Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông từ các sự kiện du lịch (Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường sông tại Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông
từ các sự kiện du lịch (bài học kinh nghiệm
của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường
sông tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)
Dương Thị Hữu Hiền
Nguyễn Trung Hiệp
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
TÓM TẮT:
Cùng với sự nổi lên của những khuynh
hướng du lịch hiện đại hướng đến thiên nhiên
và những trải nghiệm mới lạ, du lịch đường
sông (DLĐS) đang trở thành một trong những
lựa chọn được yêu thích hiện nay. Đây là một
hình thức của loại hình du lịch đường thủy
được khai thác và tổ chức dựa trên nguồn tài
nguyên các dòng chảy nước ngọt tự nhiên, có
thể phát triển ở vùng nông thôn lẫn đô thị. Tại
Tp. Biên Hòa (Đồng Nai), tuy có thế mạnh về
sông Đồng Nai nhưng du lịch chưa thể phát
triển vì thiếu sản phẩm du lịch đặc thù, độc
đáo. Do đó, việc “thổi hồn” những giá trị văn
hóa, lịch sử vào dòng chảy vật chất sẽ là một
lựa chọn đáng xem xét để thiết kế và đa dạng
hóa sản phẩm DLĐS. Bằng việc phân tích bài
học kinh nghiệm của quốc gia Hàn Quốc trong
việc tổ chức các sự kiện nhằm khai thác du lịch
trên những dòng sông điển hình, bài viết sẽ
đưa ra một số gợi ý để phát triển DLĐS cho
Tp. Biên Hòa, Đồng Nai.
Từ khóa: Du lịch đường sông, Sản phẩm du lịch đường sông, Sự kiện du lịch
1. Dẫn nhập
cho thấy số lượng đặt chỗ chương trình DLĐS trong
1.1. Lý do chọn đề tài
năm nay ở Hoa Kỳ cũng đã tăng hơn 16% so với
năm 2015, đồng thời có đến 40% du khách khẳng
định sẽ tiếp tục lựa chọn hình thức du lịch này cho
những kỳ nghỉ tiếp theo2. Cùng với sự nổi lên của
những khuynh hướng du lịch hiện đại hướng đến
thiên nhiên và những trải nghiệm mới lạ, DLĐS
đang trở thành một trong những lựa chọn được yêu
thích hiện nay.
Hiệp hội quốc tế các hãng du lịch tàu biển
(CLIA – Cruise Lines International Association)
nhận định xu hướng du lịch đường thủy hàng đầu
của năm 2016 là các chuyến thủy trình bằng đường
sông (river cruise) - một trải nghiệm du lịch độc đáo
dành cho thế hệ khách du lịch đường thủy mới1. Cụ
thể, số lượng các du thuyền trên sông (river cruise
ship) của thành viên CLIA đã tăng lên 10% trong
năm 2016. Tương tự, thống kế từ Hiệp hội xe hơi
Mỹ (AAA – the American Automobile Association)
Hòa nhịp xu hướng chung của thế giới và khu
vực, tại Việt Nam, nhiều thành phố có thế mạnh về
tài nguyên sông ngòi cũng đang tập trung phát triển
1
2
cruising-in-2016-and-what-they-mean.html
cruising-in-2016-and-what-they-mean.html
Trang 46
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
hình thức du lịch này như một sản phẩm chiến lược
của địa phương (Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Đà
Nẵng,…). Trong đó, Tp. Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai)
đã và đang tận dụng lợi thế của dòng sông nội thủy
lớn nhất nước – sông Đồng Nai, để phát triển DLĐS
tại đây. Tuy nhiên, bối rối trong việc xây dựng sản
phẩm du lịch đặc thù cho một thành phố vốn có thế
mạnh về ngành công nghiệp đã khiến cho DLĐS
của Biên Hòa đang gặp nhiều khó khăn. Tiếp tục kế
thừa kết quả nghiên cứu về chủ đề này tại địa
phương, bài viết cố gắng trình bày một số giải pháp
cho bài toán về sản phẩm DLĐS đặc thù của Biên
Hòa bằng việc tham khảo mô hình đã vận hành
thành công ở Hàn Quốc, từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế của
vùng.
Theo Smith (1994), mô hình sản phẩm du lịch
được tạo nên bởi năm yếu tố có mối quan hệ bao
hàm, được minh họa bởi những vòng tròn đồng tâm
theo thứ tự từ trong ra ngoài, gồm: tài nguyên du
lịch (physical plants), dịch vụ (service), sự đón tiếp
(hospitality), sự tự do lựa chọn (freedom of choice)
và sự tham gia (involvement).
1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Khảo sát thực trạng khai thác và tổ chức các sự
kiện DLĐS của Hàn Quốc, từ đó đối chiếu với tình
hình thực tế để rút ra những gợi ý nhằm đa dạng
hóa sản phẩm DLĐS cho Tp. Biên Hòa là mục tiêu
chính của bài viết này.
Hình 1. Sản phẩm du lịch tổng quát
(The Generic Tourism Product)
Để đạt được kết quả trên, bài viết tiến hành ba
phương pháp nghiên cứu chính, đó là: thu thập dữ
liệu thứ cấp; khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu.
2. Cơ sở lý luận
(Nguồn: Smith, 1994)
Dù vậy, tầm quan trọng của mỗi yếu tố là khác
nhau tùy theo từng loại sản phẩm du lịch đặc thù và
thể hiện sự tương tác toàn diện giữa các yếu tố chứ
không chỉ là phép cộng gộp giản đơn. Từ góc tiếp
cận người sử dụng, sản phẩm du lịch còn được hiểu
là: “tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu
cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
(Luật Du lịch Việt Nam, 2005). Như vậy, sản phẩm
DLĐS là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn
nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi DLĐS.
2.3. Sự kiện du lịch
2.1. Du lịch đường sông
Có nhiều cách tiếp cận và diễn giải khác nhau về
DLĐS như của Josef Steinbach (1995); ATOUT
France3; Salone (2006); Cooper và Prideaux (2009).
Tựu trung, có thể hiểu đây là một hình thức của loại
hình du lịch đường thủy được khai thác và tổ chức
dựa trên nguồn tài nguyên các dòng chảy nước ngọt
tự nhiên (sông ngòi, kênh rạch). Sức hấp dẫn của nó
không chỉ đến từ cảnh sắc thiên nhiên mà còn kết
hợp với cảnh sắc văn hóa và bao gồm các hoạt động
du thuyền, tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng,
sự kiện được diễn ra trên và hai bên các dòng chảy.
2.2. Sản phẩm DLĐS
Vì không phải là một sự tập hợp ngẫu nhiên nên
năm yếu tố của sản phẩm du lịch sẽ trải qua quá
trình biến đổi phức tạp mà Smith (1994) gọi là
“Tourism Production Process” – “Quá trình sản
xuất du lịch”, được thể hiện như Bảng 1. Trong đó,
Tài nguyên du lịch là nguồn nguyên liệu quan trọng
của hai giai đoạn đầu tiên, Dịch vụ và Sự đón tiếp
3
L’Agence de développement touristique de la France: Cơ quan
xúc tiến du lịch Pháp.
Trang 47
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
được thêm vào để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm
đầu ra trung cấp ở giai đoạn thứ ba. Cuối cùng, Sự
tự do lựa chọn và Sự tham gia giúp biến đổi thành
những trải nghiệm cá nhân ở giai đoạn cuối.
Bảng 1. Quy trình hình thành sản phẩm du lịch
Nguồn: Smith (1994)
Theo đó, sự kiện là một trong những yếu tố đầu
ra trung cấp (intermediate outputs) thuộc giai đoạn
thứ ba của quá trình hình thành sản phẩm du lịch.
Getz (1986) cho rằng sự kiện là những hoạt động
tạm thời, được hoặc không được lên kế hoạch,
thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất
định nhưng vào thời điểm cố định và được quảng bá
rộng rãi. Trong bảy nhóm sự kiện thuộc loại có kế
hoạch - planned events (Văn hóa, Chính trị, Nghệ
thuật, Thương mại, Khoa học – Giáo dục, Thể thao
và Sự kiện cá nhân), Getz tập trung bốn sự kiện có
khả năng phục vụ du lịch cao nhất là: Văn hóa, Thể
thao, Thương mại và Nghệ thuật. Đây cũng là
những nhóm sự kiện được bài viết xem xét như là
những hoạt động tiềm năng cho DLĐS.
km. Theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ thuận lợi về
vị trí địa lý của điểm/ trung tâm du lịch căn cứ vào
khoảng cách với nơi cung cấp nguồn khách chính
(Đặng Duy Lợi, 1995) thì Biên Hòa đạt mức cao
nhất, tức là rất thuận lợi cho hoạt động du lịch.
Tp. Biên Hòa có sông Đồng Nai chảy qua đã tạo
nên những dạng cảnh quan sông nước đặc trưng với
hệ thống đồi núi thấp ở phía Bắc (núi Bửu Long),
đồng bằng và cù lao màu mỡ (cù lao Tân Triều, cù
lao Hiệp Hòa, cù lao Ba Xê) ở phía Nam, làm tiền
đề sản sinh ra những sản vật nổi tiếng (bưởi Tân
Triều, gỏi cá Tân Mai,…). Bên cạnh đó, nguồn
nước dồi dào, chế độ thủy văn ổn định, khí hậu ôn
hòa cũng là một ưu điểm của địa phương.
Mặt khác, sông Đồng Nai đối với Biên Hòa
không chỉ là dòng chảy tự nhiên có giá trị thẩm mỹ
cao mà còn là dòng sông của ký ức và những giá trị
văn hóa độc đáo của một thành phố hơn 300 năm
tuổi. Ngày nay, những giá trị nhân văn ấy vẫn còn
phản chiếu rõ nét trên mặt sông dưới hình ảnh của
những đối tượng hữu hình lẫn vô hình. Những nhân
tố này tạo nên hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn
3. Thực trạng tổ chức và khai thác du lịch
đường sông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai
3.1. Tài nguyên DLĐS của Tp. Biên Hòa
Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng
Nai, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh 30 km, thị xã
Thủ Dầu Một (Bình Dương) 20 km và Vũng Tàu 80
Trang 48
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
Hình 2. Phân bố tài nguyên trên tuyến du lịch sông Đồng Nai tại Biên Hòa
(Nguồn: Dương Thị Hữu Hiền, 2015)
Trang 49
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
đầy tiềm năng cho hoạt động DLĐS ở Biên Hòa.
Hình 2 thể hiện sự phân bố hệ thống tài nguyên
nhân văn của Biên Hòa, gồm 3 cụm chính tương
ứng với 3 cù lao lớn trên đoạn sông. Trong đó, cụm
tài nguyên phía Bắc ứng với nhóm các di tích nằm ở
đoạn đầu của tuyến DLĐS cũng là phạm vi của ngôi
làng cổ Bến Cá xưa kia - một trong những ngôi làng
cổ xuất hiện đầu tiên từ khi người Việt đến vùng đất
này khai phá. Nơi đây không chỉ có giá trị về mặt
khảo cổ, tôn giáo, lịch sử mà còn là điểm du lịch
sinh thái lý tưởng với nghề trồng bưởi nổi tiếng.
Cụm tài nguyên trung tâm với cù lao Phố từng là
thương cảng sầm uất của cả Đàng Trong tồn tại suốt
100 năm. Ngày nay, đó là một vùng quê yên ả trong
lòng thành phố với cảnh trí nên thơ hữu tình, những
vườn cây trái xum xuê, nước sông bốn mùa tươi
mát và mang trên mình nhiều dấu vết của một thời
lịch sử, huyền thoại về những lớp người thời mở
cõi. Tương tự, cụm tài nguyên phía Nam là khu vực
có làng cổ Bến Gỗ - một trong những nơi định cư
đầu tiên của nhiều tộc người thuộc các nền văn
minh xuyên suốt cách nay hàng ngàn năm. Sau khi
cù lao Phố được chọn là trung tâm vùng đất mới,
Bến Gỗ cũng trở thành nơi buôn bán vệ tinh của cù
lao Phố với mặt hàng gỗ, tre, nứa đi khắp xứ Biên
Hòa, Gia Định.
cuối năm 2004 (Thông báo kết luận số
1688/TB.UBT ngày 31/03/2004 của Trưởng ban
Ban Chỉ đạo Du lịch tỉnh Đồng Nai (cũ)). Sau 2
năm, giai đoạn 2005 – 2010 chứng kiến sự phát
triển mạnh mẽ về cả số lượng du khách lẫn các dự
án đầu tư cho du lịch. Có thể nói đây chính là giai
đoạn phát triển nhất của DLĐS ở Biên Hòa vì được
sự ủng hộ của chính quyền cộng với sự tham gia
nhiệt tình của các doanh nghiệp tiên phong (công ty
Du lịch Đồng Nai, HTX TMDV Long Biên, công ty
Tín Nghĩa, bến xe Biên Hòa, làng bưởi Năm Huệ).
Bên cạnh đó, lãnh đạo Tỉnh cũng rất quan tâm đến
cơ hội hợp tác và liên kết với các tỉnh thành lân cận
(Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương). Dù vậy, từ sau
năm 2010 lượng khách bị tụt giảm nghiêm trọng,
nhiều doanh nghiệp vì không thể cầm cự được đã
phải bán lại đội tàu, thuyền và trang thiết bị. Một số
doanh nghiệp quyết định ngưng hẳn kinh doanh, số
khác thì giảm bớt hoặc chuyển đổi sang hình thức
khác. Hiện nay, điểm dừng làng bưởi Năm Huệ tuy
có lượng khách ổn định nhưng chủ yếu là thực
khách đến từ đường bộ, không có khách du lịch đi
theo đường sông. Công ty du lịch Đồng Nai từng là
doanh nghiệp tiên phong chào bán các chương trình
tham quan đường sông nhưng hiện cũng chỉ tiếp
nhận tổ chức khi có đủ số lượng. Riêng chỉ còn mỗi
khu du lịch (KDL) cù lao Ba Xê là còn hoạt động
cầm chừng dựa vào dịch vụ đưa khách đi chùa châu
Đốc 3 nên có thể xem xét như một điển hình doanh
nghiệp kinh doanh DLĐS ở Biên Hòa.
Chính sự hòa quyện hài hòa giữa tài nguyên du
lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đã tạo
nên bức tranh sông nước sinh động, trong lành và
cổ kính. Thêm nữa, Biên Hòa cũng đồng thời là
trung tâm hành chính, văn hóa, xã hội của cả tỉnh
Đồng Nai, thành phố đã được Ủy ban nhân dân tỉnh
xác định hướng phát triển đô thị theo dạng chuỗi
gắn liền với trục đường sông. Đây là điều kiện
thuận lợi để DLĐS phát triển vì hệ thống cơ sở hạ
tầng, cảnh quan ven sông sẽ được đầu tư, cải tạo
ngày càng tốt hơn.
Biểu đồ 1 thể hiện doanh thu của HTX Long
Biên có mức tăng trưởng nhanh trong 3 năm liền từ
năm 2006 đến 2008, với doanh thu cao nhất đạt
được là 750 triệu đồng (2007, 2008). Tuy nhiên, từ
sau 2009 tình hình kinh doanh suy giảm mạnh cho
đến 2014 thì doanh thu chỉ bằng khoảng 1/3 so với
giai đoạn đầu. Số liệu này phản ánh đúng con
đường phát triển thăng trầm tương ứng của hoạt
động DLĐS của Biên Hòa như trên đã trình bày.
3.2. Thực trạng tổ chức và khai thác DLĐS
tại Tp. Biên Hòa
Tuyến DLĐS chính thức được tổ chức và đưa
vào hoạt động kinh doanh ổn định tại Biên Hòa từ
Trang 50
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
Biểu đồ 1. Doanh thu từ DLĐS của HTX TMDV Long Biên (2006-2014)
Triệu Đồng
(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp)
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài lý do năng
lực đáp ứng của cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật
còn hạn chế thì sản phẩm du lịch đặc thù chính là
nguyên nhân cốt lõi khiến cho DLĐS của Biên Hòa
bị chững lại. Rõ ràng, kết quả phân tích Bảng 2 chỉ
ra rằng các chương trình tham quan đường sông chỉ
là hoạt động du ngoạn trong ngày, không có lưu trú
qua đêm. Bên cạnh đó, mặc dù có sự phân chia
tuyến tham quan giữa các doanh nghiệp khai thác
dịch vụ đường sông nhưng nội dung chương trình
lại chưa phong phú. Các điểm đến được sắp xếp
theo quy tắc sự tiện lợi của tuyến đường, chưa chú
trọng đến chủ đề cụ thể. Ví dụ, chương trình 1 (giai
đoạn 2005 – 2010) tập hợp các điểm tham quan
phân bố tập trung ở đoạn cuối của tuyến, còn
chương trình 3 thì gồm các điểm ở đoạn đầu. Thêm
nữa, hoạt động trong chương trình khá đơn điệu, chỉ
là tham quan và ăn uống, không có nhiều vui chơi,
trải nghiệm.
hút sự tham gia của du khách, mang đến cho họ
cảm giác gần gũi và được hòa nhập với đời sống
người dân thì ở Biên Hòa thiếu hẳn những hoạt
động cộng đồng và kết nối như thế. Ngoài ra, so
sánh chương trình của 2 giai đoạn, có thể thấy số
điểm tham quan của giai đoạn 2 đã giảm nhiều so
với giai đoạn 1, cụ thể gồm cù lao Thạnh Hội, Dinh
Đốc Phủ Sứ, Long Quới Thôn Trang và thay vào
KDL cù lao Ba Xê.
Như vậy, để khôi phục và mở rộng hoạt động du
lịch trên sông Đồng Nai, không thể chỉ dựa vào
nguồn tài nguyên thứ cấp sẵn có mà cần phải có quá
trình biến đổi chúng trở thành những sản phẩm đầu
ra trung cấp, chứa đựng nhiều giá trị về tinh thần,
nhận thức. Một trong số đó chính là những sự kiện
du lịch gắn liền với dòng sông, khai thác chất liệu
lịch sử và văn hóa, con người của vùng đất nơi dòng
sông chảy qua. Sớm nhận thức được vai trò quan
trọng của sông ngòi đối với đời sống, người Hàn đã
có những hành động và thay đổi tích cực nhằm
mang lại diện mạo mới cho các dòng sông. Những
kinh nghiệm trong việc tổ chức các sự kiện DLĐS
của quốc gia Hàn Quốc sẽ được xem xét ở phần tiếp
theo như một gợi ý phát triển cho DLĐS ở Biên
Hòa.
Nói cách khác, chương trình tham quan du lịch
đường sông chưa có điểm nhấn và kém hấp dẫn.
Nếu ở các điểm du lịch sông nước điển hình như cù
lao Thới Sơn (Tiền Giang), cù lao An Bình (Vĩnh
Long) hoạt động chèo xuồng, tát mương, bắt cá,
làm cốm – kẹo, homestay,… là điểm đặc biệt thu
Trang 51
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
Bảng 2. Chương trình tham quan DLĐS tại Tp. Biên Hòa giai đoạn 2003 - 2010
Đơn vị phụ trách
2003 -2004
2005 – 2010
Chương trình tham quan cảnh sông ban đêm
TT du thuyền Tín
Nghĩa
Khởi hành tại Câu lạc bộ du thuyền Tín Nghĩa, đưa khách đi ngắm cảnh sông ban đêm, kết
hợp các dịch vụ ăn uống, biểu diễn văn hóa nghệ thuật trên thuyền. (Hoặc là Quý khách có
thể ghé Làng bưởi Tân Triều nghe đàn ca tài tử).
Chùa Châu Đốc 3 - KDL Cù lao Ba Xê
Bến xe Biên Hoà
Ngoài ra, cũng cho thuê phương tiện vận chuyển theo nhu cầu của khách.
Chương trình 1:
Chương trình 1:
Cù lao Thạnh Hội - Dinh Đốc Phủ Sứ- Chùa Cù lao Ba Xê – Chùa Long Thiền – Làng
Long Thiền - Cơ sở sản xuất gốm của Đồng gốm sứ - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh –
Nai - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh.
Chùa Ông.
Chương trình 2:
Chương trình 2:
Làng bưởi Tân Triều - Dinh Đốc Phủ Sứ - Làng bưởi Tân Triều – Chùa Long Thiền –
Văn miếu Trấn Biên - Chùa Ông - làng nghề làng gốm sứ - đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh
sản xuất gốm.
– Chùa Ông.
Công ty Du lịch
Đồng Nai
Chương trình 3:
Chương trình 3:
Cù lao Thạnh Hội - Làng bưởi Tân Triều - Làng bưởi Tân Triều – Văn miếu Trấn
Chùa Long Thiền - Cơ sở sản xuất gốm Biên – TTVHDL Bửu Long - Đền thờ
Đồng Nai - Chùa Ông - Đền thờ Nguyễn Nguyễn Hữu Cảnh – Bảo tàng Đồng Nai.
Hữu Cảnh.
Chương trình 4:
Chương trình 4 :
TTVHDL Bửu Long - Văn miếu Trấn Biên - Làng bưởi Tân Triều – Chùa Long Thiền –
Làng bưởi Tân Triều - Long Quới Thôn Làng gốm sứ - Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh
Trang - Cơ sở sản xuất gốm Tân Vạn - Chùa – Cù lao Ba Xê.
Đại Giác.
(Nguồn: Dương Thị Hữu Hiền, 2015)
4. Tình hình tổ chức và khai thác sự kiện du
lịch đường sông tại Hàn Quốc
Về mặt nhân văn, sông ngòi đóng vai trò như là
không gian sinh sống của con người từ xưa đến nay,
chứa đựng những nội dung văn hóa và lịch sử có giá
trị cao tạo nên hệ thống các công trình di tích văn
hóa – lịch sử ven sông phong phú. Theo thống kê
của Công đoàn quản lý công viên quốc gia Hàn
Quốc (31.12.2015), tổng số cơ sở văn hóa – lịch sử
ngay sát bốn hệ thống sống lớn (Han-gang, Geum-
gang, Nakdong-gang và Yeongsan-gang) là 863 di
tích4.
4.1. Tài nguyên DLĐS của Hàn Quốc
Về mặt tự nhiên, Hàn Quốc có 3.836 sông lớn
nhỏ (tính đến 31.12.2015), phân bố dày đặc trên bề
mặt địa hình với ¾ diện tích là đồi núi nên sông
ngòi thường khúc khuỷu, độ dốc cao. Núi và sông
kết hợp tạo ra những cảnh quan kỳ vĩ bên cạnh
những không gian sinh thái đa dạng, đặc trưng, góp
phần mang đến sức hút riêng cho DLĐS ở Hàn
Quốc.
4
Nguồn: Công đoàn quản lý công viên quốc gia Hàn Quốc
(31.12.2015), http://www.knps.or.kr
Trang 52
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
Đặc biệt, từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2011,
Hàn Quốc thực hiện thành công “Dự án hồi sinh
bốn hệ thống sông lớn” (4대강 살리기 사업) với
một trong năm nhiệm vụ cốt lõi là tạo dựng cơ sở
hạ tầng phát triển DLĐS. Dự án này không cải tạo
không gian ven sông thành không gian du lịch đơn
thuần mà thành không gian phức hợp phục vụ cho
du lịch với sự liên kết giữa các tài nguyên văn hóa
và hệ sinh thái đặc hữu. Đây là phương thức tạo ra
các giá trị gia tăng cho sông trên cơ sở kết hợp
những tài nguyên du lịch đơn lẻ.
4.2. Quan điểm phát triển DLĐS của Hàn
Quốc
Nhận thức của người Hàn về vai trò của sông
ngòi biến đổi từ “trị thủy” (làm thủy lợi cho nông
nghiệp), qua “lợi thủy” (sử dụng năng lượng từ
nước sông), đến “thân thủy” (thân thiện với sông
ngòi).
Hình 3. Bốn hệ thống sông lớn Hàn Quốc
Bảng 4. Sự thay đổi trong sử dụng sông ngòi ở Hàn Quốc
Thời đại
Xưa ~ cuối thời Xã hội phong kiến
Joseon (1392- Kinh tế nông nghiệp Vận tải đường thủy
Đặc điểm thời đại Văn hóa đời sống
Hướng sử dụng sông ngòi
Làm thủy lợi
Đời sống ven sông
Phòng ngự quân sự
Phòng chống lũ lụt
1910)
lúa nước
Giải trí ven sông
Bị Nhật chiếm đóng
Cận đại hóa
Chuyển giao thông đường thủy sang Xây đập, nhà máy phát điện
Cuối thời Joseon
~ thập niên 1950
đường bộ
Xây cầu, đường sắt
Vẫn giữ lối sống sinh hoạt ven sông
Công nghiệp hóa, đô Không còn văn hóa sống ven sông
Trữ nước cho công nghiệp
Thập niên 1960
~ thập niên1980
thị hóa
Chủ nghĩa phát triển
Cải tạo một phần hạ lưu sông
Tăng trưởng nhanh
Hiện đại hóa
Nhu cầu vui chơi giải trí, du lịch Phục hồi hạ lưu sông: bảo tồn
hệ sinh thái, cảnh quan sông
văn hóa và bảo tồn Quay lại thân thiện với sông qua ngòi.
Thời đại phát triển sinh thái tăng cao
Từ sau thập niên
1990
môi trường
các hoạt động vui chơi trên và ven
sông
(Nguồn: Lee Soo Jin, 2012)
nghiệp tại các đô thị ven sông. Do nguồn nước bị ô
nhiễm và hệ sinh thái bị phá hủy nên đến thập niên
1990, họ đã nhận thức lại vai trò của sông ngòi và
bắt đầu tái tạo, bảo tồn các dòng sông, tạo ra không
gian vui chơi giải trí ven sông thân thiện với môi
trường.
Qua bảng trên ta có thể thấy trước thế kỷ XX,
sông ngòi ở Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, vận tải
thủy, không gian sinh sống của con người. Từ đầu
thế kỷ XX trở đi, người Hàn xây đập trên sông để
làm nhà máy phát điện, đồng thời phát triển công
Trang 53
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
Sự kiện
văn hóa
Xe đạp
Sinh thái –
Thể thao
nghệ thuật
Xe hơi
Vành đai
sinh thái
Hình 4. Mô hình cải tạo bờ sông thành không gian phục vụ du lịch
(Nguồn: Kim Yoon Young, 2012)
du lịch đường thủy (Kim Yoon Young, 2012; Kim
Chang Soo, 2013; Lee Soo Jin, 2012,...), và con số
này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
4.3. Tình hình tổ chức và khai thác sự kiện
DLĐS ở Hàn Quốc
Trong các năm qua, số lượng khách DLĐS
chiếm khoảng hơn 70% tổng số du khách tham gia
Bảng 5. Thống kê khách DLĐS trên bốn hệ thống sông lớn ở Hàn Quốc (2008-2015)
2014*
2015*
Năm
2008
459
2009
504
2010
584
2011
2012
2013
(dự báo)
(dự báo)
Số
lượng
1.449
1.732
1.984
2.200
2.327
(ngàn người)
(Nguồn: Kim Chang Soo, 2013)
DLĐS ở Hàn Quốc được chia thành bốn hoạt
động chính: thể thao, tham quan, sự kiện – lễ hội
văn hóa và nghỉ dưỡng (Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Hàn Quốc, 2016). Trong đó, sự kiện DLĐS
là một trong những trọng điểm để gia tăng sức hút
của các dòng sông bằng cách “thổi hồn” vào các
dòng chảy ấy từ các chất liệu văn hóa, lịch sử, nghệ
thuật, thể thao... đa dạng. Một trong những loại sự
kiện thu hút nhiều du khách nhất là lễ hội DLĐS.
Năm 2016 cả Hàn Quốc có 693 lễ hội thì có đến 19
lễ hội gắn liền với sông nước (bảng 6), chiếm 2,7%.
Các lễ hội thường niên này diễn ra chủ yếu vào
mùa hè5 (9) và mùa thu (5), bởi lẽ mùa hè có nhiệt
độ khá cao và mùa thu có phong cảnh đẹp, lại trùng
với tết Trung thu – được xem là một trong hai lễ tết
quan trọng nhất của người Hàn – nên thu hút đông
đảo khách du lịch. Nếu phân theo tính chất sự kiện
thì hầu hết là lễ hội thể thao - giải trí (9), kế đến là
văn hóa - nghệ thuật (7), du lịch sinh thái (2) và
thương mại (1). Địa phương tổ chức nhiều sự kiện
ven sông hơn là các tỉnh, không phải thành phố lớn
như tỉnh Gangwon-do (6), tỉnh Gyeonggi-do (3),
tỉnh Gyeongsangnam-do (3), bởi lẽ các thành phố
lớn tập trung tổ chức các sự kiện trong đất liền, hơn
là ven sông.
Ba trong số những lễ hội - sự kiện DLĐS lớn
nhất Hàn Quốc là lễ hội đèn hoa đăng trên sông
Nam ở Jinju (진주남강유등축제), lễ hội rượu và
trái cây quốc tế Daejeon (대전국제와인페어) và lễ
hội cá ngừ trên băng ở Hwacheon – vương quốc
băng giá (얼음나라 화천산천어축제). Năm 2015,
lễ hội đèn hoa đăng đem về cho Jinju 40,5 tỷ won
(34,44 triệu USD6).
6
Theo tỷ giá ngày 31/12/2015: 1 USD = 1175,99 KRW, nguồn:
5
Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt; mùa xuân: tháng 3~5; mùa hè:
history.html
tháng 6~8; mùa thu: tháng 9~11; mùa đông: tháng 12~2.
Trang 54
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
Bảng 6. Thống kê các lễ hội - sự kiện sông ngòi hàng năm ở Hàn Quốc
Nơi tổ chức
Lưu vực
Thời gian tổ chức Phân loại theo loại
Tên lễ hội – sự kiện
(định kỳ hàng năm)
Tuần cuối tháng 7 đến
giữa tháng 8
hình sự kiện
Địa phương
Lễ hội thể thao Love Hangang
Thể thao giải trí
Seoul
Sông Han với văn học và âm
nhạc
Tuần cuối tháng 7
Cả tháng 1
Văn hóa – nghệ thuật
Du lịch sinh thái
Lễ hội mùa đông đảo Jala
Lễ hội nhạc Jazz quốc tế trên đảo
Jala
Gyeonggi-do
Đầu tháng 10
Đầu tháng 10
Văn hóa – nghệ thuật
Thể thao giải trí
Lễ hội thể thao Gyeonggido
Lễ hội cá ngừ trên băng ở
Han-gang
Hwacheon – vương quốc băng Gần cả tháng 1
Giải trí
한강
giá
Cuối tháng 1 - đầu
Lễ hội cá ốt-me (smelt)
Giải trí
tháng 2
Lễ hội sông Yeongweoldong
Đầu tháng 8
Văn hóa
Gangwon-do
Lễ hội thuyền (bằng gỗ thông)
Hwacheon – vương quốc của Nửa đầu tháng 8
nước
Thể thao giải trí
Lễ hội bắt cá trên sông Seom
Lễ hội văn hóa sông Soyang
Lễ hội trên hồ tình yêu – hồ
Chungju
Đầu tháng 8
Cuối tháng 9
Giải trí
Văn hóa
Chungcheongbu
k-do
Đầu tháng 8
Giải trí
Geum-
gang
Lễ hội rượu và trái cây quốc tế
Daejeon
Đầu tháng 9
Cuối tháng 5
Đầu tháng 8
Thương mại
Du lịch sinh thái
Văn hóa
금강
Daejeon
Lễ hội Lohas Geum-gang
Lễ hội văn hóa Yeongsan-gang ở
Naju
Jeollanam-do
Yeongsan
-gang
Lễ hội hoa cải dầu ven Nakdong-
gang
Đầu tháng 4
Giải trí
영산강
Gyeongsangnam
-do
Lễ hội thể thao trên sông Hwang Cuối tháng 7
Lễ hội đèn hoa đăng trên sông
Thể thao giải trí
Văn hóa nghệ thuật
Nửa đầu tháng 10
Nam ở Jinju
Nakdong-
gang
Busan
Lễ hội ven sông quận Sasang
Đầu tháng 8
Văn hóa – nghệ thuật
낙동강
(Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp từ website Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hàn Quốc, ngày 10/10/2016)
Lễ hội thương mại rượu và trái cây Daejeon
trong 4 ngày thu hút 64.880 khách, 123 doanh
nghiệp từ 14 quốc gia đến thưởng lãm rượu và trái
cây, ngoài triển lãm là đêm hội văn hóa nước ngoài.
Lễ hội câu cá hồi trên sông băng Hwacheon diễn ra
trong 23 ngày, mỗi ngày thu hút khoảng 185.000
Trang 55
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
người, nhờ đó người dân địa phương thu nhập mỗi
ngày khoảng 50.000 won (42,5 USD)7... Như vậy,
DLĐS nói chung và sự kiện DLĐS nói riêng có
những đóng góp nhất định trong việc phát triển kinh
tế địa phương và đất nước8.
thể thao, giải trí, thương mại...) và đa dạng về các
hoạt động: thả hoa đăng, ngắm pháo hoa, các cuộc
thi thể thao phối hợp, tìm hiểu sản vật địa phương,
biểu diễn nghệ thuật,… Mỗi sự kiện đều có chủ đề
rõ ràng, xuyên suốt và hướng đến nhóm đối tượng
cụ thể. Thời gian của các sự kiện DLĐS trùng với
những mùa tự nhiên hoặc ngày lễ quan trọng trong
năm. Không gian diễn ra sự kiện được tận dụng
không chỉ ven bờ sông mà còn có các hoạt động
trên sông. Nguyên tắc hàng đầu của các sự kiện là
phải tôn trọng những tài nguyên tự nhiên và các giá
trị nhân văn. Người tham dự ý thức được trách
nhiệm của mình trong việc góp phần bảo vệ cảnh
quan môi trường, tạo nên sự liên kết thân thiện giữa
con người và thiên nhiên. Tuy nhiên, sự phân bố
các sự kiện trong năm lại chưa đều, chưa hạn chế
được tính thời vụ trong du lịch.
Hình 5. Lễ hội đèn hoa đăng trên sông Nam ở Jinju
C35500D4ED803CEFE)
5.2. Đề xuất một số sự kiện nhằm đa dạng
hóa sản phẩm DLĐS tại Tp. Biên Hòa
Trên cơ sở xem xét các yếu tố về tự nhiên kết
hợp hoàn cảnh xã hội, những chương trình và sự
kiện được đề xuất áp dụng cho DLĐS của Tp. Biên
Hòa được tổng hợp như Bảng 3.
Có thể thấy, điều kiện tự nhiên đóng vai trò
quan trọng vì đây là đối tượng tài nguyên chủ đạo
của du lịch, nó quyết định đến hình thức của các sự
kiện. Theo đó, những hoạt động gắn liền với không
gian mặt nước (bắn pháo hoa, đua thuyền, thả hoa
đăng,…) sẽ được tận dụng triệt để trong giai đoạn
thời tiết thuận lợi (tháng XII – tháng IV). Ngược lại,
khi điều kiện thời tiết bất lợi cũng là mùa thấp điểm
của du lịch (tháng V – tháng XI), các sự kiện sẽ
chuyển sang các hoạt động trên bờ nhiều hơn (trải
nghiệm nông thôn, lễ hội âm nhạc, trại sáng tác,…).
Bên cạnh yếu tố tự nhiên thì điều kiện xã hội cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến chủ đề của các sự kiện.
Tùy vào ý nghĩa của các ngày lễ lớn trong năm mà
nội dung chương trình cũng sẽ được thiết kế phù
hợp. Chẳng hạn, thời gian tháng I, tháng II thường
là thời điểm của năm mới và Tết Nguyên Đán nên
nhiều chương trình chào đón sự kiện lớn nhất năm
sẽ được tổ chức tương ứng như: Hội hoa xuân, Lễ
Hình 6. Cuộc đua xe đạp ven bốn dòng sông lớn
Tour de Korea 2012
5. Đề xuất một số sự kiện du lịch nhằm đa
dạng hóa sản phẩm DLDS tại Tp. Biên Hòa
5.1. Một số kinh nghiệm trong tổ chức, khai
thác sự kiện DLĐS của Hàn Quốc
Các sự kiện DLĐS ở Hàn Quốc tuy chiếm tỷ lệ
khiêm tốn so với tổng số các sự kiện du lịch (2,7%)
nhưng phong phú về loại hình (văn hóa, nghệ thuật,
7 Nguồn các số liệu: Tổng hợp từ trang chủ của Bộ Văn hóa, Thể
8
Theo một nghiên cứu cuối năm 2012, số lần tham quan du lịch
vui chơi giải trí trên sông trong một năm của du khách là 5,4 lần,
số tiền chi tiêu trung bình cho một lần vui chơi tham quan trên
sông (không sử dụng các phương tiện đắt tiền như du thuyền) là
4.236 won (Kim Yoon Young, 2012). Theo thống kê, số lượng
khách DLĐS năm 2012 là 1.732.000 người và tổng thu khoảng
39,618 tỷ won, tương đương 37,277 triệu USD.
Trang 56
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
hội pháo hoa đêm giao thừa, Đường hoa Trấn
Biên,… Tương tự, tháng VI - tháng VIII là thời
điểm nghỉ hè của học sinh, sinh viên nhưng cũng lại
là mùa thời tiết bất lợi nên các hoạt động sẽ được tổ
chức chủ yếu ven bờ (nông trại thực nghiệm, cơ sở
tín ngưỡng,…) để đảm bảo an toàn cho các em.
Nhìn chung, DLĐS ở Biên Hòa sẽ có 2 mùa cơ
bản tương ứng với điều kiện thời tiết mưa và khô.
Với ưu thế về cả tự nhiên và xã hội, mùa khô sẽ là
mùa cao điểm của du lịch. Tuy nhiên, điều này
không có nghĩa mùa mưa là thấp điểm. Bằng cách
tận dụng sự bất lợi, chúng ta có thể tổ chức các sự
kiện đặc biệt như Lễ hội mưa hay Trại sáng tác văn
học lấy cảm hứng từ Mưa để thu hút đối tượng
khách tiềm năng. Bằng cách tạo thêm nhiều hoạt
động từ các lễ hội, sự kiện, chúng ta có thể hạn chế
được ảnh hưởng của tính thời vụ, đồng thời cũng
tạo nên sản phẩm đặc thù cho địa phương.
Bảng 3. Bảng phân tích đề xuất các sự kiện trong năm cho DLĐS của Tp. Biên Hòa
MÙA XÃ HỘI (2)
MÙA
TỰ NHIÊN (1)
NHÓM
ĐỐI TƯỢNG (3)
THÁ
NG
CHƯƠNG TRÌNH/ SỰ KIỆN (4)
Dương lịch
Âm lịch
Chuỗi sự kiện đón Tết:
+ Chợ Hoa Xuân
+ Lễ hội pháo hoa đêm giao thừa
+ Đường Hoa Trấn Biên
+ Lễ hội đua thuyền trên sông Đồng
Nai.
Mọi đối tượng
Tết Nguyên
Đán
Rằm Tháng
Giêng
1/1: Năm mới
I
+ Lễ hội Chùa Ông
14/2: Lễ Tình
nhân
8/3:Quốc tế Phụ
nữ
14/3: Ngày quốc
tế hành động vì
các dòng sông
30/4: Ngày Thống 15/4: Lễ Phật
nhất đất nước Đản
1/5: Quốc tế Lao 5/5: Tết Đoan
Các gia đình,
người trẻ
Chương trình “Đêm tình nhân”
Cuộc thi “Miss GREEN”
II
10/3: Giỗ tổ
Hùng Vương
III
IV
Chạy việt dã hưởng ứng ngày hành
động vì các dòng sông
Hưởng ứng chiến dịch “Giờ Trái Đất”
Phụ nữ
Người đi làm
Gia đình
Tín đồ Phật giáo
Phong trào “Sống xanh”: tháng thực
hành lối sống lành mạnh, tốt cho sức
khỏe.
V
động
Ngọ
VI
VII
Chuỗi chương trình dành cho thiếu
nhi:
+ Khóa tu mùa hè
+ Trại hè nông thôn
+ Ngày hội tái chế
Học sinh – sinh
viên
Thiếu nhi
15/7: Lễ Vu
Lan
Nghỉ hè
15/8:
Tết
Tín đồ Phật giáo
VIII
IX
Trung Thu
2/9: Lễ Quốc
Khánh
Lễ hội Mưa: đại hội âm nhạc (sân
Người đi làm, gia khấu nổi), cuộc thi câu cá, cuộc thi
23/10: Lễ Kỳ
Yên đình Tân
Lân
đình
thể thao 3 môn phối hợp (chèo thuyền
+ chạy bộ + đua xe đạp)
X
20/11: Ngày Nhà
giáo Việt Nam
Trại sáng tác văn học/hội họa: “Về
nguồn”
Khối giáo dục
XI
Tín đồ Công giáo
Khách quốc tế
Chuỗi chương trình mừng lễ Giáng
sinh
24/12: Giáng sinh
XII
Ghi chú: Các mức độ thuận lợi cho hoạt động DLĐS
Màu Mức độ
Rất thuận lợi
Tương đối thuận
lợi
Bất lợi
Trang 57
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
Như vậy, trên đây là một số đề xuất tổ chức các
sự kiện gắn liền với sông ngòi nhằm tăng thêm sức
hút cho điểm đến. Nhưng, trước khi có thể áp dụng
và mang lại hiệu quả như một số địa phương ở Hàn
Quốc thì chính quyền Tp. Biên Hòa cũng phải nhận
thức được vai trò của sông ngòi, chuyển từ quan
điểm “trị thủy” sang “thân thủy” thì mới có thể đưa
ra những chính sách phát triển bền vững. Bên cạnh
đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chú ý cải tạo cảnh
quan theo nguyên tắc hợp lý cũng cần phải được
thực hiện tốt trước khi khoác lên mình dòng sông
những chiếc áo nhiều màu.
DLĐS đặc thù của Biên Hòa bằng việc tham khảo
mô hình đã vận hành thành công ở Hàn Quốc, từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với điều
kiện thực tế của vùng. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
cho thấy, để phát triển DLĐS không thể chỉ dựa vào
nguồn tài nguyên thứ cấp sẵn có mà cần phải có
quá trình biến đổi chúng trở thành những sản phẩm
đầu ra trung cấp, chứa đựng nhiều giá trị về tinh
thần, nhận thức. Một trong số đó chính là những sự
kiện du lịch gắn liền với dòng sông, khai thác chất
liệu lịch sử và văn hóa, con người của vùng đất nơi
dòng sông chảy qua.
6. Kết luận
Trên cơ sở xem xét các yếu tố về tự nhiên kết
hợp hoàn cảnh xã hội, những chương trình và sự
kiện được đề xuất áp dụng cho DLĐS của Tp. Biên
Hòa được tổng hợp như Bảng 3. Nhìn chung, các sự
kiện DLĐS phải phong phú về loại hình (văn hóa,
nghệ thuật, thể thao, giải trí, thương mại...) và đa
dạng về các hoạt động; mỗi sự kiện đều phải có chủ
đề rõ ràng, xuyên suốt và hướng đến nhóm đối
tượng cụ thể. Thời gian của các sự kiện DLĐS nên
trùng với những mùa tự nhiên hoặc ngày lễ quan
trọng trong năm. Không gian diễn ra sự kiện nên
tận dụng không chỉ ven bờ sông mà còn có các hoạt
động trên sông. Nhưng trên hết, việc tổ chức các sự
kiện phải tôn trọng những tài nguyên tự nhiên và
các giá trị nhân văn.
Có thể nói rằng, hiện nay, DLĐS đang trở thành
một trong những loại hình du lịch thu hút nhiều du
khách. Hòa chung xu hướng ấy, kể từ năm 2004,
Tp. Biên Hòa đã và đang tận dụng sự hòa quyện hài
hòa giữa tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên
du lịch nhân văn của sông Đồng Nai – dòng sông
nội thủy lớn nhất nước – để phát triển DLĐS. Tuy
nhiên, từ sau năm 2010 lượng khách DLĐS tại Biên
Hòa bị tụt giảm nghiêm trọng do chương trình tham
quan du lịch đường sông chưa có điểm nhấn và kém
hấp dẫn.
Để góp phần khôi phục và mở rộng hoạt động
du lịch trên sông Đồng Nai, bài viết này cố gắng
trình bày một số giải pháp cho bài toán về sản phẩm
Trang 58
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 19, SOÁ X5-2016
Event-based river tourism product
diversification (Lessons learned of South
Korea for river tourism in Bien Hoa City,
Dong Nai Province)
Dương Thị Hữu Hiền
Nguyễn Trung Hiệp
University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM
ABSTRACT:
In company with the trendily emergence of
nature-based tourism and unique experiences
in recent years, river tourism has been getting
favoured. Being a form of water-based tourism,
it is operated at natural freshwater flows in the
countryside as well as in urban regions. In Bien
Hoa City (Dong Nai), although Dong Nai River
is demonstrated considerable potentials, river
tourism has not developed yet by dint of lack of
typical river tourism products which strongly
affect competitive destination. Hence,
“breathing life”of cultural and historical values
into material flows is worth being considered
an optimal solution. Accordingly, this paper will
examine lessons learned of South Korea in
organizing events to explore tourism which are
suggested to be applied into Bien Hoa City
case study.
Keywords: river tourism, river tourism products, tourism events
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
Tiếng Anh và tiếng Hàn:
[1]. Dương Thị Hữu Hiền (2016): Đề xuất mô hình
khai thác tuyến du lịch sông Đồng Nai, tỉnh
Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, ĐH KHXH & NV
Tp. HCM.
[4]. Cooper, M., and Prideaux, B. (2009):
“Conclusions and challenges”. In: Prideaux, B.
and Cooper, M. (eds.): River Tourism. CAB
International, Oxfordshire, UK, pp. 257 - 264.
[5]. Getz, D. (1997): Event Management & Event
Tourism. Cognizant Communication Corp,
New York.
[2]. Đặng Duy Lợi (1995): Đánh giá và khai thác
các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du
lịch. Luận án Phó tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà
Nội I.
[6]. Leppert, J. (2015): 13 Trends Coming to
Cruising in 2016 (And What They Mean).
trends-coming-to-cruising-in-2016-and-what-
they-mean.html
[3]. Phan Bửu Toàn (2014): Thực trạng và một số
giải pháp phát triển tuyến du lịch đường sông
Đồng Nai. Đề tài cấp Sở thực hiện từ 09/2014
đến tháng 11/2014, Sở VHTT và DL tỉnh
Đồng Nai.
Trang 59
SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016
[7]. Smith, S. (1994): “The tourism product”,
Annals of Tourism Research, Vol. 21, No. 3,
pp. 582 - 595.
[12]. 이수진 (2012): 경기도 강변레저 활성화
방안. 경기개발원구원, 경기도.
[13]. 정강환, 최혜영, 김주호 (2013): “유형별
[8]. Steinbach, J. (1995): “River related tourism in
Europe – An overview”, GeoJournal, Vol. 35,
No. 4 (April 1995), pp. 443 - 458.
리버투어리즘(River
Tourism)
이벤트시장세분화 연구”, Tourism Research,
제38권 제41호, 241-256.
[9]. 김창수 외 (2013): “4대강 관광 및 레저사업
성과 분석”, 관광경영연구 , 16권, 4호, 93-
115.
[14]. 한국법제연구원 (2012): 수상레저관광
활성화
관련
법제개선
연구.
문화체육관광부, 서울.
[10]. 김윤영 (2012): 수상관광레저산업 활성화
방안. 한국문화관광연구원, 서울.
[15]. 한국문화관광연구원 (2009): 4대강 유역
문화자원 현황조사 및 문화지도 제작 방안
연구. 문화체육관광부, 서울.
[11]. 배재대학교
산학협력단
(2011):
리버투어리즘(River Tourism)을 통한 충청-
대전 연계관광 발전 방안. 한국관광공사,
서울.
[16]. 4대강
이용도우미:
Trang 60
Bạn đang xem tài liệu "Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đường sông từ các sự kiện du lịch (Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc áp dụng cho du lịch đường sông tại Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
da_dang_hoa_san_pham_du_lich_duong_song_tu_cac_su_kien_du_li.pdf

