Hình ảnh đất nước, dân tộc trong văn chương Tản Đà (Qua Tản Đà toàn tập của Nguyễn Khắc Xương)

42  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
HÌNH ẢNH ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC  
TRONG VĂN CHƢƠNG TẢN ĐÀ  
(Qua Tản Đà toàn tập của Nguyễn Khắc Xƣơng)  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC*  
Vấn đề đất nước, dân tộc là một trong số những nội dung lớn trong văn  
chương Tản Đà. Ông đề cập nhiều đến quê hương, đến tình cảm với đất nước,  
lòng yêu nước trong nhiều bài thơ, tiểu thuyết, luận thuyết của mình. Tình cảm  
của ông với đất nước được biểu hiện ở nhiều phương diện và cấp độ khác  
nhau. Bài viết phân tích hình ảnh quê hương, đất nước và tinh thần tiếp thu cái  
mới trong thơ văn ông để thấy rõ được thái độ và tình cảm của ông với đất  
nước.  
Từ khóa: Tản Đà, đất nƣớc, dân tộc, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX  
Nhận bài ngày: 31/3/2021; đưa vào biên tập: 02/4/2021; phản biện: 11/4/2021;  
duyệt đăng: 05/5/2021  
1. DẪN NHẬP  
báo, Tản Đà đƣợc tập trung chú ý và  
tranh luận ở các mặt giai cấp, yêu  
nƣớc, thái độ chính trị, Tản Đà tƣ sản  
hay phong kiến, yêu nƣớc hay không?  
Thái độ với thực dân Pháp thế nào?  
Và cuối cùng tiêu điểm tranh luận dồn  
về bài thơ Thề non nước biểu hiện  
lòng yêu nƣớc hay tình yêu lứa đôi?”  
(Nguyễn Khắc Xƣơng, 1997: 517).  
Tƣ tƣởng và tinh thần yêu nƣớc từng  
là vấn đề đƣợc nhiều nhà phê bình văn  
học nhắc đến khi phân tích tác phẩm  
của Tản Đà (nhà thơ, nhà văn, nhà  
báo, nhà viết kịch), nhất là trong giai  
đoạn 1945-1975. Theo Tầm Dƣơng  
(1964: 115) Tản Đà là ngƣời có “tinh  
thần dân tộc có tinh chất cải lƣơng”.  
“Suốt cả thời kỳ dài từ cuối những  
năm 50 đến những năm 70 trên sách  
Các bài báo tranh luận về lòng yêu  
nƣớc của Tản Đà (chủ yếu thông qua  
bài thơ Thề non nước) xuất hiện trên  
nhiều số báo và trên Tạp chí Văn học.  
Triều Dƣơng, Bùi Văn Nguyên, Tƣởng  
* Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – HÌNH ẢNH ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC…  
43  
Đăng Trữ, Nguyễn Hữu Cự, Nguyễn Một bức tranh tình trải mấy thu?”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 93).  
Văn Hoàn cho rằng trong bài thơ hàm  
chứa lòng yêu nƣớc và cả tình yêu đôi  
lứa. Với Nguyễn Khắc Xƣơng, Nguyễn  
Văn Hạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn  
Quảng Tuân, Bùi Văn Nguyên: Thề  
non nước là một bài thơ chỉ thể hiện  
tinh thần yêu nƣớc. Còn Trần Yên  
Hƣng lại cho rằng bài thơ thuần túy  
chỉ có nội dung tình yêu đôi lứa.  
Ông nhắn nhủ ngƣời đời rằng chốn ấy  
chƣa đến thật đáng tiếc:  
“Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối  
Phàm trần chƣa biết nhắn nhe cho.”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 93).  
Khi nhắc đến Tản Đà, nhiều ngƣời  
thƣờng nhắc đến câu chuyện “Rau  
sắng chùa Hƣơng”:  
Trong bài viết này, chúng tôi không  
phân tích một tác phẩm mà thông qua  
toàn bộ các tƣ liệu về cuộc đời, hành  
trạng và văn nghiệp để đƣa ra kết luận  
về tình yêu nƣớc trong văn chƣơng  
Tản Đà nói riêng và cuộc đời Tản Đà  
nói chung.  
“Muốn ăn rau sắng chùa Hƣơng  
Tiền đò ngại tốn, con đƣờng ngại xa.  
Ngƣời đi, ta ở lại nhà,  
Cái dƣa thời khú, cái cà thời thâm.”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 231).  
2. ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC TRONG  
VĂN CHƢƠNG TẢN ĐÀ  
Có khi ông thích thú miêu tả lại con  
đƣờng vào Huế chơi trong một bài thơ  
lục bát (Chơi Huế) khá dài nhƣng  
không có ý nào, câu nào thừa. Đƣờng  
đi và không gian trên chuyến hành  
trình đều để lại cảm xúc với Tản Đà.  
Chẳng thế mà, đến cuối bài ông phải  
than rằng:  
Từ văn học dân gian, trung đại đến  
hiện đại, hình ảnh đất nƣớc luôn là  
chủ đề gợi niềm cảm hứng bất tận  
cho ngƣời cầm bút. Với Tản Đà hình  
ảnh các vùng miền của đất nƣớc  
đƣợc ông thể hiện nhiều trong các  
sáng tác (Qua cầu Hàm Rồng hứng  
bút, Tới chùa Hương, Chơi Hòa Bình,  
Chơi Huế, Gửi lại, Đêm nhớ các bạn ở  
Vàng Danh, Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng,  
Nhớ trong Nam…), bởi đó không chỉ  
là những nơi ông thích, ông đến mà  
còn là hình ảnh của Tổ quốc.  
“Cảnh còn nhƣ rƣớc nhƣ chào,  
Tiếc thay! Ai mới qua vào đã ra.”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 219).  
Ông tiếc phải rời Huế với bao cảnh  
đẹp, song:  
Trƣớc sự trù phú của thiên nhiên,  
cảnh vật, di tích, Tản Đà đều thể hiện  
sự ngƣỡng mộ. Có lúc ông say mê  
trƣớc cảnh vật trời cho của chùa  
Hƣơng Tích (Chơi chùa Hương Tích):  
“Còn trời, còn nƣớc, còn non.  
Tiền trình vạn lý, anh còn chơi xa.  
Chơi cho biết mặt sơn hà,  
Cho sơn hà biết ai là mặt chơi!”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 219).  
“Chùa Hƣơng trời điểm lại trời tô  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
44  
Tản Đà khẳng định sẽ tiếp tục đi nhiều qua cách ông nói về những ngƣời anh  
nơi nữa, khám phá nhiều cảnh vật.  
Sau những chuyến đi chơi xa, Tản Đà  
“nhớ”:  
hùng nhƣ Bà Triệu, Bà Trƣng, Nguyễn  
Trãi, Lê Lợi. Đây cũng là điểm mà Tản  
Đà có sự gặp gỡ với văn học dân gian  
và với tiền nhân. Cảm hứng với quê  
hƣơng đất nƣớc từ điểm nhìn lịch sử,  
từ những nhân vật, sự kiện đã thành  
“Ai xui ta nhớ Hàm Rồng  
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn  
khuây”  
(Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng - dẫn theo “điển” là một cảm hứng rất quen thuộc  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 1:  
đã tồn tại trong ca dao và đặc biệt là  
trong văn chƣơng của các nhà nho  
trung đại.  
241).  
Ông là ngƣời thích đƣợc đi nhiều nơi,  
khám phá các không gian thiên nhiên  
và văn hóa nhiều vùng miền của đất  
nƣớc. Ở những sáng tác về danh lam  
thắng cảnh, ông có sự đồng điệu với  
những tác phẩm ca dao, dân ca về  
quê hƣơng đất nƣớc, về vẻ đẹp thiên  
nhiên của các vùng miền. Đồng thời,  
ông cũng có sự gặp gỡ với thơ vịnh  
cảnh của nhiều tác giả khác nhƣ  
Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Chu  
Mạnh Trinh… Ông có sự tiếp tục của  
lối ngâm vịnh, tức cảnh sinh tình khi  
thăm thú nơi này nơi khác của các tao  
nhân mặc khách hay cũng bộc lộ  
những thú hƣởng lạc của nhà nho tài  
tử, cùng với đó là cả những cảm xúc  
mới, sự tự bộc lộ cá tính của cá nhân  
nhiều hơn so với những bậc đi trƣớc.  
Thông qua các tác phẩm văn chƣơng  
của mình, Tản Đà đã bày tỏ tấm lòng  
của mình trƣớc cảnh sắc quê hƣơng  
đất nƣớc. Ông trân quý những nét độc  
đáo của mỗi vùng miền.  
Trong số các nhân vật lịch sử, ông  
bày tỏ sự thích thú, ngƣỡng mộ đặc  
biệt với Lê Lợi. Ông phân tích mƣời  
năm tiến thủ của vua Lê Lợi để làm  
nổi bật tài năng của ngƣời anh hùng  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 3: 52-60). Tản Đà so sánh Lê Lợi  
với các vị vua Trung Hoa với suy nghĩ  
rằng: “Song nghĩ nhƣ đức Lê Thái Tổ  
ta mà đem xem với các vị đế vƣơng  
anh hùng Trung Hoa, thời lịch sử Việt  
Nam mà có ngày có giá trị chăng. Sẽ  
không thẹn cùng các dân tộc văn minh  
ở trong cõi Á Đông vậy” (dẫn theo  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 3: 29).  
Ông so sánh Lê Thái Tổ với Hán Cao  
Tổ và Chu Nguyên Chƣơng để thấy  
“vua Lê ta mới thực là một vị đế  
vƣơng anh hùng, tuyệt hiếm có giá trị”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 3: 29), và khẳng định: “Trong lịch  
sử ta bốn nghìn năm, đức Hùng  
Vƣơng là thủy tổ riêng hẳn một địa vị,  
không dám kể, còn ngoài ra muốn tìm  
lấy một ai là ngƣời đệ nhất, ý tôi xin  
Với Tản Đà quê hƣơng đất nƣớc  
không chỉ là cảnh vật, thiên nhiên, đặc  
sản, lối sống vùng miền mà còn là hiểu là vua Lê. Vua Lê Thái Tổ không  
chiều dài lịch sử đáng tự hào. Sự những là một ngƣời đệ nhất trong lịch  
hãnh diện của ông với lịch sử thể hiện sử nƣớc Nam ta mà xem với nhƣ ở  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – HÌNH ẢNH ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC…  
45  
lịch sử Tàu cũng chƣa hẳn xuống thứ lịch sử mấy ngàn năm dựng nƣớc và  
ba, thứ bốn” (dẫn theo Nguyễn Khắc giữ nƣớc của ngƣời Việt với giọng văn  
tự hào. Ông mong trẻ em sẽ học, biết  
và yêu những trang lịch sử đó, bởi điều  
đó thể hiện đƣợc phẩm chất “uống  
nƣớc nhớ nguồn”. Không trực tiếp  
đứng lên chiến đấu nhƣng Tản Đà thể  
hiện tình cảm yêu kính đối với những  
vị anh hùng đã vì nền độc lập của đất  
nƣớc mà cầm gƣơm chiến đấu.  
Xƣơng, 2002, tập 3: 29).  
Bên cạnh Lê Lợi, Tản Đà cũng đặc  
biệt ngƣỡng mộ Nguyễn Trãi. Trong  
Giấc mộng con II, Tản Đà trân trọng  
tài năng, tôn kính đức độ của bậc hiền  
nhân.  
Ngoài ra, trong số các nhân vật lịch sử,  
Tản Đà cũng dành sự kính trọng cho  
hai nữ tƣớng là Bà Trƣng và Bà Triệu.  
Đồng thời, lòng tự tôn của ông rất cao  
mỗi khi nhắc đến tiếng dân tộc. Chẳng  
thế mà trong Xem Ẩm Băng, tác giả  
bày tỏ sự “hoảng hốt nhƣ cõi trần mà  
lại gặp ngƣời cửu nguyên” (Nguyễn  
Khắc Xƣơng, 2002, tập 3: 53) khi đọc  
đƣợc hai chữ Trung Quốc liệt ngang  
hàng với tên các nƣớc lớn. Ông ngỡ  
ngàng vì Trung Quốc đã vƣợt qua  
nƣớc ta để đứng ngang hàng với các  
nƣớc lớn. Sự giật mình ấy chính là sự  
giật mình của một ngƣời yêu đất nƣớc  
và kỳ vọng vào vị thế của nƣớc nhà,  
kỳ vọng rằng nƣớc Việt Nam rồi cũng  
sẽ có lúc đạt đƣợc vị thế nhƣ thế.  
“Một đàn em bé theo sau đít  
Mấy chú quân Tàu chạy đứt đuôi.  
Hồn đã lên tiên còn tiếc nƣớc  
Ngàn thu sông Cấm bóng trăng soi.”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 152).  
“Duyên trần chẳng chút tơ vƣơng mối  
Nợ nƣớc riêng mình gánh nặng vai.  
Thua đƣợc cũng cho Ngô biết mặt  
Lam Sơn còn có gái tài trai”.  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 132).  
Trong một tài liệu viết tay chƣa đƣợc  
in lúc Tản Đà còn sống, ông đã viết  
một bài Luận Hai Bà Trưng để ca ngợi  
hai vị nữ anh hùng này bằng giọng  
văn biền ngẫu hào hùng. Ông cho  
rằng “trƣợng phu mà con gái thời  
nhiều, con gái mà trƣợng phu có ít”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 2: 20) nên những ngƣời nhƣ Hai  
Bà Trƣng lại càng là tấm gƣơng sáng  
của nữ nhi thiên hạ.  
Việc truyền bá chữ quốc ngữ, tạo điều  
kiện để ngƣời dân học chữ quốc ngữ  
là một hành động “khai hóa văn minh”  
có tính toán của chế độ đô hộ bấy giờ.  
Tản Đà nhận thức điều đó rõ ràng nên  
ông nhận ra đƣợc cái lợi và gọi đó là  
“công lao” của ngƣời Pháp. Nhƣng tất  
nhiên, trong lòng Tản Đà luôn chất  
chứa mâu thuẫn. Trong Vấn đề Hán  
học ở Nam Trung, Tản Đà từng viết:  
“Vậy nay theo đại thể của xã hội mà  
nghĩ, việc Âu học phải cần gấp là để  
thủ về trí khôn, việc Hán học cũng  
phải chấn hƣng là để duy trì đức tính”  
Tản Đà đặc biệt trân trọng những  
ngƣời anh hùng trong lịch sử dựng  
nƣớc, giữ nƣớc của dân tộc. Trong  
Lên sáu và Lên tám, ông cũng viết về  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
46  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, thực dân Pháp thì họ cũng tự cảm  
tập 2: 191). Với Tản Đà, văn minh  
Tây phƣơng quan trọng và Hán học  
truyền thống cũng quan trọng không  
kém. Cả hai nguồn tri thức đều có thể  
góp phần làm nên sự toàn diện của  
con ngƣời trong thời bấy giờ. Theo  
quan điểm của chúng tôi, không phải  
Tản Đà không yêu chữ quốc ngữ mà  
việc ông muốn khôi phục Hán học và  
Nho giáo là thể hiện sự yêu nƣớc,  
mong muốn đƣợc tìm lại đất nƣớc do  
mình làm chủ của ông. Hán học và  
Nho giáo lúc này không chỉ là công  
cụ của giao tiếp, giáo dục mà quan  
trọng hơn nó thể hiện khao khát  
muốn thoát khỏi vòng kiềm tỏa của  
ngƣời Pháp.  
nhận đƣợc lực hút của những tinh hoa  
trong nền văn hóa phƣơng Tây hiện  
đại. Trong hành vi chống lại lẫn ủng  
hộ những ƣu trội của văn hóa Pháp  
đều thể hiện tính hai mặt trong nhận  
thức về xã hội, về văn hóa phƣơng  
Tây nói chung, văn hóa Pháp nói riêng  
của giới trí thức Nho giáo bấy giờ.  
Ngƣời Việt tuy chống lại sự cƣỡng  
bức văn hóa trắng trợn và thẳng tay  
của thực dân xâm lƣợc nhƣng cũng  
nhận ra đƣợc điểm mới đáng để học  
hỏi của văn hóa phƣơng Tây, đồng  
thời thấy đƣợc sự lạc hậu và mất dần  
vị trí lịch sử của nền văn hóa Nho giáo  
lâu đời. Các trí thức Việt Nam hay nói  
đúng hơn là các nhà nho cấp tiến  
3. TINH THẦN TIẾP THU CÁI MỚI nhận ra đƣợc sự thụ động và yếu thế  
TỪ VĂN HÓA PHƢƠNG TÂY TRONG  
VĂN CHƢƠNG TẢN ĐÀ  
của hệ tƣ tƣởng Nho giáo cũng nhƣ  
vai trò của chính họ trƣớc cơn quốc  
biến qua sự thất bại của phong trào  
Cần Vƣơng, một trong những phong  
trào lớn cuối cùng nhân danh nhà vua  
– mà hoàng gia, nhà nho cũng chính  
là một phần nƣớc nhà. Vì thế, ngƣời  
Việt Nam đã chủ động tiếp xúc và học  
hỏi những tinh hoa của thế giới nhằm  
khai thông chính nền dân trí của nƣớc  
nhà, để hội nhập và cũng là để tự  
chống lại thế lực xâm lƣợc Tây  
phƣơng hiện đại. Ngay Tản Đà, một  
nhà nho từ trong gốc rễ, luôn muốn  
gìn giữ và chấn hƣng Hán học cũng  
đã phải thốt lên: “vậy nay theo đại thể  
của xã hội mà nghĩ, việc Âu học phải  
cần gấp là để tiến thủ về trí khôn…”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 3: 191).  
Vấn đề xã hội nổi bật nhất của bối  
cảnh Việt Nam giai đoạn này chính là  
sự tồn tại của một chính quyền thực  
dân Pháp song song, hay nói đúng  
hơn là sự cƣỡng chế và đè nén của  
chủ nghĩa này lên mô hình nhà nƣớc  
Nho giáo truyền thống. Để thực hiện  
đƣợc ý đồ đô hộ Việt Nam, Pháp  
không chỉ áp dụng các chính sách bóc  
lột kinh tế, áp đặt về chính trị mà còn  
cƣỡng bức về văn hóa. Rất nhiều  
những hành động phản kháng, cuộc  
khởi nghĩa đã nổ ra liên tục mà tiêu  
biểu là phong trào Cần Vƣơng. Tuy  
nhiên, cần phải thấy mặt khác của vấn  
đề đó là, trong khi ý thức dân tộc đã  
khiến các nho sĩ chống lại sự nô dịch  
về cả kinh tế, chính trị và văn hóa của  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – HÌNH ẢNH ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC…  
47  
Trong các bài báo và sáng tác của ta, rèn cặp ta, nung đúc ta, mở mang  
mình, Tản Đà đôi lần gọi nƣớc Pháp  
bằng cụm từ “đại Pháp”, nƣớc Pháp  
bảo hộ. Khi nói về sự đô hộ của thực  
dân Pháp, ông viết: “Dân tộc An Nam  
ta kể từ sau đời Hồng Lạc, trải bao  
phen Bắc thuộc, cảnh cơ hàn nếm đủ  
chua cay hội Á Âu mà lại có phen này  
nhờ Đại Pháp làm thay cho đƣợc biết  
chính giác của Thái Tây là thế thế…  
Hai nhăm triệu đồng bào nữ sĩ, xin  
hãy cứ vui lòng cùng cảnh ngộ, nhờ  
Đại Pháp hết lòng khai hóa, để chờ  
xem khí vận tuần hoàn” (dẫn theo  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 3:  
22-23). Tản Đà cho rằng “từ ngày  
nƣớc Pháp là một nƣớc dân chủ  
sang bảo hộ, mà tƣ tƣởng bình đẳng  
cũng tràn sang cõi đất Đông Dƣơng.  
Ngƣời nƣớc ta từ nay về sau tranh  
nhau danh giá lại có trọng chữ tài, kẻ  
có tài đƣợc dịp lấy mình làm trọng và  
đƣơng dịp lấn tới, thực buổi nhu tài,  
thời những kẻ có tài cũng nên biết lấy  
mình làm trọng” (dẫn theo Nguyễn  
Khắc Xƣơng, 2002, tập 2: 192). Theo  
chúng tôi, nhiều khả năng vì sự bãi  
bỏ khoa cử Hán học, mở ra nhiều cơ  
hội lập nghiệp khác cũng danh giá  
không kém con đƣờng thăng tiến làm  
quan ngày xƣa. Có thể nhƣ nhiều  
nhà văn, nhà báo bấy giờ, để duy trì  
công việc chính, Tản Đà buộc phải  
lồng nhiều dòng ca ngợi nƣớc Pháp  
bảo hộ để lách sự kiểm duyệt khắt  
khe của chính quyền thực dân. Thậm  
chí, đã có lúc, Tản Đà còn gọi ngƣời  
Pháp là thầy: “Ông thầy dạy ta ngày  
nay là ngƣời nƣớc Đại Pháp, từ Âu  
châu sang ta, cùng ở với ta mà dạy  
cho ta, mong cho ta cũng có cái tinh  
thần nhƣ ngƣời Pháp [...], nếu tự ta  
không biết bắt chƣớc, chăng thật là  
đáng tiếc lắm ru?” (dẫn theo Nguyễn  
Khắc Xƣơng, 2002, tập 3: 501). Có lẽ,  
bản thân Tản Đà khi chứng kiến sức  
mạnh hiện đại của văn minh Tây  
phƣơng theo chân ngƣời Pháp đến  
cũng có những ngỡ ngàng nhất định.  
Thực chất, chính ông cũng đƣợc  
hƣởng nhiều lợi ích từ nền văn minh  
đó mà rõ ràng nhất là từ việc xuất  
hiện và phát triển của ngành in và  
nghề báo. Nếu ngày xƣa, không thể  
đỗ bảng vàng, công danh coi nhƣ  
không đƣợc thỏa chí thì nay dẫu  
không cần thi, ông vẫn có thể thực  
hiện ƣớc nguyện lập thân của mình.  
Ông ủng hộ chuyện ngƣời dân trong  
nƣớc lúc này học theo những cái hay  
của ngƣời Pháp. Ngay cả trong  
quyển Lên sáu, một quyển sách dạy  
trẻ con mang nhiều tinh thần Khổng  
giáo, ông cũng viết:  
“Mày đẻ ra,  
là ngƣời Việt;  
mày phải biết,  
yêu nƣớc Nam.  
Bốn nghìn năm  
nƣớc đã cũ;  
nhờ Bảo hộ  
dần văn minh.”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 497).  
Tuy có phần đề cao việc ngƣời Pháp  
mang văn minh Tây phƣơng đến  
nhƣng đối với tay sai của thực dân  
Pháp và Việt gian Tản Đà khinh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
48  
thƣờng, phản kháng trực diện. Căm tìm sao cho thấy” (Nguyễn Khắc  
Xƣơng, 1990: 77). Cũng nhƣ bài thơ  
Nhắn Từ Đạm, bài này cũng đƣợc viết  
với giọng châm biếm, mỉa mai, chế  
giễu những hành động lố lăng của  
Hoàng Cao Khải và cũng là tiếng cƣời  
coi thƣờng với những ngƣời đang xu  
nịnh hắn.  
giận Từ Đạm - “tay xu nịnh và đục  
khoét có tiếng…”, Tản Đà đã thuê đục  
bài thơ Nhắn Từ Đạm (1).  
Tản Đà không ngại nói mỉa quan tuần  
phủ Ninh Bình về một việc làm thể  
hiện sự dốt nát, khệnh khạng của hắn.  
Trong bài thơ, Tản Đà đã thể hiện  
giọng điệu châm biếm, đả kích rõ rệt. Tản Đà yêu nƣớc, đau xót trƣớc hiện  
Thái độ của ông là coi thƣờng một kẻ thực đất nƣớc bị thực dân Pháp đô hộ.  
nhƣ Từ Đạm. Điều này cũng đƣợc  
ông làm với Hoàng Cao Khải, kẻ lúc  
bấy giờ bị coi là điển hình cho “loại  
nhà nho hợp tác với giặc” trong bài  
Chim họa mi trong lồng:  
Điều đó lý giải cho thái độ của ông với  
những bọn tay sai và Việt gian. Có lẽ  
ông căm giận chúng vì chúng là ngƣời  
Việt Nam nhƣng lại quay lƣng với dân  
tộc, xu nịnh thực dân, làm hại ngƣời  
dân trong nƣớc. Tản Đà buồn trƣớc  
những điều ấy, trƣớc thời thế nhƣ vậy.  
Bốn bài thơ có nội dung về “bức địa  
đồ rách” chính là những tác phẩm thể  
hiện tâm trạng ấy.  
“Họa mi ai vẽ nên mi?  
Trông mi mi đẹp, hót thì mi hay!  
Ai đƣa mi đến chốn này?  
Nƣớc trong gạo trắng, mi ngày ăn chơi!  
Lồng son cửa đỏ thảnh thơi,  
Mi bay mi nhảy sƣớng đời nhà mi!  
Nghĩ cho mi cũng gặp thì,  
“Nọ bức dƣ đồ thử đứng coi  
Sông sông núi núi khéo bia cƣời.  
Biết bao lúc mới công vờn vẽ  
Rừng xanh mi có nhớ gì nữa không?”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 220).  
Sao đến bây giờ rách tả tơi”  
(Vịnh bức dư đồ rách 1 - dẫn theo  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 1: 119).  
Theo tƣ liệu của Nguyễn Khắc Xƣơng,  
Hoàng Cao Khải chơi chim họa mi và  
tổ chức một cuộc thi vịnh chim ở Thái  
Hà ấp. Tản Đà đƣợc Ngô Thế Phổ rủ  
đi nghe thơ. Đến đó, ông nghe nhiều  
bài thơ có giọng xu nịnh nên cảm  
thấy rất lố lăng. Nghe theo lời của  
Ngô Thế Phổ, Tản Đà đã làm và đọc  
bài thơ này trong lúc ông Phổ ra  
ngoài gọi xe trƣớc. Sau khi đọc xong,  
hai ngƣời ra xe đi luôn. “Cụ phó Trẹt  
nói thêm chi tiết: lặng đi một lúc, cả  
Ông đau xót vì không thể làm gì hơn  
cho đất nƣớc lúc này ngoài nhìn “bức  
địa đồ rách”:  
“Còn núi còn sông vẫn nhìn rõ  
Có hồ có giấy dễ mà chơi.  
Bởi chƣng hồ giấy ta chƣa có  
Đành chịu ngồi trông rách tả tơi”  
(Vịnh bức dư đồ rách 2 - dẫn theo  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 1: 120).  
Ông cũng trông chờ vào những ngƣời  
đám đông xôn xao và Hoàng quát cùng chí nguyện làm sao để gắn lại  
lính tìm bắt ngƣời đọc thơ nhƣng còn bức địa đồ đã rách, làm sao để lấy lại  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – HÌNH ẢNH ĐẤT NƢỚC, DÂN TỘC…  
49  
dáng hình đất nƣớc thuở chƣa bị thực hƣởng trực tiếp đến vận mệnh dân tộc,  
đất nƣớc theo quan điểm tiến bộ và  
có trách nhiệm xã hội nhất.  
dân Pháp đô hộ:  
“Hồ giấy chƣa mua, tiền chẳng sẵn  
Non sông đứng ngắm lệ nhƣờng vơi.  
Việc nhà chung cả ai ai đó  
Tản Đà phân biệt rất rõ ràng giữa  
những tiến bộ mà ngƣời Pháp mang  
lại với những hành động bán nƣớc, hại  
dân của Việt gian và tay sai. Ông đặc  
biệt căm ghét những kẻ xu nịnh Pháp  
mà làm khổ đồng bào, làm nhục đất  
nƣớc. Đây là ứng xử của một trí thức  
biết đƣợc những hạn chế của thế hệ  
mình, sẵn sàng tiếp nhận cái mới để  
thay đổi mà vẫn phải giữ bản sắc của  
mình, luôn hết mực yêu nƣớc, thƣơng  
dân. Ở đây ông không thể đi xa trong  
phản kháng chế độ thực dân giống lớp  
nho sĩ nhƣ Phan Đình Phùng, Phạm  
Văn Nghị, Nguyễn Thƣợng Hiền…  
nhƣng ông không bảo thủ đến mức  
không phân biệt đƣợc trong số những  
điều mà chế độ bảo hộ đƣa lại thì cái  
gì là có ích cho đất nƣớc, giống nòi.  
Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?”  
(Vịnh bức dư đồ rách 4 - dẫn theo  
Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 1: 121).  
Tản Đà cổ vũ cho những ngƣời dám  
đứng lên chống lại thực dân Pháp,  
điển hình là việc ông viết bài Ba Đình  
ký nhƣ lời khóc thƣơng cho Đề đốc  
Đinh Công Tráng trong cuộc chiến  
chống thực dân Pháp. Mặc dù cuộc  
chiến thất bại nhƣng dƣ âm vẫn còn:  
“Nƣớc non vẫn nƣớc non nhà  
Nhớ ai một khúc gọi là viếng ai”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002,  
tập 1: 262).  
Tấm lòng dành cho đất nƣớc của Tản  
Đà lúc nào cũng thƣờng trực chỉ có  
điều không phải lúc nào ông cũng có  
điều kiện để thể hiện. Thêm vào đó,  
với chế độ kiểm duyệt khắt khe của  
chính quyền thực dân, đôi khi ông  
không thể nói thẳng những điều mình  
nghĩ, thậm chí phải nói những điều  
làm vừa lòng chính quyền Pháp để có  
thể đƣợc xuất bản sách, báo.  
4. KẾTLUẬN  
Những phân tích trên của chúng tôi  
cho thấy lòng yêu nƣớc của Tản Đà  
thể hiện khi ông đả kích những ngƣời  
làm tay sai, Việt gian; và thể hiện trên  
những trang báo khi ca ngợi văn hóa  
truyền thống của dân tộc và tầm vóc  
con ngƣời Việt Nam, qua những bài  
thơ về cảnh sắc quê hƣơng đất nƣớc,  
trong thơ văn và tƣ tƣởng của ông có  
tinh thần yêu nƣớc, lòng tự tôn dân  
tộc.  
Việc Tản Đà đề cập đến thực dân  
Pháp và tay sai trong thơ văn của mình  
thể hiện ông quan tâm đến những vấn  
đề mang tính chính trị, xã hội, có ảnh  
CHÚ THÍCH  
(1) Từ Đạm cho đục lên đá một bài thơ Nôm ca ngợi bản thân, rồi lại cho đục hai bàn chân và  
một bàn cờ. Tản Đà bất bình nên đã thuê thợ đục (bên cạnh) bài Nhắn Từ Đạm:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
50  
“Năm ngoái năm xƣa đục mấy vần  
Năm nay quan lại đục hai chân  
Khen cho đá cũng bền gan thật  
Đứng mãi cho quan đục mấy lần”  
(dẫn theo Nguyễn Khắc Xƣơng, 2002, tập 1: 79).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Tầm Dƣơng. 1964. Tản Đà khối mâu thuẫn lớn. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
2. Nguyễn Khắc Xƣơng. 1990. Ông thần ngông. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
2. Nguyễn Khắc Xƣơng (sƣu tầm và biên soạn). 1997. Tản Đà trong lòng thời đại: hồi  
ức - bình luận - tư liệu. Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.  
3. Nguyễn Khắc Xƣơng (biên soạn). 2002. Tản Đà toàn tập - tập 1, 2, 3. Hà Nội: Nxb.  
Văn học.  
pdf 9 trang baolam 24640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình ảnh đất nước, dân tộc trong văn chương Tản Đà (Qua Tản Đà toàn tập của Nguyễn Khắc Xương)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_anh_dat_nuoc_dan_toc_trong_van_chuong_tan_da_qua_tan_da.pdf