Giáo trình Hệ điều hành V1.0 - Bài: Đồng bộ hóa quá trình - Nguyễn Phú Trường

Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
ĐỒNG BỘ HOÁ QUÁ TRÌNH  
I Mục tiêu  
Sau khi học xong chương này, người học nắm được những kiến thức sau:  
• Hiểu vấn đề vùng tương trục  
• Hiểu cơ chế hoạt động hiệu báo Semaphores để đồng bộ hóa quá trình  
• Hiểu cơ chế hoạt động của Monitors để đồng bộ hóa quá trình  
• Vận dụng các giải pháp để giải quyết các bài toán đồng bộ hóa cơ bản  
II Giới thiệu  
Một quá trình hợp tác là một quá trình có thể gây ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng tới  
quá trình khác đang thực thi trong hệ thống. Các quá trình hợp tác có thể chia sẻ trực  
tiếp không gian địa chỉ luận lý (mã và dữ liệu), hay được phép chia sẻ dữ liệu thông  
qua các tập tin. Trường hợp đầu đạt được thông qua việc sử dụng các quá trình có  
trọng lượng nhẹ hay luồng. Truy xuất đồng hành dữ liệu được chia sẻ có thể dẫn tới  
việc không đồng nhất dữ liệu. Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận các cơ chế  
đảm bảo việc thực thi có thứ tự của các quá trình hợp tác chia sẻ không gian địa chỉ để  
tính đúng đắn của dữ liệu luôn được duy trì.  
III Tổng quan  
Trong chương trước, chúng ta phát triển một mô hình hệ thống chứa số lượng  
quá trình hợp tác tuần tự, tất cả chúng chạy bất đồng bộ và có thể chia sẻ dữ liệu.  
Chúng ta hiển thị mô hình này với cơ chế vùng đệm có kích thước giới hạn, được đại  
diện cho hệ điều hành.  
Chúng ta xét giải pháp bộ nhớ được chia sẻ cho bài toán vùng đệm có kích  
thước giới hạn. Giải pháp này cho phép có nhiều nhất BUFFER_SIZE –1 sản phẩm  
trong vùng đệm tại cùng thời điểm. Giả sử rằng chúng ta muốn hiệu chỉnh giải thuật  
để giải quyết sự thiếu sót này. Một khả năng là thêm một biến đếm số nguyên  
counter, được khởi tạo bằng 0. counter được tăng mỗi khi chúng ta thêm một sản  
phẩm tới vùng đệm và bị giảm mỗi khi chúng ta lấy một sản phẩm ra khỏi vùng đệm.  
Mã cho quá trình người sản xuất có thể được hiệu chỉnh như sau:  
while (1){/*tạo sản phẩm trong nextProduced*/  
while (counter==BUFFER_SIZE); /*không làm gì cả*/  
buffer[in] = nextProduced;  
in  
= ( in + 1 ) % BUFFER_SIZE;  
counter++;  
}
Mã cho quá trình người tiêu dùng có thể được hiệu chỉnh như sau:  
while (1){  
while (counter == 0) ;  
/*không làm gì cả*/  
nextConsumed = buffer[out];  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 82  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
out  
= ( out + 1 ) % BUFFER_SIZE;  
counter--;  
/*tiêu thụ sản phẩm trong nextConsumed*/  
}
Mặc dù cả hai thủ tục người sản xuất và người tiêu dùng thực thi đúng khi tách  
biệt nhau nhưng chúng không thực hiện đúng chức năng khi thực thi đồng hành. Như  
minh hoạ dưới đây, giả sử rằng giá trị của biến counter hiện tại là 5 và thủ tục người  
sản xuất và người tiêu dùng thực thi đồng hành câu lệnh “counter++” và “counter--”.  
Theo sau việc thực thi hai câu lệnh này, giá trị của biến counter có thể là 4, 5 hay 6!  
Kết quả chỉ đúng khi biến counter==5, được tạo ra đúng nếu quá trình người sản xuất  
và người tiêu dùng thực thi riêng biệt.  
Chúng ta có thể minh hoạ giá trị của counter có thể không đúng như sau. Chú ý,  
câu lệnh “counter++” có thể được cài đặt bằng ngôn ngữ máy (trên một máy điển  
hình) như sau:  
register1 = counter  
register1 = register1 + 1  
counter = register1  
Ở đây register1 là một thanh ghi CPU cục bộ. Tương tự, câu lệnh “counter--”  
được cài đặt như sau:  
register2 = counter  
register2 = register2 - 1  
counter = register2  
Ở đây register2 là thanh ghi CPU cục bộ. Dù là register1 và register2 có thể dùng  
cùng thanh ghi vật lý, nhưng nội dung của thanh ghi sẽ được lưu lại và lấy lại bởi bộ  
quản lý ngắt.  
Thực thi đồng hành của “counter++” và “counter--” là tương tự như thực thi  
tuần tự ở đây các câu lệnh cấp thấp hơn được hiện diện trước bị phủ lắp trong thứ tự  
bất kỳ (nhưng thứ tự bên trong mỗi câu lệnh cấp cao được lưu giữ). Một sự phủ lắp là:  
T0: producer thực thi  
T1: producer thực thi  
T2: consumer thực thi  
T3: consumer thực thi  
T4: producer thực thi  
T5: consumer thực thi  
register1 = counter  
register1 = register1 + 1  
register2 = counter  
register2 = register2 – 1  
counter = register1  
counter = register2  
{register1 = 5}  
{register1 = 6}  
{register2 = 5}  
{register2 = 4}  
{counter = 6}  
{counter = 4}  
Chú ý rằng, chúng ta xem xét tình trạng không đúng “counter==4” theo đó có 4  
vùng đệm đầy, nhưng thực tế khi đó có 5 vùng đệm đầy. Nếu chúng đổi ngược lại thứ  
tự của câu lệnh T4 và T5, chúng ta sẽ có trạng thái không đúng “counter ==6”.  
Chúng ta đi đến trạng thái không đúng này vì chúng ta cho phép cả hai quá trình  
thao tác đồng thời trên biến counter. Trường hợp tương tự, ở đây nhiều quá trình truy  
xuất và thao tác cùng dữ liệu đồng hành và kết quả của việc thực thi phụ thuộc vào  
thứ tự xác định trong đó việc truy xuất xảy ra, được gọi là điều kiện cạnh tranh (race  
condition). Để ngăn chặn điều kiện cạnh tranh ở trên, chúng ta cần đảm bảo rằng chỉ  
một quá trình tại một thời điểm có thể được thao tác biến counter. Để thực hiện việc  
đảm bảo như thế, chúng ta yêu cầu một vài hình thức đồng bộ hoá quá trình. Những  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 83  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
trường hợp như thế xảy ra thường xuyên trong các hệ điều hành khi các phần khác  
nhau của hệ thống thao tác các tài nguyên và chúng ta muốn các thay đổi không gây  
trở ngại một sự thay đổi khác. Phần chính của chương này là tập trung vào vấn đề  
đồng bộ hoá và cộng tác quá trình.  
IV Vấn đề vùng tương trục  
Xét một hệ thống gồm n quá trình (P0, P1, … ,Pn-1 ). Mỗi quá trình có một phân  
đoạn mã, được gọi là vùng tương trục (critical section), trong đó quá trình này có thể  
thay đổi những biến dùng chung, cập nhật một bảng, viết đến tập tin,.. Đặc điểm quan  
trọng của hệ thống là ở chỗ, khi một quá trình đang thực thi trong vùng tương trục,  
không có quá trình nào khác được phép thực thi trong vùng tương trục của nó. Do đó,  
việc thực thi của các vùng tương trục bởi các quá trình là sự loại trừ hỗ tương. Vấn đề  
vùng tương trục là thiết kế một giao thức mà các quá trình có thể dùng để cộng tác.  
Mỗi quá trình phải yêu cầu quyền để đi vào vùng tương trục của nó. Vùng mã thực  
hiện yêu cầu này là phần đi vào (entry section). Vùng tương trục có thể được theo  
sau bởi một phần kết thúc (exit section). Mã còn lại là phần còn lại (remainder  
section).  
do {  
entry section  
critical section  
exit section  
remainder section  
}
while (1);  
Hình 0-1 Cấu trúc chung của một quá trình điển hình Pi  
Một giải pháp đối với vấn đề vùng tương trục phải thoả mãn ba yêu cầu sau:  
• Loại trừ hỗ tương (Mutual Exclusion): Nếu quá trình Pi đang thực thi  
trong vùng tương trục của nó thì không quá trình nào khác đang được thực  
thi trong vùng tương trục đó.  
• Tiến trình (Progress): nếu không có quá trình nào đang thực thi trong  
vùng tương trục và có vài quá trình muốn vào vùng tương trục thì chỉ  
những quá trình không đang thực thi phần còn lại mới có thể tham gia vào  
việc quyết định quá trình nào sẽ đi vào vùng tương trục tiếp theo và chọn  
lựa này không thể trì hoãn vô hạn định.  
• Chờ đợi có giới hạn (bounded wait): giới hạn số lần các quá trình khác  
được phép đi vào miền tương trục sau khi một quá trình thực hiện yêu cầu  
để đi vào miền tương trục của nó và trước khi yêu cầu đó được gán.  
Chúng ta giả sử rằng mỗi quá trình đang thực thi với tốc độ khác 0. Tuy nhiên,  
chúng ta có thể thực hiện rằng không có giả thuyết nào được quan tâm về tốc tương  
đối của n quá trình.  
Trong phần tiếp theo chúng ta nghiên cứu để nắm được các giải pháp thoả ba  
yêu cầu này. Những giải pháp này không quan tâm đến các chỉ thị phần cứng hay số  
lượng bộ xử lý mà phần cứng hỗ trợ. Tuy nhiên chúng ta giả sử rằng những chỉ thị  
ngôn ngữ máy cơ bản (chỉ thị cơ bản như load, store và test) được thực hiện mang  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 84  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
tính nguyên tử (atomically). Nghĩa là, nếu hai chỉ thị như thế được thực thi đồng hành  
thì kết quả tương tự như thực thi tuần tự trong thứ tự không xác định. Do đó, nếu chỉ  
thị load và store được thực thi đồng hành thì load sẽ nhận giá trị cũ hay mới như  
không có sự kết hợp vừa cũ vừa mới.  
Khi trình bày một giải thuật, chúng ta định nghĩa chỉ những biến được dùng  
cho mục đích đồng bộ và mô tả chỉ một quá trình điển hình Pi mà cấu trúc của nó  
được hiển thị trong hình V.1. Phần đi vào và kết thúc được bao trong hình chữ nhật để  
nhấn mạnh các đoạn mã quan trọng.  
do {  
while (turn!=i) ;  
critical section  
turn = j;  
remainder section  
}
while (1);  
Hình 0-2-Cấu trúc của quá trình Pi trong giải thuật 1  
V Giải pháp  
Có nhiều giải pháp để thực hiện việc loại trừ hỗ tương. Các giải pháp này, tuỳ  
thuộc vào cách tiếp cận trong xử lý của quá trình bị khoá, được phân biệt thành hai  
lớp: chờ đợi bận (busy waiting) và nghẽn và đánh thức (sleep and wakeup)  
V.1 Giải pháp “chờ đợi bận”  
V.1.1 Giải pháp hai quá trình (two-Process Solution)  
Trong phần này, chúng ta giới hạn việc quan tâm tới những giải thuật có thể áp  
dụng chỉ hai quá trình cùng một lúc. Những quá trình này được đánh số P0 và P1. Để  
thuận lợi, khi trình bày Pi, chúng ta dùng Pj để chỉ quá trình còn lại, nghĩa là j = 1 – i  
.V.1.1.1 Giải thuật 1  
Tiếp cận đầu tiên của chúng ta là để hai quá trình chia sẻ một biến số nguyên  
chung turn được khởi tạo bằng 0 (hay 1). Nếu turn == 0 thì quá trình Pi được phép  
thực thi trong vùng tương trục của nó. Cấu trúc của quá trình Pi được hiển thị trong  
Hình V.-2.  
Giải pháp này đảm bảo rằng chỉ một quá trình tại một thời điểm có thể ở trong  
vùng tương trục của nó. Tuy nhiên, nó không thoả mãn yêu cầu tiến trình vì nó yêu  
cầu sự thay đổi nghiêm khắc của các quá trình trong việc thực thi của vùng tương  
trục. Thí dụ, nếu turn == 0 và P1 sẳn sàng đi vào vùng tương trục của nó thì P1 không  
thể đi vào vùng tương trục thậm chí khi P0 đang ở trong phần còn lại của nó.  
.V.1.1.2 Giải thuật 2  
Vấn đề với giải thuật 1 là nó không giữ lại đủ thông tin về trạng thái của mỗi  
quá trình; nó nhớ chỉ quá trình nào được phép đi vào miền tương trục. Để giải quyết  
vấn đề này, chúng ta có thể thay thế biến turn với mảng sau:  
Boolean flag[2];  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 85  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Các phần tử của mảng được khởi tạo tới flase. Nếu flag[i] là true, giá trị này  
hiển thị rằng Pi sẳn sàng đi vào vùng tương trục. Cấu trúc của quá trình Pi được hiển  
thị trong hình V.-3 dưới đây:  
do{  
flag[i] = true;  
while (flag[j]);  
critical section  
flag[i] = false;  
remainder section  
} while(1);  
Hình 0-3 –Cấu trúc của quá trình Pi trong giải thuật 2  
Trong giải thuật này, quá trình Pi trước tiên thiết lập flag[i] tới true, hiển thị  
rằng nó sẳn sàng đi vào miền tương trục. Sau đó, Pi kiểm tra rằng quá trình quá trình  
Pj cũng không sẳn sàng đi vào miền tương trục của nó. Nếu Pj sẳn sàng thì Pi sẽ chờ  
cho tới khi Pj hiển thị rằng nó không còn cần ở trong vùng tương trục nữa (nghĩa là  
cho tới khi flag[j] là false). Tại thời điểm này, Pi sẽ đi vào miền tương trục. Thoát ra  
khỏi miền tương trục, Pi sẽ đặt flag[i] là false, cho phép quá trình khác (nếu nó đang  
chờ) đi vào miền tương trục của nó.  
Trong giải pháp này, yêu cầu loại trừ hỗ tương sẽ được thoả mãn. Tuy nhiên,  
yêu cầu tiến trình không được thoả mãn. Để minh hoạ vấn đề này, chúng ta xem xét  
thứ tự thực thi sau:  
T0: P0 thiết lập flag[0] = true;  
T1: P1 thiết lập flag[1] = true;  
Bây giờ P0 và P1 được lập mãi mãi trong câu lệnh while tương ứng của chúng.  
Giải thuật này phụ thuộc chủ yếu vào thời gian chính xác của hai quá trình. Thứ  
tự này được phát sinh trong môi trường nơi có nhiều bộ xử lý thực thi đồng hành hay  
nơi một ngắt (chẳng hạn như một ngắt định thời) xảy ra lập tức sau khi bước T0 được  
thực thi và CPU được chuyển từ một quá trình này tới một quá trình khác.  
Chú ý rằng chuyển đổi thứ tự của các chỉ thị lệnh để thiết lập flag[i] và kiểm tra  
giá trị của flag[j] sẽ không giải quyết vấn đề của chúng ta. Hơn nữa chúng ta sẽ có  
một trường hợp đó là hai quá trình ở trong vùng tương trục cùng một lúc, vi phạm yêu  
cầu loại trừ hỗ tương.  
.V.1.1.3 Giải thuật 3  
Giải thuật 3 còn gọi là giải pháp Peterson. Bằng cách kết hợp hai ý tưởng quan  
trọng trong giải thuật 1 và 2, chúng ta đạt được một giải pháp đúng tới với vấn đề  
vùng tương trục, ở đó hai yêu cầu được thoả. Các quá trình chia sẻ hai biến:  
Boolean flag[2]  
Int turn;  
Khởi tạo flag[0] = flag[1] = false và giá trị của turn là không xác định (hoặc là  
0 hay 1). Cấu trúc của quá trình Pi được hiển thị trong hình sau:  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 86  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
do{  
flag[i] = true;  
turn = j;  
while (flag[j] &&turn ==j);  
critical section  
flag[i] = false;  
remainder section  
} while (1);  
Hình 0-4 Cấu trúc của quá trình Pi trong giải thuật 3  
Để đi vào miền tương trục, quá trình Pi trước tiên đặt flag[i] là true sau đó đặt  
turn tới giá trị j, do đó xác định rằng nếu quá trình khác muốn đi vào miền tương trục  
nó. Nếu cả hai quá trình đi vào miền tương trục cùng một lúc turn sẽ đặt cả hai i và j  
tại xấp xỉ cùng một thời điểm. Chỉ một trong hai phép gán này là kết quả cuối cùng.  
Giá trị cuối cùng của turn quyết định quá trình nào trong hai quá trình được cho phép  
đi vào miền tương trục trước.  
Bây giờ chúng ta chứng minh rằng giải pháp này là đúng. Chúng ta cần hiển thị  
rằng:  
1) Loại trừ hỗ tương được bảo toàn  
2) Yêu cầu tiến trình được thoả  
3) Yêu cầu chờ đợi có giới hạn cũng được thoả  
Chứng minh thuộc tính 1, chúng ta chú ý rằng mỗi Pi đi vào miền tương trục  
của nó chỉ nếu flag[j] ==false hay turn ==i. Cũng chú ý rằng, nếu cả hai quá trình có  
thể đang thực thi trong vùng tương trục của chúng tại cùng thời điểm thì flag[0] ==  
flag[1] ==true. Hai nhận xét này ngụ ý rằng P0 và P1 không thể thực thi thành công  
trong vòng lặp while của chúng tại cùng một thời điểm vì giá trị turn có thể là 0 hay 1.  
Do đó, một trong các quá trình-Pj phải được thực thi thành công câu lệnh while,  
ngược lại Pi phải thực thi ít nhất câu lệnh bổ sung (“turn==j”). Tuy nhiên, vì tại thời  
điểm đó, flag[j] ==true và turn ==j, và điều kiện này sẽ không đổi với điều kiện là Pj ở  
trong vùng miền tương trục của nó, kết quả sau việc loại trừ hỗ tương được bảo vệ  
do {  
flag[i] = true;  
turn = j;  
while (flag[j] && turn ==j);  
critical section  
flag[i] = false;  
Remainder section  
}while (1);  
Hình 0-5-Cấu trúc của quá trình Pi trong giải thuật 3  
Để chứng minh thuộc tính 2 và 3, chúng ta chú ý rằng một quá trình Pi có thể  
được ngăn chặn từ việc đi vào miền tương truc chỉ nếu nó bị kẹt trong vòng lặp while  
với điều kiện flag[j] == true và turn == j. Nếu Pj không sẳn sàng đi vào miền tương  
trục thì flag[j] == false và Pi có thể đi vào miền tương trục của nó. Nếu Pj đặt flag[j] là  
true và nó cũng đang thực thi trong câu lệnh while của nó thì turn == i hay turn == j.  
Nếu turn == i thì Pi sẽ đi vào miền tương trục. Nếu turn ==j thì Pj sẽ đi vào miền  
tương trục. Tuy nhiên, một khi Pj ở trong vùng tương trục của nó thì nó sẽ đặt lại  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 87  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
flag[j] tới false, cho phép Pi đi vào miền tương trục của nó. Nếu Pj đặt lại flag[j] tới  
true, nó cũng phải đặt turn tới i. Do đó, vì Pi không thay đổi giá trị của biến turn trong  
khi thực thi câu lệnh while, nên Pi sẽ đi vào miền tương trục (tiến trình) sau khi nhiều  
nhất chỉ Pj đi vào (chờ có giới hạn).  
V.1.2 Giải pháp nhiều quá trình  
Giải thuật 3 giải quyết vấn đề miền tương trục cho hai quá trình. Bây giờ  
chúng ta phát triển một giải thuật để giải quyết vấn đề miền tương trục cho n quá  
trình. Giải thuật này được gọi là giải thuật Bakery và nó dựa trên cơ sở của giải thuật  
định thời thường được dùng trong cửa hiệu bánh mì, cửa hàng kem,..nơi mà thứ tự rất  
hỗn độn. Giải thuật này được phát triển cho môi trường phân tán, nhưng tại thời điểm  
này chúng ta tập trung chỉ những khía cạnh của giải thuật liên quan tới môi trường tập  
trung.  
Đi vào một cửa hàng, mỗi khách hàng nhận một số. Khách hàng với số thấp  
nhất được phục vụ tiếp theo. Tuy nhiên, giải thuật Bakery không thể đảm bảo hai quá  
trình (khách hàng) không nhận cùng số. Trong trường hợp ràng buộc, một quá trình  
với tên thấp được phục vụ trước. Nghĩa là, nếu Pi và Pj nhận cùng một số và nếu (i <  
j) thì Pi được phục vụ trước. Vì tên quá trình là duy nhất và được xếp thứ tự nên giải  
thuật là hoàn toàn mang tính “may rủi” (deterministic).  
Cấu trúc dữ liệu chung là  
boolean  
choosing[n];  
int number[n];  
Đầu tiên, các cấu trúc dữ liệu này được khởi tạo tới false và 0 tương ứng. Để tiện  
dụng, chúng ta định nghĩa các ký hiệu sau:  
• (a, b) < (c, d) nếu a< c hay nếu a==c và b< d  
• max(a0,…,an-1) là số k ≥ ai với i = 0,…,n-1  
Cấu trúc của quá trình Pi được dùng trong giải thuật Bakery, được hiển thị  
trong hình dưới đây.  
do {  
choosing[i] = true;  
number[i] = max(number[0], number[i],…,number[n-1]) + 1;  
choosing[i] = false;  
for (j=0; j < n; j++){  
while (choosing[j]);  
while ((number[j]!=0)&&((number[ j ], j ) <(number[i], i)));  
}
Critical section  
Number[i] = 0;  
}
While (1);  
Hình 0-6 Cấu trúc của giải thuật Pi trong giải thuật Bakery  
Kết quả được cho này thể hiện rằng loại trừ hỗ tương được tuân theo. Thật vậy,  
xét Pi trong vùng tương trục của nó và Pk cố gắng đi vào vùng tương trục Pk. Khi quá  
trình Pk thực thi câu lệnh while thứ hai cho j==i, nhận thấy rằng  
• number[ i ] != 0  
• (number[ i ], i ) < (number[k], k).  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 88  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Do đó, nó tiếp tục vòng lặp trong câu lệnh while cho đến khi Pi rời khỏi vùng  
tương trục Pi.  
Giải thuật trên đảm bảo rằng yêu cầu về tiến trình, chờ đợi có giới hạn và đảm  
bảo sự công bằng, vì các quá trình đi vào miền tương trục dựa trên cơ sở tới trước  
được phục vụ trước.  
V.1.3 Phần cứng đồng bộ hoá  
Như các khía cạnh khác của phần mềm, các đặc điểm phần cứng có thể làm  
các tác vụ lập trình dễ hơn và cải tiến tính hiệu quả của hệ thống. Trong phần này,  
chúng ta trình bày một số chỉ thị phần cứng đơn giản sẳn dùng trên nhiều hệ thống và  
trình bày cách chúng được dùng hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề miền tương  
trục.  
boolean  
TestAndSet( boolean &target){  
boolean rv = target;  
target  
return rv;  
= true;  
}
Hình 0-7 Định nghĩa của chỉ thị TestAndSet  
Vấn đề miền tương trục có thể được giải quyết đơn giản trong môi trường chỉ  
có một bộ xử lý nếu chúng ta cấm các ngắt xảy ra khi một biến chia sẻ đang được thay  
đổi. Trong cách này, chúng ta đảm bảo rằng chuỗi chỉ thị hiện hành có thể được cho  
phép thực thi trong thứ tự không trưng dụng. Không có chỉ thị nào khác có thể chạy vì  
thế không có bất cứ sự thay đổi nào có thể được thực hiện trên các biến được chia sẻ.  
Tuy nhiên, giải pháp này là không khả thi trong một môi trường có nhiều bộ  
xử lý. Vô hiệu hoá các ngắt trên đa bộ xử lý có thể mất nhiều thời gian khi một thông  
điệp muốn truyền qua tất cả bộ xử lý. Việc truyền thông điệp này bị trì hoãn khi đi  
vào miền tương trục và tính hiệu quả của hệ thống bị giảm.  
Do đó nhiều máy cung cấp các chỉ thị phần cứng cho phép chúng ta kiểm tra  
hay thay đổi nội dung của một từ (word) hay để thay đổi nội dung của hai từ tuân theo  
tính nguyên tử (atomically)-như là một đơn vị không thể ngắt. Chúng ta có thể sử  
dụng các chỉ thị đặc biệt này để giải quyết vấn đề miền tương trục trong một cách  
tương đối đơn giản.  
Chỉ thị TestAndSet có thể được định nghĩa như trong hình V.-7. Đặc điểm  
quan trọng của chỉ thị này là việc thực thi có tính nguyên tử. Do đó, nếu hai chỉ thị  
TestAndSet được thực thi cùng một lúc (mỗi chỉ thị trên một CPU khác nhau), thì  
chúng sẽ được thực thi tuần tự trong thứ tự bất kỳ.  
do{  
while (TestAndSet(lock));  
Critical section  
lock:= false  
remainder section  
} while (1);  
Hình 0-8: Cài đặt loại trừ hỗ tương với TestAndSet  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 89  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Nếu một máy hỗ trợ chỉ thị TestAndSet thì chúng ta có thể loại trừ hỗ tương  
bằng cách khai báo một biến khoá kiểu luận lý và được khởi tạo tới false. Cấu trúc  
của quá trình Pi được hiển thị trong hình V.-9 ở trên.  
Chỉ thị Swap được định như hình V.-9 dưới đây, thao tác trên nội dung của hai  
từ; như chỉ thị TestAndSet, nó được thực thi theo tính nguyên tử.  
void Swap(boolean &a, boolean &b){  
boolean temp = a;  
a = b;  
b = temp;  
}
Hình 0-9: Định nghĩa chỉ thị Swap  
Nếu một máy hỗ trợ chỉ thị Swap, thì việc loại trừ hỗ tương có thể được cung  
cấp như sau. Một biến luận lý toàn cục lock được khai báo và được khởi tạo tới false.  
Ngoài ra, mỗi quá trình cũng có một biến luận lý cục bộ key. Cấu trúc của quá trình Pi  
được hiển thị trong hình V.-10 dưới đây.  
do{  
key = true;  
while (key == true) Swap(lock, key);  
Critical section  
lock = false;  
Remainder section  
} while(1);  
Hình 0-10: Cài đặt loại trừ hỗ tương với chỉ thị Swap  
Các giải thuật này không thoả mãn yêu cầu chờ đợi có giới hạn. Chúng ta hiển  
thị giải thuật sử dụng chỉ thị TestAndSet trong hình V.-11 dưới đây. Giải thuật này  
thoả mãn tất cả các yêu cầu miền tương trục.  
do{  
Waiting[i] = true;  
key = true;  
while (waiting[i] && key)  
key = TestAndSet(lock);  
waiting[i] = false;  
Critical section  
j = (i + 1) % n;  
while ((j != i ) && !waiting[j])  
j = (j + 1 ) % n;  
if (j == i)  
lock = false;  
else  
waiting[j] = false;  
Remainder section  
} while(1);  
Hình 0-11 Loại trừ hỗ tương chờ đợi có giới hạn với TestAndSet  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 90  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Cấu trúc dữ liệu thông thường là:  
boolean  
boolean  
waiting[n];  
lock;  
Cấu trúc dữ liệu này được khởi tạo tới false. Để chứng minh rằng loại trừ hỗ  
tương được thoả, chúng ta chú ý rằng quá trình Pi có thể đưa vào miền tương trục chỉ  
nếu hoặc waiting[i] ==false hay key == false. Giá trị của key có thể trở thành false chỉ  
nếu TestAndSet được thực thi. Đối với quá trình đầu tiên, để thực thi TestAndSet sẽ  
tìm key == false; tất cả quá trình khác phải chờ. Biến waiting[i] có thể trở thành false  
chỉ nếu quá trình khác rời khởi miền tương trục của nó; chỉ một waiting[i] được đặt  
false, duy trì yêu cầu loại trừ hỗ tương.  
Để chứng minh yêu cầu tiến trình được thoả, chúng ta chú ý rằng các đối số  
được hiện diện cho việc loại trừ hỗ tương cũng áp dụng được ở đây, vì thế một quá  
trình thoát khỏi miền tương trục hoặc đặt lock bằng false hay đặt waiting[j] bằng  
false. Cả hai trường hợp đều cho phép một quá trình đang chờ để đi vào miền tương  
trục được xử lý.  
Để chứng minh yêu cầu chờ đợi được giới hạn được thoả, chúng ta chú ý rằng  
khi một quá trình rời miền tương trục của nó, nó duyệt qua mảng waiting trong thứ tự  
tuần hoàn (i + 1, i + 2, …, n – 1, 0, …, i - 1). Nó định rõ quá trình đầu tiên trong thứ  
tự này mà thứ tự đó ở trong phần đi vào (waiting[j] == true) khi quá trình tiếp theo đi  
vào miền tương trục. Bất cứ quá trình nào đang chờ để đi vào miền tương trục sẽ thực  
hiện n – 1 lần. Tuy nhiên, đối với người thiết kế phần cứng, cài đặt các chỉ thị nguyên  
tử TestAndSet trên bộ đa xử lý không là tác vụ thử nghiệm.  
Những giải pháp trên đều phải thực hiện một vòng lặp để kiểm tra liệu nó có  
được phép vào miền tương trục hay không. Nếu điều kiện chưa thoả, quá trình phải  
chờ tiếp tục trong vòng lặp kiểm tra này. Các giải pháp buộc quá trình phải liên tục  
kiểm tra điều kiện để phát hiện thời điểm thích hợp được vào miền tương trục như thế  
được gọi là các giải pháp chờ đợi bận “busy waiting”. Lưu ý, việc kiểm tra như thế  
tiêu thụ rất nhiều thời gian sử dụng CPU, do vậy quá trình đang chờ vẫn chiếm dụng  
CPU. Xu hướng giải quyết vấn đề đồng bộ hoá là nên tránh các giải pháp chờ đợi bận.  
V.2 Các giải pháp “SLEEP and WAKEUP”  
Để loại bỏ các bất tiện của của giải pháp chờ đợi bận, chúng ta có thể tiếp cận  
theo hướng cho một quá trình chưa đủ điều kiện vào miền tương trục chuyển sang  
trạng thái nghẽn, từ bỏ quyền sử dụng CPU. Để thực hiện điều này, cần phải sử dụng  
các thủ tục do hệ điều hành cung cấp để thay đổi trạng thái quá trình. Hai thủ tục cơ  
bản SLEEP và WAKEUP thường được sử dụng cho mục đích này.  
SLEEP là một lời gọi hệ thống có tác dụng làm “nghẽn” (blocked) hoạt động  
của quá trình gọi nó và chờ đến khi được một tiến trình khác “đánh thức”. Lời gọi hệ  
thống WAKEUP nhận một tham số duy nhất: quá trình sẽ được kích hoạt trở lại (đặt  
về trạng thái sẳn sàng).  
Ý tưởng sử dụng SLEEP và WAKEUP như sau: khi một quá trình chưa đủ  
điều kiện vào miền tương trục, nó gọi SLEEP để tự khoá đến khi có một quá trình  
khác gọi WAKEUP để giải phóng nó. Một quá trình gọi WAKEUP khi ra khỏi miền  
tương trục để đánh thức một quá trình đang chờ, tạo cơ hội cho quá trình này vào  
miền tương trục.  
int  
int  
busy; // 1 nếu miền tương trục đang bị chiếm  
blocked; // đếm số lượng quá trình đang bị khoá  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 91  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
do{  
if (busy) {  
blocked = blocked + 1;  
sleep();  
}
else busy = 1;  
}while (1);  
Critical section  
busy = 0;  
if (blocked){  
wakeup(process);  
blocked = blocked -1;  
}
Remainder section  
Hình 0-12 Cấu trúc chương trình trong giải pháp SLEEP and  
WAKEUP  
Khi sử dụng SLEEP và WAKEUP cần hết sức cẩn thận, nếu không muốn xảy  
ra tình trạng mâu thuẩn truy xuất trong một vài tình huống như sau: giả sử quá trình A  
vào miền tương trục, và trước khi nó rời miền tương trục thì quá trình B được kích  
hoạt. Quá trình B thử vào miền tương trục nhưng nó nhận thấy A đang ở trong đó, do  
vậy B tăng giá trị biến blocked lên 1 và chuẩn bị gọi SLEEP để tự nghẽn. Tuy nhiên,  
trước khi B có thể thực hiện SLEEP, quá trình A được kích hoạt trở lại và ra khỏi  
miền tương trục. Khi ra khỏi miền tương trục, quá trình A nhận thấy có một quá trình  
đang chờ (blocked=1) nên gọi WAKEUP và giảm giá trị blocked xuống 1. Khi đó tín  
hiệu WAKEUP sẽ lạc mất do quá trình B chưa thật sự “ngủ” để nhận tín hiệu đánh  
thức! Khi quá trình B được tiếp tục xử lý, nó mới gọi SLEEP và tự nghẽn vĩnh viễn!  
Vấn đề ghi nhận được là tình trạng lỗi này xảy ra do việc kiểm tra trạng thái  
miền tương trục và việc gọi SLEEP hay WAKEUP là những hành động tách biệt, có  
thể bị ngắt nửa chừng trong quá trình xử lý, do đó có khi tín hiệu WAKEUP gởi đến  
một quá trình chưa bị nghẽn sẽ lạc mất. Để tránh những tình huống tương tự, hệ điều  
hành cung cấp những cơ chế đồng bộ hoá dựa trên ý tưởng của chiến lược “SLEEP  
and WAKEUP” nhưng chưa được xây dựng bao gồm cả phương tiện kiểm tra điều  
kiện vào miền tương trục giúp sử dụng an toàn.  
V.2.1 Semaphore  
Tiếp cận Semaphore được. Dijkstra đề xuất vào năm 1965. Một semaphore S  
là một biến số nguyên (integer) được truy xuất chỉ thông qua hai thao tác nguyên tử:  
wait và signal. Các thao tác này được đặt tên P (cho wait - chờ để kiểm tra) và V (cho  
signal- báo hiệu để tăng). Định nghĩa cơ bản của wait trong mã giả là:  
wait(S){  
while (S≤0)  
;//no-op  
S--;  
}
Định nghĩa cơ bản của signal trong mã giả là  
signal(S){  
S++;  
}
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 92  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Những sửa đổi đối với giá trị integer của semaphore trong các thao tác wait và  
signal phải được thực thi không bị phân chia. Nghĩa là khi một quá trình sửa đổi giá  
trị semaphore, không có quá trình nào cùng một lúc có thể sửa đổi cùng biến  
semaphore đó. Ngoài ra, trong trường hợp của biến wait(S), kiểm tra giá trị integer  
của S (S ≤ 0) và sửa đổi có thể của nó (S--) cũng phải được thực thi mà không bị ngắt.  
.V.2.1.1 Cách dùng  
Chúng ta có thể sử dụng semaphores để giải quyết vấn đề miền tương trục với  
n quá trình. N quá trình chia sẻ một biến semaphore, mutex (viết tắt từ mutual  
exclusion) được khởi tạo 1. Mỗi quá trình Pi được tổ chức như được hiển thị trong  
hình dưới đây.  
do{  
wait(mutex)  
critical section  
Signal(mutex)  
remainder section  
}while(1);  
Hình 0-13 Cài đặt loại trừ hỗ tương với semaphores  
Chúng ta cũng sử dụng semaphores để giải quyết các vấn đề đồng bộ khác  
nhau. Thí dụ, để xem xét hai quá trình đang thực thi đồng hành: P1 với câu lệnh S1 và  
P2 với câu lệnh S2. Giả sử chúng ta yêu cầu rằng S2 được thực thi chỉ sau khi S1 hoàn  
thành. Chúng ta có thể hoàn thành cơ chế này một cách dễ dàng bằng cách P1 và P2  
chia sẻ một semaphore chung synch, được khởi tạo 0 và bằng cách chèn các câu lệnh:  
S1;  
signal(sync);  
vào quá trình P1 và các câu lệnh:  
wait(synch);  
S2;  
vào trong quá trình P2. Vì synch được khởi tạo 0. P2 sẽ thực thi S2 chỉ sau khi P1 nạp  
signal(synch) mà sau đó là S1;  
.V.2.1.2 Cài đặt  
Nhược điểm chính của các giải pháp loại trừ hỗ tương trong phần V.-5.1 và  
của semaphore được cho ở đây là tất cả chúng đều đòi hỏi sự chờ đợi bận.Để giải  
quyết yêu cầu cho việc chờ đợi bận, chúng ta có thể hiệu chỉnh định nghĩa của các  
thao tác wait và signal của semaphore. Khi một quá trình thực thi thao tác wait và  
nhận thấy rằng nếu giá trị của semaphore không dương, nó phải chờ. Tuy nhiên, thay  
vì chờ đợi bận, quá trình có thể nghẽn chính nó. Thao tác nghẽn đặt quá trình vào một  
hàng đợi gắn liền với semaphore và trạng thái quá trình được chuyển tới trạng thái  
chờ. Sau đó, điều khiển được chuyển tới bộ định thời biểu và bộ định thời biểu chọn  
một quá trình khác để thực thi.  
Một quá trình bị nghẽn chờ trên biến semaphore nên được khởi động lại khi  
quá trình khác thực thi thao tác signal. Quá trình được khởi động lại bởi thao tác  
wakeup và chuyển quá trình từ trạng thái chờ sang trạng thái sẳn sàng. Sau đó, quá  
trình này được đặt vào hàng đợi sẳn sàng. (CPU có thể hay không thể được chuyển từ  
quá trình đang chạy tới quá trình sẳn sàng mới nhất phụ thuộc vào giải thuật định thời  
biểu CPU).  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 93  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Để cài đặt semaphore dưới định nghĩa này, chúng ta định nghĩa một  
semaphore như một cấu trúc được viết bằng C như sau:  
typedef struct{  
int  
struct process *L;  
} semaphore;  
value;  
Mỗi semaphore có một số integer value và một danh sách các quá trình L. Khi  
một quá trình phải chờ trên một semaphore, nó được thêm vào danh sách các quá trình  
L. Một thao tác signal xoá một quá trình ra khỏi danh sách các quá trình đang chờ và  
đánh thức quá trình đó.  
Thao tác semaphore wait bây giờ được định nghĩa như sau:  
void wait(semaphore S){  
S.value--;  
If (S.value < 0){  
Thêm quá trình này tới danh sách các quá trình S.L;  
block();  
}
}
Thao tác semaphore signal bây giờ có thể được định nghĩa như sau:  
void signal(semaphore S){  
S.value++;  
if(S.value <= 0){  
xoá một quá trình ra khỏi hàng đợi S.L;  
wakeup(P);  
}
}
Thao tác block() tạm dừng quá trình gọi thao tác đó. Thao tác wakeup(P) tiếp  
tục thực thi quá trình bị nghẽn P. Hai thao tác này được cung cấp bởi hệ điều hành  
như những lời gọi hệ thống cơ bản.  
Chú ý rằng, mặc dù dưới sự định nghĩa kinh điển của semaphores với sự chờ  
đợi bận là giá trị semaphore không bao giờ âm. Cài đặt này có thể có giá trị  
semaphore âm. Nếu giá trị semaphore âm thì tính chất trọng yếu của nó là số lượng  
quá trình chờ trên semaphore đó. Sự thật này là kết quả của việc chuyển thứ tự của  
việc giảm và kiểm tra trong việc cài đặt thao tác wait. Danh sách các quá trình đang  
chờ có thể được cài đặt dễ dàng bởi một trường liên kết trong mỗi khối điều khiển quá  
trình (PCB). Mỗi cách thêm và xoá các quá trình từ danh sách, đảm bảo việc chờ đợi  
có giới hạn sẽ sử dụng hàng đợi FIFO, ở đó semaphore chứa hai con trỏ đầu (head) và  
đuôi (tail) chỉ tới hàng đợi. Tuy nhiên, danh sách có thể dùng bất cứ chiến lược hàng  
đợi nào. Sử dụng đúng semaphores không phụ thuộc vào chiến lược hàng đợi cho  
danh sách semaphore.  
Khía cạnh quyết định của semaphores là chúng được thực thi theo tính nguyên  
tử. Chúng ta phải đảm bảo rằng không có hai quá trình có thể thực thi các thao tác  
wait và signal trên cùng một semaphore tại cùng một thời điểm. Trường hợp này là  
vấn đề vùng tương trục và có thể giải quyết bằng một trong hai cách.  
Trong môi trường đơn xử lý (nghĩa là chỉ có một CPU tồn tại), đơn giản là chúng ta  
có thể ngăn chặn các ngắt trong thời gian các thao tác wait và signal xảy ra. Cơ chế  
này làm việc trong một môi trường đơn xử lý vì một khi ngắt bị ngăn chặn, các chỉ thị  
từ các quá trình khác không thể được chen vào. Chỉ quá trình đang chạy hiện tại thực  
thi cho tới khi các ngắt được cho phép sử dụng trở lại và bộ định thời có thể thu hồi  
quyền điều khiển.  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 94  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Trong môi trường đa xử lý, ngăn chặn ngắt không thể thực hiện được. Các chỉ  
thị từ các quá trình khác nhau (chạy trên các bộ xử lý khác nhau) có thể được chen  
vào trong cách bất kỳ. Nếu phần cứng không cung cấp bất cứ các chỉ thị đặc biệt nào,  
chúng ta có thể tận dụng các giải pháp phần cứng phù hợp cho vấn đề vùng tương trục  
(phần V.-4), ở đó các vùng tương trục chứa cá thủ tục wait và signal.  
Vấn đề quan trọng là chúng ta không xoá hoàn toàn chờ đợi bận, với định  
nghĩa này cho các thao tác wait và signal. Dĩ nhiên là chúng ta xoá chờ đợi bận từ  
việc đi vào vùng tương trục của chương trình ứng dụng. Ngoài ra, chúng ta hạn chế  
việc chờ đợi bận chỉ các miền tương trục với thao tác wait và signal và các vùng này  
là ngắn (nếu được mã hợp lý, chúng nên không quá 10 chỉ thị). Do đó, miền tương  
trục hầu như không bao giờ bị chiếm và sự chờ đợi bận rất hiếm khi xảy ra và sau đó  
chỉ cho thời gian ngắn. Một trường hợp hoàn toàn khác xảy ra với những chương trình  
ứng dụng có miền tương trục dài (vài phút hay thậm chí vài giờ) hay có thể hầu như  
luôn bị chiếm. Trong trường hợp này, chờ đợi bận là cực kỳ kém hiệu quả.  
.V.2.1.3 Sự khoá chết (deadlocks) và đói tài nguyên  
Cài đặt semaphore với một hàng đợi có thể dẫn đến trường hợp hai hay nhiều  
quá trình đang chờ không hạn định một sự kiện mà có thể được gây ra chỉ bởi một  
trong những quá trình đang chờ. Sự kiện đặt ra là sự thực thi của thao tác signal. Khi  
một trạng thái như thế xảy ra, những quá trình này được nói là bị khoá chết.  
Để hiển thị điều này, chúng ta xét một hệ thống chứa hai quá trình P0 và P1,  
mỗi truy xuất hai semaphore, S và Q, được đặt giá trị 1.  
P0  
P1  
wait(S);  
wait(Q);  
.
wait(Q);  
wait(S);  
.
.
.
signal(S);  
Signal(Q);  
signal(Q);  
signal(S);  
Giả sử rằng P0 thực thi wait(S) và sau đó P1 thực thi wait(Q). Khi P0 thực thi  
wait(Q), nó phải chờ cho đến khi P1 thực thi signal(Q). Tương tự, khi P1 thực thi  
wait(S), nó phải chờ cho tới khi P0 thực thi signal(S). Vì các thao tác signal này không  
thể được thực thi nên P0 và P1 bị khoá chết.  
Chúng ta nói rằng một tập hợp các quá trình trong trạng thái khoá chết khi mọi  
quá trình trong tập hợp đang chờ một sự kiện được gây ra chỉ bởi một quá trình khác  
trong tập hợp. Những sự kiện mà chúng ta quan tâm chủ yếu ở đây là việc chiếm tài  
nguyên và giải phóng tài nguyên. Tuy nhiên, các loại sự kiện khác cũng có thể dẫn  
đến việc khoá chết. Chúng ta sẽ xem trong chương VI. Trong chương đó, chúng ta sẽ  
mô tả các cơ chế khác nhau để giải quyết vấn đề khoá chết.  
Một vấn đề khoá chết liên quan tới khoá chết là nghẽn hay đói tài nguyên  
không hạn định (indefinite blocking or starvation), ở đó các quá trình chờ đợi không  
hạn định trong semaphore. Nghẽn không hạn định có thể xảy ra nếu chúng ta thêm  
vào và lấy ra các quá trình từ danh sách được nối kết với một semaphore trong thứ tự  
vào sau ra trước (LIFO).  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 95  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
.V.2.1.4 Semaphore nhị phân  
Xây dựng semaphore được mô tả trong phần trước được gọi là semaphore  
đếm (counting semaphore) vì giá trị nguyên có thể trãi dài một phạm vi không giới  
hạn. Một semaphore nhị phân (binary semaphore) là một semaphore với một giá trị  
nguyên mà trải dài từ 0 và 1. Semaphore nhị phân có thể đơn giản hơn trong cài đặt so  
với semaphore đếm và phụ thuộc vào kiến trúc phần cứng nằm bên dưới. Chúng sẽ  
hiển thị cách một semaphore đếm có thể được cài đặt sử dụng semaphore nhị phân  
dưới đây:  
Giả sử S là một semaphore đếm. Để cài đặt nó trong dạng semaphore nhị phân  
chúng ta cần các cấu trúc dữ liệu như sau:  
Binary-semaphore S1, S2;  
int C;  
Khởi tạo S1 = 1, S2 = 0 và giá trị nguyên C được đặt tới giá trị khởi tạo của  
semaphore đếm S.  
Thao tác wait trên semaphore đếm S có thể được cài đặt như sau:  
wait(S);  
C--;  
If (C<0) {  
signal(S1);  
wait(S2);  
}
signal(S1);  
Thao tác signal trên semaphore đếm S có thể được cài đặt như sau:  
wait(S1);  
C++;  
if (C<=0)  
signal(S2);  
else  
signal(S1);  
V.2.2 Monitors  
Để có thể dễ viết đúng các chương trình đồng bộ hoá hơn, Hoare (1974) và  
Brinch & Hansen (1975) đề nghị một cơ chế đồng bộ hoá cấp cao hơn được cung cấp  
bởi ngôn ngữ lập trình là monitor. Một monitor được mô tả bởi một tập hợp của các  
toán tử được định nghĩa bởi người lập trình. Biểu diễn kiểu của một monitor bao gồm  
việc khai báo các biến mà giá trị của nó xác định trạng thái của một thể hiện kiểu,  
cũng như thân của thủ tục hay hàm mà cài đặt các thao tác trên kiểu đó. Cú pháp của  
monitor được hiển thị trong hình dưới đây:  
Monitor <tên monitor>  
{
khai báo các biến được chia sẻ  
procedure P1 (…){  
…
}
procedure P2 (…){  
…
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 96  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
}
.
.
.
procedure Pn (…){  
…
}
{
mã khởi tạo  
}
}
Hình 0-14 Cú pháp của monỉtor  
Biểu diễn kiểu monitor không thể được dùng trực tiếp bởi các quá trình khác  
nhau. Do đó, một thủ tục được định nghĩa bên trong một monitor chỉ có thể truy xuất  
những biến được khai báo cục bộ bên trong monitor đó và các tham số chính thức của  
nó. Tương tự, những biến cục bộ của monitor có thể được truy xuất chỉ bởi những thủ  
tục cục bộ.  
Xây dựng monitor đảm bảo rằng chỉ một quá trình tại một thời điểm có thể  
được kích hoạt trong monitor. Do đó, người lập trình không cần viết mã ràng buộc  
đồng bộ hoá như hình V-15 dưới đây:  
Hình 0-15 Hình ảnh dưới dạng biểu đồ của monitor  
Tuy nhiên, xây dựng monitor như được định nghĩa là không đủ mạnh để mô  
hình hoá các cơ chế đồng bộ. Cho mục đích này, chúng ta cần định nghĩa các cơ chế  
đồng bộ hoá bổ sung. Những cơ chế này được cung cấp bởi construct condition.  
Người lập trình có thể định nghĩa một hay nhiều biến của kiểu condition:  
condition x, y;  
Chỉ những thao tác có thể gọi lên trên các biến điều kiện là wait và signal.  
Thao tác  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 97  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
x.wait();  
có nghĩa là quá trình gọi trên thao tác này được tạm dừng cho đến khi quá trình khác  
gọi  
x.signal();  
thao tác x.signal() thực thi tiếp một cách chính xác một quá trình tạm dừng. Nếu  
không có quá trình tạm dừng thì thao tác signal không bị ảnh hưởng gì cả; nghĩa là  
trạng thái x như thể thao tác chưa bao giờ được thực thi (như hình V.-16). Ngược lại,  
với thao tác signal được gán cùng với semaphores luôn ảnh hưởng tới trạng thái của  
semaphore.  
Bây giờ giả sử rằng, khi thao tác x.signal() được gọi bởi một quá trình P thì có  
một quá trình Q gán với biến điều kiện x bị tạm dừng. Rõ ràng, nếu quá trình Q được  
phép thực thi tiếp thì quá trình P phải dừng. Nếu không thì cả hai quá trình P và Q  
hoạt động cùng một lúc trong monitor. Tuy nhiên, về khái niệm hai quá trình có thể  
tiếp tục việc thực thi của chúng. Hai khả năng có thể xảy ra:  
P chờ cho đến khi Q rời khỏi monitor hoặc chờ điều kiện khác.  
Q chờ cho đến khi P rời monitor hoặc chờ điều kiện khác.  
Hình 0-16 Monitor với các biến điều kiện  
Có các luận cứ hợp lý trong việc chấp nhận khả năng 1 hay 2. Vì P đã thực thi  
trong monitor rồi, nên chọn khả năng 2 có vẻ hợp lý hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta cho  
phép quá trình P tiếp tục, biến điều kiện “luận lý” mà Q đang chờ có thể không còn  
quản lý thời gian Q được tiếp tục. Chọn khả năng 1 được tán thành bởi Hoare vì tham  
số đầu tiên của nó chuyển trực tiếp tới các qui tắc chứng minh đơn giản hơn. Thoả  
hiệp giữa hai khả năng này được chấp nhận trong ngôn ngữ đồng hành C. Khi quá  
trình P thực thi thao tác signal thì quá trình Q lập tức được tiếp tục. Mô hình này  
không mạnh hơn mô hình của Hoare vì một quá trình không thể báo hiệu nhiều lần  
trong một lời gọi thủ tục đơn.  
Bây giờ chúng ta xem xét cài đặt cơ chế monitor dùng semaphores. Đối với  
mỗi monitor, một biến semaphore mutex (được khởi tạo 1) được cung cấp. Một quá  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 98  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
trình phải thực thi wait(mutex) trước khi đi vào monitor và phải thực thi  
signal(mutex) sau khi rời monitor.  
Vì quá trình đang báo hiệu phải chờ cho đến khi quá trình được bắt đầu lại rời  
hay chờ, một biến semaphore bổ sung next được giới thiệu, được khởi tạo 0 trên quá  
trình báo hiệu có thể tự tạm dừng. Một biến số nguyên next_count cũng sẽ được cung  
cấp để đếm số lượng quá trình bị tạm dừng trên next. Do đó, mỗi thủ tục bên ngoài F  
sẽ được thay thế bởi  
wait(mutex);  
. . .  
thân của F  
if (next_count > 0)  
signal(next);  
else  
signal(mutex);  
Loại trừ hỗ tương trong monitor được đảm bảo.  
Bây giờ chúng ta mô tả các biến điều kiện được cài đặt như thế nào. Đối với  
mỗi biến điều kiện x, chúng ta giới thiệu một biến semaphore x_sem và biến số  
nguyên x_count, cả hai được khởi tạo tới 0. Thao tác x.wait có thể được cài đặt như  
sau:  
x_count++;  
if ( next_count > 0)  
signal(next);  
else  
signal(mutex);  
wait(x_sem);  
x_count--;  
Thao tác x.signal() có thể được cài đặt như sau:  
if ( x_count > 0){  
next_count++;  
signal(x_sem);  
wait(next);  
next_count--;  
}
Cài đặt này có thể áp dụng để định nghĩa của monitor được cho bởi cả hai  
Hoare và Brinch Hansen. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tính tổng quát của việc  
cài đặt là không cần thiết và yêu cầu có một cải tiến hiệu quả hơn.  
Bây giờ chúng ta sẽ trở lại chủ đề thứ tự bắt đầu lại của quá trình trong  
monitor. Nếu nhiều quá trình bị trì hoãn trên biến điều kiện x và thao tác x.signal  
được thực thi bởi một vài quá trình thì thứ tự các quá trình bị trì hoãn được thực thi  
trở lại như thế nào? Một giải pháp đơn giản là dùng thứ tự FCFS vì thế quá trình chờ  
lâu nhất sẽ được thực thi tiếp trước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cơ chế định  
thời biểu như thế là không đủ. Cho mục đích này cấu trúc conditional-wait có thể  
được dùng; nó có dạng  
x.wait(c);  
ở đây c là một biểu thức số nguyên được định giá khi thao tác wait được thực thi. Giá  
trị c, được gọi là số ưu tiên, được lưu với tên quá trình được tạm dừng. Khi x.signal  
được thực thi, quá trình với số ưu tiên nhỏ nhất được thực thi tiếp.  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 99  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Để hiển thị cơ chế mới này, chúng ta xem xét monitor được hiển thị như hình  
dưới đây, điều khiển việc cấp phát của một tài nguyên đơn giữa các quá trình cạnh  
tranh. Mỗi quá trình khi yêu cầu cấp phát tài nguyên của nó, xác định thời gian tối đa  
nó hoạch định để sử dụng tài nguyên. Monitor cấp phát tài nguyên tới quá trình có yêu  
cầu thời gian cấp phát ngắn nhất.  
Monitor ResourceAllocation  
{
boolean  
condition  
busy;  
x;  
void acquire(int time){  
if (busy)  
busy = true;  
}
x.wait(time);  
void release(){  
busy = false;  
x.signal();  
}
void init(){  
busy = false;  
}
}
Hình 0-17 Một monitor cấp phát tới một tài nguyên  
Một quá trình cần truy xuất tài nguyên phải chú ý thứ tự sau:  
R.acquire(t);  
…
truy xuất tài nguyên  
...  
R.release();  
ở đây R là thể hiện của kiểu ResourceAllocation.  
Tuy nhiên, khái niệm monitor không đảm bảo rằng các thứ tự truy xuất trước sẽ  
được chú ý. Đặc biệt,  
• Một quá trình có thể truy xuất tài nguyên mà không đạt được quyền truy xuất  
trước đó.  
• Một quá trình sẽ không bao giờ giải phóng tài nguyên một khi nó được gán  
truy xuất tới tài nguyên đó.  
• Một quá trình có thể cố gắng giải phóng tài nguyên mà nó không bao giờ yêu  
cầu.  
• Một quá trình có thể yêu cầu cùng tài nguyên hai lần (không giải phóng tài  
nguyên đó trong lần đầu)  
Việc sử dụng monitor cũng gặp cùng những khó khăn như xây dựng miền tương  
trục. Trong phần trước, chúng ta lo lắng về việc sử dụng đúng semaphore. Bây giờ,  
chúng ta lo lắng về việc sử dụng đúng các thao tác được định nghĩa của người lập  
trình cấp cao mà các trình biên dịch không còn hỗ trợ chúng ta.  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 100  
Đại Học Cần Thơ - Khoa Công Nghệ Thông Tin - Giáo Trình Hệ Điều Hành – V1.0  
Một giải pháp có thể đối với vấn đề trên là chứa các thao tác truy xuất tài nguyên  
trong monitor ResourceAllocation. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ dẫn đến việc định thời  
được thực hiện dựa theo giải thuật định thời monitor được xây dựng sẳn hơn là được  
viết bởi người lập trình.  
Để đảm bảo rằng các quá trình chú ý đến thứ tự hợp lý, chúng ta phải xem xét kỹ  
tất cả chương trình thực hiện việc dùng monitor ResourceAllocation và những tài  
nguyên được quản lý của chúng. Có hai điều kiện mà chúng ta phải kiểm tra để thiết  
lập tính đúng đắn của hệ thống. Đầu tiên, các quá trình người dùng phải luôn luôn  
thực hiện các lời gọi của chúng trên monitor trong thứ tự đúng. Thứ hai, chúng ta phải  
đảm bảo rằng một quá trình không hợp tác không đơn giản bỏ qua cổng (gateway)  
loại trừ hỗ tương được cung cấp bởi monitor và cố gắng truy xuất trực tiếp tài nguyên  
được chia sẻ mà không sử dụng giao thức truy xuất. Chỉ nếu hai điều kiện này có thể  
được đảm bảo có thể chúng ta đảm bảo rằng không có lỗi ràng buộc thời gian nào xảy  
ra và giải thuật định thời sẽ không bị thất bại.  
Mặc dù việc xem xét này có thể cho hệ thống nhỏ, tĩnh nhưng nó không phù hợp  
cho một hệ thống lớn hay động. Vấn đề kiểm soát truy xuất có thể được giải quyết chỉ  
bởi một cơ chế bổ sung khác.  
VI Các bài toán đồng bộ hoá nguyên thuỷ  
Trong phần này, chúng ta trình bày một số bài toán đồng bộ hoá như những thí  
dụ về sự phân cấp lớn các vấn đề điều khiển đồng hành. Các vấn đề này được dùng  
cho việc kiểm tra mọi cơ chế đồng bộ hoá được đề nghị gần đây. Semaphore được  
dùng cho việc đồng bộ hoá trong các giải pháp dưới đây.  
VI.1 Bài toán người sản xuất-người tiêu thụ  
Bài toán người sản xuất-người tiêu thụ (Producer-Consumer) thường được  
dùng để hiển thị sức mạnh của các hàm cơ sở đồng bộ hoá. Hai quá trình cùng chia sẻ  
một vùng đệm có kích thước giới hạn n. Biến semaphore mutex cung cấp sự loại trừ  
hỗ tương để truy xuất vùng đệm và được khởi tạo với giá trị 1. Các biến semaphore  
empty và full đếm số khe trống và đầy tương ứng. Biến semaphore empty được khởi  
tạo tới giá trị n; biến semaphore full được khởi tạo tới giá trị 0.  
Mã cho người quá trình sản xuất được hiển thị trong hình V.-18:  
do{  
…
sản xuất sản phẩm trong nextp  
…
wait(empty);  
wait(mutex);  
…
thêm nextp tới vùng đệm  
…
signal(mutex);  
signal(full);  
} while (1);  
Hình 0-18 Cấu trúc của quá trình người sản xuất  
Mã cho quá trình người tiêu thụ được hiển thị trong hình dưới đây:  
Biên soạn: Th.s Nguyễn Phú Trường - 09/2005  
Trang 101  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang baolam 26840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hệ điều hành V1.0 - Bài: Đồng bộ hóa quá trình - Nguyễn Phú Trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_he_dieu_hanh_v1_0_bai_dong_bo_hoa_qua_trinh_nguye.pdf