Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông từ các sự kiện du lịch (Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường sông tại Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông  
từ các sự kiện du lịch (bài học kinh nghiệm  
của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường  
sông tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)  
Dương Thị Hữu Hiền  
Nguyễn Trung Hiệp  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM  
TÓM TẮT:  
Cùng với sự nổi lên của những khuynh  
hướng du lịch hiện đại hướng đến thiên nhiên  
và những trải nghiệm mới lạ, du lịch đường  
sông (DLĐS) đang trở thành một trong những  
lựa chọn được yêu thích hiện nay. Đây là một  
hình thức của loại hình du lịch đường thủy  
được khai thác và tổ chức dựa trên nguồn tài  
nguyên các dòng chảy nước ngọt tự nhiên, có  
thể phát triển ở vùng nông thôn lẫn đô thị. Tại  
Tp. Biên Hòa (Đồng Nai), tuy có thế mạnh về  
sông Đồng Nai nhưng du lịch chưa thể phát  
triển vì thiếu sản phẩm du lịch đặc thù, độc  
đáo. Do đó, việc “thổi hồn” những giá trị văn  
hóa, lịch sử vào dòng chảy vật chất sẽ là một  
lựa chọn đáng xem xét để thiết kế và đa dạng  
hóa sản phẩm DLĐS. Bằng việc phân tích bài  
học kinh nghiệm của quốc gia Hàn Quốc trong  
việc tổ chức các sự kiện nhằm khai thác du lịch  
trên những dòng sông điển hình, bài viết sẽ  
đưa ra một số gợi ý để phát triển DLĐS cho  
Tp. Biên Hòa, Đồng Nai.  
Từ khóa: Du lịch đường sông, Sản phẩm du lịch đường sông, Sự kiện du lịch  
1. Dẫn nhập  
cho thấy số lượng đặt chỗ chương trình DLĐS trong  
1.1. Lý do chọn đề tài  
năm nay ở Hoa Kỳ cũng đã tăng hơn 16% so với  
năm 2015, đồng thời có đến 40% du khách khẳng  
định sẽ tiếp tục lựa chọn hình thức du lịch này cho  
những kỳ nghỉ tiếp theo2. Cùng với sự nổi lên của  
những khuynh hướng du lịch hiện đại hướng đến  
thiên nhiên và những trải nghiệm mới lạ, DLĐS  
đang trở thành một trong những lựa chọn được yêu  
thích hiện nay.  
Hiệp hội quốc tế các hãng du lịch tàu biển  
(CLIA – Cruise Lines International Association)  
nhận định xu hướng du lịch đường thủy hàng đầu  
của năm 2016 là các chuyến thủy trình bằng đường  
sông (river cruise) - một trải nghiệm du lịch độc đáo  
dành cho thế hệ khách du lịch đường thủy mới1. Cụ  
thể, số lượng các du thuyền trên sông (river cruise  
ship) của thành viên CLIA đã tăng lên 10% trong  
năm 2016. Tương tự, thống kế từ Hiệp hội xe hơi  
Mỹ (AAA – the American Automobile Association)  
Hòa nhịp xu hướng chung của thế giới và khu  
vực, tại Việt Nam, nhiều thành phố có thế mạnh về  
tài nguyên sông ngòi cũng đang tập trung phát triển  
1
2
cruising-in-2016-and-what-they-mean.html  
cruising-in-2016-and-what-they-mean.html  
Trang 46  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
hình thức du lịch này như một sản phẩm chiến lược  
của địa phương (Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Đà  
Nẵng,…). Trong đó, Tp. Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai)  
đã và đang tận dụng lợi thế của dòng sông nội thủy  
lớn nhất nước – sông Đồng Nai, để phát triển DLĐS  
tại đây. Tuy nhiên, bối rối trong việc xây dựng sản  
phẩm du lịch đặc thù cho một thành phố vốn có thế  
mạnh về ngành công nghiệp đã khiến cho DLĐS  
của Biên Hòa đang gặp nhiều khó khăn. Tiếp tục kế  
thừa kết quả nghiên cứu về chủ đề này tại địa  
phương, bài viết cố gắng trình bày một số giải pháp  
cho bài toán về sản phẩm DLĐS đặc thù của Biên  
Hòa bằng việc tham khảo mô hình đã vận hành  
thành công ở Hàn Quốc, từ đó rút ra những bài học  
kinh nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế của  
vùng.  
Theo Smith (1994), mô hình sản phẩm du lịch  
được tạo nên bởi năm yếu tố có mối quan hệ bao  
hàm, được minh họa bởi những vòng tròn đồng tâm  
theo thứ tự từ trong ra ngoài, gồm: tài nguyên du  
lịch (physical plants), dịch vụ (service), sự đón tiếp  
(hospitality), sự tự do lựa chọn (freedom of choice)  
và sự tham gia (involvement).  
1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu  
Khảo sát thực trạng khai thác và tổ chức các sự  
kiện DLĐS của Hàn Quốc, từ đó đối chiếu với tình  
hình thực tế để rút ra những gợi ý nhằm đa dạng  
hóa sản phẩm DLĐS cho Tp. Biên Hòa là mục tiêu  
chính của bài viết này.  
Hình 1. Sản phẩm du lịch tổng quát  
(The Generic Tourism Product)  
Để đạt được kết quả trên, bài viết tiến hành ba  
phương pháp nghiên cứu chính, đó là: thu thập dữ  
liệu thứ cấp; khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu.  
2. Cơ sở lý luận  
(Nguồn: Smith, 1994)  
Dù vậy, tầm quan trọng của mỗi yếu tố là khác  
nhau tùy theo từng loại sản phẩm du lịch đặc thù và  
thể hiện sự tương tác toàn diện giữa các yếu tố chứ  
không chỉ là phép cộng gộp giản đơn. Từ góc tiếp  
cận người sử dụng, sản phẩm du lịch còn được hiểu  
là: “tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu  
cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”  
(Luật Du lịch Việt Nam, 2005). Như vậy, sản phẩm  
DLĐS là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn  
nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi DLĐS.  
2.3. Sự kiện du lịch  
2.1. Du lịch đường sông  
Có nhiều cách tiếp cận và diễn giải khác nhau về  
DLĐS như của Josef Steinbach (1995); ATOUT  
France3; Salone (2006); Cooper và Prideaux (2009).  
Tựu trung, có thể hiểu đây là một hình thức của loại  
hình du lịch đường thủy được khai thác và tổ chức  
dựa trên nguồn tài nguyên các dòng chảy nước ngọt  
tự nhiên (sông ngòi, kênh rạch). Sức hấp dẫn của nó  
không chỉ đến từ cảnh sắc thiên nhiên mà còn kết  
hợp với cảnh sắc văn hóa và bao gồm các hoạt động  
du thuyền, tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng,  
sự kiện được diễn ra trên và hai bên các dòng chảy.  
2.2. Sản phẩm DLĐS  
Vì không phải là một sự tập hợp ngẫu nhiên nên  
năm yếu tố của sản phẩm du lịch sẽ trải qua quá  
trình biến đổi phức tạp mà Smith (1994) gọi là  
“Tourism Production Process” – “Quá trình sản  
xuất du lịch”, được thể hiện như Bảng 1. Trong đó,  
Tài nguyên du lịch là nguồn nguyên liệu quan trọng  
của hai giai đoạn đầu tiên, Dịch vụ và Sự đón tiếp  
3
L’Agence de développement touristique de la France: Cơ quan  
xúc tiến du lịch Pháp.  
Trang 47  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
được thêm vào để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm  
đầu ra trung cấp ở giai đoạn thứ ba. Cuối cùng, Sự  
tự do lựa chọn và Sự tham gia giúp biến đổi thành  
những trải nghiệm cá nhân ở giai đoạn cuối.  
Bảng 1. Quy trình hình thành sản phẩm du lịch  
Nguồn: Smith (1994)  
Theo đó, sự kiện là một trong những yếu tố đầu  
ra trung cấp (intermediate outputs) thuộc giai đoạn  
thứ ba của quá trình hình thành sản phẩm du lịch.  
Getz (1986) cho rằng sự kiện là những hoạt động  
tạm thời, được hoặc không được lên kế hoạch,  
thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất  
định nhưng vào thời điểm cố định và được quảng bá  
rộng rãi. Trong bảy nhóm sự kiện thuộc loại có kế  
hoạch - planned events (Văn hóa, Chính trị, Nghệ  
thuật, Thương mại, Khoa học – Giáo dục, Thể thao  
và Sự kiện cá nhân), Getz tập trung bốn sự kiện có  
khả năng phục vụ du lịch cao nhất là: Văn hóa, Thể  
thao, Thương mại và Nghệ thuật. Đây cũng là  
những nhóm sự kiện được bài viết xem xét như là  
những hoạt động tiềm năng cho DLĐS.  
km. Theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ thuận lợi về  
vị trí địa lý của điểm/ trung tâm du lịch căn cứ vào  
khoảng cách với nơi cung cấp nguồn khách chính  
(Đặng Duy Lợi, 1995) thì Biên Hòa đạt mức cao  
nhất, tức là rất thuận lợi cho hoạt động du lịch.  
Tp. Biên Hòa có sông Đồng Nai chảy qua đã tạo  
nên những dạng cảnh quan sông nước đặc trưng với  
hệ thống đồi núi thấp ở phía Bắc (núi Bửu Long),  
đồng bằng và cù lao màu mỡ (cù lao Tân Triều, cù  
lao Hiệp Hòa, cù lao Ba Xê) ở phía Nam, làm tiền  
đề sản sinh ra những sản vật nổi tiếng (bưởi Tân  
Triều, gỏi cá Tân Mai,…). Bên cạnh đó, nguồn  
nước dồi dào, chế độ thủy văn ổn định, khí hậu ôn  
hòa cũng là một ưu điểm của địa phương.  
Mặt khác, sông Đồng Nai đối với Biên Hòa  
không chỉ là dòng chảy tự nhiên có giá trị thẩm mỹ  
cao mà còn là dòng sông của ký ức và những giá trị  
văn hóa độc đáo của một thành phố hơn 300 năm  
tuổi. Ngày nay, những giá trị nhân văn ấy vẫn còn  
phản chiếu rõ nét trên mặt sông dưới hình ảnh của  
những đối tượng hữu hình lẫn vô hình. Những nhân  
tố này tạo nên hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn  
3. Thực trạng tổ chức và khai thác du lịch  
đường sông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng  
Nai  
3.1. Tài nguyên DLĐS của Tp. Biên Hòa  
Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng  
Nai, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh 30 km, thị xã  
Thủ Dầu Một (Bình Dương) 20 km và Vũng Tàu 80  
Trang 48  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
Hình 2. Phân bố tài nguyên trên tuyến du lịch sông Đồng Nai tại Biên Hòa  
(Nguồn: Dương Thị Hữu Hiền, 2015)  
Trang 49  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
đầy tiềm năng cho hoạt động DLĐS ở Biên Hòa.  
Hình 2 thể hiện sự phân bố hệ thống tài nguyên  
nhân văn của Biên Hòa, gồm 3 cụm chính tương  
ứng với 3 cù lao lớn trên đoạn sông. Trong đó, cụm  
tài nguyên phía Bắc ứng với nhóm các di tích nằm ở  
đoạn đầu của tuyến DLĐS cũng là phạm vi của ngôi  
làng cổ Bến Cá xưa kia - một trong những ngôi làng  
cổ xuất hiện đầu tiên từ khi người Việt đến vùng đất  
này khai phá. Nơi đây không chỉ có giá trị về mặt  
khảo cổ, tôn giáo, lịch sử mà còn là điểm du lịch  
sinh thái lý tưởng với nghề trồng bưởi nổi tiếng.  
Cụm tài nguyên trung tâm với cù lao Phố từng là  
thương cảng sầm uất của cả Đàng Trong tồn tại suốt  
100 năm. Ngày nay, đó là một vùng quê yên ả trong  
lòng thành phố với cảnh trí nên thơ hữu tình, những  
vườn cây trái xum xuê, nước sông bốn mùa tươi  
mát và mang trên mình nhiều dấu vết của một thời  
lịch sử, huyền thoại về những lớp người thời mở  
cõi. Tương tự, cụm tài nguyên phía Nam là khu vực  
có làng cổ Bến Gỗ - một trong những nơi định cư  
đầu tiên của nhiều tộc người thuộc các nền văn  
minh xuyên suốt cách nay hàng ngàn năm. Sau khi  
cù lao Phố được chọn là trung tâm vùng đất mới,  
Bến Gỗ cũng trở thành nơi buôn bán vệ tinh của cù  
lao Phố với mặt hàng gỗ, tre, nứa đi khắp xứ Biên  
Hòa, Gia Định.  
cuối năm 2004 (Thông báo kết luận số  
1688/TB.UBT ngày 31/03/2004 của Trưởng ban  
Ban Chỉ đạo Du lịch tỉnh Đồng Nai (cũ)). Sau 2  
năm, giai đoạn 2005 – 2010 chứng kiến sự phát  
triển mạnh mẽ về cả số lượng du khách lẫn các dự  
án đầu tư cho du lịch. Có thể nói đây chính là giai  
đoạn phát triển nhất của DLĐS ở Biên Hòa vì được  
sự ủng hộ của chính quyền cộng với sự tham gia  
nhiệt tình của các doanh nghiệp tiên phong (công ty  
Du lịch Đồng Nai, HTX TMDV Long Biên, công ty  
Tín Nghĩa, bến xe Biên Hòa, làng bưởi Năm Huệ).  
Bên cạnh đó, lãnh đạo Tỉnh cũng rất quan tâm đến  
cơ hội hợp tác và liên kết với các tỉnh thành lân cận  
(Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương). Dù vậy, từ sau  
năm 2010 lượng khách bị tụt giảm nghiêm trọng,  
nhiều doanh nghiệp vì không thể cầm cự được đã  
phải bán lại đội tàu, thuyền và trang thiết bị. Một số  
doanh nghiệp quyết định ngưng hẳn kinh doanh, số  
khác thì giảm bớt hoặc chuyển đổi sang hình thức  
khác. Hiện nay, điểm dừng làng bưởi Năm Huệ tuy  
có lượng khách ổn định nhưng chủ yếu là thực  
khách đến từ đường bộ, không có khách du lịch đi  
theo đường sông. Công ty du lịch Đồng Nai từng là  
doanh nghiệp tiên phong chào bán các chương trình  
tham quan đường sông nhưng hiện cũng chỉ tiếp  
nhận tổ chức khi có đủ số lượng. Riêng chỉ còn mỗi  
khu du lịch (KDL) cù lao Ba Xê là còn hoạt động  
cầm chừng dựa vào dịch vụ đưa khách đi chùa châu  
Đốc 3 nên có thể xem xét như một điển hình doanh  
nghiệp kinh doanh DLĐS ở Biên Hòa.  
Chính sự hòa quyện hài hòa giữa tài nguyên du  
lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đã tạo  
nên bức tranh sông nước sinh động, trong lành và  
cổ kính. Thêm nữa, Biên Hòa cũng đồng thời là  
trung tâm hành chính, văn hóa, xã hội của cả tỉnh  
Đồng Nai, thành phố đã được Ủy ban nhân dân tỉnh  
xác định hướng phát triển đô thị theo dạng chuỗi  
gắn liền với trục đường sông. Đây là điều kiện  
thuận lợi để DLĐS phát triển vì hệ thống cơ sở hạ  
tầng, cảnh quan ven sông sẽ được đầu tư, cải tạo  
ngày càng tốt hơn.  
Biểu đồ 1 thể hiện doanh thu của HTX Long  
Biên có mức tăng trưởng nhanh trong 3 năm liền từ  
năm 2006 đến 2008, với doanh thu cao nhất đạt  
được là 750 triệu đồng (2007, 2008). Tuy nhiên, từ  
sau 2009 tình hình kinh doanh suy giảm mạnh cho  
đến 2014 thì doanh thu chỉ bằng khoảng 1/3 so với  
giai đoạn đầu. Số liệu này phản ánh đúng con  
đường phát triển thăng trầm tương ứng của hoạt  
động DLĐS của Biên Hòa như trên đã trình bày.  
3.2. Thực trạng tổ chức và khai thác DLĐS  
tại Tp. Biên Hòa  
Tuyến DLĐS chính thức được tổ chức và đưa  
vào hoạt động kinh doanh ổn định tại Biên Hòa từ  
Trang 50  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
Biểu đồ 1. Doanh thu từ DLĐS của HTX TMDV Long Biên (2006-2014)  
Triệu Đồng  
(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài lý do năng  
lực đáp ứng của cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật  
còn hạn chế thì sản phẩm du lịch đặc thù chính là  
nguyên nhân cốt lõi khiến cho DLĐS của Biên Hòa  
bị chững lại. Rõ ràng, kết quả phân tích Bảng 2 chỉ  
ra rằng các chương trình tham quan đường sông chỉ  
là hoạt động du ngoạn trong ngày, không có lưu trú  
qua đêm. Bên cạnh đó, mặc dù có sự phân chia  
tuyến tham quan giữa các doanh nghiệp khai thác  
dịch vụ đường sông nhưng nội dung chương trình  
lại chưa phong phú. Các điểm đến được sắp xếp  
theo quy tắc sự tiện lợi của tuyến đường, chưa chú  
trọng đến chủ đề cụ thể. Ví dụ, chương trình 1 (giai  
đoạn 2005 – 2010) tập hợp các điểm tham quan  
phân bố tập trung ở đoạn cuối của tuyến, còn  
chương trình 3 thì gồm các điểm ở đoạn đầu. Thêm  
nữa, hoạt động trong chương trình khá đơn điệu, chỉ  
là tham quan và ăn uống, không có nhiều vui chơi,  
trải nghiệm.  
hút sự tham gia của du khách, mang đến cho họ  
cảm giác gần gũi và được hòa nhập với đời sống  
người dân thì ở Biên Hòa thiếu hẳn những hoạt  
động cộng đồng và kết nối như thế. Ngoài ra, so  
sánh chương trình của 2 giai đoạn, có thể thấy số  
điểm tham quan của giai đoạn 2 đã giảm nhiều so  
với giai đoạn 1, cụ thể gồm cù lao Thạnh Hội, Dinh  
Đốc Phủ Sứ, Long Quới Thôn Trang và thay vào  
KDL cù lao Ba Xê.  
Như vậy, để khôi phục và mở rộng hoạt động du  
lịch trên sông Đồng Nai, không thể chỉ dựa vào  
nguồn tài nguyên thứ cấp sẵn có mà cần phải có quá  
trình biến đổi chúng trở thành những sản phẩm đầu  
ra trung cấp, chứa đựng nhiều giá trị về tinh thần,  
nhận thức. Một trong số đó chính là những sự kiện  
du lịch gắn liền với dòng sông, khai thác chất liệu  
lịch sử và văn hóa, con người của vùng đất nơi dòng  
sông chảy qua. Sớm nhận thức được vai trò quan  
trọng của sông ngòi đối với đời sống, người Hàn đã  
có những hành động và thay đổi tích cực nhằm  
mang lại diện mạo mới cho các dòng sông. Những  
kinh nghiệm trong việc tổ chức các sự kiện DLĐS  
của quốc gia Hàn Quốc sẽ được xem xét ở phần tiếp  
theo như một gợi ý phát triển cho DLĐS ở Biên  
Hòa.  
Nói cách khác, chương trình tham quan du lịch  
đường sông chưa có điểm nhấn và kém hấp dẫn.  
Nếu ở các điểm du lịch sông nước điển hình như cù  
lao Thới Sơn (Tiền Giang), cù lao An Bình (Vĩnh  
Long) hoạt động chèo xuồng, tát mương, bắt cá,  
làm cốm – kẹo, homestay,… là điểm đặc biệt thu  
Trang 51  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
Bảng 2. Chương trình tham quan DLĐS tại Tp. Biên Hòa giai đoạn 2003 - 2010  
Đơn vị phụ trách  
2003 -2004  
2005 – 2010  
Chương trình tham quan cảnh sông ban đêm  
TT du thuyền Tín  
Nghĩa  
Khởi hành tại Câu lạc bộ du thuyền Tín Nghĩa, đưa khách đi ngắm cảnh sông ban đêm, kết  
hợp các dịch vụ ăn uống, biểu diễn văn hóa nghệ thuật trên thuyền. (Hoặc là Quý khách có  
thể ghé Làng bưởi Tân Triều nghe đàn ca tài tử).  
Chùa Châu Đốc 3 - KDL Cù lao Ba Xê  
Bến xe Biên Hoà  
Ngoài ra, cũng cho thuê phương tiện vận chuyển theo nhu cầu của khách.  
Chương trình 1:  
Chương trình 1:  
Cù lao Thạnh Hội - Dinh Đốc Phủ Sứ- Chùa Cù lao Ba Xê – Chùa Long Thiền – Làng  
Long Thiền - Cơ sở sản xuất gốm của Đồng gốm sứ - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh –  
Nai - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh.  
Chùa Ông.  
Chương trình 2:  
Chương trình 2:  
Làng bưởi Tân Triều - Dinh Đốc Phủ Sứ - Làng bưởi Tân Triều – Chùa Long Thiền –  
Văn miếu Trấn Biên - Chùa Ông - làng nghề làng gốm sứ - đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh  
sản xuất gốm.  
– Chùa Ông.  
Công ty Du lịch  
Đồng Nai  
Chương trình 3:  
Chương trình 3:  
Cù lao Thạnh Hội - Làng bưởi Tân Triều - Làng bưởi Tân Triều – Văn miếu Trấn  
Chùa Long Thiền - Cơ sở sản xuất gốm Biên – TTVHDL Bửu Long - Đền thờ  
Đồng Nai - Chùa Ông - Đền thờ Nguyễn Nguyễn Hữu Cảnh – Bảo tàng Đồng Nai.  
Hữu Cảnh.  
Chương trình 4:  
Chương trình 4 :  
TTVHDL Bửu Long - Văn miếu Trấn Biên - Làng bưởi Tân Triều – Chùa Long Thiền –  
Làng bưởi Tân Triều - Long Quới Thôn Làng gốm sứ - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh  
Trang - Cơ sở sản xuất gốm Tân Vạn - Chùa – Cù lao Ba Xê.  
Đại Giác.  
(Nguồn: Dương Thị Hữu Hiền, 2015)  
4. Tình hình tổ chức và khai thác sự kiện du  
lịch đường sông tại Hàn Quốc  
Về mặt nhân văn, sông ngòi đóng vai trò như là  
không gian sinh sống của con người từ xưa đến nay,  
chứa đựng những nội dung văn hóa và lịch sử có giá  
trị cao tạo nên hệ thống các công trình di tích văn  
hóa – lịch sử ven sông phong phú. Theo thống kê  
của Công đoàn quản lý công viên quốc gia Hàn  
Quốc (31.12.2015), tổng số cơ sở văn hóa – lịch sử  
ngay sát bốn hệ thống sống lớn (Han-gang, Geum-  
gang, Nakdong-gang và Yeongsan-gang) là 863 di  
tích4.  
4.1. Tài nguyên DLĐS của Hàn Quốc  
Về mặt tự nhiên, Hàn Quốc có 3.836 sông lớn  
nhỏ (tính đến 31.12.2015), phân bố dày đặc trên bề  
mặt địa hình với ¾ diện tích là đồi núi nên sông  
ngòi thường khúc khuỷu, độ dốc cao. Núi và sông  
kết hợp tạo ra những cảnh quan kỳ vĩ bên cạnh  
những không gian sinh thái đa dạng, đặc trưng, góp  
phần mang đến sức hút riêng cho DLĐS ở Hàn  
Quốc.  
4
Nguồn: Công đoàn quản lý công viên quốc gia Hàn Quốc  
Trang 52  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
Đặc biệt, từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2011,  
Hàn Quốc thực hiện thành công “Dự án hồi sinh  
bốn hệ thống sông lớn” (4대강 살리기 사업) với  
một trong năm nhiệm vụ cốt lõi là tạo dựng cơ sở  
hạ tầng phát triển DLĐS. Dự án này không cải tạo  
không gian ven sông thành không gian du lịch đơn  
thuần mà thành không gian phức hợp phục vụ cho  
du lịch với sự liên kết giữa các tài nguyên văn hóa  
và hệ sinh thái đặc hữu. Đây là phương thức tạo ra  
các giá trị gia tăng cho sông trên cơ sở kết hợp  
những tài nguyên du lịch đơn lẻ.  
4.2. Quan điểm phát triển DLĐS của Hàn  
Quốc  
Nhận thức của người Hàn về vai trò của sông  
ngòi biến đổi từ “trị thủy” (làm thủy lợi cho nông  
nghiệp), qua “lợi thủy” (sử dụng năng lượng từ  
nước sông), đến “thân thủy” (thân thiện với sông  
ngòi).  
Hình 3. Bốn hệ thống sông lớn Hàn Quốc  
Bảng 4. Sự thay đổi trong sử dụng sông ngòi ở Hàn Quốc  
Thời đại  
Xưa ~ cuối thời Xã hội phong kiến  
Joseon (1392- Kinh tế nông nghiệp Vận tải đường thủy  
Đặc điểm thời đại Văn hóa đời sống  
Hướng sử dụng sông ngòi  
Làm thủy lợi  
Đời sống ven sông  
Phòng ngự quân sự  
Phòng chống lũ lụt  
1910)  
lúa nước  
Giải trí ven sông  
Bị Nhật chiếm đóng  
Cận đại hóa  
Chuyển giao thông đường thủy sang Xây đập, nhà máy phát điện  
Cuối thời Joseon  
~ thập niên 1950  
đường bộ  
Xây cầu, đường sắt  
Vẫn giữ lối sống sinh hoạt ven sông  
Công nghiệp hóa, đô Không còn văn hóa sống ven sông  
Trữ nước cho công nghiệp  
Thập niên 1960  
~ thập niên1980  
thị hóa  
Chủ nghĩa phát triển  
Cải tạo một phần hạ lưu sông  
Tăng trưởng nhanh  
Hiện đại hóa  
Nhu cầu vui chơi giải trí, du lịch Phục hồi hạ lưu sông: bảo tồn  
hệ sinh thái, cảnh quan sông  
văn hóa và bảo tồn Quay lại thân thiện với sông qua ngòi.  
Thời đại phát triển sinh thái tăng cao  
Từ sau thập niên  
1990  
môi trường  
các hoạt động vui chơi trên và ven  
sông  
(Nguồn: Lee Soo Jin, 2012)  
nghiệp tại các đô thị ven sông. Do nguồn nước bị ô  
nhiễm và hệ sinh thái bị phá hủy nên đến thập niên  
1990, họ đã nhận thức lại vai trò của sông ngòi và  
bắt đầu tái tạo, bảo tồn các dòng sông, tạo ra không  
gian vui chơi giải trí ven sông thân thiện với môi  
trường.  
Qua bảng trên ta có thể thấy trước thế kỷ XX,  
sông ngòi ở Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng  
trong sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, vận tải  
thủy, không gian sinh sống của con người. Từ đầu  
thế kỷ XX trở đi, người Hàn xây đập trên sông để  
làm nhà máy phát điện, đồng thời phát triển công  
Trang 53  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
Sự kiện  
văn hóa  
Xe đạp  
Sinh thái –  
Thể thao  
nghệ thuật  
Xe hơi  
Vành đai  
sinh thái  
Hình 4. Mô hình cải tạo bờ sông thành không gian phục vụ du lịch  
(Nguồn: Kim Yoon Young, 2012)  
du lịch đường thủy (Kim Yoon Young, 2012; Kim  
Chang Soo, 2013; Lee Soo Jin, 2012,...), và con số  
này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.  
4.3. Tình hình tổ chức và khai thác sự kiện  
DLĐS ở Hàn Quốc  
Trong các năm qua, số lượng khách DLĐS  
chiếm khoảng hơn 70% tổng số du khách tham gia  
Bảng 5. Thống kê khách DLĐS trên bốn hệ thống sông lớn ở Hàn Quốc (2008-2015)  
2014*  
2015*  
Năm  
2008  
459  
2009  
504  
2010  
584  
2011  
2012  
2013  
(dự báo)  
(dự báo)  
Số  
lượng  
1.449  
1.732  
1.984  
2.200  
2.327  
(ngàn người)  
(Nguồn: Kim Chang Soo, 2013)  
DLĐS ở Hàn Quốc được chia thành bốn hoạt  
động chính: thể thao, tham quan, sự kiện – lễ hội  
văn hóa và nghỉ dưỡng (Bộ Văn hóa, Thể thao và  
Du lịch Hàn Quốc, 2016). Trong đó, sự kiện DLĐS  
là một trong những trọng điểm để gia tăng sức hút  
của các dòng sông bằng cách “thổi hồn” vào các  
dòng chảy ấy từ các chất liệu văn hóa, lịch sử, nghệ  
thuật, thể thao... đa dạng. Một trong những loại sự  
kiện thu hút nhiều du khách nhất là lễ hội DLĐS.  
Năm 2016 cả Hàn Quốc có 693 lễ hội thì có đến 19  
lễ hội gắn liền với sông nước (bảng 6), chiếm 2,7%.  
Các lễ hội thường niên này diễn ra chủ yếu vào  
mùa hè5 (9) và mùa thu (5), bởi lẽ mùa hè có nhiệt  
độ khá cao và mùa thu có phong cảnh đẹp, lại trùng  
với tết Trung thu – được xem là một trong hai lễ tết  
quan trọng nhất của người Hàn – nên thu hút đông  
đảo khách du lịch. Nếu phân theo tính chất sự kiện  
thì hầu hết là lễ hội thể thao - giải trí (9), kế đến là  
văn hóa - nghệ thuật (7), du lịch sinh thái (2) và  
thương mại (1). Địa phương tổ chức nhiều sự kiện  
ven sông hơn là các tỉnh, không phải thành phố lớn  
như tỉnh Gangwon-do (6), tỉnh Gyeonggi-do (3),  
tỉnh Gyeongsangnam-do (3), bởi lẽ các thành phố  
lớn tập trung tổ chức các sự kiện trong đất liền, hơn  
là ven sông.  
Ba trong số những lễ hội - sự kiện DLĐS lớn  
nhất Hàn Quốc là lễ hội đèn hoa đăng trên sông  
Nam ở Jinju (진주남강유등축제), lễ hội rượu và  
trái cây quốc tế Daejeon (대전국제와인페어) và lễ  
hội cá ngừ trên băng ở Hwacheon – vương quốc  
băng giá (얼음나라 화천산천어축제). Năm 2015,  
lễ hội đèn hoa đăng đem về cho Jinju 40,5 tỷ won  
(34,44 triệu USD6).  
6
Theo tỷ giá ngày 31/12/2015: 1 USD = 1175,99 KRW, nguồn:  
5
Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt; mùa xuân: tháng 3~5; mùa hè:  
history.html  
tháng 6~8; mùa thu: tháng 9~11; mùa đông: tháng 12~2.  
Trang 54  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
Bảng 6. Thống kê các lễ hội - sự kiện sông ngòi hàng năm ở Hàn Quốc  
Nơi tổ chức  
Lưu vực  
Thời gian tổ chức Phân loại theo loại  
Tên lễ hội – sự kiện  
(định kỳ hàng năm)  
Tuần cuối tháng 7 đến  
giữa tháng 8  
hình sự kiện  
Địa phương  
Lễ hội thể thao Love Hangang  
Thể thao giải trí  
Seoul  
Sông Han với văn học và âm  
nhạc  
Tuần cuối tháng 7  
Cả tháng 1  
Văn hóa – nghệ thuật  
Du lịch sinh thái  
Lễ hội mùa đông đảo Jala  
Lễ hội nhạc Jazz quốc tế trên đảo  
Jala  
Gyeonggi-do  
Đầu tháng 10  
Đầu tháng 10  
Văn hóa – nghệ thuật  
Thể thao giải trí  
Lễ hội thể thao Gyeonggido  
Lễ hội cá ngừ trên băng ở  
Han-gang  
Hwacheon – vương quốc băng Gần cả tháng 1  
Giải trí  
한강  
giá  
Cuối tháng 1 - đầu  
Lễ hội cá ốt-me (smelt)  
Giải trí  
tháng 2  
Lễ hội sông Yeongweoldong  
Đầu tháng 8  
Văn hóa  
Gangwon-do  
Lễ hội thuyền (bằng gỗ thông)  
Hwacheon – vương quốc của Nửa đầu tháng 8  
nước  
Thể thao giải trí  
Lễ hội bắt cá trên sông Seom  
Lễ hội văn hóa sông Soyang  
Lễ hội trên hồ tình yêu – hồ  
Chungju  
Đầu tháng 8  
Cuối tháng 9  
Giải trí  
Văn hóa  
Chungcheongbu  
k-do  
Đầu tháng 8  
Giải trí  
Geum-  
gang  
Lễ hội rượu và trái cây quốc tế  
Daejeon  
Đầu tháng 9  
Cuối tháng 5  
Đầu tháng 8  
Thương mại  
Du lịch sinh thái  
Văn hóa  
금강  
Daejeon  
Lễ hội Lohas Geum-gang  
Lễ hội văn hóa Yeongsan-gang ở  
Naju  
Jeollanam-do  
Yeongsan  
-gang  
Lễ hội hoa cải dầu ven Nakdong-  
gang  
Đầu tháng 4  
Giải trí  
영산강  
Gyeongsangnam  
-do  
Lễ hội thể thao trên sông Hwang Cuối tháng 7  
Lễ hội đèn hoa đăng trên sông  
Thể thao giải trí  
Văn hóa nghệ thuật  
Nửa đầu tháng 10  
Nam ở Jinju  
Nakdong-  
gang  
Busan  
Lễ hội ven sông quận Sasang  
Đầu tháng 8  
Văn hóa – nghệ thuật  
낙동강  
(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp từ website Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hàn Quốc, ngày 10/10/2016)  
Lễ hội thương mại rượu và trái cây Daejeon  
trong 4 ngày thu hút 64.880 khách, 123 doanh  
nghiệp từ 14 quốc gia đến thưởng lãm rượu và trái  
cây, ngoài triển lãm là đêm hội văn hóa nước ngoài.  
Lễ hội câu cá hồi trên sông băng Hwacheon diễn ra  
trong 23 ngày, mỗi ngày thu hút khoảng 185.000  
Trang 55  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
người, nhờ đó người dân địa phương thu nhập mỗi  
ngày khoảng 50.000 won (42,5 USD)7... Như vậy,  
DLĐS nói chung và sự kiện DLĐS nói riêng có  
những đóng góp nhất định trong việc phát triển kinh  
tế địa phương và đất nước8.  
thể thao, giải trí, thương mại...) và đa dạng về các  
hoạt động: thả hoa đăng, ngắm pháo hoa, các cuộc  
thi thể thao phối hợp, tìm hiểu sản vật địa phương,  
biểu diễn nghệ thuật,… Mỗi sự kiện đều có chủ đề  
rõ ràng, xuyên suốt và hướng đến nhóm đối tượng  
cụ thể. Thời gian của các sự kiện DLĐS trùng với  
những mùa tự nhiên hoặc ngày lễ quan trọng trong  
năm. Không gian diễn ra sự kiện được tận dụng  
không chỉ ven bờ sông mà còn có các hoạt động  
trên sông. Nguyên tắc hàng đầu của các sự kiện là  
phải tôn trọng những tài nguyên tự nhiên và các giá  
trị nhân văn. Người tham dự ý thức được trách  
nhiệm của mình trong việc góp phần bảo vệ cảnh  
quan môi trường, tạo nên sự liên kết thân thiện giữa  
con người và thiên nhiên. Tuy nhiên, sự phân bố  
các sự kiện trong năm lại chưa đều, chưa hạn chế  
được tính thời vụ trong du lịch.  
Hình 5. Lễ hội đèn hoa đăng trên sông Nam ở Jinju  
C35500D4ED803CEFE)  
5.2. Đề xuất một số sự kiện nhằm đa dạng  
hóa sản phẩm DLĐS tại Tp. Biên Hòa  
Trên cơ sở xem xét các yếu tố về tự nhiên kết  
hợp hoàn cảnh xã hội, những chương trình và sự  
kiện được đề xuất áp dụng cho DLĐS của Tp. Biên  
Hòa được tổng hợp như Bảng 3.  
Có thể thấy, điều kiện tự nhiên đóng vai trò  
quan trọng vì đây là đối tượng tài nguyên chủ đạo  
của du lịch, nó quyết định đến hình thức của các sự  
kiện. Theo đó, những hoạt động gắn liền với không  
gian mặt nước (bắn pháo hoa, đua thuyền, thả hoa  
đăng,…) sẽ được tận dụng triệt để trong giai đoạn  
thời tiết thuận lợi (tháng XII – tháng IV). Ngược lại,  
khi điều kiện thời tiết bất lợi cũng là mùa thấp điểm  
của du lịch (tháng V – tháng XI), các sự kiện sẽ  
chuyển sang các hoạt động trên bờ nhiều hơn (trải  
nghiệm nông thôn, lễ hội âm nhạc, trại sáng tác,…).  
Bên cạnh yếu tố tự nhiên thì điều kiện xã hội cũng  
ảnh hưởng không nhỏ đến chủ đề của các sự kiện.  
Tùy vào ý nghĩa của các ngày lễ lớn trong năm mà  
nội dung chương trình cũng sẽ được thiết kế phù  
hợp. Chẳng hạn, thời gian tháng I, tháng II thường  
là thời điểm của năm mới và Tết Nguyên Đán nên  
nhiều chương trình chào đón sự kiện lớn nhất năm  
sẽ được tổ chức tương ứng như: Hội hoa xuân, Lễ  
Hình 6. Cuộc đua xe đạp ven bốn dòng sông lớn  
Tour de Korea 2012  
5. Đề xuất một số sự kiện du lịch nhằm đa  
dạng hóa sản phẩm DLDS tại Tp. Biên Hòa  
5.1. Một số kinh nghiệm trong tổ chức, khai  
thác sự kiện DLĐS của Hàn Quốc  
Các sự kiện DLĐS ở Hàn Quốc tuy chiếm tỷ lệ  
khiêm tốn so với tổng số các sự kiện du lịch (2,7%)  
nhưng phong phú về loại hình (văn hóa, nghệ thuật,  
7 Nguồn các số liệu: Tổng hợp từ trang chủ của Bộ Văn hóa, Thể  
thao và Du lịch Hàn Quốc, www.mcst.go.kr  
8
Theo một nghiên cứu cuối năm 2012, số lần tham quan du lịch  
vui chơi giải trí trên sông trong một năm của du khách là 5,4 lần,  
số tiền chi tiêu trung bình cho một lần vui chơi tham quan trên  
sông (không sử dụng các phương tiện đắt tiền như du thuyền) là  
4.236 won (Kim Yoon Young, 2012). Theo thống kê, số lượng  
khách DLĐS năm 2012 là 1.732.000 người và tổng thu khoảng  
39,618 tỷ won, tương đương 37,277 triệu USD.  
Trang 56  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
hội pháo hoa đêm giao thừa, Đường hoa Trấn  
Biên,… Tương tự, tháng VI - tháng VIII là thời  
điểm nghỉ hè của học sinh, sinh viên nhưng cũng lại  
là mùa thời tiết bất lợi nên các hoạt động sẽ được tổ  
chức chủ yếu ven bờ (nông trại thực nghiệm, cơ sở  
tín ngưỡng,…) để đảm bảo an toàn cho các em.  
Nhìn chung, DLĐS ở Biên Hòa sẽ có 2 mùa cơ  
bản tương ứng với điều kiện thời tiết mưa và khô.  
Với ưu thế về cả tự nhiên và xã hội, mùa khô sẽ là  
mùa cao điểm của du lịch. Tuy nhiên, điều này  
không có nghĩa mùa mưa là thấp điểm. Bằng cách  
tận dụng sự bất lợi, chúng ta có thể tổ chức các sự  
kiện đặc biệt như Lễ hội mưa hay Trại sáng tác văn  
học lấy cảm hứng từ Mưa để thu hút đối tượng  
khách tiềm năng. Bằng cách tạo thêm nhiều hoạt  
động từ các lễ hội, sự kiện, chúng ta có thể hạn chế  
được ảnh hưởng của tính thời vụ, đồng thời cũng  
tạo nên sản phẩm đặc thù cho địa phương.  
Bảng 3. Bảng phân tích đề xuất các sự kiện trong năm cho DLĐS của Tp. Biên Hòa  
MÙA XÃ HỘI (2)  
MÙA  
TỰ NHIÊN (1)  
NHÓM  
ĐỐI TƯỢNG (3)  
THÁ  
NG  
CHƯƠNG TRÌNH/ SỰ KIỆN (4)  
Dương lịch  
Âm lịch  
Chuỗi sự kiện đón Tết:  
+ Chợ Hoa Xuân  
+ Lễ hội pháo hoa đêm giao thừa  
+ Đường Hoa Trấn Biên  
+ Lễ hội đua thuyền trên sông Đồng  
Nai.  
Mọi đối tượng  
Tết Nguyên  
Đán  
Rằm Tháng  
Giêng  
1/1: Năm mới  
I
+ Lễ hội Chùa Ông  
14/2: Lễ Tình  
nhân  
8/3:Quốc tế Phụ  
nữ  
14/3: Ngày quốc  
tế hành động vì  
các dòng sông  
30/4: Ngày Thống 15/4: Lễ Phật  
nhất đất nước Đản  
1/5: Quốc tế Lao 5/5: Tết Đoan  
Các gia đình,  
người trẻ  
Chương trình “Đêm tình nhân”  
Cuộc thi “Miss GREEN”  
II  
10/3: Giỗ tổ  
Hùng Vương  
III  
IV  
Chạy việt dã hưởng ứng ngày hành  
động vì các dòng sông  
Hưởng ứng chiến dịch “Giờ Trái Đất”  
Phụ nữ  
Người đi làm  
Gia đình  
Tín đồ Phật giáo  
Phong trào “Sống xanh”: tháng thực  
hành lối sống lành mạnh, tốt cho sức  
khỏe.  
V
động  
Ngọ  
VI  
VII  
Chuỗi chương trình dành cho thiếu  
nhi:  
+ Khóa tu mùa hè  
+ Trại hè nông thôn  
+ Ngày hội tái chế  
Học sinh – sinh  
viên  
Thiếu nhi  
15/7: Lễ Vu  
Lan  
Nghỉ hè  
15/8:  
Tết  
Tín đồ Phật giáo  
VIII  
IX  
Trung Thu  
2/9: Lễ Quốc  
Khánh  
Lễ hội Mưa: đại hội âm nhạc (sân  
Người đi làm, gia khấu nổi), cuộc thi câu cá, cuộc thi  
23/10: Lễ Kỳ  
Yên đình Tân  
Lân  
đình  
thể thao 3 môn phối hợp (chèo thuyền  
+ chạy bộ + đua xe đạp)  
X
20/11: Ngày Nhà  
giáo Việt Nam  
Trại sáng tác văn học/hội họa: “Về  
nguồn”  
Khối giáo dục  
XI  
Tín đồ Công giáo  
Khách quốc tế  
Chuỗi chương trình mừng lễ Giáng  
sinh  
24/12: Giáng sinh  
XII  
Ghi chú: Các mức độ thuận lợi cho hoạt động DLĐS  
Màu Mức độ  
Rất thuận lợi  
Tương đối thuận  
lợi  
Bất lợi  
Trang 57  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
Như vậy, trên đây là một số đề xuất tổ chức các  
sự kiện gắn liền với sông ngòi nhằm tăng thêm sức  
hút cho điểm đến. Nhưng, trước khi có thể áp dụng  
và mang lại hiệu quả như một số địa phương ở Hàn  
Quốc thì chính quyền Tp. Biên Hòa cũng phải nhận  
thức được vai trò của sông ngòi, chuyển từ quan  
điểm “trị thủy” sang “thân thủy” thì mới có thể đưa  
ra những chính sách phát triển bền vững. Bên cạnh  
đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chú ý cải tạo cảnh  
quan theo nguyên tắc hợp lý cũng cần phải được  
thực hiện tốt trước khi khoác lên mình dòng sông  
những chiếc áo nhiều màu.  
DLĐS đặc thù của Biên Hòa bằng việc tham khảo  
mô hình đã vận hành thành công ở Hàn Quốc, từ đó  
rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với điều  
kiện thực tế của vùng. Kinh nghiệm của Hàn Quốc  
cho thấy, để phát triển DLĐS không thể chỉ dựa vào  
nguồn tài nguyên thứ cấp sẵn có mà cần phải có  
quá trình biến đổi chúng trở thành những sản phẩm  
đầu ra trung cấp, chứa đựng nhiều giá trị về tinh  
thần, nhận thức. Một trong số đó chính là những sự  
kiện du lịch gắn liền với dòng sông, khai thác chất  
liệu lịch sử và văn hóa, con người của vùng đất nơi  
dòng sông chảy qua.  
6. Kết luận  
Trên cơ sở xem xét các yếu tố về tự nhiên kết  
hợp hoàn cảnh xã hội, những chương trình và sự  
kiện được đề xuất áp dụng cho DLĐS của Tp. Biên  
Hòa được tổng hợp như Bảng 3. Nhìn chung, các sự  
kiện DLĐS phải phong phú về loại hình (văn hóa,  
nghệ thuật, thể thao, giải trí, thương mại...) và đa  
dạng về các hoạt động; mỗi sự kiện đều phải có chủ  
đề rõ ràng, xuyên suốt và hướng đến nhóm đối  
tượng cụ thể. Thời gian của các sự kiện DLĐS nên  
trùng với những mùa tự nhiên hoặc ngày lễ quan  
trọng trong năm. Không gian diễn ra sự kiện nên  
tận dụng không chỉ ven bờ sông mà còn có các hoạt  
động trên sông. Nhưng trên hết, việc tổ chức các sự  
kiện phải tôn trọng những tài nguyên tự nhiên và  
các giá trị nhân văn.  
Có thể nói rằng, hiện nay, DLĐS đang trở thành  
một trong những loại hình du lịch thu hút nhiều du  
khách. Hòa chung xu hướng ấy, kể từ năm 2004,  
Tp. Biên Hòa đã và đang tận dụng sự hòa quyện hài  
hòa giữa tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên  
du lịch nhân văn của sông Đồng Nai – dòng sông  
nội thủy lớn nhất nước – để phát triển DLĐS. Tuy  
nhiên, từ sau năm 2010 lượng khách DLĐS tại Biên  
Hòa bị tụt giảm nghiêm trọng do chương trình tham  
quan du lịch đường sông chưa có điểm nhấn và kém  
hấp dẫn.  
Để góp phần khôi phục và mở rộng hoạt động  
du lịch trên sông Đồng Nai, bài viết này cố gắng  
trình bày một số giải pháp cho bài toán về sản phẩm  
Trang 58  
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016  
Event-based river tourism product  
diversification (Lessons learned of South  
Korea for river tourism in Bien Hoa City,  
Dong Nai Province)  
Dương Thị Hữu Hiền  
Nguyễn Trung Hiệp  
University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM  
ABSTRACT:  
In company with the trendily emergence of  
nature-based tourism and unique experiences  
in recent years, river tourism has been getting  
favoured. Being a form of water-based tourism,  
it is operated at natural freshwater flows in the  
countryside as well as in urban regions. In Bien  
Hoa City (Dong Nai), although Dong Nai River  
is demonstrated considerable potentials, river  
tourism has not developed yet by dint of lack of  
typical river tourism products which strongly  
affect competitive destination. Hence,  
“breathing life”of cultural and historical values  
into material flows is worth being considered  
an optimal solution. Accordingly, this paper will  
examine lessons learned of South Korea in  
organizing events to explore tourism which are  
suggested to be applied into Bien Hoa City  
case study.  
Keywords: river tourism, river tourism products, tourism events  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt:  
Tiếng Anh và tiếng Hàn:  
[1]. Dương Thị Hữu Hiền (2016): Đề xuất mô hình  
khai thác tuyến du lịch sông Đồng Nai, tỉnh  
Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, ĐH KHXH & NV  
Tp. HCM.  
[4]. Cooper, M., and Prideaux, B. (2009):  
“Conclusions and challenges”. In: Prideaux, B.  
and Cooper, M. (eds.): River Tourism. CAB  
International, Oxfordshire, UK, pp. 257 - 264.  
[5]. Getz, D. (1997): Event Management & Event  
Tourism. Cognizant Communication Corp,  
New York.  
[2]. Đặng Duy Lợi (1995): Đánh giá và khai thác  
các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên  
nhiên Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du  
lịch. Luận án Phó tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà  
Nội I.  
[6]. Leppert, J. (2015): 13 Trends Coming to  
Cruising in 2016 (And What They Mean).  
trends-coming-to-cruising-in-2016-and-what-  
they-mean.html  
[3]. Phan Bửu Toàn (2014): Thực trạng và một số  
giải pháp phát triển tuyến du lịch đường sông  
Đồng Nai. Đề tài cấp Sở thực hiện từ 09/2014  
đến tháng 11/2014, Sở VHTT và DL tỉnh  
Đồng Nai.  
Trang 59  
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016  
[7]. Smith, S. (1994): “The tourism product”,  
Annals of Tourism Research, Vol. 21, No. 3,  
pp. 582 - 595.  
[12]. 이수진 (2012): 경기도 강변레저 활성화  
방안. 경기개발원구원, 경기도.  
[13]. 정강환, 최혜영, 김주호 (2013): “유형별  
[8]. Steinbach, J. (1995): “River related tourism in  
Europe – An overview”, GeoJournal, Vol. 35,  
No. 4 (April 1995), pp. 443 - 458.  
리버투어리즘(River  
Tourism)  
이벤트시장세분화 연구”, Tourism Research,  
제38권 제41호, 241-256.  
[9]. 김창수 외 (2013): “4대강 관광 및 레저사업  
성과 분석”, 관광경영연구 , 16권, 4호, 93-  
115.  
[14]. 한국법제연구원 (2012): 수상레저관광  
활성화  
관련  
법제개선  
연구.  
문화체육관광부, 서울.  
[10]. 김윤영 (2012): 수상관광레저산업 활성화  
방안. 한국문화관광연구원, 서울.  
[15]. 한국문화관광연구원 (2009): 4대강 유역  
문화자원 현황조사 및 문화지도 제작 방안  
연구. 문화체육관광부, 서울.  
[11]. 배재대학교  
산학협력단  
(2011):  
리버투어리즘(River Tourism)을 통한 충청-  
대전 연계관광 발전 방안. 한국관광공사,  
서울.  
[16]. 4대강  
이용도우미:  
[17]. 국립공원관리공단: http://www.knps.or.kr  
[18]. 대한민국 문화체육관광부: www.mcst.go.kr  
Trang 60  
pdf 15 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 14900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông từ các sự kiện du lịch (Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường sông tại Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfda_dang_hoa_san_pham_du_lich_duong_song_tu_cac_su_kien_du_li.pdf