Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên shopee tại TP. Hồ Chí Minh

CÁC NH N TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ H I L NG  
CỦA KHÁCH H NG KHI MUA SẮM TR N SHOPEE  
TẠI TP. HỒ CHÍ MINH  
Trương Công Bình, Nguyễn Thị Kim Quyên, Lữ Hoàng Lê Đăng  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP.Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Hà Thị Thùy Trang  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên  
Shopee tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm xác định những nhân tố ảnh  
hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee tại TP. Hồ Chí Minh bằng  
phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính thực hiện thông qua  
thảo luận nhóm và tay đôi với các chuyên gia có uy tín và kinh nghiệm. Nghiên cứu định  
lượng thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp các khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh và thu về  
297 bảng khảo sát hợp lệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 02 nhân tố ảnh hưởng đến sự  
hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee tại TP. Hồ Chí Minh gồm: (1) Cấu trúc  
(thiết kế) trang web và ứng dụng, (2) Sự an tâm. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả  
đề xuất những hàm ý đối với Shopee nhằm cải thiện và phát huy những nhân tố có tác động  
tích cực ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.  
Từ khóa: khách hàng, mua sắm trực tuyến, sự hài lòng, shopee, thương mại điện tử.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thương mại điện tử ở TP. HCM đang phát triển mạnh mẽ với tiềm năng lớn, tạo ra cơ hội  
lẫn thách thức về quản lý nhà nước trong việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh,  
thúc đẩy nền kinh tế của thành phố và Shopee là sàn thương mại điện tử số 1 trong bảng  
xếp hạng các sàn thương mại điện tử Việt Nam. Trong việc bán hàng, sự hài lòng của khách  
hàng thường dẫn tới kết quả thuận lợi. Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và  
nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trực tuyến  
đóng vai trò rất quan trọng. Hiện nay, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số nước có  
nền kinh tế thương mại điện tử phát triển như Mỹ, Trung. Giữa các nước khác nhau luôn tồn  
tại sự khác biệt về môi trường văn hóa xã hội. Ở Việt Nam, các bài nghiên cứu khoa học về  
sự hài lòng đều nghiên cứu khái quát ở các vùng khác mà chưa có nghiên cứu nào cụ thể  
về Shopee nên tính đại diện, chính xác. Hầu hết các nghiên cứu trước đều dừng ở việc  
nghiên cứu việc mua hàng trực tuyến mà không có nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến  
sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee. Việc khảo sát các nhân tố ảnh hưởng  
2592  
đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee là cần thiết vì từ đó giúp doanh  
nghiệp hiểu rõ hơn nhu cầu của khách hàng và làm khách hàng hài lòng hơn, đồng thời  
đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hàng khi mua  
hàng qua mạng. Vì vậy, nhóm tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee tại Thành phố Hồ Chí Minh”.  
2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT  
2.1 Sự hài lòng của khách hàng  
Sự hài lòng của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với tất cả các tổ  
chức kinh doanh, điều này đã được chứng minh bởi triết lý định hướng khách hàng và các  
nguyên tắc cải tiến liên tục trong doanh nghiệp hiện đại. Sự hài lòng của khách hàng là sự  
phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn  
trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự thể hiện) và sự thể hiện thực sự của sản phẩm như  
là một sự chấp nhận sau khi dùng nó. Nhìn chung, việc hình thành nên sự hài lòng dựa trên  
cơ sở những kinh nghiệm đặc biệt được tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm hay dịch  
vụ. Sự hài lòng của khách hàng là kết quả của sự đánh giá cảm tính và nhận thức của khách  
hàng, trạng thái cảm giác của khách hàng thể hiện với sản phẩm dịch vụ khi căn cứ vào  
những hiểu biết, mong đợi của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ nào đó.  
2.2 Tổng quan về mua sắm trực tuyến  
Mua sắm trực tuyến là quá trình mà cho phép người mua, người tiêu dùng trực tiếp mua các  
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ từ một người bán qua internet bằng cách sử dụng một trình  
duyệt website; các tên gọi thay thể như: eShop, cửa hàng điện tử, webstore, cửa hàng  
online,... Hiện nay có rất nhiều hình thức mua bán trực tuyến như: B2B mua trực tuyến giữa  
doanh nghiệp với doanh nghiệp, B2C mua bán trực tuyến giữa doanh nghiệp với khách  
hàng, C2C mua bán trực tuyến giữa các khách hàng với nhau.  
Theo Kotler (2012), mua sắm online (thường được gọi mua sắm trực tuyến) là việc mua  
hàng thông qua những kết nối điện tử giữa người mua và người bán - thường là trực tuyến.  
Vốn không mấy phổ biến cách đây mười lăm năm. Mua sắm trực tuyến cho phép người mua  
liên hệ với các nhà cung cấp mới, cắt giảm chi phí mua, nhanh chóng xử lý đơn hàng. Đồng  
thời, các chuyên gia tiếp thị có thể kết nối trực tuyến với khách hàng để chia sẻ thông tin  
marketing, bán sản phẩm và dịch vụ, cung cấp các dịch vụ hổ trợ và duy trì mối quan hệ hiện  
hữu với khách hàng.  
Theo Bùi Thanh Tráng (2014) thì, mua sắm online là một quá trình mà khách hàng mua trực  
tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ từ một người bán trong một thời gian xác thực thông qua  
internet, không qua dịch vụ trung gian, nó là một dạng của thương mại điện tử.  
2593  
2.3 Sự hài lòng của khách hàng trong mua sắm trực tuyến  
Bảng 1. Sự hài lòng của khách hàng trong mua sắm trực tuyến  
STT Khái niệm  
Nguồn  
1
2
Là phản ứng của khách hàng mà họ nhận được khi sử Hemon & Whitwan (2001)  
dụng các dịch vụ trực tuyến.  
Là khi có được sự thỏa mãn của khách hàng đối với Anderson & Srinivasan  
kinh nghiệm mua trước đó với một công ty cung cấp (2003).  
dịch vụ thương mại điện tử.  
3
Sự hài lòng trong mua sắm online bắt nguồn từ sự hài Myers & Mintu-Wimsatt  
lòng khi mua hàng trực tuyến và những trái nghiệm (2012)  
của khách hàng.  
Nguồn: nhóm tác giả tự tổng hợp.  
Theo nhóm tác giả thì sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trực tuyến là trạng thái cảm  
xúc của họ khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ so với những kỳ vọng trước khi đặt mua hàng trên  
các trang web ứng dựng trực tuyến.  
2.4 Cấu trúc (thiết kế) trang web và ứng dụng  
Cấu trúc (thiết kế) trang web và ứng dụng là các thiết kế như chức năng tìm kiếm, khả năng  
hiển thị, giao diện web, ứng dụng, bố trí nội dung phù hợp mới mẻ, trẻ trung, cập nhật nội  
dung và dễ sử dụng. Nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút khách hàng và  
tạo nên sự hài lòng cho khách hàng (Lưu Hoàng Giang, 2018). Khi khách hàng vào các  
trang web để mua hàng thì thao tác sử dụng và các chức năng như tìm kiếm mẫu hàng, tốc  
độ trang web giao diện gẫn gũi thiện cảm với khách hàng và giúp khách hàng dễ sử dụng sẽ  
làm cho khách hàng cảm thấy thoải mái, tiện dụng, hài lòng với những tiện ích mà trang  
web, ứng dụng của nhà cung cấp. Thông tin có sẵn trên website, ứng dụng là một trong  
những đặc điểm quan trọng để doanh nghiệp dễ dàng bán được hàng trực tuyến. Khách  
hàng mua hàng trực tuyến sẽ nhận thức được lợi ích của việc nhận thông tin trực tiếp từ  
website, ứng dụng mà không cần tham vấn người bán hàng (Phạm Quang Văn, 2015). Từ  
đó, khách hàng sẽ giảm chi phí tìm kiếm thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến sản  
phẩm. Nếu website nào có nhiều thông tin và được sắp xếp hợp lý thì dễ dàng lôi cuốn  
khách hàng mua hàng trực tuyến (Phạm Quang Văn, 2015). Do đó, điều quan trọng đối với  
các nhà bán lẻ trực tuyến là làm cho trang web, ứng dụng của họ đơn giản, rõ ràng hiệu  
quả, cung cấp đầy đủ thông tin để khách hàng có thể so sánh sản phẩm với các website  
khác, điều này sẽ làm cho họ hài lòng hơn khi sử dụng.  
2.5 Sản phẩm  
Sản phẩm là một yếu tố được khách hàng rất quan tâm, vì sau cùng nó là thứ mà khách  
hàng muốn hướng tới. Tại các ứng dụng, trang web bán hàng trực tuyến, người mua có thể  
tìm được các sản phẩm chất lượng tốt hoặc sản phẩm có giá thấp hơn cửa hàng truyền  
thống mà chất lượng lại như nhau (Lưu Hoàng Giang, 2018). Chi phí tìm kiếm cũng thấp  
hơn so với cửa hàng truyền thống. Tại các cửa hàng trực tuyến có chất lượng dữ liệu thông  
2594  
tin về sản phẩm phong phú có thể tìm hiểu kỹ về sản phẩm hơn mà không bị gò bó về thời  
gian, có đa dạng chủng loại sản phẩm sẽ làm tăng sự hài lòng của người tiêu mua sắm trực  
tuyến (Nguyễn Chiến Thắng, 2014). Không những thế, nếu như khả năng cung cấp lượng  
lớn hàng hóa lớn và có chất lượng tốt sẽ hấp dẫn người tiêu dùng hơn và tăng sự hài lòng  
của họ, giúp khách hàng có quyết định mua dễ dàng.  
2.6 Bảo mật  
Bảo mật về thông tin của người dùng là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng trong các  
giao dịch. Nhiều khách hàng e sợ dữ liệu cá nhân của mình sẽ bị lạm dụng. Hơn nữa, mua  
hàng trực tuyến chứa đựng nhiều rủi ro, người mua hàng không thể kiểm tra được chất  
lượng sản phẩm, không giám sát được sự an toàn, không đảm bảo được các thông tin cá  
nhân và thông tin tài chính khi mua hàng trực tuyến (Zhou Jionglin, 2017). Song song đó,  
(Phạm Quang Văn, 2015) cũng cho rằng, bảo mật là thước đo quan trọng đối với các dịch vụ  
bán lẻ qua mạng. Ngoài ra, tính bảo mật còn làm tăng xu hướng sử dụng dịch vụ mua hàng  
qua mạng hay chất lượng dịch vụ trực tuyến và sự thỏa mãn của người tiêu dùng mua hàng  
trực tuyến (Phạm Quang Văn, 2015). Khách hàng thường dựa vào khả năng bảo mật thông  
tin và tính xác thực về giao dịch để quyết định chất lượng của nhà bán hàng, khả năng bảo  
mật thông tin và an toàn tài chính càng cao có ảnh hưởng càng tích cực đến sự hài lòng của  
khách hàng mua sắm trực tuyến. Website, ứng dụng có công nghệ bảo mật an toàn, chính  
sách đối với thông tin cá nhân chặt chẽ sẽ giúp cho khách hàng yên tâm trong việc cung cấp  
thông tin cá nhân và khiến họ hài lòng hơn khi giao dịch qua website, ứng dụng đó.  
2.7 Dịch vụ khách hàng  
Thuật ngữ “dịch vụ khách hàng” trong các hoạt động kinh doanh thường được đo lường qua  
các dịch vụ, các chính sách đổi trả, khiếu nại, hoàn hàng, hoàn tiền, bảo hành, giải quyết các  
vấn đề phát sinh, hỗ trợ các câu hỏi thường gặp, hỏi đáp, những yêu cầu thắc mắc của  
khách hàng và sự tương tác với khách hàng ở trước, trong và sau bán hàng (Yue và Liang,  
2012), (Phạm Quang Văn, 2015). Một khách hàng trải nghiệm dịch vụ khách hàng tốt nghĩa  
là cung cấp dịch vụ khách hàng đủ tốt và dịch vụ đó đã hoàn toàn đáp ứng được kỳ vọng  
của khách hàng. (Zhou Jionglin, 2017) cho rằng, thông tin hỗ trợ khách hàng có vai trò rất  
quan trọng trong việc kích thích khách hàng mua sắm trực tuyến. Do đó, muốn nâng cao sự  
hài lòng khách hàng, phải nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Mối quan hệ nhân quả  
giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của  
khách hàng. Dịch vụ khách hàng hoàn hảo sẽ từng bước tập hợp được một lượng không  
nhỏ khách hàng trung thành, từ đó tạo ra lợi nhuận. Bởi vì, khi các khách hàng hài lòng họ  
không chỉ mua nhiều hơn mà còn mua thường xuyên hơn. Việc giao trả hàng đúng hạn,  
đúng chất lượng đã thỏa thuận, đóng gói và các chế độ hậu mua hàng sẽ tạo nên sự hài  
lòng cho khách hàng và có một lượng khách hàng trung thành.  
Từ đó đưa ra 04 giả thuyết tác động đến sự hài lòng đó là:  
Giả thuyết H1: cấu trúc (thiết kế) trang web và ứng dụng có tác động cùng chiều đến sự hài  
lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee tại TP. HCM.  
Giả thuyết H2: sản phẩm có tác động cùng chiều đến sự hài lòng của khách hàng khi mua  
sắm trên Shopee tại TP. HCM.  
2595  
Giả thuyết H3: bảo mật có tác động cùng chiều đến sự hài lòng của khách hàng khi mua  
sắm trên Shopee tại TP. HCM.  
Giả thuyết H4: dịch vụ khách hàng có tác động cùng chiều đến sự hài lòng của khách hàng  
khi mua sắm trên Shopee tại TP. HCM.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: mô hình tác giả đề xuất  
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Trong nghiên  
cứu định tính, nhóm tác giả dựa vào các nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng thang  
đo, sau đó tham khảo ý kiến của các chuyên gia để chỉnh sửa cho phù hợp và hoàn thiện  
bảng câu hỏi chính thức. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu  
thập dữ liệu cho nghiên cứu định lượng. Với kích thước mẫu là 297, nhóm nghiên cứu đã  
tiến hành khảo sát những người mua sắm trên Shopee tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng  
cách đưa bảng hỏi lên mạng xã hội, đồng thời gửi lời mời tham gia nghiên cứu qua tin nhắn,  
thư điện tử. Các thang đo trong mô hình lần lượt được đánh giá độ tin cậy thang đo  
(Cronback’s Alpha), sau đó được kiếm định bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá  
EFA (Principal Components) và sử dụng hồi quy tuyến tính bội để kiểm định mô hình. Việc  
đánh giá đo lường được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0.  
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha)  
Kết quả cho thấy, độ tin cậy của các thang đo đều đạt yêu cầu (  0,85). Cụ thể, với nhân  
tố Sự hài lòng của khách hàng có hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,914, Cấu trúc (thiết kế)  
trang web và ứng dụng đạt 0,883, Sản phẩm đạt 0,906, Bảo mật đạt 0,897, Dịch vụ khách  
hàng đạt 0,894 và tất cả biến quan sát trong các thang đo đều có hệ số tương quan biến –  
tổng (Corrected Item – Total Correlation) lớn hơn chuẩn cho phép (0,3). Từ đó thấy được cả  
04 nhân tố đều đạt điều kiện để thực hiện tiếp việc phân tích nhân tố khám phá EFA  
(Principal Components). Mỗi biến quan sát được xem xét tương quan trong tổng thể và có  
17 biến có thể tiến hành trong phân tích EFA.  
2596  
4.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của khách  
hàng  
Trong lần chạy EFA đầu tiên, hệ số KMO (Kaiser- Meyer- Olkin Measure of Sampling  
Adequacy) đạt 0,952 > 0,5 và kết quả kiểm định Barlett cho thấy giữa các biến trong tổng thể  
có mối tương quan với nhau (sig. = 0,000 < 0,05). Hai kết quả trên chứng tỏ việc nhóm các  
biến lại với nhau khi phân tích nhân tố là thích hợp và dữ liệu phù hợp cho việc phân tích  
nhân tố. Tổng phương sai trích cho thấy, 17 biến quan sát được nhóm thành 02 nhóm, tổng  
phương sai trích là 66.905 > 50% (đạt yêu cầu). Sử dụng phương pháp rút trích Principal  
Components Analysis và phép quay Varimax, có 02 nhân tố được rút trích ra và giải thích  
được 66.905% sự thay đổi của biến phụ thuộc qua tổng thể. Tất cả các biến đều có trọng số  
Factor loading lớn hơn 0,5. Riêng giá trị phân kì biến BM1 có giá trị phân kì < 0,3 (ở lần chạy  
thứ nhất), CT2 (ở lần chạy thứ 6). Nhóm tác giả tiến hành chạy lại EFA nhiều lần sau khi loại  
từng biến (qua mỗi lần chạy) BM1, DV4, BM2, BM4, DV1, CT2 ra khỏi ô Variable. Qua 07  
lần chạy EFA, tiến hành kiểm định lại các điều kiện như trên thấy được trọng số (Factor  
loading) ≥ 0,5 và giá trị phân kỳ > 0,3 đều đạt. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần  
cuối (lần thứ 7), như sau:  
Bảng 1. KMO and Bartlett’s Test (lần cuối)  
Chỉ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)  
Kiểm định Barlett  
0,933  
2412,966  
55  
Giá trị Chi-Square  
Bậc tự do  
Sig.  
0,000  
Bảng 2. Kiểm định EFA – EIGENVALUES (lần cuối)  
Hệ số Eigenvalues khởi tạo  
Chỉ số sau khi trích  
Tổng  
phương  
Tổng  
Phương  
Nhân tố  
Phương  
sai trích  
(%)  
phương  
sai trích  
(%)  
Tổng  
Tổng  
sai trích  
(%)  
sai trích  
(%)  
1
2
6.773  
1.199  
61.577  
10.903  
61.577  
72.480  
6.773  
1.199  
61.577  
10.903  
61.577  
72.480  
2597  
Bảng 3. Ma trận xoay (lần cuối)  
Nhân tố  
1
2
SP2  
DV2  
SP1  
SP3  
DV3  
DV5  
BM3  
CT4  
CT1  
CT5  
CT3  
0,843  
0,822  
0,805  
0,793  
0,753  
0,743  
0,739  
0,246  
0,266  
0,326  
0,396  
0,232  
0,214  
0,285  
0,393  
0,370  
0,363  
0,344  
0,819  
0,818  
0,796  
0,746  
Từ ma trận xoay trên, có 02 nhân tố được rút trích. Dùng lệnh Compute Variable để gộp biến  
tạo thành các biến mới là ANTAM và CAUTRUC. Biến ANTAM gồm SP2, DV2, SP1, SP3,  
DV3, DV5, BM3. Biến CAUTRUC gồm CT4, CT1, CT5, CT3.  
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá Sự hài lòng của khách hàng  
Thang đo Sự hài lòng của khách hàng gồm 03 biến quan sát, được phân tích nhân tố khám  
phá EFA sau khi đạt độ tin cậy bằng phân tích hệ số Cronbach’s Alpha.  
Bảng 4. KMO and Bartlett’s Test của Sự hài lòng của khách hàng (lần 1)  
Chỉ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)  
Kiểm định Barlett  
0,760  
621.082  
3
Giá trị Chi-Square  
Bậc tự do  
Sig.  
0,000  
Kết quả kiểm định Barlett cho thấy giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan với nhau  
(Sig = 0,000 < 0,05). Đồng thời, chỉ số KMO = 0,760 > 0,5 chứng tỏ phân tích nhân tố để  
nhóm các biến lại với nhau là thích hợp và dữ liệu phù hợp cho việc phân tích nhân tố.  
2598  
Bảng 5. Tổng phương sai trích của Sự hài lòng của khách hàng (lần 1)  
Hệ số Eigenvalue khởi tạo  
Chỉ số sau khi trích  
Tổng  
Tổng  
Phương  
sai trích  
(%)  
Phương  
Nhân tố  
phương  
sai trích  
(%)  
phương  
sai trích  
(%)  
Tổng  
Tổng  
sai trích  
(%)  
1
2
3
2.565  
0,231  
0,231  
85.488  
7.693  
6.819  
85.488  
93.181  
100.000  
2.565  
85.488  
85.488  
Kết quả phân tích cho thấy giá trị Eigenvalues > 1, tổng phương sai trích là 85.488% > 50%  
là đạt yêu cầu. Hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn bằng 0,5. Vậy thang đo  
này chấp nhận được. Nhân tố Ý định sử dụng gồm 03 biến quan sát là Y1, Y2, Y3.  
4.2.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội  
Bảng 6. Kết quả phân tích hồi quy bội  
Hệ số hồi  
Hệ số hồi quy  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
quy đã  
chưa chuẩn hóa  
chuẩn hóa  
Mô hình  
T
Sig.  
Std.  
B
Beta  
Tolerance  
VIF  
Error  
HẰNG SỐ 0,579  
ANTAM 0,360  
CAUTRUC 0,527  
0,151  
0,048  
0,051  
3.848 0,000  
7.499 0,000  
10.402 0,000  
1
0,362  
0,052  
0,540  
0,540  
1.851  
1.851  
Các giá trị Sig. tương ứng với các biến, ANTAM và CAUTRUC đều nhỏ hơn 0,05 nên các  
biến này có ý nghĩa trong mô hình. Cả 02 nhân tố: ANTAM, CAUTRUC đều có ảnh hưởng  
cùng chiều đến sự hài lòng của khách hàng khi mua hàng trực tuyến tại Shopee. Trong đó,  
nhân tố ANTAM có mức ảnh hưởng cao nhất β = 0,362, tiếp theo sau là nhân tố CAUTRUC  
chỉ chiếm mức độ ảnh hưởng với β = 0,052.  
2599  
Bảng 7. Kiểm định độ phù hợp của mô hình  
Hệ số  
Durbin-  
Watsont  
Thống k  thay đổi  
Hệ số R  
bình  
Sai số  
chuẩn  
của  
Hệ số R  
bình  
Mô Hệ số  
phương  
hiệu  
Hệ số R  
bình  
Sig.  
F
hình  
R
phương  
ước  
F thay  
Df1 Df2  
đổi  
chỉnh  
lượng  
phương  
thay đổi  
thay  
đổi  
1
0,794a  
0,630  
0,627  
0,48707  
0,630  
250.177  
2
294 0,000  
1.981  
Giá trị hệ số R² hiệu chỉnh là 0,627, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù  
hợp với dữ liệu 62,7% hay nói cách khác, hơn 62,7% sự hài lòng của khách hàng khi mua  
sắm trên Shopee tại Thành phố Hồ Chí Minh là do mô hình hồi quy giải thích. Các phần còn  
lại là do sai số và các nhân tố khác.  
5 KẾT LUẬN  
Qua nghiên cứu bao gồm: thống kê mô tả, kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s  
Alpha, phân tích nhân tố khám phá nhằm kiểm tra thang đo các nhân tố và phân tích hồi quy  
bội, kết quả kiểm định Nghiên cứu được xây dựng bằng phương pháp hỗn hợp, kết hợp  
nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Kết quả cho thấy, 04 giả thuyết của mô hình  
nghiên cứu được gộp lại thành 02 giả thuyết. Kết quả đạt được của nghiên cứu là mô hình  
chính thức gồm 02 nhân tố đó là: (1) Cấu trúc (thiết kế) trang web và ứng dụng, (2) Sự an  
tâm với tổng cộng 11 biến quan sát. Mô hình này chỉ giải thích được 72.484% sự biến thiên  
của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng, do đó chắc chắn còn có những yếu tố khác nữa  
có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee.  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả xin được trình bày các hàm   quản trị để nâng  
cao sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên Shopee tại TP. Hồ Chí Minh.  
5.1 Sự an tâm  
Cần có các chính sách rõ ràng hơn trong việc bồi thường và khiếu nại của khách hàng.  
Chính sách hoàn tiền cho trả hàng. Không tránh né, kéo dài thời gian giải quyết, sẽ bị xử  
phạt theo quy định của Shopee. Giải quyết nhanh chóng vấn đề phát sinh, tăng số lượng tư  
vấn viên để giảm thiểu thời gian chờ đợi của khách hàng.  
5.2 Cấu trúc (thiết kế) trang web và ứng dụng  
Giao diện của ứng dụng và trang web được thiết kế bắt mắt là một trong những yếu tố quan  
trọng có thể ấn tượng và cuốn hút lôi kéo khách hàng. Lắng nghe giải đáp kịp thời thì sẽ có  
thêm lượng khách hàng, tăng số lượng bán, doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ cho các nhà  
bán hàng trực tuyến. Cần tăng cường sự phản hồi trên web và ứng dụng thông qua mục  
đánh giá.  
2600  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Anh Ngọc, (2021). Cuộc đua thương mại điện tử của các công ty thương mại điện tử tại  
cong-ty-cong-nghe-tai-viet-nam-633836 > . Tham khảo 20/04/2021.  
[2] Dương Hồng Ngọc (2020). Thương mại điện tử trong phát triển kinh tế tại Việt Nam  
kinh-te-tai-viet-nam-330340.html >. Tham khảo 20/04/2021.  
[3] Nguyễn Chiến Thắng (2014). Những yếu tố tác động đến sự hài lòng khách hàng mua  
sách trực tuyến khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí  
Minh.  
[4] Lưu Hoàng Giang (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khi mua sắm trực  
tuyến. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.  
[5] Phạm Quang Văn (2015). Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng khi mua hàng trực  
tuyến qua trang thương mại điện tử thegioididong.com. Trường Đại học Công nghệ  
TP. Hồ Chí Minh.  
[6] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với  
SPSS: Tập 1, NXB. Hồng Đức.  
[7] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với  
SPSS: Tập 2, NXB. Hồng Đức.  
[8] Anderson,R.E. and Srinivasan, S.S. (2003) E-Satisfaction and E-Loyalty (2003). A  
Contingency Framework. Psychology and Marketing, 20 (123-138).  
[9] Zhou Jionglin (2017). The Role Of E-Commerce Customer Satisfaction Towards  
Customer Reourchase Intention ( The Case Study Of Alibaba Chinese Iving  
Indonesia). President University.  
[10] Yue Liang (2012). Chinese Customer Satisfaction Survey Of Online Shopping a Case  
Study Of Taobao. Laurea University Applied Scie.  
2601  
pdf 10 trang baolam 12620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi mua sắm trên shopee tại TP. Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_su_hai_long_cua_khach_hang_khi_mua.pdf