Solaiman et al. (2010) tiến hành thí nghiệm trên
dê tăng trưởng bổ sung tannin từ Lespedeza
cuneata thay thế cỏ Linh lăng với các mức 0; 10;
20 và 30% trong khẩu phần. Mức vật chất khô và
tannin ăn vào gia tăng với mức tăng của Lespedeza
cuneata trong khẩu phần (p=0,04). Hệ số chuyển
hóa thức ăn ở các khẩu phần bổ sung 10% và 20%
thấp hơn so với đối chứng. Min et al. (2003) cũng
báo cáo rằng bổ sung tannin trong khẩu phần ăn
của cừu ở mức 2-4% VCK cho thấy tác dụng có lợi
đối với khả năng tăng trưởng.
phần thí nghiệm thấp hơn so với nghiên cứu của
Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue (2012) khi sử
dụng khẩu phần cơ bản là cây Dã Quỳ bổ sung với
các thực liệu chứa tannin như lá Khoai mì, lá
Chuối và lá Mít cho dê lai (Bách Thảo x cỏ) với
các giá trị 8,75; 8,81 và 8,31 tương ứng. Các tác
giả kết luận rằng vật chất khô ăn vào của dê thí
nghiệm tăng lên 14% và 25%, và tỷ lệ tăng trưởng
tăng từ 22% và 29%, khi dê được cho cây Dã Quỳ
ăn tự do và bổ sung (1% tính trên vật chất khô) lá
Khoai mì và lá Mít. Điều này có thể do sự kết hợp
của nguồn protein dễ lên men của cây Dã Quỳ và
nguồn protein thoát tiêu do sự hiện diện của nguồn
tannin trong lá Khoai mì và lá Mít.
Theo Devendra (1991), cây thức ăn gia súc và
cây thân bụi là nguồn thức ăn tiềm năng cho gia
súc nhai lại ở vùng nhiệt đới. Nguồn thức ăn này
đa dạng và cực kỳ hữu ích đối với gia súc nhai lại.
Những lợi ích đó là cải thiện hiệu suất của vật nuôi
và giảm chi phí thức ăn. Đây là một chiến lược
quan trọng để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại.
Theo Nguyen Thi Thu Hong (2012) sử dụng
khẩu phần cơ bản là cây Dã Quỳ cho dê ăn tự do
bổ sung cây Mai dương với các mức 0; 0,5; 1; 1,5
và 2% trong khẩu phần. Mức tăng trọng bình quân
của dê thí nghiệm đạt cao nhất ở khẩu phần bổ
sung 2% Mai dương (87,3 g/con /ngày) và thấp
nhất ở khẩu phần không bổ sung Mai dương (49,3
g/con/ngày). Hệ số chuyển hóa thức ăn giảm với sự
gia tăng các mức Mai dương bổ sung trong khẩu
phần. Như vậy, sự kết hợp của cây Dã Quỳ với cây
Mai dương đã tạo ưu thế cho tốc độ tăng trưởng
của dê.
3.4 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương
trong khẩu phần lên thành phần thân thịt của dê
Tỷ lệ thịt xẻ là chỉ số quan trọng trong việc
đánh giá năng suất thịt. Kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của các khẩu phần thí nghiệm đến năng suất
và thành phần thân thịt của dê thí nghiệm được
trình bày ở Bảng 6.
Bảng 6: Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương lên tỷ lệ thịt xẻ và thành phần hóa học thân thịt của
dê thí nghiệm
Thức ăn cơ bản
Cỏ Lông tây Rau muống
Mai dương
Bổ sung Không bổ sung
P
P
SEM
Chỉ tiêu theo dõi
Khối lượng sống, kg
Tỷ lệ thịt xẻ, %
Huyết, %
Đầu, %
Chân, %
21,6
46,2
4,69
7,41
3,53
22,5 0,093
47,0 0,081
4,68 0,944
7,32 0,366
3,46 0,539
6,54 0,621
30,56 0,895
24,16a 0,031
19,93 0,148
0,95 0,526
22,4
46,9
4,60
7,31
3,53
21,8
46,3
4,78
7,42
3,46
0,217
0,154
0,234
0,244
0,583
0,157
0,177
0,242
0,962
0,849
0,36
0,28
0,10
0,06
0,08
0,12
0,25
0,43
0,09
0,05
Da, %
6,45
6,62
6,36
Tỷ lệ nội tạng, %
Vật chất khô của thịt, %
Protein thô của thịt, %
Béo thô, %
30,61
22,67b
19,73
0,99
30,34
23,79
19,83
0,96
30,84
23,04
19,83
0,98
đực lai F1 (Bách Thảo x cỏ) có tỷ lệ thịt xẻ là
47,68%. Tỷ lệ thịt xẻ của dê lai (Bách Thảo x cỏ)
nuôi tại Yên Bái là 46,85% (Nguyễn Bá Mùi,
2011).
Khối lượng dê thí nghiệm mổ khảo sát không
có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (p>0,05). Kết
quả cho thấy chỉ tiêu tỷ lệ thịt xẻ không có sự khác
biệt giữa các nghiệm thức thí nghiệm và biến động
từ 46,2 đến 47,0%. Trong nghiên cứu của Lê Văn
Thông (2005), tỷ lệ thịt xẻ của dê đực lai F1 (Bách
Thảo x cỏ) đạt 48,22%, cao hơn so với kết quả của
Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải (2010) khi dê
Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố
thí nghiệm đến các chỉ tiêu mổ khảo sát và thành
phần hóa học thân thịt của dê thí nghiệm thể hiện ở
Bảng 7.
63
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
Bảng 7: Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí nghiệm đến các chỉ tiêu mổ khảo sát và thành
phần hóa học thân thịt của dê thí nghiệm (%)
Cỏ Lông tây
Bổ sung Không bổ
Rau muống
Bổ sung Không bổ
P
Chỉ tiêu theo dõi
SE
BS*CB
MD
22,0
46,6
4,44
7,28
3,68
6,60
30,5
23,2
19,8
0,97
sung MD
MD
22,8
47,2
4,76
7,34
3,38
6,64
30,3
24,4
19,8
0,96
sung MD
Khối lượng, kg
Tỷ lệ thịt xẻ, %
Huyết, %
Đầu, %
Chân, %
21,3
45,8
4,95
7,54
3,38
6,30
30,7
22,2
22,3
46,7
4,60
7,30
3,54
6,43
31,0
23,9
0,504
0,391
0,141
0,091
0,119
0,169
0,350
0,613
0,133
0,06
0,875
0,646
0,035
0,132
0,073
0,822
0,430
0,697
0,137
0,640
Da, %
Tỷ lệ nội tạng, %
Vật chất khô của thịt, %
Protein thô của thịt, %
Béo thô, %
19,6
1,01
20,0
0,94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tỷ lệ của các bộ phận của dê thí nghiệm như
huyết, đầu và nội tạng đều không có sự khác biệt
giữa các nghiệm thức. Đối với tỷ lệ nội tạng có các
kết quả là 30,5 và 30,3%; 30,7 và 31,0% tương ứng
với các khẩu phần có bổ sung Mai dương và không
bổ sung Mai dương. Đối với chỉ tiêu tỷ lệ nội tạng
có sự khác biệt phần lớn là do ảnh hưởng bởi thức
ăn cơ bản. Trong nghiên cứu của Nguyễn Bá Mùi
và Đặng Thái Hải (2010) dê lai (Bách Thảo x cỏ)
có tỷ lệ nội tạng chiếm 33,14%, tuy nhiên, kết quả
này cao hơn so với 28,9% trong báo cáo của Lê
Văn Thông (2005).
AOAC, 1990. Official methods of analysis (15 th
edition), Washington, DC. Volume 1,pp. 69-90.
Athanasiadou, S., Kyriazakis, I., Jackson, F., Coop, R.L.,
2001. The effects of condensed tannins
supplementation of foods with different protein content
on parasitism, food intake and performance of sheep
infected with Trichostrongylus colubriformis. British
Journal of Nutrition. 86(6): 697-706.
Ayala-Monter, M.A., 2013. Inclusión de taninos en
la dieta de ovinos en finalización: respuesta en
calidad de la carne. Maestro En Ciencias.Colegio
de Posgraduados. Montecillos, Texcodo, Estado
de México.
Kết quả hàm lượng vật chất khô của thịt dê thí
nghiệm biến động với các giá trị từ 22,2 đến 24,4%
(p>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa 2 thức ăn cơ bản trong khẩu phần
(p=0,031) với các giá trị 22,67 và 24,15 tương ứng
là vật chất khô của thịt dê ăn khẩu phần cơ bản là
cỏ và Rau muống. Đối với hàm lượng protein thô
và lipid thịt của dê ăn các khẩu phần thí nghiệm
không có sự khác biệt (p>0,05).
Burke, J.M., Miller, J.E., Terrill, T.H., Mosjidis,
J.A., 2014. The effects of supplemental Sericea
lespedeza pellets in lambs and kids on growth
rate. Livestock Science. 159: 29-36.
Devendra, C., 1991. Nutritional potential of fodder
trees and shrubs as protein sources in ruminant
nutrition. In Legume trees and other fodder trees
as protein sources for livestock. FAO Animal
Production and Health Paper 102: 95-113.
Báo cáo của Min et al.(2012) cho thấy khi bổ
sung tannin từ vỏ cây Thông vào khẩu phần của dê
tăng trưởng đã làm gia tăng lượng vật chất khô ăn
vào, gia tăng mức tăng trọng bình quân/ ngày, cải
thiện độ mềm của thịt và sự chấp nhận của người
tiêu dùng. Tương tự với bổ sung 15% và 30% vỏ
cây Thông (10,2% tannin) trong khẩu phần tương
ứng với mức tannin là 1,63% và 3,2% trên vật chất
khô, Min et al. (2015b) cho thấy mức vật chất khô
ăn vào và khối lượng kết thúc thí nghiệm tăng
tuyến tính với mức tannin trong khẩu phần.
Đinh Văn Bình, 2005. Kỹ thuật nuôi dê sữa và dê
thịt. NXB Lao động – Xã hội. Hà Nội.
Frutos P., Hervás G., Giradles F. J., Mantecón A. R.,
2004. Review. Tannins and ruminant nutrition.
Spanish Journal of Agricultural Research 2: 191-202.
Gbangboche, A.B., Adamou-Ndiaye, M., Youssao,
A.K.I., Farnir, F., Detilleux, J., Abiola, F.A.,
Leroy, P.L., 2006. Non-genetic factors affecting
the reproduction performance, lamb growth and
productivity indices of Djallonke sheep. Small
Ruminant Research. 64(1-2): 133-142.
Iason, G.R., Hartley, S.E., Duncan, A.J., 1993.
Chemical composition of Calluna vulgaris
(Ericaceae): Do responses to fertilizer vary with
phenological stage?. Biochemical Systematics
and Ecology. 21(3): 315-321.
4 KẾT LUẬN
Cây Mai dương trong khẩu phần nuôi của dê
tăng trưởng đáp ứng mức tannin 30 g/kg vật chất
khô đã cải thiện mức tăng trọng của dê thịt và giảm
hệ số chuyển hóa thức ăn.
Lê Văn Thông, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm
của giống dê cỏ và kết quả lai tạo với dê bách
thảo tại vùng Thanh Ninh. Luận án Tiến sĩ Nông
64
Tap
̣
chı Khoa hoc
̣
Trương Đai
̣
hoc
̣
Cầ
n Thơ
Tập 48, Phần B (2017): 58-65
̀
́
nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Việt Nam.
Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải, 2010. Năng suất
và chất lượng thịt của dê cỏ, F (Bách Thảo x Cỏ)
và con lai Boer x F1 (Bách Thảo x cỏ) nuôi tại
Ninh Bình. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 8(2):
258 - 262.
Leinmüller, E., Steingass, H., Menka, K.H., 1991.
Tannins in ruminant feedstuffs. Biannual
Collection of Recent German Contributions
Concerning Development through. Animal
Research. 33: 9-62.
Nguyễn Bá Mùi, 2011. Nghiên cứu sử dụng đực
giống Boer để cải tạo đàn dê Cỏ tại tỉnh Yên Bái.
Trong Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ 2006-2011. NXB Đại học Nông
nghiệp Hà Nội. 88-91.
Lưu Hữu Mãnh và Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2002.
Giáo trình thực tập môn dinh dưỡng gia súc dành
cho cao học ngành chăn nuôi. Khoa Nông nghiệp
và SHUD, Trường ĐH Cần Thơ.
Priolo, A., Lanza, M., Bella, M., Pennisi, P., Fasone,
V., Biondi, L., 2002. Reducing the impact of
condensed tannins in a diet based on carob pulp
using two levels of polyethylene glycol: lamb
growth, digestion and meat quality. Animal
Research. 51: 305-313.
Min, B.R., Barrya, T.N., Attwood, G.T., McNabb,
W.C., 2003. The effect of condensed tannins on
the nutrition and health of ruminants fed fresh
temperate forages: a review. Animal Feed
Sciences and Technology. 106(1-4): 3-19.
Puchala, R., Min, B.R., Goetsch, A.L., Sahlu, T.,
2005. The effect of a condensed tannin -
Min, B.R., Pinchak, W.E., Anderson, R.C., Fulford,
J.D., Puchala, R., 2006. Effects of condensed
tannins supplementation level on weight
gain and in vitro and in vivo bloat precursors in
steers grazing winter wheat. Journal of Animal
Science. 84(9): 2546-2554.
containing forage on methane emission by goats.
Journal of Animal Science. 83: 182-186.
Solaiman, S., Thomas, J., Dupre, Y., Min, B.R.,
Gurung, N., Terrill, T.H., 2010. Effect of feeding
sericea lespedeza hay on growth performance,
blood metabolites, and carcass characteristics of
Kiko crossbred male kids. Small Ruminant
Research. 93: 149–56.
Min, B.R., Solaiman,. S., Gurung, N., Behrends, J,
Eun, J.S., Taha, E., Rose, J., 2012. Effects of
pine bark supplementation on performance,
rumen fermentation, and carcass characteristics
of Kiko crossbred male goats. Journal of Animal
Science. 90: 3556-3567.
Vearasilp, T., Phuagphong, B., Ruengpaibul, S.,
1981. A comparison of Leucaena leucocephala
and Mimosa pigra L. in pig diets. Thai Journal of
Agricultural Science. 14: 311–317.
Min, B.R., Solaiman, S., Taha, E., Lee, J., 2015b.
Effect of plant tannin-containing diet on fatty
acid profile in meat goats. Journal of Animal
Nutrition. 1: 1-7.
Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và
Giang Trung Khoa, 2001. Các hợp chất có trong
chè và một số phương pháp phân tích thông dụng
trong sản xuất chè ở Việt Nam. NXB Nông
Nghiệp. Hà Nội.
Minitab, 2010. Minitab reference manual release
16.20. Minitab Inc.
Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue, 2012.
Supplementing Tithonia diversifolia with Guinea
grass or tree foliages: effects on feed intake and
live weight gain of growing goats. Livestock
Research for Rural Development. Volumn 24,
Article #188. Retrieved April 3, 2017, from
Nguyen Thi Thu Hong, Vo Ai Quac, Tran Thi Kim
Chung, Bach Van Hiet, Nguyen Thanh Mong and
Phan The Huu, 2008. Mimosa pigra for growing
goats in the Mekong Delta of Vietnam. Volume
20, Article #208. Retrieved March 8, 2013, from
Woodward, S.L., Waghorn, G.C., Ulyatt, M.J.,
Lassey, K.R., 2001. Early indications that
feeding Lotus will reduce methane emissions
from ruminants. Proceedings of the New Zealand
Society of Animal Production. 61: 23–26.
Zeleke, M.Z., 2007. Environmental influences on
pre-weaning growth performances and mortality
rates of extensively managed Somali goats in
Eastern Ethiopia. Livestock Research for Rural
Development. Volume 19, Article #186.
Retrieved March 20, 2014, from
Nguyễn Thị Thu Hồng và Võ Ái Quấc, 2011. Nghiên
cứu khả năng sử dụng cây Mai dương (Mimosa
pigra) trong khẩu phần dê thịt. Tạp chí KHKT
Chăn nuôi số tháng 12/2011: 51-55.
Nguyen Thi Thu Hong, 2012. Effects of the
combination of Tithonia diversifolia with
Mimosa pigra on feed intake and growth of goats
in Mekong Delta, Vietnam. In proceeding: The
1st International Conference on “Animal
Production and Environment”. Conference venue
Can Tho University. 13-14/12/2012.
65
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
anh_huong_cua_mai_duong_mimosa_pigra_l_trong_khau_phan_len_m.pdf

