Bài giảng Thiết bị thủy lực - khí nén (Hydraulic and pneumatic equipments)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
KHOA CÔNG NGHỆ TỰ ĐỘNG HÓA  
Bộ môn Công nghệ và thiết bị tự động  
BÀI GIẢNG  
THIẾT BỊ THỦY LỰC – KHÍ NÉN  
(Hydraulic and pneumatic equipments)  
Thái Nguyên 2013  
Mục lục  
CHƢƠNG I. MỞ ĐẦU  
1.1. Tổng quan về hệ truyền động thuỷ lực-khí nén  
Trong các hệ thông tự động hóa và điều khiển tự động, thì truyền động thủy lực khí  
nén đƣợc xếp vào chuyên ngành kĩ thuật truyền lực. Nhiệm vụ của kĩ thuật truyền lực  
là xây dựng hệ thống truyền lực của máy hay thiết bị sao cho nhiệm vụ công nghệ của  
chúng đƣợc thực hiện tối ƣu.VD: hệ thống truyền lực của máy ép, của máy xúc….  
Động Cơ  
Truyền động  
Máy hay thiết bị  
Cần dẫn động  
Hệ thống  
truyền động  
Ma ,a,(Fa,va)  
Me ,e  
Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý hệ thống truyền lực  
Cấu trúc cơ bản của một hệ thống truyền lực đƣợc trình bầy nhƣ trên hình1. Đông cơ  
truyền động có thể là động cơ điện (DC,AC ) hoặc động cơ đốt trong (diezen, động cơ  
xăng.. ), cung câp công suất ,truyền lực cho hệ thống,dƣới dạng chuyển động quay đặc  
trƣng bởi 2 thông số Me ( mô men xoắn ), e( vận tốc góc ). Các thong số này đƣợc  
đƣợc chuyển đổi thành thông số vào của máy hay thiết bị công tác chuyển động quay  
Ma, a hoặc chuyển động tịnh tiến Fa,va nhờ một bộ chuyển đổi. Nhiệm vụ chuyển đổi  
năng lƣợng này đƣợc các hệ thống truyền động đảm nhiệm. Đối với các máy , thiết bị  
công tác khác nhau, các nhà thiết kế có rất nhiều dang truyền động khác nhau để lựa  
chọn phù hợp với điều kiện cụ thể.  
Các hệ thống truyền động có thể đƣợc phân loại theo loại phần tử dùng để chuyển  
đổi các thông số vào thành các thông số ra.  
Truyền động cơ học – cơ khí : Các phần tử truyền năng lƣợng là các bộ phận, chi  
tiết cơ khí ( vd: bánh răng, đai, xích ..)… Loại truyền động này, thì cần yêu cầu về  
không gian lắp đặt xác định giữa động cơ dẫn động và máy công tác,trong nhiều trƣờng  
hợp do yêu cầu thiết kế, mà kích thƣớc các chi tiêt cơ khí rất cồng kềnh, gia công chế  
tạo cũng rất khó khăn  
Truyền động điện : Do miền thay đổi và điều khiển vận tốc quay của các loại động  
cơ điện ngày nay đƣợc mở rộng. Nên một phần chức năng truyền động từ động cơ và  
điều khiển truyền động, đã đƣợc thực hiện ngay trên động cơ điện. Tuy vậy, đa số các  
trƣờng hợp, hệ thống truyền động điện vẫn cần kết hợp với bộ truyền cơ học, có tỷ số  
truyền xác định, nhằm đồng bộ hóa, thích ứng mô men quay, vận tốc quay của động cơ  
điện với thông số yêu cầu của thiết bị công tác. Hệ thống truyền động điện cũng yêu  
cầu một không gian xác định giữa động cơ và máy công tác.  
Truyền động thủy lực: Trong hệ thống truyền động thủy lực, việc truyền công suất  
là do chất lỏng đảm nhiệm. Tùy theo việc sử dụng năng lƣợng của dòng chất lỏng là  
   
thế năng hay động năng, mà hệ thống đƣợc gọi là truyền động thủy tĩnh hay truyền  
động thủy động.  
-Truyền động thủy tĩnh :làm việc theo nguyên lý choán chỗ. Trong trƣờng hợp cơ  
bản, hệ thống gồm bơm, đƣợc truyền chuyển động cơ học sẽ cũng cấp một lƣu lƣợng  
chất lỏng để làm chuyển động một xi lanh, hoặc một động cơ thủy lực.  
Áp suất tạo bởi tải trọng trên động cơ hay xi lanh lực cùng với lƣu lƣợng đƣa đến từ  
bơm tạo thành công suất cơ học truyền đến các máy công tác. Đặc tính của truyền lực  
thủy tĩnh có tính chất : tần số quay cũng nhƣ vận tốc của máy công tác trong thực tế  
không phụ thuộc vào tải trọng. Do có khả năng tách bơm và động cơ theo không gian  
và sử dụng các đƣờng ống rất linh động nên không cần một không gian lắp đặt xác  
định giữa động cơ và máy công tác. Trên hệ thống truyền động thủy tĩnh có thể thay  
đổi tỷ số truyền vô cấp trong một khoảng rộng. Chất lỏng thủy lực hiện nay có thể  
đƣợc sử dụng là dầu mỏ, chất lỏng khó cháy, dầu có nguồn gốc thực vật hoặc nƣớc  
-Truyền động thủy động: đƣợc cấu tạo từ một phần bơm và một phần động cơ (  
tuabin) Việc chuyển đổi mô men và tần số quay đƣợc thực hiện nhờ động năng của  
khối chất lỏng. Đƣờng đặc tính của truyền động thủy động có tính chất: tần số quay của  
phần bị động giảm khi mô men quay tăng. Trong sử dụng, truyền động thủy động có  
cấu trúc gọn nhƣng yêu cầu có một không gian xác định giữa động cơ và thiết bị cần  
dẫn động.  
-Truyền động khí nén : Cấu trúc tổng quát của truyền động khí nén cũng tƣơng tự  
nhƣ cấu trúc của truyền động thủy tĩnh. Điều khác biệt cơ bản dẫn đến sự khác biệt về  
tính chất hoạt động và cấu trúc của các chi tiết là môi chất truyền năng lƣợng. Trong  
các hệ thống truyền động khí nén môi chất là không khí nén – một chất “ lỏng” chịu  
nén. Nhƣ vậy có thể lấy không khí từ môi trƣờng, nén lại, truyền dẫn làm hoạt động  
các động cơ khí nén hoặc xy lanh khí nén và lại thải ra môi trƣờng .  
Ngoài ra, để thiết kế một hệ thống truyền lực còn có các giải pháp kết hợp: thủy  
lực- khí nén: điện- khí nén; điện – thủy lực, v..v….Giải pháp tối ƣu cho một nhiệm vụ  
điều khiển và truyền lực luôn phụ thuộc vào mức độ thực hiện các yêu cầu công nghệ ,  
kỹ thuật và kinh tế.Trong kỹ thuật có hàng loạt các trƣờng hợp ứng dụng và các lĩnh  
vực ứng dụng tiêu biểu. Khi đó việc lựa chọn sử dụng loại truyền lực và truyền động  
nào là đƣa vào các lợi thế đặc biệt của mỗi loai. Các bộ truyền lực tịnh tiến để khắc  
phục tải lớn với vận tốc nhỏ thƣờng đƣợc thực hiện bằng thủy kực. Thí dụ cho các  
trƣờng hơp này là các máy nén ép trong công nghiệp ô tô, và công nghệp chế tạo vật  
liệu nhân tạo, bộ phận nâng hạ trong các máy nâng hạ hàng hóa. Máy xúc và cần cẩu  
tự hành…. Cả truyền động của các máy công tác hạng nặng và các máy công nghiệp  
cũng đƣợc thực hiện bằng thuy kực. Đặc biệt các bộ truyêng thủy lực- điện và khí nén  
– điện ngày càng đƣợc phát triển rộng rãi do đƣợc kết nối với máy tính và ứng dụng ký  
thuật điều khiển số. Các hệ thống thủy lực và khí nén điều khiển số ngày càng có ý  
ngĩa lớn trong sản xuất.  
1.2. Lịch sử phát triển của môn học  
1.2.1. Lịch sử phát triển của truyền động thủy lực.  
- 1920 hệ thống truyền động thủy lực đã ứng dụng trong lĩnh vực máy công cụ.  
 
- 1925 hệ thống truyền động thủy lực đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công  
nghiệp khác nhƣ: nông nghiệp, máy khai thác mỏ, máy hóa chất, giao thông vận tải,  
hàng không…..  
- 1960 đến nay, hệ thống truyền động thủy lực đƣợc ứng dụng trong tự động hóa  
thiết bị và dây chuyền thiết bị với trình độ cao, có khả năng điều khiển bằng máy tính  
tạo ra những hệ thống truyền động thủy lực với công suất rất lớn – điều khiển linh hoạt  
hơn, tin cậy hơn.  
1.2.2 .Lịch sử phát triển của truyền động khí nén.  
- Ứng dụng của khí nén con ngƣời đã biết đến từ trƣớc công nguyên thông qua các  
thiết bị bắn đá, bắn tên…, tiếp đến là một số phát minh sáng chế của Klesibios và  
Heron nhƣ thiết bị đóng, mở cửa bằng khí nén;bơm; súng phun lửa đƣợc ứng dụng.  
- Mãi cho đến thế kỷ 17 nhà kỹ sƣ chế tạo ngƣời Đức Otto von Guerike (1602-  
1689), nhà toán học và triết học ngƣời Pháp Blaise Pascal (1623-1662), nhà vật lý  
ngƣời Pháp Denis Papin (1647-1712) đã xây dựng nên nền tảng cơ bản ứng dụng  
truyền động khí nén.  
- Cho đến thế kỷ 19, một số thiết bị sử dụng năng lƣợng khí nén lần lƣợt đƣợc phát  
minh nhƣ việc vận chuyển trong đƣờng ống bằng khí nén (1835), điều khiển phan xe  
bằng khí nén (1880), búa tán đinh bằng khí nén (1861)…  
- Ngày nay việc ứng dụng năng lƣợng bằng khí nén trong kỹ thuật điều khiển đang  
phát triển khá mạnh. Các dụng cụ, thiết bị, phần tử khí nén mới đƣợc cải tiến, sáng chế  
và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, sƣ kết hợp khí nén với điện – điện tử sẽ  
mở ra nhiều triển vọng và nó sé là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển  
của kỹ thuật điều khiển tự động.  
1.3.Đối tƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu của môn học-ứng dụng.  
1.3.1. Đối tƣợng.  
Đối tƣợng nghiên cứu của môn học là chất lỏng.Chất lỏng ở đây hiểu theo nghĩa  
rộng bao gồm chất lỏng thể nƣớc - chất lỏng không nén đƣợc ( khối lƣợng riêng   
không thay đổi) và chất lỏng ở thế khí- chất lỏng nén đƣợc ( khối lƣợng riêng thay đổi  
≠ const)  
Kĩ thuật thủy lực khí nén, nghiên cứu các quy luật cân bằng và chuyển động của  
chất lỏng, từ đó xác định đƣợc sự phân bố vận tốc,áp suất, khối lƣợng riêng và nhiệt độ  
trong chất lỏng cũng nhƣ xác định đƣợc tác dụng tƣơng hỗ giữa chất lỏng và vật rắn  
xung quanh nó, nhằm ứng dụng vào máy thủy khí.( giải những bài toán thiết kế hệ  
thống thủy lực – khí nén )  
1.3.2 .Phƣơng pháp nghiên cứu môn học.  
Dùng 3 phƣơng pháp sau đây:  
-Phƣơng pháp lý thuyết: sử dụng công cụ toán học. chủ yếu nhƣ giải tích, phƣơng  
trình vi phân. ( sử dụng các định lý tổng quát của cơ học: định lí bảo toàn khối lƣợng,  
năng lƣợng, định lí biến thiên động lƣợng, mô men động lƣợng…. )  
-Phƣơng pháp thực nghiệm: dùng trong một số trƣờng hợp mà không thể giải bằng  
bài toán lý thuyết vd: xác định hệ số lực cản cục bộ.  
 
-Phƣơng pháp bán thực nghiệm, kết hợp giữa lí thuyến và thực nghiệm  
1.3.3 .Ứng dụng.  
Ứng dụng rộng rãi trong các ngành kĩ thuật chế tạo máy, điều khiển tự động …cũng  
nhƣ các ngành giao thông vận tải, hành không...  
1.4. Cấu trúc và hoạt động của bộ truyền động thủy lực –khí nén  
Cấu trúc và tác động lẫn nhau của các nhóm cấu trúc truyền động thủy lực đƣợc  
trình bầy nhƣ hình 1.1. Phần thủy lực bao gồm bơm thủy lực để tạo dòng dầu có áp  
suất, xy lanh thủy lực hoặc động cơ thủy lực là phụ tải. Giữa các phần tử cơ bản còn có  
ống dẫn dầu , các van điều khiển và các bộ phận phụ trợ thủy lực đặc biệt nhƣ bình loc,  
bộ làm mát , bộ tích áp và các bộ khác.  
Hình 1.2: Sơ đồ truyền công suất trong thiết bị thủy lực.  
Máy động lực thƣờng đƣợc sử dụng là động cơ điện hoặc động cơ đốt trong,  
truyền cho bơm mô men quay M1 và tần số quay n1(v/s) và cung cấp một công suất cơ  
học:  
ch  
1 1  
Công suất này đƣợc chuyển đổi thành công suất thủy lực trong bơm:  
rl  
Trong đó :  
p là áp suất dầu yêu cầu từ máy công tác;  
Q- lƣu lƣợng đƣợc tính từ tần số quay và kích thƣớc của bơm.  
Dòng dầu có áp suất trong thiết bị thủy lực đƣợc dẫn qua các đƣờng ống và các van  
điều khiển đến xy lanh lực hoặc động cơ thủy lực, tại đó công suất thủy lực lại đƣợc  
biến đổi thành công suất cơ học cần thiết của máy công tác, Đối với các xy lanh thủy  
lực công suất cần thiết đƣợc tính theo lực yêu cầu trên cần pittong và vận tốc pittong:  
 
P Fv  
ch  
Đối với động cơ thủy lực công suất yêu cầu đƣợc tính theo số liệu của máy công tác:  
P 2M2n2  
mech  
Sơ đồ kỹ thuật biểu diễn bộ truyền theo kí hiệu mạch xy lanh thủy lực đƣợc trình  
bày trên hình 1.3. Hình trên cùng (1.3a) mô tả hoạt động chung của bơm thủy lực, xy  
lanh thủy lực và thùng dầu, Trong sơ đồ này sử dụng bơm có thể tích làm việc không  
đổi và một xy lanh tác động kép.Bơm thủy lực hút dầu từ bình và cung cấp lƣu lƣợng  
dầu Q với áp suất p đến xy lanh .Lƣu lƣợng Q tỷ lệ thuận với tần số quay của bơm dầu  
và xác định vận tốc của pittong. Mô men truyền lực tỷ lệ thuận với áp suất đƣợc tạo ra  
ứng với tải trọng tác động lên pittong.  
Hình 1.3: Truyền động cho một xy lanh thủy lực  
a-Cấu trúc cơ bản; b- Hành trình tiến;c- Hành trình trả về  
Do bơm chỉ cung cấp một phía, trong khí đó xylanh lại cần chuyển động đƣợc cả  
hai chiều , cho nên cần bố trí một van phân phối để hƣớng dẫn dòng dầu đến mỗi phía  
mong muốn của pittong. Van phân phối xác định việc khởi hành , dừng lại và chiều  
chuyển động ( nghĩa là toàn bộ quá trình chuyển động ) của pittong. Trên hình 1.3b van  
phân phối đang ở vị trí điều khiển hành trình tiến của pittong. Lúc đó dòng dầu từ bơm  
chuyển động qua van đến phần bên trái của xylanh và đẩy pittong chuyển động sang  
phải, đồng thời phần dầu ở ngăn bên phải pittong đƣợc chảy qua van trở về thùng.  
Hành trình trả về đƣợc thực hiện khi van phân phối ở vị trí đối diện ( hình 1.3c). Tạ vị  
trí trung gian của van phân phối cả hai đƣờng dầu đến xy lanh đều bị chặn lại và dòng  
dầu từ bơm có thể chảy gần nhƣ không có áp suất về thùng.  
Để đảm bảo an toàn cho thiết bị thủy lƣck hoặc hạn chế áp suất cực đại, ngƣời ta  
sử dụng các van giới hạn áp suất ( hinh 1,3b và 1,3c) . Khi áp suất dầu tạo ra áp lực lớn  
hơn lực lò xo, van sẽ mở ra và dòng dầu từ bơm sẽ chảy qua van về thùng mang theo  
cả phần nhiệt lƣợng sinh ra khi đó trong hệ thống .  
Sơ đồ truyền động cho một động cơ thủy lực cũng có thể đƣợc sử dụng tƣơng tự.  
Sơ đồ hoạt động và sơ đồ mạch thủy lực đối với động cơ thủy lực không thay đổi thể  
tích làm việc đƣợc trình bày trên hình 1.4. Động cơ có thể quay hai chiều nhờ chuyển  
mạch van phân phối .Van giới hạn áp suất đƣợc bố trí để giới hạn mô men quay khi  
quá tải.  
Hình 1.4: Truyền động cho một động cơ thủy lực  
1- Van giới hạn áp suất; 2-Van phân phối 4/3; 2- Động cơ thủy lực.  
1.5. Ƣu, nhƣợc điểm của bộ truyền động thủy lực-khí nén.  
Trong nhiều trƣờng hợp sử dụng cần tìm những giải pháp thích hợp cho các hệ  
thống truyền lực. Khi đó cần biết ƣu điểm, nhƣợc điểm của mỗi loại truyền lực.Các  
tính chất ƣu việt của truyền động thủy lực – khí nén đƣợc tóm tắt nhƣ sau.  
1.5.1 .Ƣu nhƣợc điểm của hệ thống truyền động thủy lực.  
Ưu điểm.  
+Truyền động đƣợc công suất cao và lực lớn, ( nhờ các cơ cấu tƣơng đối đơn giản,  
hoạt động với độ tin cậy cao nhƣng đòi hỏi ít về chăm sóc, bảo dƣỡng).  
+ Điều chỉnh đƣợc vận tốc làm việc tinh và vô cấp, ( dễ thực hiện tự động hóa theo  
điều kiện làm việc hay theo chƣơng trình có sẵn).  
+ Kết cấu gọn nhẹ, vị trí của các phần tử dẫn và bị dẫn không lệ thuộc nhau  
+ Có khả năng giảm khối lƣợng và kích thƣớc nhờ chọn áp thủy lực cao.  
+ Nhờ có quán tính nhỏ của bơm và động cơ thủy lực, nhờ tính chịu nén của dầu nên  
có thể sử dụng ở vận tốc cao mà không sợ bị va đập mạnh (nhƣ trong cơ khí và điện ).  
+ Dễ biến đổi chuyền động quay của động cơ thành chuyển động tịnh tiến của cơ  
cấu chấp hành.  
+Bảo vệ quá tải đơn giản nhờ van an toàn giới hạn áp suất.  
+ Dễ theo dõi và quan sát bằng áp kế, kể cả các hệ phức tạo, nhiều mạch.  
+Có khả năng tự động hóa đơn giản, kể cả các thiết bị phức tạp, bằng cách dùng các  
phần tử tiêu chuẩn hóa.  
Nhược điểm.  
+Mất mát trong đƣờng ống dẫn và rit bên trong các phần tử, làm giảm hiệu suất và  
hạn chế phạm vi sử dụng.  
 
+Khó giữ đƣợc vận tốc không đôỉ khi phụ tải thay đổi do tính nén đƣợc của chất  
lỏng và tính đàn hồi của đƣờng ống dẫn, do hiện tƣợng trƣợt giữa phần chủ động và  
phần thụ động. do hao tổn lọt dòng.  
+Khi mới khởi động, nhiệt độ của hệ thống chƣa ổn định, vận tốc làm việc thay đổi  
do độ nhớt của chất lỏng thay đổi.  
+Chi phí chế tạo cao do yêu cầu độ chính xác cao của các phần tử cấu trúc trong hệ  
thống thủy lực  
1.5.2 .Ƣu nhƣợc điểm của hệ thống truyền động khí nén.  
Ưu điểm.  
+Có khả năng truyền năng lƣợng đi xa, bởi vì độ nhớt động học của khí nén nhỏ và  
tổn thất áp suất trên đƣờng dẫn nhỏ.  
+ Do khả năng chịu nén ( đàn hồi) lớn của không khí, nên có thể trích chứa khí nén  
rất thuận lợi. Vì vậy có khả năng ứng dụng để thành lập một trạm trích chứa khí nén.  
+ Không khí dùng đề nén , hầu nhƣ có số lƣợng không giới hạn và có thể thải ra  
ngƣợc trở lại bầu khí quyển.  
+ Hệ thống khí nén sạch sẽ, dù cho có sự do` rỉ không khí nén ở hệ thống ống dẫn,  
do đó không tồn tại mối đe dọa bị nhiễm bẩn.  
+ Chi phí nhỏ để thiết lập một hệ thống truyền động bằng khí nén, bởi vì phần lớn  
trong các xí nghiệp nhà máy đã có sẵn các đƣờng dẫn khí nén.  
+ Hệ thống phòng ngừa quá áp suất đƣợc đảm bảo nên tính nguy hiểm của quá trình  
sử dụng hệ thống truyền động bằng khí nén thấp.  
+ Các thành phần vận hành trong hệ thống ( cơ cấu dẫn động,van,… ) có cấu tạo  
đơn giản, và giá thành không đắt.  
+ Các van khí nén phù hợp một cách lý tƣởng đối với các chức năng vận hành logic,  
và do đó đƣợc sử dụng để điều khiển trình tự phức tạp và các mức phức hợp.  
Nhược điểm.  
+ Lực để truyền tải trọng đến cơ cấu chấp hành thấp.  
+ Khi tải trọng trong hệ thống thay đổi, thì vận tốc truyền cũng thay đổi theo, bởi vì  
khả năng đàn hồi của khí nén lớn. ( Không thể thực hiện đƣợc những chuyển động  
thẳng hoặc quay đều.).  
+ Dòng khí thoát ra ở đƣờng dẫn ra gây lên tiếng ồn.  
CHƢƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRUYỀN ĐỘNG THỦY LỰC-KHÍ NÉN  
2.1. Cơ sở lý thuyết về truyền động thủy lực.  
2.1.1. Chất lỏng thủy lực.  
2.1.1.1. Định nghĩa và yêu cầu chất lỏng thủy lƣc.  
Chất lỏng thủy lực là môi chất mang năng lượng trong hệ thống thủy lực. Kiến  
thức về loại chất lỏng, về tính chất và về tính chất hoạt động có ý nghĩa rất lớn với việc  
thiết kế và vận hành các thiết bị thủy lực.  
Nhiệm vụ của chất lỏng thủy lực là truyền lực và lƣu thong dƣới dạng một đƣờng  
chất lỏng có áp suất từ bơm thủy lực đến động cơ và xi lanh thủy lực.Ngoài ra chất  
lỏng thủy lực còn đảm nhận việc bôi trơn,chống rỉ và làm mát các chi tiết của hệ thống.  
Yêu cầu về chất lỏng thủy lực xuất phát từ nhiệm vụ của chúng.Tuy nhiên, với  
các thiết bị khác nhau, có các dạng yêu cầu khác nhau.Một số các yêu cầu quan trọng :  
- Tính chất nhiệt độ- độ nhớt hợp lý, độ nhớt cần thay đổi ít nhất trong khoảng  
nhiệt độ thay đổi.  
-Tính chất chống mòn và bôi trơn tốt, cần lƣu ý là luôn xuất hiện chếđộ ma sát hỗn  
hợp nhất là đối với các máy thuỷ lực pít tông;  
-Tính chống rỉ tốt, thích ứng với các phớt làm kín, các phần tử cao su, vật liệu nhân  
tạo và hợp kim ;  
- Độ bền lão hoá tốt kể cả trong các điều kiện làm việc nặng nề ;  
- Khả năng tách bọt khí tốt  
2.1.1.2. Phân loại chất lỏng thủy lực.  
a) Phân loại.  
Trong truyền động thuỷ tĩnh ngƣời ta sử dụng chủ yếu các loại chất lỏng thuỷ lực sau:  
- Chất lỏng thuỷ lực từ dầu mỏ (dầu khoáng);  
- Chất lỏng thuỷ lực khó cháy.  
Dầu khoáng là chất lỏng thuỷ lực đƣợc sử dụng phổ biến nhất, đây là loại dầu  
chuyên dùng cho các thiết bị thuỷ lực có pha thêm một số chất phụ gia. Các chất phụ  
gia dùng để cải thiện các tính chất của dầu thuỷ lực, thí dụ tính chất nhớt – nhiệt độ,  
tính chất bôi trơn – chống mòn, tính chất chống rỉ hoặc độ bền lão hoá.  
Chất lỏng thuỷ lực khó cháy có nhiệt độ bắt cháy cao hơn hẳn dầu khoáng, thƣờng  
đƣợc sử dụng trên các thiết bị có nguy cơ cháy nổ. Có hai loại chất lỏng thuỷ lực khó  
cháy là chất lỏng chứa nƣớc có nguồn gốc dầu mỏ và chất lỏng không chứa nƣớc trên  
cơ sở vật liệu tổng hợp.  
Ngoài ra trên các thiết bị tự hành còn sử dụng dầu động cơ và dầu truyền lực làm  
chất lỏng thuỷ lực. Dầu này đƣợc sử dụng trong một mạch dầu chung vừa để bôi trơn  
động cơ và hộp số, vừa để thực hiện cả nhiệm vụ truyền lực trong hệ thống thuỷ lực.  
Đôi khi trên các thiết bị di động và có nhiệt độ làm việc thấp ngƣời ta còn sử dụng  
dầu truyền lực tựđộng (ATF) làm chất lỏng thuỷ lực, ví dụ trong bộ phận lái tuỳđộng  
của PKW.  
         
b) Cơ sở phân loại  
Dầu khoáng đƣợc phân loại theo độ nhớt (Viscosity Grad: VG). Cơ sở phân loại  
theo độ nhớt là dựa trên độ nhớt động học trung bình tại nhiệt độ chuẩn 400 C .Để thiết  
bị thuỷ lực hoạt động tốt cần giữ một giới hạn độ nhớt xác định, giới hạn đó đƣợc các  
nhà sản xuất dầu thuỷ lực quy định. Dƣới đây là một số giá trị kinh nghiệm có thể tham khảo:  
Chất lỏng thủy lực khó cháy đƣợc phân ra 4 vùng độ nhớt dựa trên độ nhớt động  
học trung bình tại nhiệt độ chuẩn 50 0C  
Dầu động cơ va dầu truyền lực đƣợc phân loại theo tiêu chuẩn SAE dựa trên độ nhớt  
động học trung bình tại nhiệt độ chuẩn 400 C  
2.1.2 .Một số định nghĩa, đơn vị đo và tính chất cơ lý của chất lỏng.  
2.1.2.1. Áp suất.  
Áp suất là một đại lƣợng vật lý ( kí hiệu là p), thể hiện cƣờng độ thành phần lực tác  
động vuông góc trên một đơn vị đo diện tích bề mặt vật chất.  
p   
S
Đơn vị theo SI là Pascal (Pa) – 1 Pascal là áp suất phân bố đều lên bề mặt có diện  
tích 1m2 với lực tác động vuông góc lên bề mặt đó là 1Newton (N)  
1 Pa =1N/m2 trong thực tế ngƣời ta hay dùng đơn vị bội số của Pa là Megapascal  
(MPa) 1 MPa =106 Pa, ngoài ra còn dùng đơn vị bar, với 1bar =105 Pa  
Ngoài ra còn dùng đơn vị áp suất kg/cm2 :  
1kg/cm2 0,1N/mm2 =10N/cm2=105N/m2 =1bar  
Trong kĩ thuật khí nén, áp suất còn dùng đơn vị atmosphere (1atm =1,03.102 Pa ),  
mmHg=1/760atm=133,3Pa )  
2.1.2.2.Lực.  
Lực F à một đại lƣợng vật lý đƣợc dùng để biểu thị tƣơng tác giữa các vật, làm thay  
đổi trạng thái chuyển động hoặc làm biến đổi hình dạng của các vật.  
Lực F cũng có thể đƣợc miêu tả bằng nhiều cách khác nhau nhƣ đẩy hoặc kéo. Lực  
tác động vào một vật thể có thể làm nó xoay hoặc biến dạng , hoặc thay đổi về ứng  
suất, và thậm chí thay đổi về thể tích. Lực bao gồm cả hai yếu tố là độ lớn và hƣớng.  
Đơn vị lực là Newton (N) 1N=1kg.m/s2.  
2.1.2.3.Công.  
Công cơ học, gọi tắt là công, là năng lƣợng đƣợc thực hiện khi có một lựctác dụng  
lên vật thể làm vật thể và điểm đặt của lực chuyển dời. Công cơ học thu nhận bởi vật  
thể đƣợc chuyển hóa thành sự thay đổi công năng của vật thể, khi nội năng của vật thể  
này không đổi.  
Công đƣợc xác định bởi tích vô hƣớng của véctơ lực và véctơ đƣờng đi:  
A=F.s  
Trong đó:  
- A là công, trong hệ đơn vị SI tính theo J.  
- F là vecto lực không biến đổi trên quãng đƣờng di chuyển, trong hệ SI tính theo N  
- s là véc-tơ quãng đƣờng thẳng mà vật đã di chuyển, trong SI tính theo m  
- "." là nhân vô hƣớng  
 
Khi quãng đƣờng cong và/hoặc lực biến thiên trên đƣờng đi, công đƣợc tính  
theo tích phân đƣờng:  
với :  
- A là công  
- C là đƣờng cong mà vật đã đi  
-
-
là véc-tơ lực  
là véc-tơ vị trí  
- "." là nhân vô hƣớng  
2.1.2.4.Lưu lượng.  
Lƣu lƣợng Q chất lỏng qua mặt cắt ngang của một ống dẫn là đại lƣợng đo bằng thể  
tích chất lỏng chuyển động qua mặt cắt đó trong một đơn vị thời gian (hay có thể nói :  
Lƣu lƣợng là vận tốc dòng chảy của lƣu chất qua một tiết diện dòng chảy ). Đơn vị của  
lƣu lƣợng thƣờng dùng là l/min ( lít / phút) hoặc m3/phút.  
Trong cơ cấu biến đổi năng lƣợng dầu ép( bơm dầu, động cơ dầu ) cũng có thể dùng  
đơn vị là m3/ vòng,hoặc l/vòng.  
Q= v.S  
trong đó: Q- lƣu lƣợng, v- vận tốc dòng chảy,S- diện tích cắt ngang của ống dẫn (  
tiết diện dòng chảy )  
2.1.2.5 Công suất.  
Công suất P là một đại lƣợng cho biết công đƣợc thực hiện ΔW hay năng  
lƣợng biến đổi ΔE trong một khoảng thời gian T = Δt.  
E W  
P   
t  
t  
dW(t)  
hay ở dạng vi phân  
P(t)   
dt  
Công suất trung bình:  
1 T  
P   
P(t)dt  
T   
0
Trong hệ SI, công suất có đơn vị đo là watt (W).  
Trong kĩ thuật thủy lực khí nén , nhằm tránh nhầm lẫn với kí hiệu đại lƣợng áp suất  
P, ngƣời ta kí hiệu công suất là H  
Q(l / min)*P(bar)  
600  
H   
(kW)  
2.1.2.6 . Tính chất cơ lý của chất lỏng.  
a,Độ nhớt  
Độ nhớt là một thông số đặc trƣng đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực kỹ thuật thuỷ  
lực. Độ nhớt cung cấp thông tin về ma sát trong của chất lỏng thuỷ lực và cùng với khối  
̣
lƣợng riêng của chất lỏng cung cấp thông tin về tính chất cản trên dng chảy (thí dụ trên  
đƣờng ống), và quan trọng hơn cả là cung cấp thông tin về khả năng tải của chất lỏng,  
có nghĩa là về khả năng chịu tải của các phần tử máy, các trục trên ổ trƣợt hoặc pít tông và  
xy lanh.  
Để dễ dàng làm sáng tỏ khái niệm độ nhớt có thể sử dụng một thí dụ quen thuộc dƣới  
́
đây (hnh 1.4): Hai tấm phẳng song song chuyển động tƣơng đối với nhau với một vận tốc  
nhỏ có môi trƣờng ngăn cách là chất lỏng. Tấm phẳng dƣới không chuyển động co  
̣
n
tấm phẳng trên chuyển động sang phải với vận tốc vxp. Trong khoảng cách giữa hai tấm  
có sự phân bố vận tốc chất lỏng theo tỷ lệ:  
Hình 2.1: Phân bố vận tốc chất lỏng giữa 2 tấm phẳng  
Từ đó xuất hiện sức cản ma sát trên một đơn vị diện tích hay còn gọi là ứng suất trƣợt  
ma sát:  
dVx  
  .  
dy  
Đây là định luật Newton quen thuộc về ma sát, trong đó hệ số tỷ lệ η đƣợc gọi là độ  
nhớt động lực học.  
Đối với kỹ thuật thuỷ lực độ nhớt động học ν thƣờng có khả năng biểu hiện cao hơn v  
́
nó mô tả tính chất động chảy của chất lỏng dƣới ảnh hƣởng của quán tính khối lƣợng và  
lực trọng trƣờng.  
v   
Các hệ đơn vị dƣới đây đƣợc sử dụng cho độ nhớt:  
+ Độ nhớt động lực học η ( là lực ma sát tính bằng 1N tác động lên một đơn vị diện tích bề  
mặt 1m2 của hai lớp phẳng song song với dòng chảy của chất lỏng, cách nhau 1m và có vận  
tốc chảy 1m/s  
1 Ns/m2 = 1 Pa.s = 103 mPa.s  
hoặc 1 P (Poise) = 100 cP = 10-1 Ns/m2;  
+ Độ nhớt động học ν: ( tỉ số giữa độ nhớt động lực học η với khối lƣợng riêng của  
chất lỏng  
1 m2/s = 106 mm2/s  
hoặc 1 St (Stoke) = 100 cSt(centiStock ) = 100 mm2/s.  
Cả hai loại độ nhớt phụ thuộc rất mạnh vào nhiệt độ và áp suất  
+Độ nhớt Engler (E0) : là tỉ số quy ƣớc dùng để so sánh thời gian chảy của 200cm3 dầu  
qua ống dẫn có đƣờng kính 2,8mm với thời gian chảy của 200cm3 nƣớc cất ở nhiệt độ 200C  
qua ống dẫn có cùng đƣờng kính, ký hiệu : E0=t/tn .  
Độ nhớt Engler (E0) thƣờng đƣợc đo khi dầu ở nhiệt độ 200C, 500C, 1000C, và kí hiệu  
tƣơng ứng với nó: E020 ; E050 ; E0100  
.
b,Ảnh hưởng của độ nhớt đến truyền động thủy lực  
Khi chỉ số độ nhớt quá cao sẽ làm tăng sẽ làm tăng hệ số ma sát trƣợt của dầu thủy  
lực với những phần mà nó tiếp xúc. Nhƣ vậy hệ số ma sát tăng sẽ làm phát sinh nhiệt  
nhiều hơn. Suy ra dẫn đến tổn thất công suất nhiều hơn. Đồng thời tổn thất áp suất  
cũng tăng. Dẫn đến hiệu xuất của hệ sẽ thấp đi. Động cơ làm việc nặng tải hơn bình  
thƣờng. Hơi nƣớc khó thoát hơn làm tăng hiện tƣợng nhũ tƣơng trong dầu. Làm giảm  
tốc độ các cơ cấu chấp hành. Tăng khả năng xâm thực của bơm vì khả năng dâng kém.  
Hình 2.2  
Máy nén làm việc nặng tải hơn  
Hình 2.3  
ma sát tăng cao >>> tốn that công  
Khi chỉ số độ nhớt quá thấp dò rỉ trong bơm sẽ tăng nên. Hiệu suất thể tích sẽ kém  
đi và nhƣ vậy dẫn đến áp suất làm việc theo yêu cầu không đƣợc đáp ứng. Do có sự dò  
rỉ của van và xi lanh nên xi lanh xẽ bị thu lại do phản lực. Còn động cơ không sản sinh  
ra đủ mô men yêu cầu đáp ứng. Nó cũng làm tăng khả năng bị mài mòn của thiết bị.  
Hình 2.4  
Hình 2.5  
Hiệu suất máy bơm kém đi  
Dò rỉ dầu trong xilanh tăng lên  
Theo nhƣ khuyến cáo thì tại các vùng ôn đới thì dùng dầu thủy lực có chỉ số ISO  
VG=32, những vùng nhiệt đới dùng dầu thủy lực có chỉ số ISO VG = 46. Dầu có ISO  
VG=68 và 100 hoạt động trong những máy có môi trƣờng nhiệt độ cao.  
Lƣu ý: Nếu môi trƣờng hoạt động của máy dƣợc làm mát kém, Máy có độ chính xác cơ  
khí không cao. Đã quá cũ thì nên dùng dầu có chỉ số độ nhớt cao.  
- Mối quan hệ giữa nhiệt độ- áp suất- độ nhớt.  
Nhiệt độ càng tăng độ nhớt của chất lỏng càng giảm. Chất lỏng thuỷ lực bị loăng đi  
́
thì sức cản ma sát giảm, tuy nhiên khả năng tải của chất lỏng cũng giảm.  
Áp suất tăng sẽ làm tăng độ nhớt của chất lỏng thuỷ lực. Chất lỏng trở nên đặc hơn  
sẽ làm tăng sức cản ma sát, tuy nhiên cũng làm tăng khả năng tải.  
- Mối quan hệ giữa nhiệt độ- áp suất- khối lượng riêng.  
Khối lƣợng riêng của chất lỏng là tỷ lệ giữa khối lƣợng và thể tích của nó  
Khối lƣợng riêng là một thông số đặc trƣng để tính toán sức cản dòng chảy có  
nghĩa là hao tổn dòng chảy và cũng là thông số để tính toán hao tổn va đập trong  
đƣờng ống và các phần tử cấu trúc.  
Khi nhiệt độ tăng thì khối lƣợng riêng của chất lỏng thủy lực giảm ( ví dụ với dầu  
0
thủy lực, dƣới áp suất khí quyển, khi nhiệt độ tăng 50 C thì khối lƣợng riêng giảm từ  
0,877 xuống 0,847 g/cm 3)  
Khi áp suất tăng thì khối lƣợng riêng của chất lỏng thủy lực tăng ( ví dụ với dầu  
0
thủy lực,tại nhiệt độ 15 C, áp suất tăng từ 1 đến 301 bar thì khối lƣợng riêng tăng từ  
0,877 đến 0,982 g/cm 3 )  
- Khả năng tiếp nhận không khí của dầu thủy lực  
Không khí có thể đƣợc hàm chứa trong dầu thuỷ lực ở hai dạng:  
- Không khí hoà tan;  
- Không khí không hoà tan, có nghĩa là ở dạng bọt khí.  
Khi còn ở dạng hoà tan trong dầu, không khí không ảnh hƣởng đến tính chất của  
dầu thuỷ lực, có nghĩa là không làm thay đổi đến tính chịu nén của dầu. Trong trạng  
thái bão hoà, dầu khoáng có thể hoà tan khoảng 9% thể tích không khí, có nghĩa là  
trong một lít dầu có thể hoà tan đƣợc 90 cm3 không khí. Khả năng tiếp nhận không khí  
của dầu tăng khi áp suất tăng, trong khi sự thay đổi của nhiệt độ lại hầu nhƣ không ảnh  
hƣởng đến khả năng này.  
Bọt khí sẽ xuất hiện trong dầu khi khả năng tiếp nhận không khí của dầu ở dạng  
hoà tan đã vƣợt quá mức giới hạn. Đồng thời không khí ở dạng hoà tan cũng có thể  
chuyển thành bọt khí ở những nơi có áp suất vƣợt qua giá trị áp suất bão hoà, thí dụ  
trên đƣờng ống nạp, tại các chỗ cong gấp, đằng sau vị trí tiết lƣu,… Bọt khí cũng có  
thể xâm nhập khi nạp khí, do lọt khí tại các chỗ nứt trên đƣờng dầu về thùng. Bọt khí  
làm cho dầu bị “mềm” đi, làm giảm mô đun nén K. Khi tăng áp suất có thể gây va đập  
sau bơm, gây chuyển động ngƣợc, làm cho tần số quay thay đổi theo dạng bậc, gây ồn,  
gãy hoặc mài mòn (xâm thực). Chính vì vậy cần phải thiết kế bộ phận tách bọt, mà  
trƣớc hết là tách bọt trong thùng dầu.  
2.1.3. Cơ sở kĩ thuật thủy tĩnh  
2.1.3.1.Áp suất thủy tĩnh. Phân biệt các loại áp suất.  
2.1.3.1.1. Khái niệm và phân loại trạng thái tĩnh  
Khái niệm chung.  
Thủy tĩnh học là một ngành học của thủy lực chuyên nghiên cứu về chất lỏng trong  
trạng thái tĩnh (mọi điểm trong chất lỏng đều đứng yên).  
Phân loại trạng thái tĩnh.  
Tĩnh tuyệt đối: Chất lỏng không chuyển động so với hệ toạ độ cố định (gắn liền với  
trái đất).  
Tĩnh tƣơng đối: Chất lỏng chuyển động so với hệ toạ độ cố định, nhƣng giữa chúng  
không có sự chuyển động tƣơng đối.  
2.1.3.1.2. Áp lực – áp suất thủy tĩnh  
a, Áp lực  
Định nghĩa: Lực mà khối chất lỏng tiếp xúc với thành tác động lên thành đó theo  
phƣơng vuông góc với thành.  
Kí hiệu: thƣờng kí hiệu là F  
Đơn vị: (N)  
b, Áp suất  
Trong vật lý học, áp suất (thƣờng đƣợc viết tắt là p) là một đại lƣợng vật lý, thể hiện  
cƣờng độ thành phần lực tác động vuông góc trên một đơn vị đo diện tích của một vi  
thành phần bề mặt vật chất.  
Định nghĩa: Là những ứng suất gây ra bởi các lực khối và lực bề mặt.  
Kí hiệu: p  
Đơn vị đo: N/m2 - xem thêm bảng 2-1  
Bảng 2-1: Đổi đơn vị đo áp suất  
at  
atm  
atmôtphe  
vật lý  
Pa  
bar  
mmHg  
(N/m2)  
   
1 Pa (N/m2)  
1
10-5  
0.102×10-4  
1
0.0075  
736  
760  
1
0.987×10-5  
0.968  
1at  
98100  
101325  
133  
0.981  
1.013  
1atm  
(atmôtphe vật lý)  
1.033  
1
1 mmHg  
0.00132  
0.00132  
0.00133  
Ví dụ: 1 Pa = 1 N/m2 = 10−5 bar = 10,197×10−6 at = 9,8692×10−6 atm, v.v…  
Ghi chú: mmHg là viết tắt của milimét thủy ngân.  
Áp suất thủy tĩnh : là những ứng suất gây ra bởi các lực mặt và lực khối tác dụng lên  
chất lỏng ở trạng thái tĩnh.  
Các tính chất của áp suất thủy tĩnh:  
Tính chất 1:Áp suất thuỷ tĩnh luôn luôn tác dụng  
thẳng góc và hƣớng vào mặt tiếp xúc (Hình 2-1) có thể  
tự chứng minh bằng phản chứng.  
Tính chất 2: Áp suất thuỷ tĩnh tại một điểm theo  
mọi phƣơng là nhƣ nhau.  
Biểu thức: px = py =pz = pn  
Hình 2.6  
2.1.3.1.3. Phân biệt các loại áp suất  
Áp suất chất lỏng tại một điểm bất kì trong lòng chất lỏng là giá trị áp lực lên một  
đơn vị diện tích đặt tại điểm đó.  
Công thức tính áp suất: p=d.h  
h: độ sâu tính từ điểm tính áp suất tới mặt thoáng chất lỏng  
d:trọng lƣợng riêng của chất lỏng  
. Kí hiệu: p  
. Đơn vị: N/m2, Pa (Pascal).  
Công thức tính áp suất chất lỏng là : d.h  
Trong đó là độ sâu tính từ điểm tính áp suất tới mặt thoáng chất lỏng , là trọng  
lƣợng riêng của chất lỏng.  
Áp suất khí quyển là áp suất của khí quyển Trái Đất tác dụng lên mọi vật ở bên  
trong nó và lên trên bề mặt Trái Đất.  
Càng lên cao, áp suất khí quyển tác dụng vào vật càng giảm. Áp suất khí quyển tại  
các địa điểm khác nhau thì khác nhau. Áp suất tại cùng một địa điểm vào các thời điểm  
khác nhau thì khác nhau. Áp suất khí quyển thƣờng đƣợc đo bằng đơn vị át-mốt-phe, kí  
hiệu là atm: 1 atm = 101325 Pa đây cũng chính là áp suất khí quyển tại mặt nƣớc biển.  
Một đơn vị khác để đo áp suất khí quyển là milimet thủy ngân mmHg hay gọi  
là Torr (1 Torr = 133,3 Pa = 1 mmHg , 760 mmHg= 1 atm).  
Các đơn vị sau là tƣơng đƣơng, nhƣng chỉ viết số thập phân: 760 mmHg (Torr),  
29,92 inHg, 14,696 psi, 1013,25 millibars  
Áp suất thủy tĩnh :  
Trong chất lỏng. áp suất ( do trọng lƣợng, ngoại lực) tác dụng lên mỗi phần tử chất  
lỏng không phụ thuộc vào hình dạng binh chứa nó, mà chỉ phụ thuộc vào độ sâu từ  
mặt thoáng chất lỏng, đến điểm tính áp suất.  
Hình 2.7: Áp suất thủy tĩnh  
Ta có :  
Hình a: ps= h.g+pL  
F
Hình b: pF=  
A
F
F2  
A2  
l2 A2  
A
F
1
1
Hình c:  
pF   
và  
A
l1  
F2  
1
1
Trong đó:  
- khối lƣợng riêng của chất lỏng ;  
h- chiều cao của cột nƣớc;  
g- gia tốc trong trƣờng;  
ps- áp suất do lực trọng trƣờng;  
pL-áp suất của tải trọng ngoài;  
A,A1,A2 – diện tích bề mặt tiếp xúc;  
F-tải trọng ngoài.  
Áp suất tuyệt đối là tổng áp suất gây ra bởi cả khí quyển và cột chất lỏng tác dụng  
lên điểm trong lòng chất lỏng.  
Kí hiệu: pa  
Công thức:  
trong đó:  
. p0 là áp suất khí quyển  
.
là trọng lƣợng riêng của chất lỏng  
. g là gia tốc rơi tự do: 9.81m/s²  
. h là độ sâu thẳng đứng từ mặt thoáng chất lỏng đến điểm đƣợc xét  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 251 trang baolam 25120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thiết bị thủy lực - khí nén (Hydraulic and pneumatic equipments)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_thiet_bi_thuy_luc_khi_nen_hydraulic_and_pneumatic.pdf