Thịt chó trong văn hóa ẩm thực của người Việt - Nghiên cứu trường hợp phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội

Thịt chó trong văn hóa ẩm thực của người Việt -  
Nghiên cứu trường hợp phường Dương Nội,  
quận Hà Đông, Hà Nội  
Phạm Thị Thu Hiền  
Trường Đại học KHXH&NV  
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Dân tộc học ; Mã số: 60 22 70  
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Văn Chính  
Năm bảo vệ: 2013  
Abstract: Khái quát quá trình chuyển đổi kinh tế tại phường Dương Nội và sự hình thành dịch  
vụ chế biến thịt chó ở đây: tập trung giới thiệu khái quát về phường Dương Nội, các đặc điểm  
lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa tự nhiên của phường Dương Nội; Đặc biệt nhấn mạnh sự tác  
động của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế, văn hóa, xã hội của một xã mới lên phường; Các  
yếu tố này được cho là có tác động đáng kể đến sự hình thành và phát triển của một trong những  
“vương quốc thịt chó” của Hà Nội. Nghiên cứu về Dương Nội: Vương quốc thịt chó?: Phân tích  
mức độ, quy mô, bản chất mạng lưới của nghề cung ứng thịt chó tại Dương Nội để lý giải sự  
phát triển, tồn tại của nghề này tại Dương Nội; Bước đầu tìm hiểu cuộc sống của những người  
làm nghề giết mổ chó; sự tác động của nghề này đối với kinh tế, văn hóa, y tế, môi trường của  
cộng đồng. Nghiên cứu nghệ thuật chế biến thịt chó trong ẩm thực của người Việt: Kiến thức về  
cách chế biến thịt chó tại Dương Nội và một số cửa hàng xung quanh khu vực Dương Nội sử  
dụng thịt chó ở đây; Đồng thời nghiên cứu giải thích văn hóa ăn thịt chó của người Việt.  
Keywords: Dân tộc học; Văn hóa; Ẩm thực việt  
Content:  
MỤC LỤC  
Trang  
4
Mở đầu:  
1. Cơ sở khoa học của đề tài  
4
2. Lịch sử vấn đề  
10  
16  
20  
22  
24  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4. Phương pháp nghiên cứu  
5. Cấu trúc của luận văn  
Chương 1: Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu: Phường Dương Nội,  
Hà Đông  
1.1. Làng Dương Nội trong không gian địa - văn hóa Hà Đông  
1.2. Dương Nội trong lịch sử các làng La  
1.3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội phường Dương Nội  
1.3.1. Tình hình kinh tế  
24  
26  
28  
28  
34  
41  
48  
48  
51  
55  
62  
65  
70  
70  
76  
80  
1.3.2. Đời sống văn hóa xã hội  
1.4. Quá trình đô thị hóa ở Dương Nội  
Chương 2: Từ làng lụa đến “Vương quốc thịt chó”  
2.1. Sự hình thành và phát triển của “Phố chó” Dương Nội  
2.2. Quy mô thu mua, giết mổ và cung ứng thịt chó  
2.3. Công nghệ giết mổ chó  
2.4. Mạng lưới phân phối thịt chó  
2.5. Cơ cấu thu chi của hộ gia đình kinh doanh giết mổ chó  
2.6. Cuộc sống của người làm nghề giết mổ chó  
2.6.1. Gia đình chủ hộ kinh doanh  
2.6.2. Cuộc sống của những người làm thuê  
2.7. Mối quan hệ xã hội của người kinh doanh giết mổ chó  
5
2.8. Thái độ của cộng đồng đối với nghề giết mổ chó  
Chương 3: Thịt chó Dương Nội  
3.1. Trường phái thịt chó Dương Nội – Hà Đông  
3.2. Nghệ thuật chế biến thịt chó  
82  
88  
88  
91  
3.3. Đồ uống và gia vị ăn kèm  
96  
3.4. Kiêng kỵ trong chế biến thịt chó  
3.5. Khách ẩm thực món thịt chó  
99  
101  
101  
103  
109  
3.5.1. Quán thịt chó Việt Trì  
3.5.2. Quán thịt chó Ánh Sáng  
3.6. Thịt chó - Văn hóa ẩm thực  
Kết luận  
126  
130  
138  
Tài liệu tham khảo  
Phụ lục  
6
Chuyện ăn thịt chó hay không ăn thịt chó không hề là một vấn đề đơn giản, và  
nó không hẳn gắn với quan niệm về tính nhân văn hay thiếu nhân văn, mà hơn  
thế, là một tập tục gắn với kiến thức về dinh dưỡng, chế biến thực phẩm và cả  
thế giới quan tâm linh nữa.  
MỞ ĐẦU  
1.Cơ sở khoa học của đề tài:  
Tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thịt chó trong văn hóa ẩm thực của  
người Việt”, tập trung vào trường hợp phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà  
Nội nhằm tìm kiếm thông tin để hiểu được những quan niệm và cách nhìn  
nhận khác nhau trong xã hội về món ăn gây nhiều tranh cãi, thậm chí đối lập,  
là thịt chó. Nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần phát triển và kiểm nghiệm lý  
thuyết chức năng xã hội của thức ăn trong đời sống con người, đặc biệt là  
trong đời sống của người Việt ở khu vực đồng bằng sông Hồng.  
Trong các nhu cầu của con người: thực, y, cư, hành, khang, lạc thì  
thực (ăn uống) để duy trì sự sống của con người được xếp ở vị trí đứng đầu.  
Trong kho tàng ngôn ngữ dân gian, những hành vi, hoạt động chính của con  
người dường như đều được ghép với khái niệm ăn, như ăn uống, ăn mặc, ăn  
học, ăn nói, ăn ở, ăn chơi, ăn ngủ, ăn nằm, v.v…Bất luận thịt chó được người  
Việt sử dụng như một loại thực phẩm đa chức năng từ khi nào thì đến nay, món  
ăn này đã trở thành một thứ đặc sản khoái khẩu, đáp ứng nhu cầu của người dân  
thuộc nhiều tầng lớp xã hội, tôn giáo, giới và lứa tuổi khác nhau. Các nguồn tài  
liệu hiện có thường mô tả hai nước Việt Nam và Hàn Quốc coi thịt chó là món  
ăn phổ biến. Trong khi đó, ở một số vùng lãnh thổ, như tại đảo Hawoai thuộc  
Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu lại phát hiện thấy các nhóm thổ dân thường cúng  
thần linh bằng thịt chó, và xem đó như một loại thịt sang trọng chỉ sử dụng  
vào các dịp lễ hội lớn. Để tìm hiểu về vị trí của con chó trong tâm thức dân  
gian Việt Nam, chúng tôi đã khảo sát kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam và  
phát hiện có tới hàng trăm câu tục ngữ liên quan đến loài chó. Các câu tục ngữ  
này chủ yếu mô tả mối quan hệ gần gũi giữa chó và người cũng như những  
đặc tính của loài chó. Chó có lẽ là loài động vật được nhắc đến nhiều nhất  
trong ca dao, tục ngữ Việt Nam so với các loài động vật khác. Một số câu tục  
ngữ lại liên quan đặc biệt đến món thịt chó với một ý thức đề cao giá trị của  
nó. Có nhiều ý kiến cho rằng thịt chó là một món ăn dân tộc song cũng có  
nhiều ý kiến không đồng tình trong việc ăn thịt chó. Thịt chó đã được thương  
mại hóa, trở thành một nghề chế biến thực phẩm có tính chuyên nghiệp ở  
nhiều nơi trên cả nước, và từ đây cũng nảy sinh tranh cãi về các vấn đề liên  
quan đến cách chế biến món ăn đặc biệt này như môi trường, y tế, tâm linh.  
Về mặt lý thuyết khoa học mà nói, cho đến nay, hầu hết các nghiên  
cứu đã có về văn hóa ẩm thực Việt Nam vẫn được tiếp cận từ hai hướng chủ  
yếu: 1) Khám phá quá trình chế biến món ăn và những nét độc đáo trong cách  
thưởng thức món ăn; 2) Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và nguyên tắc dân  
gian trong kết hợp các món ăn trên cơ sở nguyên lý ẩm thực phương Đông.  
Nói cách khác, văn hóa ăn uống và khía cạnh vật chất sinh học của món ăn  
được quan tâm nhiều hơn trong khi ý nghĩa văn hóa - xã hội gắn liền với thức  
ăn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều. Ngoài các ý nghĩa khoa học về văn  
hóa ẩm thực, việc tìm hiểu hoạt động của các lò mổ và buôn bán thịt chó cũng  
có ý nghĩa thiết thực nhằm mang lại thông tin cho các nhà quản lý có chính  
sách quản lý ngành nghề chế biến thực phẩm ở khu vực không chính thức.  
2. Lịch sử vấn đề  
Khảo sát các nguồn tài liệu hiện có về thịt chó trong mối quan hệ với  
văn hóa ẩm thực của người Việt, chúng ta thấy món ăn này đã được tiếp cận  
từ nhiều khía cạnh khác nhau. Trước hết, món thịt chó được phản ánh khá  
phong phú trong kho tàng ca dao tục ngữ của dân gian, cho thấy món ăn có  
ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức ăn uống của một bộ phận dân cư trong xã  
2
hội. Thứ hai, thịt chó cũng được các nhà văn ưa chuộng khi chú trọng đưa  
món ăn này vào trong các tác phẩm của họ. Thứ ba, các nhà nghiên cứu văn  
hóa ẩm thực dân gian cũng đã bước đầu phân tích món ăn này trong mối liên  
hệ tới tập quán ăn uống của người Việt. Cuối cùng, các tài liệu khoa học dinh  
dưỡng và dịch tễ học cũng đã dành nhiều sự quan tâm phân tích đặc điểm dinh  
dưỡng từ góc độ y – sinh học và dịch tễ học, đặc biệt là sự lan truyền bệnh  
dịch liên quan đến món thịt chó. Thịt chó như một món ẩm thực đặc biệt  
thường được đề cập khá phổ biến trong các nghiên cứu tiếp cận từ góc nhìn  
văn hóa dân gian. Một trong những cách tiếp cận phổ biến là tìm kiếm tập  
quán ăn uống trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca của người  
Việt và xem thịt chó đã được phản ánh như thế nào. Thịt chó là món ăn phổ  
biến, thông dụng, ở mọi nơi, từ thành thị cho đến nông thôn. Có thể thấy món  
thịt chó từ trước đến nay chủ yếu được phản ánh qua các nguồn tài liệu  
sau:Trước hết, thịt chó thường được nhắc tới trong các tùy bút, truyện ngắn,  
tiểu thuyết của nhà văn Tô Hoài, Vũ Bằng, Thạch Lam, v.v.. Nhà văn Tô Hoài  
(Chuyện cũ Hà Nội: 1986) nhận định thịt chó là món ăn khoái khẩu, không thể  
không luận bàn. Tuy nhiên xuất sắc nhất khi đề cấp đến món thịt cầy không  
thể không nhắc tới nhà văn Vũ Bằng (Món ngon Hà Nội: 2006). Ông không  
những thụ cảm miếng ăn bằng sự cộng cảm các giác quan mà còn bằng lạc thú  
ngũ quan. Ngoài các tùy bút phải kể tới một số truyện, tiểu thuyết như “Trẻ  
con không được ăn thịt chó” của Nam Cao (2000). Vũ Bão (2007) với cuốn  
tiểu thuyết “Utopi - Một miếng để đời” mở ra cho người đọc một thế giới  
trong mộng tưởng về món thịt chó đặc sản của xứ An Nam sang xứ người.  
Thứ hai, thịt chó còn được nghiên cứu theo hướng giới thiệu các món ăn đặc  
sản của vùng miền. Mỗi địa phương, vùng miền có cách chế biến khác biệt,  
tạo nên sự đa dạng về các trường phái chế biến thịt chó. Lý Khắc Cung trong  
bài “Thịt cầy, quán thịt cầy, lái chó” (Hà Nội, văn hóa và phong tục: 2009);  
“Thịt chó Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hà. Trước đây, Hà Nội có hẳn một chợ  
ở trung tâm thành phố, gần như sản phẩm chính là thịt chó. Đó là chợ 19  
tháng 12 mà người ta quen gọi là chợ Âm phủ (hiện chợ này đã được giải thể  
để làm đường). Ngoài ra còn có phố Nhật Tân, gồm mấy chục quán nằm san  
sát chuyên bán thịt chó. Ngữ Yên (Người ăn rong: 2009) dẫn người đọc vào  
muôn nẻo 36 phố chó - một mảng văn hóa ẩm thực thú vị của Sài Gòn. “Làng  
cỗ Cổ Tự” của tác giả Trần Quốc Thịnh (2006) cũng đề cập đến kỹ thuật giết  
mổ, kỹ thuật thui và cách chế biến thịt chó mang đặc trưng riêng của làng Cổ  
Tự, huyện Võ Nhai, tỉnh Bắc Ninh. Thịt chó Đông Lỗ, thịt chó Vân Đình  
(Nguyễn Hữu Thức: 2010) với các cách chế biến thịt chó đặc biệt. Thứ ba, thịt  
chó từ góc nhìn y - sinh học. Danh y Tuệ Tĩnh có lẽ là Người đầu tiên nhắc  
đến thịt chó như một phương thuốc trong y học trong tác phẩm Nam Dược  
Thần Hiệu. Ngoài ra, trong y văn hiện đại phải kể đến công trình nghiên cứu  
của Bác sỹ Đỗ Tất Lợi (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam: 2004) đã hệ  
thống đầy đủ công dụng và liều dùng các bộ phận của loài chó có tác dụng  
chữa bệnh trong y học. Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu, giới thiệu  
những món ăn, bài thuốc bổ dưỡng chế biến từ thịt lợn, thịt dê, thịt bò, thịt  
chó (Hà Kiến, Tưởng Thúc Khải, Phạm Đức Huân: 2004). Thứ tư, các tài liệu  
đề cập đến thịt chó qua hướng dẫn đi sâu vào cách chế biến món ăn: Đinh Bá  
Châu, Nguyễn Thị Nhâm, Đinh Vũ: 1991; Nguyễn Trúc Chi: 2006; Văn Châu  
(Món ăn Việt Nam: 1984) ... Ngoài ra, phải kể tới nghiên cứu về món thịt chó  
của người Hàn Quốc trong cách nhìn nhân học văn hóa (Mai Đặng Hiền  
Quân: 2010) lý giải vấn đề người Hàn Quốc ăn thịt chó.  
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm về món ăn thịt chó.  
Tuy nhiên, phân tích các nguồn tài liệu nêu trên, chúng tôi nhận thấy có hai  
khuynh hướng chính khi nói đến món thịt chó:  
a) Hầu hết các phản ánh của văn chương và các nghiên cứu xã hội đã  
có chủ yếu quan tâm mô tả cách thức chế biến món ăn và cảm thụ cái sự thỏa  
mãn thú ăn chơi tinh tế của người ăn trong khi ý nghĩa xã hội của món ăn  
3
thường chưa được chú trọng phân tích. Triết lý ăn uống và sự kết hợp các  
thành phần thực phẩm trong chế biến đã được chú trọng nhưng chưa có tính  
hệ thống và còn quá chung chung.  
Mặc dù thịt chó được phản ánh rộng rãi trong kho tàng tục ngữ ca  
dao, dân ca và trong đời sống hàng ngày nhưng tiếp cận từ tầng vĩ mô lại là  
một thách thức khó vượt qua do phương pháp nhân học đòi hỏi thông tin phải  
được thu thập trong một không gian văn hóa – xã hội càng cụ thể càng tốt.  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn các hộ gia đình tham gia kinh doanh  
giết mổ chó (có chủ hộ kinh doanh, các thành viên trong gia đình và người  
làm thuê) và người buôn chó để khảo sát nghề chế biến thịt chó, từ một thú  
ẩm thực gia đình, đang trở thành một công nghiệp chế biến thực phẩm như thế  
nào? Chúng tôi cũng cố gắng tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của họ  
trong khi tham gia giết mổ chó, một nghề đặc biệt vì quan niệm của xã hội về  
nghề này rất khác nhau. Đồng thời, để nghiên cứu cách người ta ăn thịt chó  
thế nào, chúng tôi tập trung vào các nhà hàng bán thịt chó, khách hàng ăn thịt  
chó. Tôn giáo, dân tộc, giới, lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp khác nhau  
được thu thập để tìm hiểu xem các yếu tố này có ảnh hưởng đến lý do ăn hay  
không ăn thịt chó trong cộng đồng.  
b) Thịt chó như một vị thuốc đã được nói đến từ lâu trong y văn, nhưng ý  
nghĩa tôn giáo đằng sau món ăn chưa được lý giải. Năm 2009, dịch tả bùng phát  
trên cả nước được cho là có liên quan đến thịt chó thì vấn đề an toàn thực phẩm  
trong chế biến, phân phối và bảo quản thịt chó đã được báo chí truyền thông quan  
tâm nhưng chưa có công trình nghiên cứu sâu hơn về khái cạnh này.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Người Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn xem chó là con vật nuôi thân  
thiết với con người. Chó được xem là người bạn bốn chân sớm nhất của loài  
người. Con chó tinh khôn, hiểu được ý người, trung thành với chủ, thậm chí  
sẵn sàng xả thân bảo vệ chủ. Con chó hay họ chó (canidae) được thuần hóa từ  
rất sớm, có lẽ từ chó sói. Các tài liệu đều cho rằng thịt chó ngon, bổ, dùng để  
chế biến được nhiều món ăn ngon, được nhiều người ưa thích. Hiếm có món  
ăn nào của Việt Nam mà lại có nhiều tên gọi như thịt chó: “thịt cầy”, “cây  
còn” (con cầy), “mộc tồn”, “nai vườn”, “thịt sư tử đất”, “cờ tây”, “hương  
nhục”, “thịt rồng”, “thịt hổ đồng”, v.v.. Những tên gọi khác nhau dường như  
cho thấy món ăn này vừa được tôn sùng, đề cao, vừa như ngại ngùng gọi ra  
tên thật của nó. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng trong khả năng có  
thể, chỉ cái cách gọi tên của món ăn để hiểu được tính phong phú đa dạng và  
quan niệm khác nhau của dân gian về món ăn này.  
Địa bàn khảo sát chính của chúng tôi là tại Phường Dương Nội, quận  
Hà Đông, Thành phố Hà Nội, một địa danh gần đây nổi lên như một công  
xưởng chế biến, giết mổ chó. Hàng ngày tại nơi đây cung cấp khoảng 3 tấn  
thịt chó cho nhu cầu sử dụng thịt chó của dân Hà Nội (Hà Nội Mới cuối tuần,  
số 21, ngày 30/5/2009  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Để triển khai thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu, chúng tôi sử  
dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:  
Trọng tâm nghiên cứu của luận văn này là nhằm trả lời câu hỏi thịt  
chó được chế biến, tiêu thụ và thưởng thức như thế nào?; tại sao người ta ăn  
hay không ăn thịt chó?; và các quan niệm khác nhau về nghề giết mổ và về  
những người ăn thịt chó trong cộng đồng.  
Nguồn tư liệu chủ yếu được dùng trong luận văn gồm các thông tin  
được thu thập ở địa bàn nghiên cứu từ các hộ kinh doanh giết mổ chó và các  
nhà hàng bán thịt chó trong địa bàn. Ngoài ra trong các thông tin thống kê do  
chính quyền địa phương cung cấp cũng rất có giá trị để hiểu thêm về nghề chế  
biến thịt chó trong mối liên hệ với bối cảnh thay đổi của kinh tế xã hội địa  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
4
phương. Về thông tin định lượng, chúng tôi thu thập và tổng hợp các số liệu có  
sẵn ở địa phương, kết hợp với các số liệu khác bằng điều tra thực địa, chúng tôi  
đã tập hợp được một số cơ sở dữ liệu khá đầy đủ về tất cả các hộ kinh doanh  
giết mổ chó và các cửa hàng bán thịt chó, những người làm thuê, lượng khách  
hàng mua thịt chó về chế biến và lượng khách ăn thịt chó tại các nhà hàng trên  
địa bàn.  
Mở đầu: Đây là phần dẫn luận quan trọng nhằm xác định hướng  
nghiên cứu chính của luận văn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn cũng như những  
đóng góp của luận văn.  
Chương 1: Quá trình chuyển đổi kinh tế tại phường Dương Nội và sự  
hình thành dịch vụ chế biến thịt chó ở đây. Trong chương này, chúng tôi tập  
trung giới thiệu khái quát về địa bàn nghiên cứu, các đặc điểm lịch sử, kinh tế,  
xã hội, văn hóa tự nhiên của phường Dương Nội. Đặc biệt nhấn mạnh sự tác  
động của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế, văn hóa, xã hội của một xã mới  
lên phường. Các yếu tố này được cho là có tác động đáng kể đến sự hình  
thành và phát triển của một trong những “vương quốc thịt chó” của Hà Nội.  
Chương 2: Dương Nội: Vương quốc thịt chó? Chương này dựa trên  
phân tích mức độ, quy mô, bản chất mạng lưới của nghề cung ứng thịt chó tại  
Dương Nội để lý giải sự phát triển, tồn tại của nghề này tại Dương Nội. Bên  
cạnh đó, bước đầu tìm hiểu cuộc sống của những người làm nghề giết mổ chó;  
sự tác động của nghề này đối với kinh tế, văn hóa, y tế, môi trường của cộng  
đồng.  
Thông tin định tính được xem là một nguồn thông tin chủ đạo của luận  
văn. Các quan sát trực tiếp tại các hộ gia đình và cửa hàng cho phép chúng tôi  
có nhiều thời gian trò chuyện với người dân để hiểu được các mối quan hệ trong  
gia đình, chủ - thợ, hàng xóm, cộng đồng, khách hàng. Tham gia trực tiếp vào  
đời sống của người bán hàng như làm hàng ăn cùng các hộ kinh doanh cũng là  
một trải nghiệm cho tôi nhiều kiến thức thú vị. Sử dụng phương pháp phỏng  
vấn phi cấu trúc, coi phỏng vấn như cuộc trò chuyện để có thể lắng nghe  
những câu chuyện đời sống, những suy nghĩ, những băn khoăn, định hướng  
tương lai của những người làm nghề, những người đã từng làm nghề, suy nghĩ  
của những người dân về nghề giết mổ. Các cuộc thảo luận nhóm đã giúp  
chúng tôi làm sâu thêm giả thuyết nghiên cứu và nhận định sống động, hữu  
ích từ chính kiến của người dân.  
Chương 3: Nghệ thuật chế biến thịt chó trong ẩm thực của người Việt.  
Kiến thức về cách chế biến thịt chó tại Dương Nội và một số cửa hàng xung  
quanh khu vực Dương Nội sử dụng thịt chó ở đây. Đồng thời nghiên cứu giải  
thích văn hóa ăn thịt chó của người Việt.  
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các kiến thức khác liên quan đến như  
dịch tễ học, môi trường học để đánh giá sự ảnh hưởng của nghề giết mổ chó  
đối với môi trường, dịch bệnh và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Để hiểu  
rõ thêm về thịt chó trong văn hóa ẩm thực của người Việt, luận văn còn tham  
khảo các nguồn tài liệu khác về phường Dương Nội, đặc tính của loài chó,  
món thịt chó thông qua ca dao, tục ngữ, qua truyện kể của người dân trong  
làng.  
Cuối cùng, các phân tích về thịt chó trong văn hóa ẩm thực của người  
Việt được hệ thống và phát triển trong phần kết luận và những đề xuất cho các  
nghiên cứu tiếp theo.  
5. Cấu trúc của luận văn  
Những nội dung chính của luận văn được trình bầy trong 3 chương chính  
5
1.3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội phƣờng Dƣơng Nội  
1.3.1. Tình hình kinh tế  
Nằm trong vùng “Trăm làng nghề, Trăm làng truyền thống”, lại nằm sát  
vùng đất Kinh Kỳ - Kẻ Chợ - Thăng Long - Hà Nội, trên đầu mối giao thông  
quan trọng, các làng La Nội, La Dương và Ỷ La thuộc Dương Nội ngày nay  
được người Việt cổ khai phá từ rất sớm.  
CHƢƠNG 1  
TÓM TẮT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU: PHƢỜNG DƢƠNG NỘI,  
QUẬN HÀ ĐÔNG  
Nằm trong cái nôi văn hóa của cả một khu vực ven sông Nhuệ, từ Vạn  
Bảo (nay là Vạn Phúc) đến La Tinh, nên làng La Cả cũng mang dấu ấn chung  
về một nghề nổi tiếng: nghề dệt lụa. Sản phẩm chính của nghề dệt La Cả, La  
Dương là the, lụa. Trong đó the La Cả nối tiếng cả nước “The La, lĩnh Mỗ,  
chồi Phùng” hoặc “The La, lụa Vạn, vải Canh”.  
1.1. Làng Dƣơng Nội trong không gian địa – văn hóa Hà Đông  
Quận Hà Đông là một quận mới phía tây của Thành phố Hà Nội, cách  
trung tâm Thủ đô 11km, là một trong những quận có tốc độ đô thị hóa nhanh,  
có vị thế là cửa ngõ phía tây tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Phường Dương Nội  
là một trong những phường mới từ xã lên phường của quận Hà Đông. Phía Bắc  
tiếp giáp với xã An Khánh (huyện Hoài Đức) và xã Tây Mỗ (huyện Từ Liêm).  
Phía Nam giáp xã Đông La (huyện Hoài Đức) và phường Yên Nghĩa. Phía  
Đông giáp xã Đại Mỗ (huyện Từ Liêm) và phường La Khê. Còn phía Tây giáp  
với xã La Phù (Huyện Hoài Đức).  
Năm 2009, xã Dương Nội chuyển thành phường Dương Nội, cơ cấu  
kinh tế được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tỷ trọng  
công nghiệp, thương mại dịch vụ tăng lên. Những năm 2000, sau khi các cửa  
hàng bán đồ gỗ tại Đại Mỗ (Từ Liêm) phát triển, thì một số hộ gia đình nắm  
bắt được nhu cầu và mở các xưởng xẻ gỗ chuyên cung cấp gỗ cho các chủ cửa  
hàng đồ nội thất tại Đại Mỗ (Từ Liêm). Hiện nay, các ngành nghề được đầu tư  
phát triển mạnh như: may gia công, dệt, nhuộm, in, chế biến gỗ, các nhóm  
ngành dịch vụ được quan tâm phát triển.  
1.2. Dƣơng Nội trong lịch sử các làng La  
Dương Nội trước kia gồm 3 thôn (La Nội, Ỷ La và La Dương), là  
một trong những làng nằm trong hệ thống “Bảy làng La, ba làng Mỗ” hay  
“Bảy làng La, ba làng Xốm” được nhắc đến nhiều trong lịch sử văn hóa vùng  
cửa ngõ phái Tây Thủ đô Hà Nội. Đây cũng được xem là cái nôi của người  
Việt cổ, thuộc hệ thống các làng hình thành từ rất sớm.  
Hiện nay, trên địa bàn có 55 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các  
ngành nghề khác nhau, 20 cơ sở dệt nhuộm. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất  
dệt nhuộm, sản xuất nilon, sản xuất đồ uống, sản xuất các sản phẩm khác,  
kinh doanh và chế biến gỗ hoạt động thường xuyên, liên tục. Hiện tại có  
khoảng 52 hộ gia đình đang kinh doanh buôn bán tại chợ Đồng Xuân. Qua  
bảng cơ cấu ngành nghề kinh doanh thương mại, dịch vụ tại Dương Nội, so  
với các dịch vụ khác đóng trên địa bàn phường, nghề kinh doanh thịt chó (giết  
mổ chó, quán bán thịt chó) có số lượng đông sau ngành dịch vụ, sản xuất tiêu  
dùng trong cơ cấu ngành kinh doanh dịch vụ thương mại.  
Ngày 01/3/2006, xã Dương Nội thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.  
Sau khi tỉnh Hà Tây hợp nhất với thành phố Hà Nội, tháng 6-2009, phường  
Dương Nội thuộc quận Hà Đông được thành lập gồm 14 tổ dân phố: La Nội:  
Hoàng Văn Thụ, Quang Minh, Hòa Bình, Thống Nhất; Ỷ La: Quyết Tâm,  
Trung Kiên, Đoàn Kết, Thắng Lợi, Vinh Quang, Hoàng Hanh; La Dương:  
Thành Công, Trung Bình, Quyết Tiến, Kiên Quyết.  
6
1.3.2. Đời sống văn hóa xã hội  
đổi. Chính sự phát triển kinh tế và gia tăng quá trình đô thị hóa, biến đất nông  
nghiệp thành đất ở, đât san xuât va kinh doanh dịch vụ , xây dựng các khu đô  
thị la môt trong nhưng nguyên nhân quan trong lam cho không gian cảnh quan  
Tình hình dân số  
́
̉
́
̀
Tính đến tháng 6/2012, tổng dân số của phường Dương Nội hiện  
nay là 19.578 người, trong đó nam 9.846, nữ 9.741. Dương Nội là một trong  
những phường có số dân đông nhất quận Hà Đông. Trên địa bàn phường có  
một số trường chuyên nghiệp, công ty đóng địa điểm như: Trường đào tạo bồi  
dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (trực thuộc Viện KSND Tối cao), Công ty VMEP  
(sản xuất xe máy). Ngoài ra khu vực xung quanh phường có 01 trường Đại  
học Thành Tây, 01 trung cấp kinh tế, Thiên đường Bảo Sơn, binh đoàn 12, sư  
đoàn 301. Theo đánh giá của Công an phường thì số lưu trú từ quận, huyện  
khác trong khu vực Hà Nội chiếm hơn nửa tổng số dân lưu trú, và phần lớn  
thuộc các huyện của tỉnh Hà Tây cũ, còn lại một số người thuộc các huyện  
Đông Anh, Sóc Sơn. Số lượng người từ Nam Định, Thanh Hóa chiếm số  
lượng đông nhất so với các tỉnh thành khác. Đa số người Thanh Hóa làm việc  
tại các cơ sở kinh doanh giết mổ chó và các quán bán thịt chó. Tại Dương Nội  
xuất hiện dân cư của các địa phương khác chủ yếu từ các tỉnh phía nam, đa số  
là nữ giới, làm các ngành nghề lao động tự do, dịch vụ thương mại.  
Không gian văn hóa truyền thống  
̀
̣
̃
̣
̀
kiến trúc nơi đây biến đổi theo hướng từ truyền thống sang đô thị. Sự phát  
triển dân số khiến cho các gia đình luôn đối mặt với nguy cơ xé nhỏ không  
gian về mặt đất đai, quy hoạch và cư trú. Không gian đường làng , ngõ xóm  
vố n nhỏ bé thì nay dường như trở thành một nhân tố là m cản trở sự phá t triể n  
sản xuất công nghiệp và dịch vụ kinh doanh. Với sự xuất hiện quan trọng của  
các trục đường giao thông đã tạo điều kiện cho Dương Nội rút ngắn khoảng  
cách tới các khu trung tâm Hà Nội. Bên cạnh sự thay đổi về kiến trúc, lối sống  
đô thị theo kiểu thành phố độc lập, lối sống công nghiệp coi trọng tốc độ và  
hiệu quả, lối sống thị trường coi trọng sự hưởng thụ và sòng phẳng bắt đầu  
được xuất hiện.Thói quen ăn uống, tiêu dùng cũng có thay đổi. Sự gia tăng  
của các loại hình dịch vụ góp phần là m thay đổi cơ cấu và hình thức bữa ăn  
của gia đình truyền thống. Một bộ phận người làng thường xuyên ra ngoài ăn  
sáng ở các nhà hàng, quán phở, bún, ăn nhanh ở những quán cà phê. Tuy  
nhiên, nhiều hộ dân đã bán đất dịch vụ để xây nhà, mua sắm thiết bị gia đình,  
một bộ phận đã sử dụng tiền không đúng mục đích tham gia cờ bạc, sử dụng  
ma túy, mại dâm, tệ nạn xã hội dẫn đến nhiều gia đình nợ nần, bị xiết  
nợ…Tình trạng bong bóng của thị trường bất động sản và suy thoái kinh tế đã  
dẫn đến vỡ nợ, tín dụng đen, xuất hiện tình trạng đòi nợ có sử dụng vũ khí,  
gây mất trật tự công cộng.  
La Cả và La Dương là một trong những các làng cổ, nằm sát Thăng  
Long - Hà Nội, nằm trên vị trí đầu mối giao thông quan trọng. Từ bao đời, Kẻ  
La đã nổi tiếng về tài dệt the, ca dao cổ có câu “The La, lĩnh Bưởi, chồi  
Phùng”. Mặc dù hai làng La Nội và Ỷ La có hội đồng kỳ mục, hội đồng lý  
dịch riêng, song lại được gọi chung là làng La Cả, thờ chung một thành  
hoàng, chung đình, chùa, chung hương ước, và chung cả lễ hội hàng năm.  
1.4. Quá trình đô thị hóa ở Dƣơng Nội  
Tiểu kết chƣơng 1  
Các tư liệu hiện có cho thấy Dương Nội là một trong những làng cổ  
xưa, nơi vẫn còn lưu giữ được nhiều đặc điểm văn hóa truyền thống lâu đời  
trong nếp sống, phong tục tập quán. Nghề dệt the, lụa của làng từ xưa đã làm  
cho làng được cả nước biết đến như một trung tâm dệt lụa cổ truyền nổi tiếng.  
Đây cũng là nơi tập trung đông dân cư, trung tâm trao đổi, giao lưu hàng hóa  
Có thể nói, từ những năm 1980, nhất là từ nhữ ng năm 1990, dưới tác  
động của các chương trình đổi mới, của nền kinh tế thị trường, đô thị hóa  
mạnh mẽ, cấu trúc kinh tế và xã hội của nhiều làng quê cũng có những biến  
7
của vùng thời kỳ trước. Sau này nhiều ngành nghề được phát triển, các công  
xưởng sản xuất được thành lập, thu hút nhiều lao động nơi khác tới làm việc.  
Với nhiều sự biến chuyển của địa giới hành chính đã tạo điều kiện  
cho phường Dương Nội có hệ thống giao thông được thuận lợi, làm chỗ dựa  
cho đời sống của người dân trong sản xuất và đi lại. Sự xuất hiện của các khu  
đô thị, trường học, các công ty, nhà máy, xưởng thủ công, công nghiệp cùng  
với sự gia tăng dân số đã tạo cho Dương Nội có nhiều điều kiện phát triển về  
các ngành nghề thương mại dịch vụ. Nhiều hộ gia đình đã nhận thức và nắm  
bắt được nhu cầu của người dân trong làng và khu vực xung quanh đã tự tạo  
việc làm cho bản thân và gia đình thông qua mở rộng các dịch vụ thương mại.  
Nghề giết mổ chó là một trong những ngành nghề đã giải quyết vấn đề việc  
làm và đem lại một nguồn thu nhập cho gia đình và xã hội. Quá trình hình  
thành và phát triển của nghề thịt chó tại Dương Nội sẽ được chúng tôi phân  
tích ở các chương sau đây  
Dương). Hộ gia đình anh T. là một trong những hộ xây dựng nhà ở trên đoạn  
đường 72 đầu tiên ở La Dương vào đầu những năm 1990.  
Năm 2004, đánh dấu thời điểm xuất hiện “ồ ạt” các hộ kinh doanh  
chó. Thời hoàng kim của nghề thịt chó ở làng vào những năm 2005- 2010,  
mỗi ngày tại đây cung cấp trung bình có từ 7 đến 8,5 tấn thịt chó móc hàm  
được xử lý, sau đó được đem đi tiêu thụ tại Hà Đông, Hà Nội. Năm 2010, số  
lượng cửa hàng bán thịt chó lên tới 28 hộ kinh doanh. Tính đến tháng 9/2012,  
chỉ tồn tại còn có 18 hộ kinh doanh. Theo danh sách quản lý của Thú y  
phường, các hộ kinh doanh thường lấy tên vợ và chồng để đặt tên cửa hàng  
cho tiện việc buôn bán, và tránh bị nhầm lẫn giữa các hộ kinh doanh như nhà  
Vinh Sử, Hợp Luân, Mai Tình. Các hộ kinh doanh giết mổ chó chủ yếu tập  
trung tại hai thôn Ỷ La (06 hộ) và tập trung đông nhất tại La Dương (12 hộ)  
chiếm 67% tổng số hộ kinh doanh. Tuy nhiên số lượng các hộ kinh doanh  
không ổn định, trừ một số nhà làm lâu năm như nhà Vinh Sử, Hợp Luân. Có  
hộ trước đã làm, sau bỏ một thời gian, rồi nay lại quay lại làm nghề như cửa  
hàng (nhà Hoài Thơ). Số lượng lò mổ tăng vào đợt cuối năm sau rồi lại nghỉ.  
Đặc điểm của các lò giết mổ chó ở Ỷ La (06/06 hộ) đều được kinh doanh, giết  
mổ ngay tại nhà. Nhà các hộ trên đều xây dựng trên trục đường chính Ỷ La -  
La Nội, thuận tiện cho việc buôn bán. 12 cửa hàng kinh doanh giết mổ chó ở  
La Dương được xây dựng tạm bợ trên khu đất nông nghiệp, cách khu dân cư,  
nhưng thuận tiện với đường giao thông, trục đường 72.  
CHƢƠNG 2  
TỪ LÀNG LỤA ĐẾN “VƢƠNG QUỐC THỊT CHÓ”  
2.1. Sự hình thành và phát triển của “phố chó” Dƣơng Nội  
Trước kia, khi nói đến các làng La, người ta nghĩ ngay đến những  
làng nông nghiệp trù phú có nghề thủ công dệt lụa nổi tiếng. Nay nói đến La  
Cả, người ta bắt đầu dùng tên mới “Phố Thịt Chó”. Con phố có tên gọi đặc  
biệt này dùng để chỉ đoạn đường từ Đại Mỗ (Từ Liêm) đi An Khánh (Hoài  
Đức), đi qua địa bàn thôn La Dương (Dương Nội), hay còn được gọi là Đường  
72. Dù đoạn đường kéo dài chưa đến 500m nhưng đã có đến 12 cửa hàng kinh  
doanh giết mổ chó, 06 quán ăn bán thịt chó.  
2.2. Quy mô thu mua, giết mổ và cung ứng thịt chó  
Nguồn gốc chó  
Các tài liệu cho biết ở nước ta có bốn giống chó bản địa, bao gồm:  
giống chó thường có cỡ trung bình, bộ lông vàng tuyền, là gốc giống chó săn  
ở Việt Nam. Đến Dương Nội, có thể thấy những hộ kinh doanh chó thịt  
thường đặt từ 3 đến 4 cũi sắt đặt trước cửa hàng. Đó là dấu hiệu cho thấy họ  
kinh doanh thu mua chó thịt. Hiện nay, theo như các chủ lò mổ cho biết nguồn  
Theo các hộ dân kinh doanh ở La Dương cho biết, hộ đầu tiên sáng  
lập ra nghề giết mổ chó tại Dương Nội là gia đình anh Phạm Bá T.(khu La  
8
chó chủ yếu được tuyển chọn do các thợ chuyên đi thu gom chó ở Thanh Hóa  
chuyển về. Rất ít địa phương ở miền Bắc nuôi chó theo kiểu kinh doanh lấy  
thịt. Do quá trình hình thành các khu đô thị, các xã lên phường, có ít nhà nuôi  
chó nên số lượng chó ở miền Bắc giảm mạnh, khan hiếm hàng. Chính vì vậy  
mà trong những năm gần đây, tình trạng cẩu tặc (trộm chó) ngày một gia tăng  
do giá thành một con chó có giá trị cao. Ngay cả các chủ hộ kinh doanh không  
biết rõ nguồn nhập chó do các chủ chó từ Thanh Hóa mang tới. Để biết thêm  
về nguồn chó, chúng tôi đưa ra các câu hỏi liên quan với một số hộ và được  
các hộ cho biết thông tin như sau:  
Nhìn chung, các hộ kinh doanh ở Dương Nội không quan tâm nhiều tới  
nguồn gốc chó. Họ chỉ biết được thông tin qua chủ kinh doanh chó. Thỉnh  
thoảng cũng có một số chủ chó xuất trình được giấy phép nhập chó từ cửa  
khẩu. Các hộ kinh doanh ở đây chủ yếu quan tâm tới chất lượng, giá thành của  
con chó.  
3.3. Công nghệ giết mổ chó  
Cách chọn chó  
Việc lựa chọn chó là một trong khâu đầu tiên và cũng quan trọng nhất  
trong quá trình giết mổ, ảnh hưởng tới kinh tế và sự tồn tại phát triển của  
chính các hộ kinh doanh.  
Theo như các hộ kinh doanh ở Dương Nội, thống kê có 11 chủ chó  
lớn chuyên bỏ mối hàng cho các hộ đều có nguồn gốc từ xã Thành Lộc, huyện  
Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Đây là làng nghề nổi danh về xuất nhập khẩu chó ở  
miền Bắc. Có thể nói Thành Lộc là nơi cung cấp nguồn hàng chính cho  
Dương Nội. Ngoài ra các hộ còn mua của người dân nơi khác đem bán, tuy  
nhiên số lượng này rất ít.  
Có rất nhiều ý kiến cho rằng chó ngon nhất, đắt nhất là khi chuẩn bị đi  
tơ; chó cái và cân nặng từ 12 đến 15kg là ngon nhất. Dân gian còn xếp thứ tự:  
“nhất vàng, nhị đen, tam đốm”; hoặc “nhất vện, nhị vàng, tam khoang, tứ  
mực, gặp lúc cùng cực, mới xực chó trắng”. Ngoài ra, các hộ kinh doanh cho  
biết do đều làm ăn lâu dài, cung cấp chính cho các nhà hàng, quán ăn nên  
hàng nhập về đều được chọn còn sống, không hay mua các loại chó đã bị chết,  
mặc dù giá cả có rẻ đi nữa.  
Hàng ngày vào buổi đêm tầm chín đến mười giờ tối, các xe chó đều  
qua các lò mổ để giao hàng. Xe chó phải đi đêm do có nhiều đoạn cấm xe tải  
đi vào ban ngày nên các xe chó thường đến tầm tối. Mỗi xe chở khoảng ba  
mươi lồng chó, trên dưới ba tấn chó. Thường cách hai, ba ngày các hộ giết mổ  
lại nhập chó một lần. Sau khi đưa hàng, khoảng một vài ngày sau các hộ kinh  
doanh thanh toán tiền cho các chủ chó. Chó được các chủ xe nhốt trong các  
lồng sắt, mỗi lồng chứa khoảng mười hai đến mười ba con. Các chủ hàng này  
không những cung cấp chó cho riêng từng lò mổ mà còn bán cho nhiều lò  
khác, tùy theo yêu cầu của khách hàng gọi điện. Những nhà lấy nhiều chó sẽ  
được ưu tiên chọn hàng trước rồi mới đến các nhà khác. Những hộ kinh doanh  
giết mổ chó cũng cho biết họ không những chỉ nhập của một chủ chó mà  
nguồn chó được nhập từ nhiều chủ chó khác.  
Bên cạnh những con chó què, thì chó xấu (ghẻ, lở, què) vẫn được các hộ  
mua, tuy nhiên giá cả sẽ rẻ hơn so với các loại chó khác.  
Qua điều tra cho thấy: Ở Dương Nội, các hộ kinh doanh giết mổ chỉ  
nhập những con chó đẹp, còn những con bị loại, các chủ chó đưa lên vùng  
Hoài Đức, Bắc Ninh, Bắc Giang tiêu thụ. Tuy nhiên trong quá trình làm nghề,  
nhiều hộ không tránh khỏi các trường hợp khi gặp phải các mối hàng không  
đạt chất lượng. Tuy nhiên, không phải lúc nào nguồn hàng cũng đủ cung cấp  
cho các hộ ở Dương Nội. Trong quá trình kinh doanh, họ cũng gặp nhiều khó  
khăn trong việc lựa chọn nguồn hàng.  
9
Nghề kinh doanh giết mổ chó cũng là một ngành có mức độ rủi ro cao.  
Khi nguồn hàng không tiêu thụ được ngay sẽ dẫn đến tình trạng chó bỏ ăn hao  
sụt cân dẫn đến hàng không ngon, khách hàng chê, giá cả sẽ bị giảm đi.  
Kỹ thuật giết mổ  
ba con chó cùng một lúc trong vòng năm phút. Ruột chó được rửa sạch, rồi  
lộn trái, lấy ngón tay kẹp lấy ruột mà tuốt sạch.  
Thui chó: Là bước quan trọng nhất trong quá trình làm thịt chó. Phải  
biết cách điều chỉnh nhiệt độ của rơm để thui chó. Trước kia người ta thường  
quật mỡ khắp mình chó trong quá trình thui. Phải thui cho da có những vết nở  
nhỏ sùi vệt trắng rồi mông má tiếp tục cho chó thêm phần hấp dẫn. Người thui  
một tay rê mớ rơm đang cháy, tay kia quạt cho ngọn lửa táp vào thân con chó,  
khi thử lấy que gạt da thấy vàng là được. Nếu thui quá cháy sẽ làm nát da, còn  
thui non thì thịt không được thơm. Thui chó phải bằng rơm nếp, rơm sạch,  
rơm mới thì mùi thịt mới thơm ngon, da mới chín bóng. Tuy nhiên hiện nay  
rơm thui chó chủ yếu là rơm tẻ, được thu mua tại một số làng lân cận vẫn  
trồng lúa như bên La Tinh, Cầu Đôi (huyện Hoài Đức). Con chó nào già thui  
nhiều lửa, còn con non thui ít hơn. Theo các thợ ở đây, thịt chó ngon hay  
không phụ thuộc nhiều vào quá trình thui.  
Cứ tầm 3-4 giờ sáng, các nhà đã dậy làm hàng để kịp sáng sớm giao  
cho các nhà hàng ở Hà Nội, giao cho các hộ bán thịt chó tại các chợ dân sinh.  
“Sáng ra khu này đông lắm, nhà nào cũng tập nập người ra vào như một dây  
truyền sản xuất, mỗi người một việc”. (Cô H, La Dương)  
Kỹ thuật giết mổ chó được thực hiện qua các bước như sau:  
Cắt tiết: Trước kia, người ta trói hai chân trước của con chó quặt ra  
sau lưng, thít chặt mõm bằng lạt giang hoặc lạt tre tươi. Cắt một mảng da ở cổ  
cho lộ các mạch máu, lấy que vót nhọn lựa động mạch (tìm tia) rồi dùng dao  
cắt. Hiện nay, họ sử dụng một chiếc kìm sắt đường kính 10-12 cm, dài tầm  
1mét, họ móc vào cổ con chó. Lúc này cổ con chó đã bị kẹp chặt nên không  
cử động được, rồi lôi chó ra khỏi chuồng. Sau đó người ta sử dụng chầy gỗ to  
đập vào sống mũi chó, làm như vậy chó bị choáng, ngất, và người làm cắt tiết  
chó cho vào chậu.  
Kỹ thuật mổ chó: mổ từ hậu môn, khoét quanh ruột con vật rồi lôi  
ruột chó qua hốc xương, dạ dày, tim cật ra. Lôi ở cổ chó chỗ cắt tiết ra cuống  
họng. Chó được xả bốn đùi theo thớ thịt và khớp xương thành bốn rảnh thịt,  
thân chó được rạch hai mép.  
Sau khi hết tiết chó mới chết hẳn. Người làm nhúng chó vào thùng  
nước nóng, vò cho nước thấm tới da. Nước làm chó không được quá nóng  
chỉ tầm khoảng 70 độ, nếu quá già lông chó sẽ cháy và sẽ không làm được  
sạch lông. Nếu nước chưa đủ tầm, lông chó sẽ không rụng được. Vì vậy  
nhiệt độ nước làm lông chó rất quan trọng. Sau đó họ cho chó vào chậu  
vặt lông bằng máy.  
Trung bình khoảng 10 phút, một người có kỹ thuật thành thạo có thể  
thịt xong một con chó.  
Pha hàng: Đối với những nhà hàng chuyên mua cả con, cửa hàng sẽ  
mang cả con tới quán ăn cho khách. Còn bán cho người dân mua về, khách  
mua chỗ thịt nào người bán hàng sẽ bán chỗ đấy. Sau khi thống nhất giá cả, số  
lượng người bán hàng hỏi khách thái để hấp hay để nấu rượu mận. Tùy từng  
món có cách nấu khác nhau.  
Máy làm lông chó: Loại máy này được phát triển lên từ máy vặt lông  
gà của Nga, bày bán nhiều tại Nhổn, Trọng lượng máy khoảng 58 kilogam;  
đường kính lồng 55 cm; Kích thước: 60x60x90 cm; Tỉ lệ sạch lông đến 98%.  
Máy có hình trụ, trên lồng tròn, đường kính 50-55cm, có các tay quay bằng  
cao su, có hai đường thoát. Máy chạy bằng điện ba pha. Máy có thể vặt lông  
Việc giết mổ chó ở Dương Nội đã có nhiều sự cải tiến so với trước. Thiết  
bị máy móc được sử dụng nhiều trong quá trình giết mổ, đã làm tăng năng suất giết  
10  
mổ tạo nên các công xưởng giết mổ, chế biến thịt chó có quy mô lớn. Có ngày có  
hộ có thể giết mổ đến trên trăm con chó.  
Giá nhập chó phụ thuộc vào mùa, những tháng mùa đông, giá cả thịt  
chó sẽ cao hơn so với các tháng mùa hè. Cụ thể theo như ghi chép sổ thanh  
toán của nhà Hợp Luân, giá một kg thịt chó đưa cho các nhà hàng những  
tháng cuối năm có giá 90 ngàn đồng/kg thịt còn lẫn xương, 110 ngàn đồng/kg với  
loại thịt bóc sạch xương. Còn vào tháng năm, tháng sáu, giá một kg thịt chó lọc  
xương chỉ còn 90.000 đồng/kg. Để tìm hiểu sâu hơn về thu nhập từ nghề giết  
mổ chó, trong mục này, chúng tôi sử dụng những nghiên cứu trường hợp, dựa  
trên thống kê về cơ cấu thu nhập và chi tiêu hàng tháng của một số hộ gia đình  
theo các thông tin: lượng tiền, nguồn tiền, kết hợp với những lý giải của người  
trong cuộc xung quanh việc thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình.  
Qua phân tích tình hình cơ cấu kinh tế của 03 trường hợp hộ kinh  
doanh cho thấy: Tuy mức độ, quy mô kinh doanh khác nhau song nguồn kinh  
tế chủ yếu của gia đình là đều từ nguồn giết mổ đem lại (01 hộ chiếm 90%  
kinh tế của gia đình; 02 hộ chiếm 100% kinh tế của gia đình). Nguồn kinh tế  
từ nghề giết mổ chó không những chi trả “thoải mái” cho cuộc sống hàng  
ngày của gia đình như ăn uống, điện nước sinh hoạt, đầu tư học hành…mà  
còn giúp họ có vỗn tích lũy riêng. Tùy theo quy mô kinh doanh mà mức tích  
lũy khác nhau. Các hộ chuyên đưa hàng cho các nhà hàng (nhà Vinh Sử, nhà  
Hợp Luân) có nguồn tích lũy lớn hơn nhiều so với hộ kinh doanh nhỏ lẻ (nhà  
Chiến Lan).  
2.4. Mạng lƣới phân phối thịt chó  
Hàng tháng bắt đầu từ ngày mồng ba (âm lịch) trở đi, các cửa hàng  
kinh doanh thịt chó bắt đầu hoạt động. Phần lớn số lượng thịt chó ở Dương  
Nội được đưa tới các cửa hàng ăn uống tại khu vực Hà Đông, Thanh Xuân,  
Từ Liêm và Cầu Giấy.  
Trước kia các hộ kinh doanh chủ yếu chỉ bán cho người dân đi lại  
qua vùng, sau khi hình thành tuyến phố chó, thu hút nhiều nhà hàng ở Hà  
Đông, Hà Nội qua xem hàng và thấy giá cả hợp lý nên người ta đặt hàng cung  
cấp. Thịt chó nhà bà Sử chuyên cung cấp cho của hàng thịt chó như Nhà hàng  
Bắc Ninh, Ánh Sáng, và một số cửa hàng ở Hà Nội (Thanh Trì). Nhà Hợp  
Luân chuyên cung cấp cho các nhà hàng ở Cầu Giấy, Từ Liêm. Nhà Huy  
Hương cung cấp thịt cho nhà hàng Anh Hiếu, Khải Nam Định (La Khê, Hà  
Đông). Bên cạnh việc “đổ buôn” cho các nhà hàng, quán thịt chó, các hộ ở  
đây cũng đều bán lẻ thịt chó cho những người đi qua đường, hộ gia đình trong  
làng. Lượng tiêu thụ vào những ngày cuối tháng cao gấp hai lần, thậm chí gấp  
ba lần so với số lượng tiêu thụ vào những ngày đầu tháng. Ngoài ra, theo các  
hộ kinh doanh cho biết vào những ngày nghỉ lễ (giỗ Tổ, Dịp 30/4, Dịp 2/9) số  
lượng thịt chó tiêu thụ mạnh do nhiều nơi, nhiều nhóm tổ chức họp lớp, gặp  
mặt, và thịt chó được sử dụng làm món ăn chính. Ngày 2/9/2012 (ngµy 17/7  
âm lịch), nhà Hợp Luân giao 82 kg thịt chó chó quán Khánh Béo.  
2.5. Cơ cấu thu nhập và chi tiêu trong gia đình  
2.6. Cuộc sống của những ngƣời làm nghề giết mổ chó  
3.6.1.Gia đình chủ hộ kinh doanh  
Kinh tế:  
Bình quân thu nhập mỗi con chó sau khi được giết mổ, các gia đình  
thu về tầm khoảng 70-80.000 đồng. Tuy nhiên nguồn thu nhập này phụ thuộc  
theo mùa: mùa đông giết mổ nhiều nên thu nhập tăng lên. Còn mùa hè mức  
tiêu thụ hàng kém nên thu nhập cũng giảm đi. Vì vậy vào những dịp cuối năm  
nhiều hộ phải thuê thêm người làm.  
Qua khảo sát, các hộ kinh doanh giết mổ chó trừ khu vực Ỷ La, kinh  
doanh ngay tại nhà ở, còn các hộ La Dương đều có nhà trong làng. Cửa hàng  
chỉ là nơi kinh doanh giết mổ và sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù các hộ vẫn sinh  
hoạt tại cửa hàng cho tiện việc kinh doanh, nhưng nhà nào cũng có nhà trong  
11  
làng. Đa số các hộ kinh doanh đều có điều kiện kinh tế khá giả ở làng, nhà cửa  
được xây dựng kiên cố (3-4 tầng), đầy đủ tiện nghi sinh hoạt.  
lo sợ khi người ta giải phóng mặt bằng, thu hồi lại đất, sẽ không có chỗ để bán  
hàng nên đa số có tư tưởng tranh thủ kiếm tiền. Sau khi có vốn sẽ chuyển sang  
kinh doanh thứ khác nhẹ nhàng hơn (trừ những nhà có sẵn điều kiện cơ sở hạ  
tầng ở thôn Ỷ La). Ngoài ra, nhiều nhà mong con cái sau khi có công ăn việc  
làm sẽ thôi không làm nghề này nữa vì quá vất vả. Thực chất nhiều hộ vẫn sợ  
nghề sát sinh, sợ sẽ ảnh hưởng đến con cháu họ sau này.  
Công việc chính của các chủ hộ kinh doanh là quản lý, bán hàng. Còn  
người làm thuê chịu trách nhiệm giết mổ và giao hàng cho các cửa hàng. Còn  
đối với những gia đình không có người làm thuê, chồng chịu trách nhiệm thịt,  
vợ hoặc con làm công đoạn thui chó, bán hàng cho khách. Tuy công việc nặng  
nhọc (làm từ đêm, dậy sớm) nhưng thu nhập từ nghề này đem lại nguồn kinh  
tế rất cao so với các ngành ghề khác.  
Tất cả những khó khăn trên đã tác động nhiều đến sự phát triển lâu dài  
của các hộ kinh doanh.  
Thu nhập giữa các hộ tùy thuộc vào số lượng giết mổ của các hộ.  
Các hộ kinh doanh lớn sẽ có mức thu nhập cao hơn. Tuy nhiên so với các  
ngành nghề kinh doanh khác, nghề giết mổ chó đem lại lợi nhuận đáng kể  
cho các hộ gia đình. Qua khảo sát 18 hộ kinh doanh cho thấy có 16 hộ  
(chiếm 89%) đều làm duy nhất một nghề thịt chó, có 02 hộ (11%) có thêm  
nghề khác như nhà Vinh Sử và nhà Hợp Luân. Mọi thành viên trong các hộ  
gia đình đều cùng tham gia kinh doanh (Trừ một số hộ con cái còn nhỏ, vẫn  
còn phải đi học).  
2.6.2.Cuộc sống của những người làm thuê  
Qua nguồn tài liệu của công an địa bàn, tổ dân phố 2 thôn Ỷ La, La  
Dương cung cấp, có thể nhận thấy số lượng người làm thuê chủ yếu có quê  
gốc từ Thanh Hóa và Sóc Sơn. Công an phường cho biết, do thanh niên ở làng  
không tham gia vào ngành nghề này (công việc nặng nhọc, vất vả, thức đêm,  
lương lại thấp) nên các hộ kinh doanh ở đây phải thuê người các tỉnh khác tới  
làm thuê. Có 14/18 hộ kinh doanh có thuê người làm. Đa số những người làm  
thuê cho các hộ trên đều được các ông chủ buôn chó giới thiệu cho các hộ  
kinh doanh. Có tới 41/42 (97%) người làm thuê là nam giới; chỉ có duy nhất  
01 trong số 42 công nhân giết mổ chó ở Dương Nội là là nữ giới, lao động tại  
nhà bà Vinh Sử.  
Như vậy, kinh doanh giết mổ chó đem lại lợi nhuận rất lớn cho các hộ  
kinh doanh. Các phân tích về tình hình kinh tế hộ gia đình của các trường hợp  
trên cho thấy vai trò của nghề giết mổ chó là chủ yếu trong thu nhập của gia  
đình, đem lại nghề cho nhiều người và cuộc sống của họ được đảm bảo và  
phát triển bền vững.  
Công việc chính của người làm thuê là giết mổ thịt chó và đưa hàng  
cho các nhà hàng. Còn nữ lao động tại nhà bà Sử có nhiệm vụ nấu cơm, dọn  
nhà cửa phục vụ cho các thành viên làm thuê khác trong nhà. Ngoài ra trông  
cháu cho bà Sử chứ không tham gia trực tiếp vào các công đoạn giết mổ chó.  
Qua tìm hiểu cuộc sống của những người làm thuê, cho thấy họ đều có hoàn  
cảnh kinh tế khó khăn, ở quê ruộng ít, lại không có nghề phụ nên lên đây làm  
thuê cho các hộ kinh doanh. Mức lương bình quân của người làm thuê từ 2.5-  
3.5 triệu/tháng, họ được nuôi ăn, ở. So với các nghề khác, lương của họ cao  
Tâm linh:  
Khi đề cập đến vấn đề tâm linh, nhiều hộ kinh doanh rất ngại khi đề  
cập đến vấn đề này. Qua những câu chuyện của một số hộ kinh doanh cho  
thấy: Các hộ kinh doanh trên đều không có ý định kinh doanh lâu dài (trừ  
trường hợp nhà bà Sử). Khó khăn lớn nhất đối với các hộ kinh doanh đó là  
không có địa điểm kinh doanh ổn định. Vì 12/12 hộ kinh doanh tại La Dương  
đều xây trên đất nông nghiệp, một số hộ đi thuê. Tâm lý của các chủ hộ ở đây  
12  
hơn, thời gian làm việc không nhiều, chính vì vậy họ gắn bó với nghề và có  
thêm thu nhập gửi về gia đình.  
như các hộ kinh doanh cho biết: khách nhà nào, mua của nhà đó, nên không  
có hiện tượng tranh giành, lôi kéo khách.  
Tuy nhiên, qua khảo sát 100% người làm thuê cho các hộ trên đều  
không có hợp đồng lao động mà chỉ dựa trên thỏa thuận miệng giữa hai bên.  
Đây cũng là một sự thiệt thòi lớn đối với người lao động (không được chăm  
sóc y tế, hướng dẫn an toàn vệ sinh…). Đa số họ đều cho biết khi kiếm được  
một số tiền sẽ về quê kinh doanh nghề khác, không muốn làm nghề này vì  
thành kiến của người dân đối với nghề sát sinh và họ cũng sợ ảnh hưởng đến  
cuộc sống của con cái sau này.  
2.8. Thái độ của cộng đồng đối với nghề giết mổ chó  
Mặc dù là nghề sát sinh, nhưng cũng có nhiều ý kiến cảm thông cho  
các hộ gia đình làm nghề giết mổ. Nghề giết mổ được đánh giá là một nghề  
lao động lương thiện, lành mạnh, không những tăng thu nhập kinh tế gia đình  
mà còn tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Song vấn đề ô nhiễm môi  
trường, tiếng ồn cần được chính quyền hướng dẫn, nhắc nhở các hộ kinh  
doanh khắc phục để tránh ảnh hưởng tới đời sống của các hộ dân xung quanh.  
Thái độ của các nhà chức trách về nghề thịt chó  
2.7. Mối quan hệ xã hội của các hộ kinh doanh giết mổ chó  
Gia đình, họ hàng, làng xóm  
Thực trạng cho thấy nguồn chó từ Thanh Hóa vào Dương Nội vẫn  
chưa được quản lý, đánh giá chất lượng. Đây cũng là khó khăn lớn đối với các  
hộ kinh doanh giết mổ chó tại Dương Nội.  
Theo quan sát thực địa và được cung cấp các thông tin từ chính  
quyền, chúng tôi nhận thấy giữa các hộ kinh doanh thịt chó đều có mối quan  
hệ với nhau. Họ hàng (có 5 trường hợp, có 3 trường hợp là anh chị em ruột  
như nhà Yến Sơn với Hương Trường; Mai Tình với nhà Vân Hùng: quán thịt  
chó Việt Trì, Tuấn Phượng với Thắng Định). Sau khi thành lập được một  
mạng lưới cung cấp hàng ổn định, các hộ thường có khuynh hướng lôi kéo  
anh em họ hàng cùng làm. Trước kia có ba anh em hộ nhà Anh T (La Dương),  
giờ thì cả ba đều chuyển sang kinh doanh nghề khác. Còn lại các hộ là người  
làng nên đều có mối quan hệ hàng xóm. Do vẫn có nhà trong làng (khu La  
Dương) nên các hộ vẫn tham gia sinh hoạt chung của gia đình, dòng họ, làng  
xóm. Tùy vào vị trí trong họ mà các hộ điều chỉnh thời gian kinh doanh của  
mình. Ngoài công việc kinh doanh bận rộn, các hộ kinh doanh vẫn tham gia  
sinh hoạt của các tổ chức chính trị, xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân, hội  
cựu chiến binh, các hội lớp, hội nhập ngũ, v.v…thông qua đóng góp, họp hành.  
Mối quan hệ giữa các hộ kinh doanh  
Tiểu kết chƣơng 2  
Những năm gần đây, với sự tham gia của 18 hộ kinh doanh giết mổ  
chó, với số lượng giết mổ hàng ngày từ 5 đến 7 tấn thịt chó, Dương Nội trở  
thành trung tâm cung cấp cho thị trường thịt chó Hà Nội. Việc giết mổ chó  
hiện nay đã được công nghiệp hóa với sự xuất hiện các máy móc phục vụ cho  
việc giết mổ nhanh chóng và thuận tiện, có sự phân công lao động giữa các  
thành viên trong gia đình và người làm thuê đã tạo cho Dương Nội trở thành  
Vương quốc thịt chó. Nguồn thu nhập từ giết mổ chó đem lại kinh tế chính  
cho các hộ kinh doanh không những trang trải cho sinh hoạt hàng ngày mà  
còn có thể tiết kiệm để quay vòng vốn kinh doanh khác. Bên cạnh đó còn tạo  
ra công ăn việc làm cho cả gia đình, và các lao động ngoại tỉnh khác. Tuy  
nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn, nguy cơ bùng phát các  
dịch bệnh, sự kỳ thị của xã hội cũng là một trong những trở ngại cho ngành  
nghề giết mổ chó phát triển.  
Bên cạnh mối quan hệ huyết thống giữa nhiều hộ kinh doanh giết mổ  
chó, chúng tôi còn tìm hiểu mối quan hệ giữa các hộ kinh doanh còn lại. Theo  
13  
CHƢƠNG 3  
hướng tên thành viên trong gia đình (09/16 quán), theo các trường phái nấu  
thịt chó (04/16 quán), theo tên gọi khác (03/12 quán). Các quán đều có món  
riêng chủ đạo như: Quán Anh Hiếu có món khủy và món canh măng được  
khách ưa chuộng; quán thịt chó Bắc Ninh có món gan nướng cuốn lá na; Quán  
thịt chó 24 giờ phục vụ 24/24 giờ, có món lẩu chó.  
THỊT CHÓ DƢƠNG NỘI  
Hà Tây xưa nay đã cung cấp cho kẻ chợ Thăng Long - Hà Nội rất  
nhiều món đặc sản. Xứ Đoài cũng như xứ Nam còn cung cấp cho nền văn hóa  
ẩm thực Thăng Long Hà Nội một món ăn độc đáo là thịt chó. Không chỉ Trôi  
mà Hà Tây còn có nhiều trung tâm thịt cầy ngon nổi tiếng như Ba La Bông  
Đỏ, Ngã Tư Vác, vùng Mỹ Đức, v.v...đã hình thành nên một vùng thịt chó nổi  
tiếng. Để nắm bắt được nhu cầu ăn thịt chó của người dân, bước đầu chúng tôi  
tìm hiểu qua các quán ăn bán thịt chó tại Dương Nội và các quán thịt chó trên  
địa bàn quận Hà Đông lấy nguồn hàng từ Dương Nội.  
3.2. Nghệ thuật chế biến thịt chó  
Thịt chó là một món ăn ở đâu cũng có, là một món ăn phổ biến, thịt  
chó xuất hiện trong các chợ quê, các quán thành. Tuy nhiên, trong nghiên cứu  
này, chúng tôi xin đưa ra một số món ăn từ thịt chó phổ biến nhất, thường  
được người dân và các quán ở khu vực Dương Nội – Hà Đông chế biến mà tôi  
tạm gọi là một trường phái chế biến riêng gồm các món như: chó luộc, chó  
hấp, chả chó, đùi ninh, dồi chó, tiết canh chó, xáo chó...  
3.1.Trƣờng phái thịt chó Dƣơng Nội - Hà Đông  
Các quán thịt chó Dương Nội  
Để làm được các món thịt chó ngon, thì nguồn thực phẩm phải luôn  
tươi, đảm bảo các nguyên tắc về độ tuổi con chó không quá già và quá non thì  
khi chế biến các món ăn mới ngon, không bị hao hụt nhiều. Chính vì vậy mà  
các quán bán thịt chó chọn thịt chó Dương Nội vì có đủ yêu cầu của chế biến  
món thịt chó.  
Qua điều tra khảo sát, trên địa bàn phường Dương Nội có 06 nhà hàng  
quán ăn chuyên về món thịt chó. Các quán thịt chó trên đều được mở trong  
vòng 5 năm trở lại đây. Do ở ngay cạnh trung tâm giết mổ chó nên các quán  
thịt chó ở đây có nhiều thuận lợi về chọn lựa nguồn hàng và giá cả phù hợp.  
Điều đặc biệt ở Dương Nội, các quán trên bán cả thịt sống lẫn đồ ăn chín, một  
số nhà hàng kiêm cả lò mổ chó (nhà Hồng Thơm, nhà Vinh Sử).  
3.3. Đồ uống và gia vị ăn kèm  
Đồ uống  
Các quán thịt chó tại quận Hà Đông  
Rượu có nguồn gốc lâu đời. Từ xưa, hầu hết các nơi trên lãnh thổ Việt  
Nam đều biết nấu rượu để uống. Nấu rượu bằng gạo nếp hoặc gạo tẻ. Nguyên  
liệu chính để nấu rượu là gạo nếp được đồ chín, đánh tơi và trộn với men rượu  
tán thật nhỏ mịn cho đều khi nguyên liệu vẫn còn ấm. Đem ủ kín trong chỗ  
ấm một thời gian nhất định tùy theo thời tiết khoảng vài ngày cho sản phẩm  
lên men chuyển hóa tinh bột thành rượu. Sau đó cho sản phẩm đã lên men vào  
nồi chưng cất đun lửa đều để rượu (cồn) bay hơi...Thịt chó đặc biệt chỉ hợp  
với rượu quốc lủi, rượu trắng. Tại các quán thịt chó hay bán rượu nếp cái hoa  
vàng. Rượu nếp cái có công dụng để bồi bổ sức khỏe.  
Tại Hà Đông, qua tổng hợp thống kê có 11 quán bán thịt chó, ngoài ra  
tại các chợ dân sinh đều có quầy hàng bán thịt chó. Có 02 quán bán dồi chó và  
chả chó nướng tại vỉa hè ngã tư Lê Lợi, Quang Trung vào các buổi chiều.  
Trong số đó có 10/11 cửa hàng (chiếm 91%) sử dụng nguồn thực phẩm thịt  
chó từ Dương Nội. Trước kia có hẳn một phố chó ở trên đường Lê Trọng  
Tấn, đây là khu đất nông nghiệp, gần trục đường Hà Đông, Hà Nội.  
Theo thông tin khảo sát thực địa, trên địa bàn quận Hà Đông có 16  
quán thịt chó có nguồn hàng từ Dương Nội. Các quán đều đặt tên theo xu  
14  
Gia vị  
sinh ra chứng tả lỵ. Kiêng ăn thịt chó với cá chép. Cá chép tính vị cam có tác  
dụng hạ thủy khí. Còn thịt chó tính cam ôn có công năng sinh thủy khí và thấp  
nhiệt. Nếu ăn lẫn dễ sinh chứng hàn, nhiệt và kiết lỵ.  
Gia vị là những thứ thêm vào, định vị cho món ăn để đạt được hiệu  
quả cao nhất, gia vị tôn từng món ăn. Để thưởng thức các món thịt chó, không  
thể không nhắc tới các gia vị làm nên hương vị của món ăn:  
+ Riềng: có tác dụng ôn trung, tán hàn, hết đau, tiêu thực. Nó được  
dùng cả trong y học hiện đại và y học cổ truyền để làm thuốc kích thích tiêu  
hóa, chữa đau bụng do lạnh, bụng đầy trướng, nôn mửa, tiêu chảy.  
+ Húng quế (chó): Tinh dầu húng quế có chứa chất chống ô-xy hóa  
mạnh có thể làm chậm quá trình lão hóa. Húng quế có vị thơm át cái tanh hợp  
với thịt chó nên thường được dân gian gọi là húng chó.  
Do thịt chó tính nóng nên khi ăn thịt chó phải sử dụng các chất gia vị  
khác như mẻ, húng, bún (tính mát, bình) để cân bằng tính nhiệt của thịt chó.  
Người Việt đã khéo léo khi kết hợp giữa các loại thực phẩm đi cùng để luôn  
cân bằng yếu tố âm dương. Tính biện chứng âm dương trong nghệ thuật ẩm  
thực Việt dựa trên quy luật bù trừ và chuyển hóa giữa các thành tố thức ăn  
trong mối tương quan với các yếu tố khác (bên trong và bên ngoài) để tạo nên  
sự cân bằng, thể hiện trong các mối tương quan:  
+Lá mơ lông: theo quan niệm dân gian chữa được bệnh tả nên ăn kèm  
chống đau bụng, khó tiêu.  
3.5. Khách ẩm thực món thịt chó  
Để hiểu rõ đối tượng ăn thịt chó, chúng tôi sử dụng hai nguồn tài liệu  
chính đó là Bảng thống kê số lượng người mua thịt chó tại quán thịt chó Việt  
Trì (La Dương) và bảng hỏi điều tra đối với 100 khách ăn thịt chó tại quán thịt  
chó Ánh Sáng (La Khê).  
+ Mắm tôm: là một loại gia vị và cũng là một loại thực phẩm có giá  
trị dinh dưỡng cao.  
+ Mẻ: Nuôi mẻ bằng cơm nguội để cho mẻ lên men (mẻ chua). Mẻ là  
một loại sinh vật gây tác dụng lên men. Mùi chua của mẻ tạo mùi cho món ăn.  
Cơm mẻ rất bổ dưỡng, có nhiều đạm, vitamin và nhiều lợi ích khác…  
+ Chanh: Dịch quả chanh có vị chua, tính mát có tác dụng giải khát,  
thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc. Nặn chanh vào mắm tôm làm món gia vị thêm  
phần hấp dẫn (Loại mắm tôm nào khi hòa chanh vào sủi bọt là mắm tôm loại  
ngon nhiều đạm).  
3.5.1.Quán thịt chó Việt Trì  
Quán thịt chó Việt Trì (La Dương, Dương Nội) do vợ chồng chị  
Nguyễn Thị Vân (34 tuổi) làm chủ quán. Chị Vân kiêm quản lý và đầu bếp, có  
3 người phục vụ làm thuê. Quán được mở vào đầu năm 2008. Quán vừa là nơi  
bán hàng và nơi sinh hoạt của chủ và thợ với diện tích trên 240m2, trong đó  
diện tích quán và bếp 120m2, với 10 bộ bàn phục vụ khoảng 60-70 người.  
Quán thịt chó của chị V còn kiêm cả bán thịt chó sống cho người dân và  
khách các vùng lân cận. Tỷ lệ nữ giới mua thịt chó: 33 người (58%) và nam giới:  
24 (42%). Tỷ lệ giới nữ mua thịt chó nhiều hơn so với nam giới. Lý do là phụ nữ  
kiêm nội trợ, chợ búa trong gia đình. Trong 57 đối tượng mua thịt chó có 20  
người là người làng La Dương (chiếm tỷ lệ 35%), 37 người ở nơi khác (65%).  
Tâm lý chung của những người mua thịt chó về nhà là phục vụ nhu cầu ăn  
+ Sả: được sử dụng làm thuốc chữa các chứng bệnh: giải cảm hàn thấp,  
nóng sốt, đau bụng do bị lạnh, nôn mửa, cảm mạo, đau dạ dày, ỉa chảy..  
3.4. Kiêng kỵ trong chế biến thịt chó  
Bên cạnh các gia vị phối hợp trên, người Việt có những kiêng kỵ các  
thực phẩm trong khi chế biến, cách ăn khi ăn thịt chó như:  
Kiêng ăn thịt chó với thịt dê vì thịt chó tính cam ôn, dê tính đại nhiệt,  
khi hai thứ gặp nhau sẽ sinh ra chứng tích thực, thức ăn khó tiêu, sẽ tích nhiệt,  
15  
uống của gia đình. Đặc biệt những dịp đông người, thói quen sử dụng thịt chó  
làm món ăn.  
cầu của con người về mặt ăn uống. Qua bảng thành phần dinh dưỡng cho  
thấy 100g thịt chó cung cấp 338 calo, với đầy đủ các chất dinh dưỡng cho  
cơ thể. Chính vì vậy mà thịt chó được xem là một loại thực phẩm có nhiều  
giá trị dinh dưỡng.  
3.5.2. Quán thịt chó Ánh Sáng  
Năm 2009, đường Lê Trọng Tấn giải tỏa, quán thịt chó Ánh Sáng  
chuyển về tổ dân phố số 2 đường bờ sông La Khê. Quán rộng khoảng gần  
200m2 với 14 dãy bàn nghế. Trong vòng 12 ngày tại quán thịt chó Ánh  
Sáng có 772 khách hàng ăn tại quán. Nam giới: 635 người, chiếm tỷ lệ  
82%; nữ giới: 137 người, tỷ lệ 18%. Như vậy số liệu cho thấy người ăn  
thịt chó chủ yếu là nam giới, với tỷ lệ gấp hơn 4 lần so với nữ giới. Giới  
tính cũng ảnh hưởng tới việc ăn thịt chó do ảnh hưởng tâm lý thích ăn  
nhậu của nam giới.  
Giới tính  
Qua phân tích số liệu về giới tính phần trên cho thấy, số lượng  
nam giới ăn thịt chó là chủ yếu. Theo quan niệm của người Việt trước kia,  
người đàn ông lý tưởng phải là người tài hoa, phải biết cầm, kỳ, thi, họa.  
Nhưng phải biết cả tửu (rượu) và ăn thịt chó.  
“Làm trai biết đánh tổ tôm  
Uống rượu thịt chó, xem nôm thúy Kiều”.  
3.6. Thịt chó - Văn hóa ẩm thực  
Trước kia con gái, đàn bà không được ăn thịt chó, người phụ nữ nào ăn  
thịt chó bị xã hội xa lánh, coi khinh, v.v…nay quan điểm đã thay đổi.  
Ngoài ra phụ nữ và trẻ em là đối tượng không được ăn thịt chó. Hiện nay,  
đã có sự thay đổi giới tính tham gia ăn thịt chó so với thời kỳ trước. Tại  
Dương Nội, thịt chó được sử dụng nhiều trong trường hợp đám ma, đám  
giỗ, bữa ăn sau hôm cưới để cảm ơn mọi người đã giúp đỡ. Thịt chó còn  
được dùng nhiều trong tiếp khách đến chơi, trong các buổi liên hoan, họp  
lớp. Có nhiều người lựa chọn thịt chó khi đi ăn cùng bạn bè và đồng  
nghiệp, người thân trong gia đình, mời đối tác làm ăn. Chính vì vậy có thể  
nói món ăn thịt chó tạo nên các mối quan hệ giữa mọi người. Ăn thịt chó  
không như ăn cỗ, phải thật thoải mái. Thịt chó không chỉ duy nhất để thoả  
mãn con người về mặt dinh dưỡng mà còn đóng vai trò cố kết quyền thành  
viên nhóm. Thịt chó không chỉ thỏa mãn con người về nhu cầu ăn, mà thịt chó  
còn là chất liên kết giữa mọi người với nhau thông qua các dịp gặp mặt, quà  
tặng.  
Thực phẩm dinh dưỡng  
Từ xưa đến nay, đối với người dân Việt Nam, con chó cũng như  
con lợn, con gà là những vật nuôi trong nhà. Chó không chỉ bảo vệ tài sản  
của chủ, vừa là nguồn cung cấp thực phẩm cho chủ, vừa là khoản thu nhập  
phụ cho chủ. Không nhà nào mà không nuôi chó, nuôi chó vừa có tác dụng  
giữ nhà vừa để là nguồn thực phẩm dự trữ khi trong nhà có việc giỗ chạp,  
đình đám, lễ lạc.  
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam có tới hàng trăm câu tục  
ngữ đề cập tới loài chó. Tuy nhiên, có rất nhiều câu tục ngữ liên quan đến  
thói hư tật xấu, hay muốn chê cười người khác, người ta lấy hình ảnh của  
con chó như: Loại trâu sinh chó đẻ, lòng lang dạ sói; Mèo đàng, chó điếm;  
Tham ăn như chó; Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng; Nói như chó cắn  
ma; Chó có váy lĩnh, v.v…Do đặc tính của loài chó ở Việt Nam là ăn chất  
thải của con người. Vì vậy, chó còn được nhắc đến hình ảnh “Làm kiếp  
trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ” hay “Có cứt, có chó”; “Bao giờ chó chê cứt  
thì người chê của”. Khoa học dinh dưỡng hiện nay đã xác định được nhu  
Thịt chó được nhiều người lựa chọn ăn nhất vào dịp cuối tháng.  
Vào những ngày cuối tháng lượng khách ăn thịt chó tăng hơn nhiều nhiều  
16  
so với những ngày đầu tháng. Theo quan niệm dân gian, ăn thịt chó vào  
những ngày cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để  
bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn  
những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp  
nhiều điềm lành. Còn ăn thịt chó vào đầu tháng sẽ đen đủi. Bên cạnh kiêng  
kỵ việc ăn thịt chó đầu tháng, vấn đề thời tiết cũng ảnh hưởng nhiều đến  
nhu cầu ăn thịt chó của người dân. Chính vì vậy, mà mùa đông thịt chó  
được ưu tiên sử dụng. Mùa đông ở miền Bắc lạnh nên cần dùng mỡ nhiều  
hơn để chống rét. Mùa đông uống nhiều rượu để chống rét, ăn thịt chó để  
có nhiều dinh dưỡng, năng lượng. Do thịt chó có tính nóng (tính dương)  
nên phù hợp với thời tiết lạnh (tính âm). Triết lý âm dương giữa các mùa  
được người Việt ưu tiên lựa chọn hàng đầu. Ăn uống nên theo mùa thì việc  
hấp thụ thức ăn của cơ thể mới tốt và bổ ích.  
Yếu tố tâm linh và kiêng kỵ liên quan món thịt chó  
Giải đen:  
Theo bảng số liệu thống kê trình bầy ở trên thì có nhiều trường hợp  
ăn thịt chó nhằm để giải đen, giải vận hạn xui xẻo mà mình đã và đang gặp  
phải. Ở Việt Nam, bên cạnh việc mua trinh thì ăn thịt chó cũng là một trong  
những cách để giải đen. Thịt chó thuộc loại màu đỏ. Theo đông y, màu đỏ là  
thuộc về tâm hỏa (tim mạch) và là loại thịt đỏ nhất trong các loại thịt đỏ như  
trâu, bò, heo, dê, ngựa. Ngoài ra khi gặp những điều không may, người Việt  
thường sử dụng các câu liên quan đến loài chó như “đen như chó”, “đen như  
mõm chó”. Màu đen tượng trưng cho bóng tối, cho những điều xấu chính vì  
vậy khi vận đang đen, ăn đồ đen sẽ tạo nên sựu chuyển biến, đang đen thành  
đỏ. Ăn thịt chó là cách lấy độc trị độc  
Pháp thuật  
Ngoài ra những hôm thời tiết mát mẻ, trời mưa “Nắng gỏi mưa  
cầy” hay “Trời mưa ăn chó trắng, trời nắng ăn chó vàng”cũng được nhiều  
người quan tâm lựa chọn thịt chó là món ăn chính.  
Ngoài ra, trong tín ngưỡng của người Việt Nam mắm tôm là thức  
ăn có tác dụng xua đuổi tà ma. Người ta cho rằng ma quỷ rất sợ loại mắm  
này, người ăn mắm tôm sẽ không bị ma quỷ làm hại. Để mắm tôm ở trong  
nhà sẽ tránh hồn ma hiện về. Sử dụng chó mực để trừ tà, chó mực quý lắm.  
Khi người nào khó nuôi con đẻ đứa nào cũng chết, người ta bảo là có tà,  
phải làm thịt chó mực cho người đàn bà ấy ăn, nhất là cho ăn cái dồi làm  
bằng tiết chó, còn xương chó thì chôn xuống chân giường. Thức ăn có thể  
trừ tà và an tạng phủ, tinh thần sảng khoái, bổ dưỡng khí huyết. Phép ăn  
uống và chữa bệnh là một bộ phận quan trọng của Y học Đông phương.  
Trước kia khi xây nhà, cửa ngõ không làm đúng chính giữa nhà và  
sân để cho người ngoài đường nhìn thẳng vào trung tâm nhà. Người ta  
cũng thường kiêng không nên để cho có con đường đâm thẳng vào nhà,  
hay là có đền chùa ở trước cửa nhà. Một miếng ăn, không biết có thay đổi  
được vận hạn trong đời của một con người không, nhưng chắc rằng nó có thể  
giúp người ta tăng thêm sinh khí để tiếp tục sống ở giữa cuộc đời này, phấn  
Thịt chó như một thực phẩm có tác dụng chữa bệnh  
Thịt chó đã được danh y Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông dùng làm  
thuốc chữa bệnh. Những bộ phận của chó đều được làm thuốc như xương  
đầu chó, thịt chó, dương vật và tinh hoàn của chó và sỏi trong dạ dày của  
chó có bệnh. Thịt chó dùng tươi, còn xương chó cắt bỏ hết thịt và gân phơi  
khô, dương vật và tinh hoàn chó phơi sấy khô được gọi trong nghề thuốc là  
cẩu thận (thận chó). Trong những năm gần đây, tình trạng hiếm muộn con  
trở thành phổ biến đối với nhiều cặp vợ chồng. Ngoài ra, theo người Việt,  
chọn ăn thịt chó qua màu lông theo thuyết ngũ hành: vàng bổ tỳ, đen bổ  
thận, trắng bổ phế. Dân gian còn xếp thứ tự: “nhất vàng, nhị đen, tam  
đốm”; hoặc “nhất vện, nhị vàng, tam khoang, tứ mực, gặp lúc cùng cực,  
mới xực chó trắng”  
17  
đấu cho tròn ý nghĩa của một con người. Qua món ăn may mắn, pháp thuật  
qua món ăn cùng những triết l ý giản đơn đa phần xuất phát từ niềm tin, hi  
vọng, càng hiểu hơn cuộc sống tinh thần phong phú của người Việt. Niềm tin  
về thực phẩm may mắn như một giá trị truyền thống vô hình không chỉ phản  
ánh nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực nói riêng mà nó còn là điều bí ẩn về  
văn hóa Việt Nam nói chung.  
tháng 9 theo lịch Hồi giáo. Vào tháng này thì mọi người nhịn ăn từ lúc rạng  
sáng cho tới lúc mặt trời lặn. Đặc biệt người Hồi giáo kiêng ăn thịt lợn.  
Chính vì vậy ngoài thịt lơn, các tín đồ Hồi giáo có thể ăn thịt chó và các  
loại động vật khác.  
Dân tộc  
Theo truyền thuyết của người Dao: dù là họ Bàn, họ Đăng, họ  
Triệu... họ nào cũng phải mang ơn Bàn Vương. Bàn Vương là con chó thần,  
vị tổ của người Dao, chính vì vậy mà người Dao không bao giờ ăn thịt vị tổ  
của mình.  
Tôn giáo, dân tộc và kiêng kỵ  
Trong quá trình nghiên cứu, thông qua việc nghiên cứu những tôn  
giáo, dân tộc nào ăn thịt chó và những tôn giáo, dân tộc nào không ăn thịt  
chó, chúng tôi muốn tìm hiểu tôn giáo, dân tộc có quy định kiêng kỵ đối  
với món ăn đặc biệt - Thịt chó hay không?  
Ngoài người Dao, cũng có một bộ phận người Tày, Cao Lan kiêng  
ăn thịt chó và thịt mèo.  
Tôn giáo  
Trước kia người miền Nam không ăn thịt chó. Sau hiệp định  
Giơnevơ (tháng 7/1954), một loạt dân cư Hà Nội di cư vào Sài Gòn, miền  
Nam. Sài Gòn xuất hiện áo dài, áo lụa Hà Đông với nữ sinh Trưng Vương  
cùng nhiều hiệu “Phở Bắc, phở Hà Nội, như phở Hòa ở đường Paster, phở  
tầu bay…chè nụ vối kiểu Hà Nội xuất hiện ở chợ Bến Thành. Người Sài  
Gòn cho rằng: người Bắc, người Hà Nội mang các món tiết canh, thịt chó  
vào Sài Gòn. Tuy nhiên người Công giáo Miền Bắc di cư vào miền Nam  
đã bổ sung cho người miền Nam món ăn mới đó là thịt chó. Sau cuộc di cư  
vào miền Nam (năm 1954), món cầy cũng được đồng bào Bắc du nhập.  
Sau hai cuộc di cư lớn năm 1954 và 1975, người công giáo ngoài Bắc mới  
di cư vào Nam và họ thường đi nguyên một làng (xóm đạo), sau này hình  
thành nên các khu vực thịt chó tại miền Nam.  
- Phật giáo tại Việt Nam gồm ba phái: Nam tông, Mật tông và Bắc  
tông. Các nhà sư Nam tông thì ăn theo Tam tịnh nhục và thực hiện chế độ  
ngọ trai (ăn trước 12 giờ trưa). Các nhà sư phái Mật tông thì theo Ngũ tịnh  
nhục, và họ sử dụng rượu để phân biệt với phái Bắc Tông. Các nhà sư theo  
phái Bắc Tông áp dụng trong Kinh lăng già. Chính vì vậy mà các nhà sư  
theo phái Bắc tông không ăn thịt chó.  
Đạo Cao Đài, Hòa Hảo: do giáo lý được kế thừa thế giới quan của  
Phật giáo về quan niệm Hạ Nguyên, Phật quan hoa, Mạt pháp. Giáo luật bị  
ảnh hưởng bởi Phật giáo: Cấm tín đồ ăn thịt trâu, bò, chó là những con vật  
có ích cho sản xuất và có tình cảm với con người.  
Thiên chúa giáo: Giáo hội không quy định giáo sỹ và tín đồ ăn  
chay. Thánh kinh không cấm loài người ăn thịt thú vật, chính vì vậy thịt  
chó được các tín đồ Thiên chúa giáo coi như là đồ ăn của con người.  
Hồi giáo: Tại kinh Coran có nhắc đến tháng Ramanda là tháng để  
kỷ niệm việc Thánh Kinh được ban xuống. Và quy định vào tháng này thì  
tín đồ phải nhịn chay “siyam” cả tháng. Tháng Ramamda được tính vào  
Bệnh tật  
Theo Hải thượng Lãn ông; những đối tượng không nên ăn thịt chó  
như phụ nữ có mang, người bị lở ngứa, mụn lở, chảy mủ, phong hủi, sưng,  
tiêu khát, trò trĩ. Người uống thuốc tỏi. Phụ nữ mang thai kiêng ăn vì nóng,  
sợ bị xúi quẩy (không may). Tuy nhiên, không được dùng thịt chó cho  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 30 trang baolam 19420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Thịt chó trong văn hóa ẩm thực của người Việt - Nghiên cứu trường hợp phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthit_cho_trong_van_hoa_am_thuc_cua_nguoi_viet_nghien_cuu_tru.pdf