Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt

Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
DOI:10.22144/jvn.2017.617  
ẢNH HƯỞNG CỦA MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.) TRONG KHẨU PHẦN  
LÊN MỨC ĂN VÀO VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA DÊ THỊT  
Nguyễn Thị Thu Hồng1 và Dương Nguyên Khang2  
1Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang  
2Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh  
ABSTRACT  
Thông tin chung:  
Ngày nhận: 12/09/2016  
Ngày chấp nhận: 24/02/2017  
Sixteen growing male crossbred goats (Bach Thao x local) with average  
live weight of 15.7 ± 0.54 kg were allocated to 4 treatments in a 2*2  
factorial arrangement with 4 replications. The first factor was with or  
without supplementation of Mimosa pigra, the second factor was basal  
diet of Water spinach or Para grass. Mimosa pigra was supplemented with  
level of tannin at 30 g/kg dry matter (DM). Water spinach and Para grass  
were offered ad libitum with the amount of 120% average daily intake.  
Concentrate supplementation was fed at 120 g/head/day. The trial  
lasted 105 days. The results showed that the intakes of DM, organic matter  
(OM) and crude protein (CP) significantly increased (p<0.05) with  
supplemented mimosa in the diets. Daily gain and feed conversion ratio  
also significantly increased when increasing the dietary tannin content of  
Mimosa pigra (p<0.05). It was also shown that improved nutrition, by  
increasing Mimosa pigra in diets of growing goats, improved feed intake  
and feed conversion ratio, and consequently increased growth rates.  
Title:  
Effects of Mimosa pigra L. in  
diets on growth performance  
and carcase characteristics  
of male crossbred goats  
(Bach Thao x local)  
Từ khóa:  
Dê tăng trưởng, khả năng  
sản xuất, hệ số chuyển hóa  
thức ăn, bổ sung, tannin  
Keywords:  
TÓM TẮT  
Growing goat, productivity,  
feed conversion ratio,  
supplementation, tannin  
Nghiên cứu được tiến hành trên 16 dê đực lai (Bách Thảo x cỏ) giai đoạn  
sinh trưởng (15,7 ± 0,54 kg), được bố trí theo thừa số 2 nhân tố với 4  
nghiệm thức. Nhân tố thứ nhất bổ sung Mai dương đáp ứng tannin ở mức  
30 g/kg vật chất khô, hoặc không bổ sung Mai dương, nhân tố thứ 2 với  
khẩu phần cơ bản là Rau muống hoặc cỏ Lông tây. Rau muống và cỏ Lông  
tây được cho ăn tự do ở mức 120% lượng ăn vào. Tất cả khẩu phần được  
bổ sung thức ăn hỗn hợp 120 g/con/ngày. Thí nghiệm được tiến hành trong  
105 ngày. Kết quả chỉ ra rằng mức ăn vào của vật chất khô, chất hữu cơ  
và protein thô gia tăng khi bổ sung Mai dương trong khẩu phần (p<0,05).  
Mức tăng trọng bình quân/ ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn cũng gia  
tăng ở khẩu phần có bổ sung Mai dương (p<0,05). Kết quả của nghiên  
cứu cho thấy có cải thiện dinh dưỡng bởi sử dụng Mai dương trong khẩu  
phần đồng thời làm gia tăng mức ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn và  
từ đó làm gia tăng tăng trọng của dê tăng trưởng.  
Trích dẫn: Nguyễn Thị Thu Hồng và Dương Nguyên Khang, 2017. Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa  
pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt. Tạp chí Khoa học  
Trường Đại học Cần Thơ. 48b: 58-65.  
58  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
1 GIỚI THIỆU  
Chăn nuôi dê đóng vai trò quan trọng trong việc  
2.1 Động vật thí nghiệm  
Thí nghiệm được tiến hành trên 16 dê đực lai  
(Bách Thảo x cỏ) có khối lượng (KL) trung bình là  
15,7 ± 0,54 kg và khoảng 5-6 tháng tuổi. Các dê  
đều khỏe mạnh, được tẩy ký sinh trùng và tiêm  
phòng lở mồm long móng trước khi tiến hành thí  
nghiệm.  
tạo việc làm, thu nhập, bảo quản vốn và cải thiện  
dinh dưỡng hộ gia đình. Dê nhỏ con không đòi hỏi  
diện tích chuồng trại lớn so với gia súc khác và dễ  
dàng chăm sóc quản lý bởi phụ nữ và trẻ em  
(Zeleke, 2007). Ở vùng nhiệt đới dê thường có  
năng suất thấp do tốc độ tăng trưởng chậm, chủ  
yếu do thiếu dinh dưỡng, quản lý và các yếu tố  
không di truyền như thời tiết, giới tính, chậm sinh  
và tuổi tác (Gbangboche et al., 2006). Cải tiến  
năng suất vật nuôi là cách hiệu quả nhất nhằm tăng  
sản xuất thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người  
mà không tăng sử dụng đất và không tăng khí thải  
nhà kính. Để phát triển đàn dê có hiệu quả trong  
điều kiện nguồn thức ăn tự nhiên ngày càng ít do  
đất đai ngày càng bị giới hạn, song song việc phải  
cải tiến về phẩm chất đàn dê, phương thức chăm  
sóc và nuôi dưỡng thì việc tận dụng hiệu quả  
nguồn thức ăn xanh sẵn có bổ sung vào khẩu phần  
để giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho  
người chăn nuôi là điều thật sự cần thiết.  
2.2 Bố trí thí nghiệm  
Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với  
thừa số 2 nhân tố, 4 nghiệm thức với 4 khẩu phần  
ăn và 4 lần lặp lại, mỗi dê là một đơn vị thí  
nghiệm. Nhân tố (1) Khẩu phần cơ bản là Rau  
muống (RM) hay cỏ Lông tây (LT) và nhân tố (2)  
Có hay không bổ sung Mai dương (MD). Bốn  
nghiệm thức tương ứng với 4 khẩu phần ăn sau:  
LT: Cỏ Lông tây ăn tự do, 120 g thức ăn  
hỗn hợp.  
LT MD: Cỏ Lông tây ăn tự do, 120 g thức  
ăn hỗn hợp, bổ sung Mai dương ở mức tannin 30  
g/kg vật chất khô.  
RM: Rau muống ăn tự do, 120 g thức ăn  
hỗn hợp.  
Cây Mai dương còn gọi là Ngưu Ma Vương,  
Trinh nữ nhọn, Mắc cỡ Mỹ, tên khoa học là  
Mimosa pigra L, thuộc họ Mimosaceae, có nguồn  
gốc từ Trung Mỹ. Mai dương được xem là một  
trong những loài cỏ dại nguy hiểm ở vùng đất ngập  
nước nhiệt đới do tăng trưởng phát triển vượt trội  
của chúng. Ngoài những nghiên cứu tìm giải pháp  
phòng ngừa sự gây hại của cây Mai dương, đã có  
những nghiên cứu tận dụng cây này để chống xói  
mòn, làm phân xanh, thuốc chữa bệnh và làm cây  
thức ăn cho gia súc. Hàm lượng tannin trong cây  
Mai dương từ 5 đến 9%, protein thô từ 17,9 đến  
21,21% cho thấy đây là nguồn thức ăn tốt cho chăn  
nuôi dê (Nguyen Thi Thu Hong et al., 2008). Khi  
thu cắt tận dụng sinh khối làm thức ăn cho dê cần  
tiến hành liên tục với khoảng thời gian ngắn (30  
đến 45 ngày/đợt) để giảm khả năng tái sinh và dần  
dần kiểm soát được sự phát triển của loài cây này.  
Thực hiện biện pháp này đạt được 2 mục đích là  
cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc, đặc biệt là loài  
dê, và kiểm soát sự phát tán của cây Mai dương  
trong tự nhiên.  
RMMD: Rau muống ăn tự do, 120 g thức ăn  
hỗn hợp, bổ sung Mai dương ở mức tannin 30 g/kg  
vật chất khô.  
Thí nghiệm được tiến hành trong 105 ngày. Dê  
được cho ăn thức ăn mới trong 15 ngày để thích  
nghi trước khi bắt đầu thí nghiệm.  
2.3 Thức ăn thí nghiệm và cách nuôi dưỡng  
Dê thí nghiệm được nuôi trên các lồng cá thể,  
mỗi con ở trong một ô chuồng riêng biệt được  
chăm sóc, vệ sinh như nhau và được cung cấp nước  
sạch tự do. Thức ăn cho dê được cân vào mỗi buổi  
sáng, dê được ăn 50% khẩu phần lúc 8 giờ và 50%  
lúc 14 giờ. Lượng thức ăn được tính vật chất  
khô/ngày cho dê là 3% khối lượng cơ thể. Lượng  
cỏ Lông tây và Rau muống được cho ăn tự do với  
số lượng bằng 120% so với mức ăn vào của tuần  
trước. Tất cả các khẩu phần thí nghiệm được bổ  
sung cùng một mức thức ăn hỗn hợp  
120g/con/ngày. Thức ăn hỗn hợp bao gồm cám  
mịn, bánh dầu đậu nành, premix và muối cân đối  
với mức protein thô 18%.  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thí nghiệm được tiến hành tại Trại thực  
nghiệm Trường Đại học An Giang từ tháng  
10/2014 đến tháng 10/2015. Mẫu thức ăn cho ăn,  
thức ăn thừa và thành phần hóa học của thịt được  
phân tích và tiến hành tại Khu thí nghiệm trung  
tâm, Trường Đại học An Giang.  
Cỏ Lông tây được thu cắt hàng ngày và để ráo  
trước khi cho ăn. Rau muống cũng được thu cắt  
hàng ngày, sau đó được phơi héo trước khi cho dê  
ăn. Rau muống và cỏ Lông tây được cân hàng ngày  
vào buổi sáng, sau đó cho dê ăn 50% vào buổi sáng  
và 50% vào buổi chiều. Rau muống và cỏ Lông tây  
được đặt trong máng cho dê tự do chọn lựa.  
59  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
Cây Mai dương trong tự nhiên ở khu đất hoang  
giá tỷ lệ thịt xẻ và chất lượng thịt. Dê thí nghiệm  
được cho nhịn đói 24 giờ trước khi mổ khảo sát. Tỷ  
lệ thịt xẻ (%) = (khối lượng thịt xẻ/ khối lượng  
sống) x 100. Mỗi nghiệm thức được thu mẫu thịt  
thăn để đánh giá chất lượng thịt với các chỉ tiêu  
gồm vật chất khô, protein thô và béo thô.  
được cắt bỏ trước khi tiến hành thí nghiệm 30 ngày  
và được chia lô để cắt với chu kỳ là 30 ngày nhằm  
hạn chế biến động hàm lượng tannin trong cây với  
chu kỳ cắt cố định này. Hàm lượng tannin của Mai  
dương được phân tích 2 lần trong tuần. Mai dương  
thu cắt hàng ngày, được cắt thành từng đoạn 50  
cm, được sử dụng nguyên cành lá, cột thành bó và  
treo cho dê ăn. Dê chỉ ăn lá chét hoa, thân non và  
một ít trái non. Phần không ăn là sóng lá chét, trái  
già và cành già. Thành phần dinh dưỡng của Mai  
dương được phân tích là phần dê ăn được trong quá  
trình thí nghiệm.  
2.6 Xử lý thống kê  
Các số liệu thô của thí nghiệm được xử lý sơ bộ  
trên bảng tính Microsoft Excel 2007, sau đó là xử  
lý bằng phương pháp phân tích phương sai  
(ANOVA) theo mô hình tuyến tính tổng quát  
(General Linear Model) trên phần mềm  
Minitab version 16 (© 2010). Nếu có sự sai khác  
có ý nghĩa thống kê ở mức độ p< 0,05 hay p< 0,01  
thì các nghiệm thức được so sánh theo từng cặp  
khác nhau qua phương pháp kiểm định Tukey,  
95% CI.  
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi  
Các chỉ tiêu theo dõi là thành phần hóa học của  
Mai dương, Rau muống và cỏ Lông tây; lượng thức  
ăn tiêu thụ hàng ngày, khả năng tăng trọng và  
thành phần thân thịt của dê. Thức ăn được cân trước  
khi cho dê ăn và sáng hôm sau cân lại lượng thức ăn  
thừa. Mẫu thức ăn được lấy đại diện để phân tích.  
Mẫu thức ăn xanh được cắt ngắn, trải lên mặt  
phẳng và phân chia thành 4 phần bằng nhau theo 2  
đường chéo, lấy trong phạm vi 2 tam giác đối  
xứng. Phần mẫu sau khi lấy trộn đều và tiếp tục lấy  
theo nguyên tắc trên khi mẫu còn lại 100 g, thu  
mẫu bảo quản để phân tích (Lưu Hữu Mãnh và  
Nguyễn Nhật Xuân Dung, 2002). Tất cả dê thí  
nghiệm được cân 2 tuần/lần trong suốt thời gian thí  
nghiệm để thay đổi lượng thức ăn phù hợp theo  
từng khối lượng của dê.  
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Thành phần hóa học của các thức ăn  
dùng trong thí nghiệm  
Hàm lượng vật chất khô của Mai dương là  
40,6% cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị  
Thu Hồng và Võ Ái Quấc (2011) là 36,04%.  
Protein thô của Mai dương là 21% phù hợp với kết  
quả của Vearasilp et al. (1981a) là 20 - 30%; và  
tương đương với báo cáo của Nguyễn Thị Thu  
Hồng và Võ Ái Quấc (2011) là 20,6%. Cây Mai  
dương sử dụng trong thí nghiệm trong giai đoạn  
trưởng thành nên có hàm lượng tannin là 9,14%  
(Bảng 1). Theo Iason et al. (1993) hàm lượng  
tannin có trong cây thay đổi theo mùa, trong giai  
đoạn tăng trưởng của cây. Khi cây tăng sinh khối,  
tài nguyên có sẵn để tổng hợp các hợp chất  
phenolic ít do đó sự tổng hợp tannin bị hạn chế.  
Tuy nhiên, trong quá trình cây ra hoa, khi nhu cầu  
dinh dưỡng cho tăng trưởng giảm, carbon dư thừa  
nên quá trình tổng hợp tannin gia tăng.  
2.5 Phân tích thành phần hóa học  
Lượng ăn vào và thức ăn thừa được phân tích  
vật chất khô, protein thô và tro theo AOAC (1990).  
Hàm lượng tannin tổng số được định lượng bằng  
phương pháp Lowenthal theo mô tả của Vũ Thy  
Thư và ctv. (2001). Sau khi kết thúc thí nghiệm, 16  
dê thí nghiệm được tiến hành mổ khảo sát để đánh  
Bảng 1: Thành phần hóa học của các thức ăn dùng trong thí nghiệm (%)  
Thực liệu  
Vật chất khô  
16,2 ± 0,5  
18,7 ± 1,22  
40,6 ± 2,82  
87,4 ± 1,02  
Protein thô  
11,7 ± 0,77  
18,3 ± 1,82  
21,0 ± 0,84  
18,2 ± 1,49  
Chất hữu cơ  
89,0 ± 2,6  
88,1 ± 1,32  
89,5 ± 2,78  
90,4 ± 1,22  
Tannin  
0,50±0,05  
3,02±0,25  
9,14 ± 0,71  
-
Cỏ Lông tây  
Rau muống  
Mai dương  
Thức ăn hỗn hợp  
đó nhu cầu về vật chất khô, chất lượng thức ăn và  
tính ngon miệng là những yếu tố quan trọng nhất  
đối với lượng thức ăn tiêu thụ. Kết quả mức ăn vào  
vật chất khô, chất hữu cơ và protein thô của dê thí  
nghiệm thể hiện ở Bảng 2.  
3.2 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương  
trong khẩu phần lên mức ăn vào của dê thí nghiệm  
Lượng thức ăn tiêu thụ là nhân tố quan trọng  
ảnh hưởng tới tăng trọng của gia súc nhai lại, trong  
60  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
Bảng 2: Ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm lên lượng vật chất khô (VCK), protein thô, chất hữu  
cơ ăn vào của dê thí nghiệm  
Thức ăn cơ bản  
Mai dương  
Bổ sung Không bổ sung  
Chỉ tiêu theo dõi  
P
P SEM  
Cỏ Lông tây Rau muống  
VCK ăn vào, g/ngày  
VCK ăn vào, %/ KL cơ thể  
Protein thô, g/ngày  
646b  
3,21b  
90b  
711a 0,001  
3,42a 0,001  
134a 0,001  
631a 0,001  
699a  
3,40a  
121a  
622a  
658b 0,012 11,3  
3,23b 0,001 0,02  
102b 0,001 1,84  
583b 0,007 10,2  
Chất hữu cơ, g/ngày  
573b  
tannin từ Lotus corniculatus mức ăn vào cao hơn  
so với đối chứng. Với thí nghiệm trên cừu,  
Athanasiadou et al. (2001) ghi nhận được mức ăn  
vào gia tăng ở khẩu phần giàu tannin.  
Lượng vật chất khô ăn vào (g/ngày) của các  
khẩu phần bổ sung Mai dương cao hơn các khẩu  
phần không bổ sung Mai dương (p<0,05) với các  
giá trị 699 g so với 658 g. Kết quả này là do Mai  
dương có hàm lượng vật chất khô cao hơn so với  
Rau muống và cỏ Lông tây nên bổ sung vào khẩu  
phần đã làm tăng lượng ăn vào. Quan sát quá trình  
nuôi thí nghiệm cho thấy các thực liệu sử dụng  
trong thí nghiệm có độ ngon miệng theo thứ tự là  
thức ăn hỗn hợp, kế tiếp là Mai dương, Rau muống  
và sau cùng là cỏ Lông tây. Lượng Mai dương bổ  
sung trong khẩu phần đều được dê ăn hết. Thêm  
vào đó, Mai dương có hàm lượng tannin vừa phải  
9,14% cũng là yếu tố làm tăng lượng ăn vào của dê  
thí nghiệm. Theo Frutos et al. (2004), nồng độ cao  
của tannin trong khẩu phần của gia súc nhai lại làm  
giảm lượng ăn vào và khả năng tiêu hóa chất dinh  
dưỡng, với từ nồng độ thấp đến vừa phải có thể cải  
thiện tiêu hóa dưỡng chất. Leinmüller et al. (1991)  
báo cáo rằng tannin với nồng độ vượt quá 60 g/kg  
vật chất khô trong khẩu phần làm giảm khả năng  
ăn vào, khả năng tiêu hóa protein thô, chất xơ và  
ảnh hưởng đến tăng trưởng của gia súc nhai lại.  
Lượng vật chất khô ăn vào tính trên khối lượng cơ  
thể cũng tăng lên khi bổ sung tannin trong khẩu  
phần. Bổ sung các thực liệu chứa tannin vào khẩu  
phần của gia súc nhai lại làm tăng mức ăn vào  
được báo cáo bởi rất nhiều nghiên cứu. Như  
Puchala et al. (2005) sử dụng Lespedeza cuneata  
trong khẩu phần có mức tannin là 17,7% tính trên  
VCK cho kết quả mức ăn vào cao hơn so với dê ăn  
khẩu phần đối chứng. Khi sử dụng tannin trong  
khẩu phần ở cừu hay bò sữa cũng cho kết quả là  
tăng mức vật chất khô ăn vào. Woodward et al.  
(2001) cũng cho rằng bò sữa ăn khẩu phần chứa  
Lượng vật chất khô ăn vào của nhân tố thức ăn  
cơ bản cũng có khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(p<0,001) giữa các nghiệm thức của thí nghiệm.  
Nguyên nhân là do Rau muống được phơi héo đã  
hỗ trợ làm tăng lượng ăn vào của dê thí nghiệm.  
Thêm vào đó, Rau muống có hàm lượng protein  
thô cao hơn cỏ Lông tây cũng ảnh hưởng đến  
lượng vật chất khô ăn vào. Lượng vật chất khô ăn  
vào tính trên khối lượng cơ thể (%) của dê thí  
nghiệm cũng theo khuynh hướng trên. Mức vật  
chất khô ăn vào của dê thí nghiệm tương tự với báo  
cáo của Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue (2012)  
với các giá trị 2,9 và 3,6%. Theo Đinh Văn Bình  
(2005) nhu cầu vật chất khô đối với dê tăng trưởng  
khoảng 3% khối lượng cơ thể nên kết quả của thí  
nghiệm này hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu vật  
chất khô cho dê.  
Ảnh hưởng của sự tương tác giữa các nhân tố  
trong thí nghiệm đến lượng ăn vào của dê thí  
nghiệm thể hiện ở Bảng 3. Mức vật chất khô ăn  
vào của các khẩu phần thí nghiệm cũng như % vật  
chất khô ăn vào tính trên khối lượng dê thí nghiệm  
không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).  
Mức protein thô ăn vào (g/ngày) của các khẩu phần  
thí nghiệm có khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(p<0,05), cao nhất ở khẩu phần Rau muống có bổ  
sung Mai dương (140 g) và thấp nhất ở khẩu phần  
có Lông tây không bổ sung Mai dương (77g). Điều  
này cũng phù hợp bởi vì Rau muống và Mai dương  
là 2 thực liệu có hàm lượng protein thô cao.  
Bảng 3: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa nhân tố thức ăn bổ sung (BS) và thức ăn cơ bản (CB) đến  
lượng ăn vào của dê thí nghiệm  
Cỏ Lông tây  
Bổ sung Không bổ  
Rau muống  
Bổ sung Không bổ  
P
Mức ăn vào  
SE  
BS*CB  
MD  
sung MD  
MD  
sung MD  
Vật chất khô, g/ngày  
Tannin ăn vào, g/ngày  
% VCK/ KL cơ thể  
Protein thô, g/ngày  
Chất hữu cơ, g/ngày  
665  
626  
732  
691  
16,0  
0,26  
0,03  
2.6  
0,948  
0,437  
0,755  
0,021  
0,951  
19,16  
3,30  
103c  
592  
-
19,56  
3,50  
140a  
651  
-
3,12  
3,33  
127b  
611  
77d  
554  
14,1  
61  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
(p<0,05). Tương tự như vậy, Burke et al. (2014)  
cũng kết luận là mức tăng trọng bình quân trên  
ngày tăng 26,1% trên cừu thí nghiệm được chăn  
thả có bổ sung tannin từ Lespedeza cuneata. Với  
mức tannin bổ sung trong khẩu phần là 2,5% cho  
mức tăng trọng bình quân trên ngày tăng 5,5%  
trong báo cáo của Ayala-Monter (2013). Min et al.  
(2003) đã tổng kết rằng, hàm lượng tannin trong  
khẩu phần từ 20 đến 45 g/kg VCK, cải thiện hiệu  
quả sử dụng N và mức tăng trọng bình quân trên  
ngày của cừu. Tầm quan trọng của lượng thức ăn  
tiêu thụ trong dinh dưỡng gia súc nhai lại ảnh  
hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất. Các loại thực  
liệu chứa tannin với một lượng vừa phải sẽ có tác  
dụng có lợi cho gia súc. Lượng dưới 50 g tannin/  
kg vật chất khô cải thiện tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của  
gia súc nhai lại (Min et al., 2003).  
3.3 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương  
trong khẩu phần lên khả năng tăng trọng và hệ  
số chuyển hóa thức ăn của dê thí nghiệm  
Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương lên  
tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của dê thí  
nghiệm được trình bày trong Bảng 4.  
Tăng trọng bình quân/ngày của dê thí nghiệm ở  
khẩu phần có bổ sung Mai dương cao hơn 15,1%  
so với khẩu phần không bổ sung (p<0,001) với các  
giá trị 97,6 so với 84,8 g/con/ngày. Báo cáo của  
Priolo et al. (2002) đã chứng minh với mức bổ  
sung của tannin từ 10 hoặc 40 g/kg vật chất khô  
cho mức tăng trọng ưu thế của cừu với các giá trị  
116 và 172 g. Min et al. (2006) báo cáo gia tăng  
20,8% mức tăng trọng bình quân/ ngày của bê thí  
nghiệm khi bổ sung 2% tannin vào khẩu phần  
Bảng 4: Ảnh hưởng của Rau muống, cỏ Lông tây và Mai dương lên tăng trọng và hệ số chuyển hóa  
thức ăn của dê thí nghiệm  
Thức ăn cơ bản  
Cỏ Lông Rau  
tây muống  
Mai dương  
Chỉ tiêu theo dõi  
P
P
SEM  
Bổ  
Không  
sung bổ sung  
Khối lượng đầu kỳ (kg)  
Khối lượng cuối kỳ (kg)  
Tăng trọng tích lũy (kg)  
Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày)  
HSCH thức ăn (kg VCK/kg tăng trọng)  
Tăng trọng tương đối, %  
15,6  
24,8  
15,9 0,670  
25,8 0,118  
15,6  
25,7  
15,9  
24,9  
0,490  
0,242  
0,001  
0,001  
0,012  
0,003  
0,38  
0,45  
0,18  
1,83  
0,15  
0,98  
9,1b 10,0a 0,006  
10,1a  
97,6a  
7,17b  
49,2a  
9,0b  
86,9b 95,4a 0,007  
7,46  
45,4  
84,8b  
7,78a  
44,0b  
7,49 0,861  
47,8 0,108  
là Rau muống. Các kết quả trên cho thấy việc bổ  
sung tannin từ cây họ đậu đều ảnh hưởng tích cực  
đến mức ăn vào và cải thiện năng suất của gia súc  
nhai lại. Điều này là kết quả của sự tạo phức hợp  
tannin-protein và sự gia tăng hấp thu axít amin ở  
ruột (Min et al., 2006). Do đó, sử dụng cây Mai  
dương trong khẩu phần của dê tăng trưởng là sự kết  
hợp của tăng lượng ăn vào và tăng lượng protein  
thoát tiêu dẫn đến gia tăng mức tăng trọng bình  
quân/ ngày.  
Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí  
nghiệm lên tăng trọng và hệ số chuyển hóa  
(HSCH) thức ăn của dê thí nghiệm được thể hiện ở  
Bảng 5. Mức vật chất khô ăn vào của các khẩu  
phần có bổ sung Mai dương so với khẩu phần đối  
chứng tăng 6,2% và 5,9% tương ứng với khẩu phần  
cơ bản là cỏ Lông tây và Rau muống. Kết quả làm  
gia tăng mức tăng trọng bình quân trên ngày của dê  
thí nghiệm với các mức 16,7% cho khẩu phần cơ  
bản là cỏ Lông tây và 14,1% cho khẩu phần cơ bản  
Bảng 5: Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí nghiệm đến mức tăng trọng và hệ số chuyển  
hóa thức ăn của dê thí nghiệm  
Cỏ Lông tây  
Bổ sung Không bổ Bổ sung Không bổ  
MD sung MD MD sung MD  
Rau muống  
P
Chỉ tiêu theo dõi  
SE  
BS*CB  
Khối lượng bắt đầu thí nghiệm (kg)  
Khối lượng kết thúc thí nghiệm (kg)  
Tăng trọng (kg)  
Tăng trọng (g/con/ngày)  
HSCH thức ăn (kg VCK/ kg tăng trọng)  
15,4  
25  
9,66  
93,6  
7,12  
15,9  
24,5  
8,60  
80,2  
7,80  
15,7  
26,3  
10,60  
102  
16 0,54  
25,3 0,63  
9,33 0,25  
89,4 2,59  
7,77 0,21  
0,840  
0,736  
0,681  
0,803  
0,747  
7,22  
ứng với khẩu phần có bổ sung Mai dương và  
không bổ sung Mai dương. Kết quả này cho thấy  
bổ sung Mai dương vào khẩu phần đã làm giảm hệ  
số chuyển hóa thức ăn.  
Hệ số chuyển hóa thức ăn của dê lai F1 (Bách  
Thảo x cỏ) giai đoạn 3 - 9 tháng tuổi là 6,15 kg vật  
chất khô (Lê Văn Thông, 2005). Hệ số chuyển hóa  
vật chất khô của dê thí nghiệm với khẩu phần cơ  
bản là cỏ Lông tây có các giá trị 7,12 và 7,80 tương  
62  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
Hệ số chuyển hóa vật chất khô của các khẩu  
Solaiman et al. (2010) tiến hành thí nghiệm trên  
dê tăng trưởng bổ sung tannin từ Lespedeza  
cuneata thay thế cỏ Linh lăng với các mức 0; 10;  
20 và 30% trong khẩu phần. Mức vật chất khô và  
tannin ăn vào gia tăng với mức tăng của Lespedeza  
cuneata trong khẩu phần (p=0,04). Hệ số chuyển  
hóa thức ăn ở các khẩu phần bổ sung 10% và 20%  
thấp hơn so với đối chứng. Min et al. (2003) cũng  
báo cáo rằng bổ sung tannin trong khẩu phần ăn  
của cừu ở mức 2-4% VCK cho thấy tác dụng có lợi  
đối với khả năng tăng trưởng.  
phần thí nghiệm thấp hơn so với nghiên cứu của  
Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue (2012) khi sử  
dụng khẩu phần cơ bản là cây Dã Quỳ bổ sung với  
các thực liệu chứa tannin như lá Khoai mì, lá  
Chuối và lá Mít cho dê lai (Bách Thảo x cỏ) với  
các giá trị 8,75; 8,81 và 8,31 tương ứng. Các tác  
giả kết luận rằng vật chất khô ăn vào của dê thí  
nghiệm tăng lên 14% và 25%, và tỷ lệ tăng trưởng  
tăng từ 22% và 29%, khi dê được cho cây Dã Quỳ  
ăn tự do và bổ sung (1% tính trên vật chất khô) lá  
Khoai mì và lá Mít. Điều này có thể do sự kết hợp  
của nguồn protein dễ lên men của cây Dã Quỳ và  
nguồn protein thoát tiêu do sự hiện diện của nguồn  
tannin trong lá Khoai mì và lá Mít.  
Theo Devendra (1991), cây thức ăn gia súc và  
cây thân bụi là nguồn thức ăn tiềm năng cho gia  
súc nhai lại ở vùng nhiệt đới. Nguồn thức ăn này  
đa dạng và cực kỳ hữu ích đối với gia súc nhai lại.  
Những lợi ích đó là cải thiện hiệu suất của vật nuôi  
và giảm chi phí thức ăn. Đây là một chiến lược  
quan trọng để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại.  
Theo Nguyen Thi Thu Hong (2012) sử dụng  
khẩu phần cơ bản là cây Dã Quỳ cho dê ăn tự do  
bổ sung cây Mai dương với các mức 0; 0,5; 1; 1,5  
và 2% trong khẩu phần. Mức tăng trọng bình quân  
của dê thí nghiệm đạt cao nhất ở khẩu phần bổ  
sung 2% Mai dương (87,3 g/con /ngày) và thấp  
nhất ở khẩu phần không bổ sung Mai dương (49,3  
g/con/ngày). Hệ số chuyển hóa thức ăn giảm với sự  
gia tăng các mức Mai dương bổ sung trong khẩu  
phần. Như vậy, sự kết hợp của cây Dã Quỳ với cây  
Mai dương đã tạo ưu thế cho tốc độ tăng trưởng  
của dê.  
3.4 Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương  
trong khẩu phần lên thành phần thân thịt của dê  
Tỷ lệ thịt xẻ là chỉ số quan trọng trong việc  
đánh giá năng suất thịt. Kết quả nghiên cứu ảnh  
hưởng của các khẩu phần thí nghiệm đến năng suất  
và thành phần thân thịt của dê thí nghiệm được  
trình bày ở Bảng 6.  
Bảng 6: Ảnh hưởng của bổ sung cây Mai dương lên tỷ lệ thịt xẻ và thành phần hóa học thân thịt của  
dê thí nghiệm  
Thức ăn cơ bản  
Cỏ Lông tây Rau muống  
Mai dương  
Bổ sung Không bổ sung  
P
P
SEM  
Chỉ tiêu theo dõi  
Khối lượng sống, kg  
Tỷ lệ thịt xẻ, %  
Huyết, %  
Đầu, %  
Chân, %  
21,6  
46,2  
4,69  
7,41  
3,53  
22,5 0,093  
47,0 0,081  
4,68 0,944  
7,32 0,366  
3,46 0,539  
6,54 0,621  
30,56 0,895  
24,16a 0,031  
19,93 0,148  
0,95 0,526  
22,4  
46,9  
4,60  
7,31  
3,53  
21,8  
46,3  
4,78  
7,42  
3,46  
0,217  
0,154  
0,234  
0,244  
0,583  
0,157  
0,177  
0,242  
0,962  
0,849  
0,36  
0,28  
0,10  
0,06  
0,08  
0,12  
0,25  
0,43  
0,09  
0,05  
Da, %  
6,45  
6,62  
6,36  
Tỷ lệ nội tạng, %  
Vật chất khô của thịt, %  
Protein thô của thịt, %  
Béo thô, %  
30,61  
22,67b  
19,73  
0,99  
30,34  
23,79  
19,83  
0,96  
30,84  
23,04  
19,83  
0,98  
đực lai F1 (Bách Thảo x cỏ) có tỷ lệ thịt xẻ là  
47,68%. Tỷ lệ thịt xẻ của dê lai (Bách Thảo x cỏ)  
nuôi tại Yên Bái là 46,85% (Nguyễn Bá Mùi,  
2011).  
Khối lượng dê thí nghiệm mổ khảo sát không  
có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (p>0,05). Kết  
quả cho thấy chỉ tiêu tỷ lệ thịt xẻ không có sự khác  
biệt giữa các nghiệm thức thí nghiệm và biến động  
từ 46,2 đến 47,0%. Trong nghiên cứu của Lê Văn  
Thông (2005), tỷ lệ thịt xẻ của dê đực lai F1 (Bách  
Thảo x cỏ) đạt 48,22%, cao hơn so với kết quả của  
Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải (2010) khi dê  
Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố  
thí nghiệm đến các chỉ tiêu mổ khảo sát và thành  
phần hóa học thân thịt của dê thí nghiệm thể hiện ở  
Bảng 7.  
63  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
Bảng 7: Ảnh hưởng của tương tác giữa các nhân tố thí nghiệm đến các chỉ tiêu mổ khảo sát và thành  
phần hóa học thân thịt của dê thí nghiệm (%)  
Cỏ Lông tây  
Bổ sung Không bổ  
Rau muống  
Bổ sung Không bổ  
P
Chỉ tiêu theo dõi  
SE  
BS*CB  
MD  
22,0  
46,6  
4,44  
7,28  
3,68  
6,60  
30,5  
23,2  
19,8  
0,97  
sung MD  
MD  
22,8  
47,2  
4,76  
7,34  
3,38  
6,64  
30,3  
24,4  
19,8  
0,96  
sung MD  
Khối lượng, kg  
Tỷ lệ thịt xẻ, %  
Huyết, %  
Đầu, %  
Chân, %  
21,3  
45,8  
4,95  
7,54  
3,38  
6,30  
30,7  
22,2  
22,3  
46,7  
4,60  
7,30  
3,54  
6,43  
31,0  
23,9  
0,504  
0,391  
0,141  
0,091  
0,119  
0,169  
0,350  
0,613  
0,133  
0,06  
0,875  
0,646  
0,035  
0,132  
0,073  
0,822  
0,430  
0,697  
0,137  
0,640  
Da, %  
Tỷ lệ nội tạng, %  
Vật chất khô của thịt, %  
Protein thô của thịt, %  
Béo thô, %  
19,6  
1,01  
20,0  
0,94  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tỷ lệ của các bộ phận của dê thí nghiệm như  
huyết, đầu và nội tạng đều không có sự khác biệt  
giữa các nghiệm thức. Đối với tỷ lệ nội tạng có các  
kết quả là 30,5 và 30,3%; 30,7 và 31,0% tương ứng  
với các khẩu phần có bổ sung Mai dương và không  
bổ sung Mai dương. Đối với chỉ tiêu tỷ lệ nội tạng  
có sự khác biệt phần lớn là do ảnh hưởng bởi thức  
ăn cơ bản. Trong nghiên cứu của Nguyễn Bá Mùi  
và Đặng Thái Hải (2010) dê lai (Bách Thảo x cỏ)  
có tỷ lệ nội tạng chiếm 33,14%, tuy nhiên, kết quả  
này cao hơn so với 28,9% trong báo cáo của Lê  
Văn Thông (2005).  
AOAC, 1990. Official methods of analysis (15 th  
edition), Washington, DC. Volume 1,pp. 69-90.  
Athanasiadou, S., Kyriazakis, I., Jackson, F., Coop, R.L.,  
2001. The effects of condensed tannins  
supplementation of foods with different protein content  
on parasitism, food intake and performance of sheep  
infected with Trichostrongylus colubriformis. British  
Journal of Nutrition. 86(6): 697-706.  
Ayala-Monter, M.A., 2013. Inclusión de taninos en  
la dieta de ovinos en finalización: respuesta en  
calidad de la carne. Maestro En Ciencias.Colegio  
de Posgraduados. Montecillos, Texcodo, Estado  
de México.  
Kết quả hàm lượng vật chất khô của thịt dê thí  
nghiệm biến động với các giá trị từ 22,2 đến 24,4%  
(p>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa 2 thức ăn cơ bản trong khẩu phần  
(p=0,031) với các giá trị 22,67 và 24,15 tương ứng  
là vật chất khô của thịt dê ăn khẩu phần cơ bản là  
cỏ và Rau muống. Đối với hàm lượng protein thô  
và lipid thịt của dê ăn các khẩu phần thí nghiệm  
không có sự khác biệt (p>0,05).  
Burke, J.M., Miller, J.E., Terrill, T.H., Mosjidis,  
J.A., 2014. The effects of supplemental Sericea  
lespedeza pellets in lambs and kids on growth  
rate. Livestock Science. 159: 29-36.  
Devendra, C., 1991. Nutritional potential of fodder  
trees and shrubs as protein sources in ruminant  
nutrition. In Legume trees and other fodder trees  
as protein sources for livestock. FAO Animal  
Production and Health Paper 102: 95-113.  
Báo cáo của Min et al.(2012) cho thấy khi bổ  
sung tannin từ vỏ cây Thông vào khẩu phần của dê  
tăng trưởng đã làm gia tăng lượng vật chất khô ăn  
vào, gia tăng mức tăng trọng bình quân/ ngày, cải  
thiện độ mềm của thịt và sự chấp nhận của người  
tiêu dùng. Tương tự với bổ sung 15% và 30% vỏ  
cây Thông (10,2% tannin) trong khẩu phần tương  
ứng với mức tannin là 1,63% và 3,2% trên vật chất  
khô, Min et al. (2015b) cho thấy mức vật chất khô  
ăn vào và khối lượng kết thúc thí nghiệm tăng  
tuyến tính với mức tannin trong khẩu phần.  
Đinh Văn Bình, 2005. Kỹ thuật nuôi dê sữa và dê  
thịt. NXB Lao động – Xã hội. Hà Nội.  
Frutos P., Hervás G., Giradles F. J., Mantecón A. R.,  
2004. Review. Tannins and ruminant nutrition.  
Spanish Journal of Agricultural Research 2: 191-202.  
Gbangboche, A.B., Adamou-Ndiaye, M., Youssao,  
A.K.I., Farnir, F., Detilleux, J., Abiola, F.A.,  
Leroy, P.L., 2006. Non-genetic factors affecting  
the reproduction performance, lamb growth and  
productivity indices of Djallonke sheep. Small  
Ruminant Research. 64(1-2): 133-142.  
Iason, G.R., Hartley, S.E., Duncan, A.J., 1993.  
Chemical composition of Calluna vulgaris  
(Ericaceae): Do responses to fertilizer vary with  
phenological stage?. Biochemical Systematics  
and Ecology. 21(3): 315-321.  
4 KẾT LUẬN  
Cây Mai dương trong khẩu phần nuôi của dê  
tăng trưởng đáp ứng mức tannin 30 g/kg vật chất  
khô đã cải thiện mức tăng trọng của dê thịt và giảm  
hệ số chuyển hóa thức ăn.  
Lê Văn Thông, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm  
của giống dê cỏ và kết quả lai tạo với dê bách  
thảo tại vùng Thanh Ninh. Luận án Tiến sĩ Nông  
64  
Tap  
̣
chı Khoa hoc  
̣
Trương Đai  
̣
hoc  
̣
Cầ  
n Thơ  
Tập 48, Phần B (2017): 58-65  
̀
́
nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp  
Việt Nam.  
Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải, 2010. Năng suất  
và chất lượng thịt của dê cỏ, F (Bách Thảo x Cỏ)  
và con lai Boer x F1 (Bách Thảo x cỏ) nuôi tại  
Ninh Bình. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 8(2):  
258 - 262.  
Leinmüller, E., Steingass, H., Menka, K.H., 1991.  
Tannins in ruminant feedstuffs. Biannual  
Collection of Recent German Contributions  
Concerning Development through. Animal  
Research. 33: 9-62.  
Nguyễn Bá Mùi, 2011. Nghiên cứu sử dụng đực  
giống Boer để cải tạo đàn dê Cỏ tại tỉnh Yên Bái.  
Trong Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học và chuyển  
giao công nghệ 2006-2011. NXB Đại học Nông  
nghiệp Hà Nội. 88-91.  
Lưu Hữu Mãnh và Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2002.  
Giáo trình thực tập môn dinh dưỡng gia súc dành  
cho cao học ngành chăn nuôi. Khoa Nông nghiệp  
và SHUD, Trường ĐH Cần Thơ.  
Priolo, A., Lanza, M., Bella, M., Pennisi, P., Fasone,  
V., Biondi, L., 2002. Reducing the impact of  
condensed tannins in a diet based on carob pulp  
using two levels of polyethylene glycol: lamb  
growth, digestion and meat quality. Animal  
Research. 51: 305-313.  
Min, B.R., Barrya, T.N., Attwood, G.T., McNabb,  
W.C., 2003. The effect of condensed tannins on  
the nutrition and health of ruminants fed fresh  
temperate forages: a review. Animal Feed  
Sciences and Technology. 106(1-4): 3-19.  
Puchala, R., Min, B.R., Goetsch, A.L., Sahlu, T.,  
2005. The effect of a condensed tannin -  
Min, B.R., Pinchak, W.E., Anderson, R.C., Fulford,  
J.D., Puchala, R., 2006. Effects of condensed  
tannins supplementation level on weight  
gain and in vitro and in vivo bloat precursors in  
steers grazing winter wheat. Journal of Animal  
Science. 84(9): 2546-2554.  
containing forage on methane emission by goats.  
Journal of Animal Science. 83: 182-186.  
Solaiman, S., Thomas, J., Dupre, Y., Min, B.R.,  
Gurung, N., Terrill, T.H., 2010. Effect of feeding  
sericea lespedeza hay on growth performance,  
blood metabolites, and carcass characteristics of  
Kiko crossbred male kids. Small Ruminant  
Research. 93: 149–56.  
Min, B.R., Solaiman,. S., Gurung, N., Behrends, J,  
Eun, J.S., Taha, E., Rose, J., 2012. Effects of  
pine bark supplementation on performance,  
rumen fermentation, and carcass characteristics  
of Kiko crossbred male goats. Journal of Animal  
Science. 90: 3556-3567.  
Vearasilp, T., Phuagphong, B., Ruengpaibul, S.,  
1981. A comparison of Leucaena leucocephala  
and Mimosa pigra L. in pig diets. Thai Journal of  
Agricultural Science. 14: 311–317.  
Min, B.R., Solaiman, S., Taha, E., Lee, J., 2015b.  
Effect of plant tannin-containing diet on fatty  
acid profile in meat goats. Journal of Animal  
Nutrition. 1: 1-7.  
Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và  
Giang Trung Khoa, 2001. Các hợp chất có trong  
chè và một số phương pháp phân tích thông dụng  
trong sản xuất chè ở Việt Nam. NXB Nông  
Nghiệp. Hà Nội.  
Minitab, 2010. Minitab reference manual release  
16.20. Minitab Inc.  
Ngo Hong Chin and Khuc Thi Hue, 2012.  
Supplementing Tithonia diversifolia with Guinea  
grass or tree foliages: effects on feed intake and  
live weight gain of growing goats. Livestock  
Research for Rural Development. Volumn 24,  
Article #188. Retrieved April 3, 2017, from  
Nguyen Thi Thu Hong, Vo Ai Quac, Tran Thi Kim  
Chung, Bach Van Hiet, Nguyen Thanh Mong and  
Phan The Huu, 2008. Mimosa pigra for growing  
goats in the Mekong Delta of Vietnam. Volume  
20, Article #208. Retrieved March 8, 2013, from  
Woodward, S.L., Waghorn, G.C., Ulyatt, M.J.,  
Lassey, K.R., 2001. Early indications that  
feeding Lotus will reduce methane emissions  
from ruminants. Proceedings of the New Zealand  
Society of Animal Production. 61: 23–26.  
Zeleke, M.Z., 2007. Environmental influences on  
pre-weaning growth performances and mortality  
rates of extensively managed Somali goats in  
Eastern Ethiopia. Livestock Research for Rural  
Development. Volume 19, Article #186.  
Retrieved March 20, 2014, from  
Nguyễn Thị Thu Hồng và Võ Ái Quấc, 2011. Nghiên  
cứu khả năng sử dụng cây Mai dương (Mimosa  
pigra) trong khẩu phần dê thịt. Tạp chí KHKT  
Chăn nuôi số tháng 12/2011: 51-55.  
Nguyen Thi Thu Hong, 2012. Effects of the  
combination of Tithonia diversifolia with  
Mimosa pigra on feed intake and growth of goats  
in Mekong Delta, Vietnam. In proceeding: The  
1st International Conference on “Animal  
Production and Environment”. Conference venue  
Can Tho University. 13-14/12/2012.  
65  
pdf 8 trang baolam 14340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của Mai dương (Mimosa pigra L.) trong khẩu phần lên mức ăn vào và khả năng sinh trưởng của dê thịt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mai_duong_mimosa_pigra_l_trong_khau_phan_len_m.pdf