Bài giảng Thẩm định Đầu tư Công - Bài 3&4: Nguyên lý xây dựng mô hình tài chính

Bài 3 & 4: Nguyên lý xây dựng mô hình tài chính  
(Bảng thông số, vòng đời dự án, đơn vị tiền tệ, chỉ số giá và một số  
lưu ý đặc biệt)  
Thẩm định Đầu tư Công  
Học kỳ Hè 2018  
MPP 19  
Lập mô hình tài chính  
Bảng thông số  
Bảng chỉ số giá  
Bảng chi phí đầu tư  
Lịch nợ vay  
Bảng cơ cấu vốn  
Bảng khấu hao  
Bảng doanh thu  
Bảng chi phí hoạt động  
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh  
Bảng vốn lưu động  
Bảng ngân lưu  
Bảng kết quả thẩm định  
Bảng phân tích độ nhạy  
Bảng mô phỏng rủi ro  
Bảng thông số  
Nguyên lý thiết lập bảng thông số:  
✓ Mọi thông tin đầu vào được nhập trong bảng thông số  
✓ Trong các bảng tính khác, công thức được thiết lập để liên kết với các giá  
trị đã nhập trong bảng thông số. Không nhập thông tin đầu vào trong các  
bảng tính khác ngoài bảng thông số.  
✓ Nguyên lý: khi thay đổi các thông số đầu vào, thông qua các công thức  
liên kết, kết quả thẩm định sẽ tự động thay đổi.  
Cấu trúc bảng thông số  
✓ Các thông số cố định suốt vòng đời dự án nhập theo hàng dọc ứng với cột  
năm 0.  
✓ Các thông số biến đổi theo thời gian nhập theo hàng ngang ứng với các  
cột năm khác nhau.  
✓ Ghi rõ đơn vị tính  
Trình tự nhập thông số đầu vào  
✓ Thông số vĩ mô  
✓ Chi phí đầu tư (kể cả thời gian xây dựng, vòng đời dự án, khấu hao)  
✓ Cơ cấu vốn và thông số nợ vay  
✓ Thông số doanh thu  
✓ Thông số chi phí hoạt động  
✓ Thuế suất và chi phí vốn  
Vòng đời dự án  
Vòng đời dự án và giá trị thanh lý:  
✓ Khác với tài chính doanh nghiệp ở đó ta mặc định doanh nghiệp  
sẽ tồn tại mãi mãi, dự án thường có một vòng đời hữu hạn.  
✓ Tại thời điểm cuối vòng đời dự án, dự án sẽ kết thúc và tài sản  
(ròng) dự án được thanh lý (hay chuyển giao cho một tổ chức  
khác).  
✓ Dự án có thêm ngân lưu vào thời điểm kết thúc là giá trị thanh lý  
(ròng). Giá trị này có thể dương, âm hoặc bằng 0.  
Giai đoạn phân tích và giá trị kết thúc:  
✓ Giai đoạn phân tích (bao gồm các năm mà ngân lưu được tính chi  
tiết) thường trùng với vòng đời dự án.  
✓ Đối với những dự án có vòng đời dài, giai đoạn phân tích có thể  
ngắn hơn vòng đời dự án. Vào cuối giai đoạn phân tích, giá trị kết  
thúc được tính trên cơ sở chiết khấu ngân lưu ròng trong những  
năm sau giai đoạn phân tích về năm cuối của giai đoạn phân tích.  
Lạm phát và thẩm định dự án  
Lạm phát (hay giảm phát) là sự tăng (hay giảm) mức giá chung  
trong nền kinh tế. Do vậy, lạm phát sẽ ảnh hưởng đến các giá  
trị tính bằng tiền.  
Thẩm định dự án về mặt tài chính đòi hỏi chúng ta phải ước tính  
các giá trị tài chính theo thời gian. Do vậy, cách thức mà chúng  
ta xử lý lạm phát sẽ ảnh hưởng đến những giá trị này.  
Khi các hạng mục của dự án có giá trị biến đổi khác nhau theo  
tỷ lệ lạm phát thì việc bỏ qua lạm phát sẽ làm sai lệch các ước  
tính về giá trị. Ví dụ:  
✓ Giá đầu ra của dự án được cố định theo cam kết hợp đồng  
cho dù lạm phát có thể thay đổi trong tương lai, trong khi  
chi phí đầu vào lại thay đổi theo lạm phát.  
✓ Lãi suất danh nghĩa của nợ vay là lãi suất cố định. Nếu như  
vậy, cho dù lạm phát thay đổi thì giá trị lãi vay phải trả vẫn  
không đổi trong khi các hạng mục khác sẽ thay đổi  
Việc đưa thông số lạm phát vào mô hình tài chính sẽ giúp phân  
tích độ nhạy của kết quả thẩm định khi lạm phát thay đổi và gợi  
ý các cơ chế quản lý rủi ro lạm phát.  
Khái niệm lạm phát  
Giá cả của một hàng hóa thay đổi vì hai lý do:  
✓ Yếu tố cung và cầu của hàng hóa đó thay đổi  
Nguyên nhân này làm cho mức giá thực thay đổi  
✓ Mức giá chung của nền kinh tế thay đổi  
Nguyên nhân này làm cho mức giá danh nghĩa thay đổi  
Năm 0  
Năm 1  
P0  
Năm 2  
P0  
…
…
…
Giá cố định  
P0  
Tỷ lệ thay đổi giá thực  
g1  
g2  
P2r= P1r(1+g2)  
Giá thực  
P0  
P1r= P0(1+g1)  
…
…
= P0(1+g1)(1+g2)  
Tỷ lệ lạm phát  
1  
2  
P2 = P2r(1+ 1) (1+ 2)  
= P0(1+g1)(1+g2)  
(1+ 1) (1+ 2)  
P1 = P1r(1+ 1)  
Giá danh nghĩa  
P0  
…
= P0(1+g1) (1+ 1)  
Ước tính ngân lưu  
theo giá cố định, giá thực và giá danh nghĩa  
Ước tính giá trị hàng năm theo giá cố định  
✓ Giá trị mỗi năm bằng lượng của năm đó nhân với giá cố định vào  
một năm cơ sở.  
✓ Cách tính này không tính tới tác động làm thay đổi giá thực hay tác  
động của lạm phát.  
✓ Thẩm định dự án dựa trên giá cố định là không chính xác.  
Ước tính giá trị hàng năm theo giá thực  
✓ Giá mỗi năm bằng lượng của năm đó nhân với giá thực của năm  
đó.  
✓ Cách tính này tính tới tác động làm thay đổi giá thực, nhưng không  
điều chỉnh cho tác động của lạm phát.  
✓ Thẩm định dự án dựa trên giá thực cho ta ngân lưu thực. Từ đó, ta  
sẽ tính được IRR thực hay sử dụng suất chiết khấu thực để tính  
NPV.  
Ước tính giá trị hàng năm theo giá danh nghĩa  
✓ Giá mỗi năm bằng lượng của năm đó nhân với giá danh nghĩa của  
năm đó.  
✓ Cách tính này tính tới tác động làm thay đổi giá thực cũng như tác  
động của lạm phát.  
✓ Thẩm định dự án dựa trên giá danh nghĩa cho ta ngân lưu danh  
nghĩa. Từ đó, ta sẽ tính được IRR danh nghĩa hay sử dụng suất  
chiết khấu danh nghĩa để tính NPV.  
Xây dựng bảng chỉ số giá  
Để thuận tiện cho việc điều chỉnh giữa giá danh nghĩa  
và giá thực rồi xem xét ảnh hưởng của lạm phát,  
bảng chỉ số giá cần được thiết lập trong mô hình tài  
chính (thường thì ngay sau khi thiết lập bảng thông  
số).  
Năm 0  
Năm 1  
Năm 2  
…
Bảng thông số  
Tỷ lệ lạm phát VND  
Bảng chỉ số giá  
Chỉ số giá VND  
1  
2  
…
…
PI0 = 1 PI1 = (1+1) PI2 = (1+1) (1+2)  
Tính nhất quán giữa phân tích theo giá thực và phân  
tích theo giá danh nghĩa  
Về nguyên tắc, thẩm định dự án theo giá danh nghĩa hay giá  
thực phải cho cùng một kết quả.  
✓ NPVNgân lưu doanh nghĩa = NPVNgân lưu thực vì NPV là giá trị vào năm 0  
✓ (1 + IRRDanh nghĩa) = (1 + IRRThực)(1 + )  
✓ là tỷ lệ lạm phát trung bình nhân:  
= [(1 + 1)(1 + 2)…(1 + n)](1/n) – 1  
✓ Trên thực tế, ta có thể có các kết quả khác nhau do các phép  
chuyển đổi giữa giá trị thực và giá trị danh nghĩa là không hoàn  
toàn chính xác. Điều này có thể chấp nhận được nếu sự khác biệt  
về kết quả là không đáng kể.  
Để đảm bảo kết quả tính toán đúng, ta phải lưu ý rằng:  
✓ Khi tính theo giá trị thực:  
Các hạng mục đã có giá thực thì không phải chuyển đổi  
Các hạng mục tính theo giá danh nghĩa thì phải được đổi về giá thực  
✓ Khi tính theo giá trị danh nghĩa:  
Các hạng mục tính theo giá thực thì phải được đổi về giá danh nghĩa  
Các hạng mục đã có giá danh nghĩa thì không phải chuyển đổi  
Bỏ qua vấn đề lạm phát trong thẩm định  
Nhiều thẩm định dự án không xem xét ảnh hưởng  
của lạm phát bởi vì:  
✓ Kinh tế vĩ mô ổn định với tỷ lệ lạm phát thấp  
✓ Đặc thù của dự án làm cho tỷ lệ lạm phát có tác động  
không đáng kể tới các lợi ích và chi phí (nếu như tất cả các  
giá trị tài chính danh nghĩa đều thay đổi theo cũng tỷ lệ với  
lạm phát).  
✓ Việc dự báo lạm phát trong tương lai gặp khó khăn  
Tuy nhiên, lạm phát sẽ ảnh hưởng đến ngân lưu thực  
của dự án thông qua tác động tới khấu hao, vốn lưu  
động,... Do vậy, nhà phân tích phải nỗ lực xem xét  
ảnh hưởng của làm phát trong thẩm định dự án về  
mặt tài chính.  
Đơn vị tiền tệ và tỷ giá  
Thẩm định dự án đòi hòi ta phải ước tính giá trị ngân lưu theo  
một đơn vị tiền tệ thống nhất.  
Tuy nhiên, các hạng mục ảnh hưởng đến ngân lưu có thể được  
tính theo các đơn vị tiền tệ khác nhau. Ví dụ như các hạng mục  
xuất khẩu hay nhập khẩu sẽ được tính theo ngoại tệ, trong khi  
các hạng mục khác được tính theo nội tệ.  
Khi dự án có các hạng mục ngân lưu tính theo đơn vị tiền tệ  
khác nhau, thì nhà phân tích phải quyết định sử dụng một đơn  
vị tiền tệ thống nhất, và quy định tất cả các giá trị bằng đồng  
tiền khác về đơn vị tiền tệ này thông qua việc sử dụng tỷ giá hối  
đoái.  
Khi thẩm định về mặt tài chính, tỷ giá hối đoái áp dụng là tỷ giá  
sẽ được sử dụng để quy đổi trên thực tế khi triển khai dự án. Ví  
dụ, nếu dự án được cam kết chuyển đổi tiền tệ theo tỷ giá hối  
đoái chính thức của một ngân hàng thương mại thì đó chính là  
tỷ giá được sử dụng. Ngược lại, nếu dự án không được cam kết  
chuyển đổi tiền tệ theo tỷ giá chính thức thì tỷ giá sử dụng là tỷ  
giá trên thị trường tự do.  
Tỷ giá hối đoái kỳ vọng theo PPP  
Vì việc thẩm định đòi hòi phải ước tính ngân lưu trong suốt vòng  
đời của dự án nên ta cũng phải tính tỷ giá hối đoái kỳ vọng  
hàng năm trong suốt vòng đời này.  
Cơ sở tốt nhất để dự báo tỷ giá hối đoái trong dài hạn là nguyên  
tắc cân bằng sức mua (PPP): tốc độ thay đổi tỷ giá hối đoái  
hàng năm giữa đồng nội tệ và ngoại sẽ bằng chênh lệch giữa tỷ  
lệ lạm phát nội tỷ và tỷ lệ lạm phát ngoại tệ:  
1+tVND  
Et = Et−1  
1+tUSD  
Trong đó, Et là tỷ giá hối đoái kỳ vọng VND/USD vào năm t; Et-1  
là tỷ giá hối đoái vào năm t-1, tVND và tUSD là tỷ lệ lạm phát kỳ  
vọng của VND và USD vào năm t.  
Ví dụ, vào năm 2009, tỷ giá hối đoái Et-1 là 18.000 VND/USD. Tỷ  
lệ lạm phát kỳ vọng của VND và USD vào năm 2010 lần lượt là  
6,8% và 0,8%. Sử dụng công thức PPP, ta tính được tỷ giá hối  
đoái kỳ vọng năm 2010 là Et =18.000*(1+6,8%)/(1+0,8%) =  
19.071 VND/USD.  
Tỷ giá hối đoái kỳ vọng  
Khi đưa lạm phát vào mô hình tài chính, ta đã phải dự báo lạm phát đối  
với nội tệ và ngoại tệ trong suốt vòng đời của dự án, để rồi tính chỉ số  
giá hàng năm theo các đồng tiền này. Dựa trên các chỉ số giá, ta có thể  
tính ngay được tỷ giá hối đoái kỳ vọng cho các năm.  
Từ công thức PPP, ta có thể suy ra rằng:  
1+VND 1+VND ... 1+VND  
(
(
)(  
) (  
)
)
1
2
t
Et = E0  
1+USD 1+USD ... 1+USD  
)(  
) (  
1
2
t
Ta biết chỉ số giá của VND và USD được tính theo công thức sau:  
PItVND = (1+1VND )(1+2VND )...(1+tVND )  
PItUSD = (1+1USD)(1+2USD)...(1+tUSD)  
Vậy, tỷ giá hối đoái kỳ vọng vào năm t sẽ bằng:  
PItVND  
Et = E0  
PItUSD  
Xây dựng bảng chỉ số giá và tỷ giá  
Để thuận tiện cho việc điều chỉnh giữa giá danh nghĩa  
và giá thực, cũng như điều chỉnh giữa giá nội tệ và  
ngoại tệ, bảng chỉ số giá và tỷ giá cần được thiết lập  
trong mô hình tài chính.  
Năm 0  
Năm 1  
Năm 2  
…
VND  
VND  
VND  
Chỉ số giá VND PI0VND = 1 PI1VND = (1+1 ) PI2VND = (1+1 )(1+2 ) …  
USD  
USD  
USD  
Chỉ số giá USD PI0USD = 1 PI1USD = (1+1 ) PI2USD = (1+1 )(1+2 ) …  
Tỷ giá E0  
E1 = E0(PI1VND/PI1USD) E1 = E0(PI2VND/PI2USD)  
Tỷ giá hối đoái kỳ vọng trong ngắn hạn  
Đương nhiên, trong ngắn hạn biến động tỷ giá sẽ  
không tuân theo nguyên tắc PPP vì nó còn phụ thuộc  
vào nhiều yếu tố khác như cán cân thương mại và  
dòng vốn quốc tế.  
Nhà phân tích có thể sử dụng dự báo tỷ giá trong  
những năm đầu của dự án từ một nguồn có uy tín  
thay vì sử dụng tỷ giá kỳ vọng theo PPP.  
Ta cần lưu ý rằng khi sử dụng PPP, thì việc một hạng  
mục được tính theo VND hay USD sẽ không ảnh  
hưởng đến kết quả thẩm định tài chính vì biến động  
về lạm phát và tỷ giá luôn tương thích với nhau.  
Khi sử dụng dự báo tỷ giá không tuân theo PPP thì  
việc một hạng mục được tính theo VND hay USD có  
thể sẽ ảnh hưởng đến kết quả thẩm định tài chính  
của dự án  
Một số lưu ý trong xác định và tính  
toán ngân lưu tài chính  
Chi phí chìm (sunk costs)  
Phân tích tài chính (và phân tích kinh tế) chỉ xem xét  
những lợi ích và chi phí trong tương lai.  
Nhưng chi phí đầu tư đã chi trả kể từ thời điểm làm  
phân tích tài chính trở về trước được coi là chi phí  
chìm và không được tính vào chi phí đầu tư tài chính.  
Lý do không tính vào chi phí chìm vào chi phí tài  
chính và chi phí kinh tế:  
✓ Việc phân tích tài chính và kinh tế có đưa đến kết luận là  
đầu tư hay không đầu tư dự án thì chi phí chìm cũng vẫn là  
chi phí đã bỏ ra và không thu hồi lại được. Do vậy, quyết  
định làm hay không làm dự án không được dựa vào chi phí  
chìm.  
Chi phí làm nghiên cứu khả thi, chi phí tư vấn, xây  
dựng hay mua thiết bị xảy ra trước thời điểm làm  
phân tích đều là chi phí chìm.  
Chi phí lãi vay trong thời gian xây dựng  
Theo nguyên tắc kế toán, chi phí lãi vay trong thời gian xây  
dựng thường được vốn hóa và cộng vào chi phí đầu tư (cũng  
như cộng vào dư nợ cho vay).  
Khi phân tích tài chính trên quan điểm tổng đầu tư (cũng như  
phân tích kinh tế), ta ước tính ngân lưu ròng của dự án (bao  
gồm cả ngân lưu chủ đầu tư và ngân lưu chủ nợ), trong đó  
không loại bỏ ngân lưu chi trả lãi vay. Do vậy, chi phí đầu tư  
không bao gồm chi phí lãi vay trong thời gian xây dựng.  
Nói một cách khác, theo quan điểm tổng đầu tư thì ta phân tích  
trên quan điểm gộp của tất cả những người cấp vốn cho dự án.  
Khoản chi trả lãi vay là chuyển giao giữa những đối tượng góp  
vốn nên không được tính.  
Khi phân tích tài chính trên quan điểm của riêng chủ đầu tư, thì  
chi phí lãi vay là khoản ngân lưu ra và được tính. Để rõ ràng, ta  
tách chi phi phi lãi vay trong thời gian xây dựng ra khỏi chi phí  
đầu tư và thể hiện thành một dòng ngân lưu ra riêng biệt.  
Chi phí khấu hao  
Chi phí khấu hao tài sản cố định là một chi phí kế  
toán được khấu trừ để tính lợi nhuận chịu thuế.  
Về mặt tài chính cũng như kinh tế, khấu hao không  
phải là một khoản thực chi và do vậy không được tính  
vào ngân lưu.  
Tuy nhiên, trong phân tích tài chính ta vẫn phải lập  
lịch khấu hao để xây dựng báo cáo kết quả hoạt động  
kinh doanh và tính thuế thu nhập doanh nghiệp.  
Dự phòng tăng chi phí đầu tư  
Dự phòng tăng chi phí đầu tư có thể chia thành hai loại:  
✓ Dự phòng tăng chi phí thực  
✓ Dự phòng tăng giá do lạm phát  
Dự phòng tăng chi phí thực liên quan đến việc tăng chi phí kỳ  
vọng của các hạng mục đầu tư dưới tác động đặc thù của từng  
hạng mục, chứ không phải do lạm phát chung của nền kinh tế.  
Trong phân tích tài chính (cũng như phân tích kinh tế), dự  
phòng tăng chi phí thực là một khoản ngân lưu ra trong chi phí  
đầu tư.  
Dự phòng tăng giá do lạm phát làm tăng chi phí đầu tư danh  
nghĩa.  
✓ Khi phân tích tài chính theo giá danh nghĩa, thì dự phòng tăng giá  
là một khoản ngân lưu ra trong chi phí đầu tư tài chính. Nhà phân  
tích nên tính gộp dự phòng tăng giá vào chi phí danh nghĩa của  
từng hạng mục đầu tư.  
✓ Khi phân tích tài chính theo giá thực, thì chi phí đầu tư sẽ không  
bao gồm dự phòng tăng giá do lạm phát.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 16740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thẩm định Đầu tư Công - Bài 3&4: Nguyên lý xây dựng mô hình tài chính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_tham_dinh_dau_tu_cong_bai_3_4_nguyen_ly_xay_dung_m.pdf