Đôi nét về đặc điểm trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
83  
ĐÔI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG ẨM THỰC  
TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT  
Ngô Minh Nguyệt  
Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa Trung Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 21 tháng 08 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 21 tháng 09 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Trường từ vựng, còn gọi là trường từ vựng - ngữ nghĩa, là một trong những vấn đề  
quan trọng trong nghiên cứu từ vựng. Mỗi trường từ vựng gồm một tập hợp các từ có quan hệ về nghĩa,  
phản ánh các đặc trưng liên quan của sự vật, hiện tượng. Trường từ vựng có tính tầng bậc, thể hiện ở  
chỗ trường từ vựng rộng có thể tách thành các trường từ vựng hẹp và ngược lại, các tiểu trường có liên  
quan với nhau lại có thể tổ hợp thành trường lớn hơn. Trường từ vựng mang tính liên tưởng, phản ánh  
đặc điểm tư duy và năng lực tri nhận của mỗi dân tộc. Do đó, nó không chỉ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ đơn  
thuần mà còn hàm chứa ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Trong khuôn khổ bài viết này, trên cơ sở điểm qua đôi  
nét lí luận về trường từ vựng, chúng tôi tập trung phân tích làm sáng tỏ đặc điểm trường từ vựng - ngữ  
nghĩa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm góp một tài liệu tham khảo cho công tác dạy học và  
nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam.  
Từ khóa: trường từ vựng, ẩm thực, tiếng Hán, tiếng Việt  
1. Đặt vấn đề*  
Từ vựng là một trong ba bình diện  
ánh đặc điểm tư duy và năng lực tri nhận của  
mỗi dân tộc. Do đó, từ vựng nói chung và  
trường từ vựng nói riêng không chỉ thuộc  
lĩnh vực ngôn ngữ đơn thuần mà còn hàm  
chứa ý nghĩa văn hóa sâu sắc.  
của ngôn ngữ. Trong các nhân tố cấu thành  
từ vựng, nghĩa của từ là sản phẩm của tư duy  
và nhận thức, cũng là nhân tố bên trong  
thuộc phạm trù nội dung luôn được giới  
nghiên cứu xếp vào hàng những vấn đề quan  
trọng nhất của ngôn ngữ học. Nghiên cứu từ  
vựng, không thể không đề cập đến trường từ  
vựng, còn gọi là trường từ vựng - ngữ nghĩa.  
Mỗi trường từ vựng gồm một tập hợp các từ  
có quan hệ về nghĩa, phản ánh các đặc trưng  
liên quan của sự vật, hiện tượng, chúng có  
tính tầng bậc và tính liên tưởng rõ nét. Một  
trường từ vựng rộng có thể tách thành các  
trường từ vựng hẹp và ngược lại, các trường  
từ vựng hẹp có liên quan với nhau lại có thể  
tổ hợp thành trường từ vựng lớn hơn, phản  
Những năm gần đây, nghiên cứu so  
sánh trường từ vựng trong các ngôn ngữ  
ngày càng được coi trọng và khẳng định  
được giá trị ứng dụng của nó, hiệu quả cao  
nhất là trong dạy học ngoại ngữ. Thành quả  
nghiên cứu của các học giả Trung Quốc trên  
lĩnh vực này phải nói đến Ji (2006), Yang  
(2007), Lin (1994)... Ở Việt Nam, tiêu biểu  
có nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ  
Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức  
Tồn... Trong đó, quan điểm của Đỗ Hữu  
Châu về trường từ vựng trong Từ vựng ngữ  
nghĩa tiếng Việt (1987) và Cơ sở ngữ nghĩa  
* Tác giả liên hệ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
84  
học từ vựng (1997) đã gợi mở cho chúng tôi rất  
nhiều trong quá trình tìm hiểu về trường từ  
vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt.  
Các mắt xích trong mạng lưới ngữ nghĩa của  
trường nghĩa đều là một nghĩa vị, bao gồm  
các mối quan hệ giữa nghĩa vị với nghĩa vị.  
Trường từ vựng là hệ thống hình thành bởi  
các từ, ngữ có tính chất chung về mặt ngữ  
nghĩa, là một chỉnh thể các đơn vị ngôn ngữ  
liên kết chặt chẽ, cùng chi phối, tác dụng lẫn  
nhau. Các thành phần thuộc một trường từ  
vựng không phải tồn tại một cách cô lập mà  
nó có liên hệ với nhau, tạo thành hệ thống.  
Trong bài viết này, trên cơ sở điểm  
qua đôi nét lí luận về trường từ vựng, chúng  
tôi vận dụng những phương pháp và thủ  
pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, so  
sánh đối chiếu, nhằm làm sáng tỏ đặc điểm  
trường từ vựng - ngữ nghĩa ẩm thực cơ bản  
trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm góp một  
tài liệu tham khảo cho công tác dạy học và  
nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam.  
2.2. Phân loại trường từ vựng  
Trường từ vựng có thể chia thành  
bốn loại, gồm trường biểu vật, trường biểu  
niệm, trường liên tưởng và trường tuyến  
tính. Trong đó, trường biểu vật là “tập hợp  
các từ ngữ đồng nhất với nhau về ý nghĩa  
biểu vật (về phạm vi biểu vật)” (Đỗ, 1997,  
tr. 171). Điều đó chứng tỏ, trường biểu vật  
bao gồm tất cả những từ có liên quan đến  
một từ trung tâm của trường, chẳng hạn như  
trường nấu nướng có các từ xào, chiên, luộc,  
rán, hầm, hấp, kho, nấu…; trường động vật  
có các từ chó, hổ, rắn, ngựa, kiến…; trường  
thực vật có các từ cỏ, cây, hoa, lá, cây thông,  
cây liễu, cây lúa, cây bàng… Mỗi trường từ  
vựng biểu vật có thể tiếp tục chia nhỏ hoặc  
khái quát hơn. Ví dụ, trường nấu nướng có  
thể chia thành các quan hệ nghĩa vị như dùng  
nước, dùng dầu, dùng hơi nước, dùng hơi  
nóng khô... để chế tác món ăn, hình thành các  
trường từ vựng nhỏ hơn. Các tiểu trường có  
quan hệ về nghĩa lại có thể tập hợp thành  
trường lớn hơn, như trường thực vật ghép  
với trường động vật và trường vi sinh vật tạo  
thành trường sinh vật.  
2. Đôi nét về trường từ vựng  
2.1. Khái niệm trường từ vựng  
Vào khoảng những năm 20-30 của  
thế kỉ XX, Jost Trier là người đầu tiên nêu ra  
khái niệm trường từ vựng dựa trên cơ sở lí  
thuyết ngôn ngữ của F. de Saussuse, bắt đầu  
nghiên cứu ngữ nghĩa như một hệ thống. Đến  
những năm 50, lí thuyết về trường từ vựng  
thực sự thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu  
ngôn ngữ và có những bước phát triển rõ rệt  
so với những năm 30-40. Có thể nói, lí thuyết  
trường từ vựng là thành tựu nổi bật của ngữ  
nghĩa học cấu trúc.  
Khái niệm trường từ vựng còn gọi là  
trường từ vựng - ngữ nghĩa, trường nghĩa…  
trong ngôn ngữ học vốn xuất phát từ khái  
niệm trường trong vật lí học. Lí luận về  
trường từ vựng chủ yếu tập trung vào mối  
quan hệ giữa các từ, cấu thành một hệ thống  
từ vựng hoàn chỉnh, trong đó, ngữ nghĩa của  
các từ trong hệ thống ngôn ngữ có mối liên  
hệ mật thiết với nhau. Đỗ Hữu Châu sau  
nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực từ vựng,  
ông nhấn mạnh mối quan hệ về nghĩa của các  
từ trong cùng một trường và cho rằng, chúng  
được thể hiện qua “những tiểu hệ thống ngữ  
nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ  
nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan  
hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa  
chúng” (Đỗ, 1987, tr. 156) và khẳng định  
“mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là  
một trường nghĩa. Đó là những từ đồng nhất  
với nhau về ngữ nghĩa” (Đỗ, 1987, tr. 157).  
Trường biểu vật thể hiện đặc trưng  
văn hóa và phương thức tư duy của mỗi dân  
tộc. Vì thế, trường biểu vật ở các ngôn ngữ  
khác nhau thường không giống nhau. Ví dụ,  
trong tiếng Việt có các từ nồi, niêu, xoong,  
chảo, nhưng trong tiếng Hán chỉ dùng một  
từ 锅 oa, nếu muốn phân biệt thì phải miêu  
tả thêm tính chất của sự vật đó, như 大锅 đại  
oa (nồi to), 小锅 tiểu oa (nồi nhỏ), 铜锅 đồng  
oa (nồi đồng), 砂锅 sa oa (nồi đất)...  
Trường biểu niệm “là một tập hợp  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
85  
các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” (Đỗ,  
1997, tr. 176). Trong một trường biểu niệm  
lại có các trường biểu niệm nhỏ hơn. Các  
trường biểu vật và trường biểu niệm có thể  
giao thoa nhau và cốt lõi trung tâm là các từ  
điển hình. Các từ cùng một trường biểu niệm  
có thể khác nhau về trường biểu vật. Ví dụ,  
các từ: và, cắn, đớp… có chung một cấu trúc  
biểu niệm là hoạt động đưa thức ăn vào miệng  
nhưng chúng thuộc về các trường biểu vật  
khác nhau, trong đó và, cắn thuộc trường biểu  
con người, đớp thuộc trường biểu động vật.  
các biểu tượng, biểu trưng trong ngôn ngữ  
văn học. Điều này đã được đề cập đến trong  
các công trình lí luận về đối chiếu ngôn ngữ  
và văn hóa của Nguyễn Văn Chiến (1992),  
Lê Quang Thiêm (2004)…  
Trường tuyến tính là tập hợp các từ  
có thể kết hợp với một từ cho trước tạo thành  
một chuỗi chấp nhận được. Ví dụ, trường  
tuyến tính với từ ăn là một tập hợp các từ  
cơm, rau, thịt, canh, bánh, kẹo, hoa quả…;  
hoặc cay, mặn, nhạt, ngọt, bùi… Các từ nằm  
trong trường tuyến tính góp phần hiện thực  
hóa một số nghĩa nào đó của từ trung tâm.  
Trường tuyến tính cho biết đặc điểm của từ  
trong quá trình hành chức, những quan hệ và  
cấu trúc ngữ nghĩa của từ.  
Trường liên tưởng “là tập hợp các từ  
biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động,  
tính chất... có quan hệ liên tưởng với nhau”  
(Mai, 2007, tr. 231). Một từ khi được nhắc  
tới thường gợi cho người ta liên hệ tới một  
loạt các từ khác, đó chính là liên tưởng. Nói  
cách khác, tập hợp những từ cùng được gợi  
ra từ mối liên tưởng với một từ trung tâm gọi  
là trường liên tưởng. Mỗi từ đều có mạng  
lưới liên tưởng khác nhau. Ví dụ, trong tiếng  
Việt từ cơm khiến ta liên tưởng đến các từ  
cơm nếp, cơm tẻ, gạo, nấu, ăn…, từ bò trong  
trâu bò khiến người ta liên tưởng đến bò cái,  
bò sữa, bê, nhai lại, gặm cỏ, cày bừa, chịu  
đựng, nhẫn nại, ngu dốt… Trong tiếng Hán,  
từ 牛 ngưu chỉ chung cho cả trâu và bò, chỉ  
khi cần phân biệt, người ta mới dùng 水牛  
thủy ngưu (con trâu) phân biệt với 黄 牛  
hoàng ngưu (con bò), và cũng khiến người  
ta liên tưởng đến 母牛 (bò cái), 公牛 (bò  
đực), 奶牛 (bò sữa), 耕犁 (cày bừa)... Ngoài  
ra, trong tiếng Hán, 牛 ngưu còn có nghĩa  
ngang ngạnh, bướng bỉnh, như trong các lối  
nói 牛脾气 (tính cách ngang ngạnh), 这个人显  
得很牛 (Người này tỏ ra rất bướng bỉnh).  
2.3. Tiêu chí xác lập trường từ vựng  
Việc phân định các đơn vị ngôn ngữ  
thuộc các trường từ vựng là một vấn đề  
không hề đơn giản, bởi vì có nhiều đơn vị  
thuộc ranh giới giữa các trường từ vựng. Đỗ  
Hữu Châu đã đưa ra tiêu chí xác lập trường  
từ vựng. Trong đó, ý nghĩa của từ được coi  
là tiêu chí quan trọng nhất để phân lập các  
trường từ vựng. Thông qua các trường và sự  
định vị được từ trong một trường thích hợp,  
chúng ta sẽ hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ.  
Các tiêu chí xác lập trường từ vựng – ngữ  
nghĩa mà Đỗ Hữu Châu đề xuất cụ thể như  
sau:  
• Thứ nhất, tìm những trường hợp điển  
hình, tức là những trường hợp mang và  
chỉ mang các đặc trưng từ vựng – ngữ  
nghĩa được lấy làm cơ sở, các từ điển  
hình giữ vai trò trung tâm của trường.  
Chẳng hạn, tâm của trường biểu vật là  
từ biểu thị sự vật, tâm của trường biểu  
niệm là một cấu trúc biểu niệm.  
Trường liên tưởng có tính chủ quan  
cao, phụ thuộc vào điều kiện, môi trường  
sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống của  
mỗi cá nhân. Vì thế, có nhiều trường hợp  
trường liên tưởng mang màu sắc thời đại,  
dân tộc và chủ quan. Do vậy, nắm được  
những điểm chung trong liên tưởng của mỗi  
thời đại, mỗi nhóm xã hội là điều kiện cần  
thiết để lí giải những hiện tượng hàm ẩn hay  
• Thứ hai, xác lập vùng ngoại vi bằng  
những từ có khả năng đi vào một số  
trường.  
Muốn xác định một từ có thuộc  
trường từ vựng nào đó hay không thì phải  
xuất phát từ hai cơ sở, đó là ngữ nghĩa chúng  
có liên quan với nhau hay không và ngữ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
86  
nghĩa chúng có cùng chi phối lẫn nhau hay  
không. Điều đó có nghĩa là, vị trí trong  
trường từ vựng - ngữ nghĩa của từ này có liên  
quan gì về mặt ngữ nghĩa đối với các từ khác  
trong cùng một trường nghĩa. Ví dụ, chua,  
chua lè, chua loét, chua lòm... (trong tiếng  
Việt), 酸,酸溜溜,酸不溜丢… (trong tiếng  
Hán) đều biểu thị vị chua. Vì thế, chúng có  
liên quan về ngữ nghĩa, lại được phân chia  
dựa trên mức độ của vị chua nên có đặc điểm  
chi phối lẫn nhau. Do đó, chúng cùng thuộc  
một trường từ vựng.  
gốc đó. Ví dụ: chọn cấu trúc biểu niệm hoạt  
động, đưa thức ăn vào miệng làm gốc, có thể  
thu được các nhóm từ ngữ cùng trường biểu  
niệm như (1) ăn, nếm, nhắm, tợp, nhậu, nuốt,  
và…; (2) cắn, ngậm, gặm, nhá, nhai…; (3)  
mút, hút…  
Trong một hệ thống từ vựng hoàn  
chỉnh, quan hệ ngữ nghĩa giữa từ với từ luôn  
được hoàn thiện và thay đổi không ngừng  
theo thời gian. Mặt khác, có những trường  
hợp, các từ cũ bị mất đi, hoặc từ cũ được  
dùng với nghĩa mới, hoặc có từ mới hoàn  
toàn ra đời. Ý nghĩa của từ trong một trường  
từ vựng không tồn tại độc lập mà có mối liên  
hệ với các từ khác, vì thế chỉ cần nói đến từ  
này, người ta sẽ liên tưởng và kích hoạt các  
từ khác. Đặc trưng này được nhiều học giả  
coi là chiến lược nắm bắt từ vựng có hiệu  
quả, cần được ứng dụng vào dạy học ngôn  
ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng.  
Để xác lập các từ thuộc trường biểu  
vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật  
làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ  
có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được  
chọn làm gốc đó. Các danh từ này phải có ý  
nghĩa khái quát cao, gần như là tên gọi của  
các phạm trù biểu vật như người, động vật,  
thực vật… Các danh từ này cũng là tên gọi  
các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa  
của từ về mặt biểu vật là những nét nghĩa cụ  
thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Tuy vậy, trường  
biểu vật không phải chỉ có danh từ để gọi tên  
sự vật, hiện tượng, mà có thể bao gồm cả tính  
từ, động từ, trạng từ…, biểu hiện những  
phương diện khác nhau nhưng đều liên quan  
đến phạm vi sự vật, thuộc về trường biểu vật  
đó. Chẳng hạn, chọn ẩm thực làm gốc, ta có  
thể thu thập các từ đồng nhất về phạm vi biểu  
vật với ẩm thực, như:  
3. Đặc điểm của trường từ vựng ẩm thực  
trong tiếng Hán và tiếng Việt  
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của  
các học giả đi trước, chúng tôi xác định  
trường từ vựng ẩm thực là tập hợp các từ,  
cụm từ dùng để gọi tên và phản ánh các đặc  
trưng liên quan đến thức ăn, đồ uống và cách  
thưởng thức các thức ăn đó, đồ uống đó của  
một ngôn ngữ nhất định. Trường từ vựng ẩm  
thực có tác dụng định vị các đối tượng, thuộc  
tính của hoạt động ăn uống, để khu biệt với  
các đối tượng, thuộc tính của hoạt động khác  
trong sinh hoạt văn hóa của một cộng đồng  
dân cư.  
- Tên gọi thức ăn, đồ uống, gồm:  
cơm, rau, cá, thịt, trà, rượu…  
- Tên gọi nguyên liệu chế biến thức  
ăn, gồm: gạo, rau, thịt lợn, thịt gà…  
- Tên gọi phương thức chế biến thức  
ăn, gồm: nấu, nướng, xào, hấp, luộc…  
Trường từ vựng ẩm thực trong tiếng  
Hán và tiếng Việt cũng giống như các trường  
từ vựng khác trong ngôn ngữ nói chung, có  
ba đặc điểm: tính tầng bậc, tính hệ thống và  
tính tương đối.  
Để xác lập các trường tuyến tính,  
người ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả  
các từ có thể kết hợp với nó thành những  
chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận  
được trong ngôn ngữ. Ví dụ: trường tuyến  
tính của từ ăn là cơm, bánh, bốc, đũa… Để  
xác lập trường biểu niệm, người ta chọn một  
cấu trúc biểu niệm làm gốc, trên cơ sở đó thu  
thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm  
3.1. Tính tầng bậc  
Sự phân loại sự vật hiện tượng có thể  
ở những mức độ sâu hoặc không sâu, rộng  
hoặc hẹp. Do đó, trường từ vựng cũng có  
trường rộng, trường hẹp. Trước khi thực hiện  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
87  
bài viết này, chúng tôi đã thu thập từ các từ  
điển và sách báo về ẩm thực, từ tác phẩm văn  
học… được tổng số 1869 đơn vị từ thuộc  
trường ẩm thực trong tiếng Việt và 2705 đơn  
vị thuộc trường ẩm thực trong tiếng Hán. Cụ  
thể là từ ngữ thuộc tiểu trường nguyên liệu  
ẩm thực trong tiếng Việt có 492 đơn vị, tiếng  
Hán có 505 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu trường  
thức ăn trong tiếng Việt có 968 đơn vị, tiếng  
Hán có 1493 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu  
trường đồ uống trong tiếng Việt có 207 đơn  
vị, tiếng Hán có 472 đơn vị. Từ ngữ thuộc  
tiểu trường phương thức chế biến thức ăn  
trong tiếng Việt có 57 đơn vị, tiếng Hán có  
113 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu trường mùi vị  
ẩm thực trong tiếng Việt có 78 đơn vị, tiếng  
Hán có 33 đơn vị.  
lại có thể kết hợp với một số trường từ vựng  
khác tập hợp thành trường từ vựng rộng hơn  
nữa, cho đến khi trở thành trường rộng nhất  
trong hệ thống ngôn ngữ, như trường sự vật,  
trường thời gian, trường không gian... Như  
vậy, trường từ vựng có tính tầng bậc, các  
trường nhỏ là trường trực thuộc các trường  
lớn hơn. Tính tầng bậc của trường từ vựng  
thể hiện quan hệ tổ hợp theo trục dọc của ngữ  
nghĩa.  
Trước tiên, một vài từ dưới sự chi  
phối của một khái niệm chung có thể tập hợp  
lại thành một trường từ vựng. Trong đó, từ  
biểu thị khái niệm chung là từ bậc trên, từ  
biểu thị các khái niệm cụ thể được gọi là từ  
bậc dưới. Trường từ vựng được hình thành  
bởi các từ bậc dưới, cũng có thể được biểu  
thị bởi đặc trưng ngữ nghĩa. Ví dụ, tính tầng  
bậc của tiểu trường tên gọi thức ăn trong  
tiếng Việt được thể hiện như sau:  
Một số trường từ vựng tương đối nhỏ  
có thể tập hợp thành trường từ vựng rộng  
hơn, đồng thời trường từ vựng vốn khá rộng  
Sơ đồ 1  
Tính tầng bậc của tiểu trường tên gọi thức ăn  
… ...  
nhau giữa chúng. Chẳng hạn, về mùi vị, có  
mặn thì có nhạt, nếu không có cảm giác mặn  
thì chắc rằng sẽ không có nhạt. Vì thế, từ  
nhạt ra đời để phân biệt với từ mặn. Hay các  
món sống, tái, chín cũng cùng phụ thuộc lẫn  
nhau, từ sống phân biệt với từ tái và chín.  
Các trường biểu vật khác nhau về số lượng  
từ ngữ và tổ chức. Giả sử trong một trường  
có các “miền” (trường nhỏ, nhóm nhỏ hơn)  
thì số lượng từ trong mỗi miền là khác nhau,  
đồng thời ở mỗi một ngôn ngữ, cùng một  
miền có mật độ cao thấp khác nhau.  
Sơ đồ trường từ vựng trên đây được  
thể hiện theo trục dọc gồm ba tầng, tầng hai  
và ba lại có quan hệ trục ngang. Quan sát từ  
trên xuống dưới, ta có thể dễ dàng hình dung  
ra tính tầng bậc của trường từ vựng. Trường  
từ vựng sẽ được phân tích liên tục theo tầng  
thứ như vậy cho đến khi nào không thể phân  
tích thành các nhóm nhỏ hơn.  
3.2. Tính hệ thống  
Các từ ngữ thuộc cùng một trường từ  
vựng sẽ có mối liên hệ, tác động lẫn nhau về  
mặt ngữ nghĩa. Bởi các từ của cùng một  
trường ra đời là để phân biệt ngữ nghĩa lẫn  
Tuy nhiên, do trường từ vựng có tính  
hệ thống với đặc trưng khác nhau ở các ngôn  
ngữ, phương ngữ và thời đại khác nhau, nên  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
việc tạo thành trường từ vựng cũng khác  
88  
Trong mô hình trên, các từ thuộc (a)  
nhau. Cùng một từ trong hệ thống ngôn ngữ  
khác nhau có thể có giá trị ngữ nghĩa khác  
nhau. Ví dụ trong tiếng Hán, 锅 oa bao gồm  
các loại nồi, niêu, xoong, chảo nói chung,  
nhưng trong tiếng Việt nồi và chảo, niêu đẳng  
lập với nhau, không phải là quan hệ bao hàm.  
là các từ trung tâm của trường nghĩa A, các  
từ thuộc (b) là các từ trung tâm của trường  
nghĩa B, các từ thuộc (ab) là các từ ngoại vi  
của trường nghĩa A và trường nghĩa B (Đỗ,  
2013, tr. 196).  
3.4. Đặc điểm hoạt động của các từ ngữ  
theo quan hệ trường từ vựng  
3.3. Tính tương đối  
Việc hình thành trường từ vựng lấy  
đơn vị là nghĩa của từ. Do đó, cùng một từ  
có những nghĩa khác nhau sẽ thuộc các  
trường từ vựng khác nhau. Các trường từ  
vựng này được gọi là trường từ vựng giao  
nhau. Ví dụ từ kỉ tử nếu sử dụng làm vị thuốc  
bắc thì thuộc trường thuốc Đông y, nhưng  
nếu sử dụng trong thức ăn thì lại thuộc  
trường ẩm thực. Mặt khác, một trường từ  
vựng tương đối rộng có thể phân chia thành  
các trường từ vựng nhỏ hơn từ các góc độ  
khác nhau. Vì thế, việc xác định một từ thuộc  
trường từ vựng nào, những từ nào tạo thành  
một trường từ vựng không phải là tuyệt đối,  
mà chỉ mang tính tương đối.  
Nghĩa của từ chỉ được hiện thực hóa  
trong việc kết hợp từ. Với vai trò là thành  
viên của các trường từ vựng, quan hệ về ngữ  
nghĩa giữa các từ đóng vai trò vô cùng quan  
trọng, có tác dụng chi phối khả năng kết hợp  
giữa chúng với nhau để tạo câu phục vụ giao  
tiếp ngôn ngữ. Một từ trong trường từ vựng  
A có thể kết hợp với từ trung tâm của chính  
trường đó, cũng có thể kết hợp với từ ngữ  
ngoại vi của trường đó, hoặc từ của trường  
này kết hợp với từ trung tâm của trường  
khác. Chẳng hạn:  
(1) Thức ăn nấu xong rồi.  
Ngữ pháp Tesnière coi vị từ là trung  
tâm của câu. Vì vậy, trong câu này, từ trung  
tâm là nấu, đối tượng đề cập đến là thức ăn.  
Nấu là từ trung tâm của trường, nên nghĩa  
“cho vào nước đun lên” của từ nấu đã tiền  
giả định tham thể thức ăn trong cấu trúc  
nghĩa của câu, và tham thể này có thể không  
cần xuất hiện. Tương tự, Jackendoff (1990)  
gọi hiện tượng này là “nén tham tố”  
(argument fusion – tham tố [ngữ pháp] thể  
hiện tham thể [ngữ nghĩa] mặc định đã được  
nén/tích hợp trong ngữ nghĩa của vị từ nên  
có thể khiếm diện). Vì thế có lúc có thể nói  
tắt là Thức ăn xong rồi mà ý nghĩa của từ nấu  
vẫn được “ngầm hiểu” mặc dù từ nấu không  
hiện diện.  
Liên quan đến tính tương đối của  
trường từ vựng là vấn đề phân bổ các từ  
trong trường từ vựng. Trường từ vựng bao  
gồm các từ ngữ trung tâm và các từ ngữ  
ngoại vi. Các từ ngữ trung tâm là các từ ngữ  
biểu thị sự vật, hoạt động, mang tính đặc  
trưng cho trường từ vựng đó. Các từ ngữ  
ngoại vi là các từ biểu thị sự vật, hiện tượng,  
không chỉ thuộc về trường từ vựng đó mà  
còn có thể thuộc về trường từ vựng khác. Đó  
chính là sự giao thoa giữa ý nghĩa của các  
trường từ vựng khác nhau. Đỗ Việt Hùng  
dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu đã mô  
hình hóa từ ngữ trung tâm và từ ngữ ngoại vi  
trong trường nghĩa như sau:  
(2) Cơm sống rồi.  
Từ sống là từ thuộc trường từ vựng  
“cơm”, nhưng không phải là từ trung tâm, vì  
từ này có thể xuất hiện trong các trường từ  
vựng khác. Chúng là các từ ngoại vi của  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
trường từ vựng “cơm”.  
(3) Sĩ thì nấu sử sôi kinh/ Làm nên  
khoa bảng công danh để truyền. (Ca dao  
Việt Nam)  
89  
như ngọt, bùi lại được liên hệ với những điều  
tốt đẹp, như Tố Hữu đã từng viết Ngọt bùi  
nhớ lúc đắng cay/ Ra sông nhớ suối có ngày  
nhớ đêm. Trong tiếng Hán cũng có những lối  
nói như 爱情的苦味 ái tình đích khổ vị (vị  
đắng tình yêu), 爱情的甜蜜 ái tình đích điềm  
mật (vị ngọt tình yêu)... Vì vậy, khi tìm hiểu  
về trường từ vựng ẩm thực, chúng ta không  
thể xem nhẹ vai trò của nghĩa liên hội. Đây  
là một điểm mấu chốt cho thấy đặc điểm tri  
nhận của người Việt Nam và người Trung  
Quốc về các vấn đề trong ẩm thực nói riêng  
và trong cuộc sống nói chung.  
Trong ví dụ này, động từ nấu là động  
từ trung tâm của trường thức ăn, được sử  
dụng kết hợp với sử. Tuy nhiên, cách nói này  
không hề sai, bởi đây được coi là hiện tượng  
sử dụng từ ngữ chuyển trường – một cách  
phổ biến để tạo hiệu quả tu từ trong diễn đạt  
ngôn ngữ, đặc biệt là văn chương. Đặc điểm  
của các từ ngữ chuyển trường là vẫn giữ  
được một phần nét nghĩa ở trường cũ, nhưng  
đã được nâng giá trị diễn đạt hơn hẳn sự kết  
hợp của các từ trong cùng một trường. Nấu  
có khả năng thể hiện ý nghĩa phải trải qua  
một quá trình khó khăn, lâu dài. Việc sử  
dụng từ nấu khiến sử, kinh giống như những  
thức ăn trải qua khâu chế biến, đun trong lửa,  
chín trong nước sôi, liên tưởng đến hình ảnh  
người học trò ngày đêm khổ luyện, vất vả  
nhọc nhằn để thành danh. Đây là một cách  
sử dụng từ ngữ hết sức uyển chuyển và sinh  
động, được hình thành từ phép tư duy liên  
tưởng mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.  
Việc sử dụng các từ ngữ chuyển  
trường thường dẫn đến sự chuyển trường của  
các từ ngữ khác tạo nên hiện tượng cộng  
hưởng ngữ nghĩa. Vì vậy, việc chuyển nghĩa  
của các từ ngữ có giá trị biểu đạt rất lớn.  
Chúng vừa có giá trị biểu đạt trong trường  
mới, lại vừa mang theo những sắc thái của  
chúng ở trường cũ, tạo nên tính hình tượng  
sinh động trong ngôn ngữ, giúp nâng cao  
hiệu quả giao tiếp.  
4. Các tiểu trường ngữ nghĩa ẩm thực  
trong tiếng Hán và tiếng Việt  
Có thể thấy rằng, ngoài những ý  
nghĩa vốn có tính chất khá ổn định trong hệ  
thống trường từ vựng như nghĩa biểu vật,  
nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái ra, trong  
quá trình hành chức, từ còn có ý nghĩa chưa  
ổn định mà có thể biến động, mang tính xã  
hội, lịch sử, cá nhân cụ thể, tạo hiệu quả giao  
tiếp cao, trong đó phải kể đến nghĩa liên hội.  
Đây là loại nghĩa gắn với những liên tưởng  
của cá nhân, nhóm người hoặc cộng đồng  
người, thông qua cơ chế ẩn dụ hoặc hoán dụ.  
Chẳng hạn, người Việt Nam và người Trung  
Quốc đều có sự liên tưởng giữa những vị  
đắng, cay, chua với những cảm giác tiêu cực,  
những khó khăn, thất bại không ai muốn có  
mà vẫn phải đối mặt. Ngược lại, những vị  
Trên cơ sở các tiêu chí xác lập trường  
từ vựng, trong khuôn khổ bài viết này, chúng  
tôi tiến hành xác lập trường từ vựng ẩm thực  
trong tiếng Hán và tiếng Việt theo mô hình  
trường biểu vật. Dựa vào nguồn ngữ liệu thu  
thập được, chúng tôi tìm ra những từ mà nét  
nghĩa đầu tiên của chúng có sự đồng nhất  
trong phạm vi biểu vật là tên gọi thức ăn, đồ  
uống, nguyên liệu dùng để chế biến, mùi vị  
thức ăn, đồ uống, hoạt động của con người  
tác động đến thức ăn, đồ uống (bao gồm hoạt  
động chế biến và hoạt động thưởng thức),  
sau đó khái quát việc phân xuất trường từ  
vựng ẩm thực thành các tiểu trường cụ thể  
trong sơ đồ sau:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
90  
Sơ đồ 2  
Các tiểu trường ẩm thực cơ bản  
Sơ đồ trên cho thấy, tiểu trường ăn  
và tiểu trường uống có sự giao thoa với nhau.  
Chẳng hạn, các mùi vị đắng, cay, ngọt,  
thơm… đều có thể thuộc vào nhóm “mùi vị  
thức ăn” và “mùi vị đồ uống”, hoặc gạo vừa  
là từ chỉ nguyên liệu chế biến thức ăn (cơm),  
vừa là nguyên liệu để chế biến đồ uống  
(rượu). Xuất phát từ sự giao thoa ấy, chúng  
tôi chia trường từ vựng ẩm thực thành sáu  
tiểu trường chủ yếu.  
đó có cả nguyên liệu chính và các phụ liệu,  
gia vị. Theo thống kê của chúng tôi, số lượng  
từ ngữ thuộc tiểu trường nguyên liệu ẩm thực  
trong tiếng Hán có 505 đơn vị, trong tiếng  
Việt có 492 đơn vị. Từ điển tiếng Việt giải  
thích nguyên liệu là “đối tượng lao động đã  
được con người khai thác hoặc sản xuất,  
thường được sử dụng tiếp để tạo nên sản  
phẩm mới” (Hoàng, 2011, tr. 982), trong đó  
có nguyên liệu chế biến thức ăn, đồ uống.  
Nguồn nguyên liệu ẩm thực của Trung Quốc  
và Việt Nam được thể hiện bằng mô hình  
dưới đây:  
4.1. Tiểu trường tên gọi nguyên liệu  
Tiểu trường tên gọi nguyên liệu gồm  
những từ như rau, thịt, cá, hành, tỏi…, trong  
Sơ đồ 3  
Nguồn nguyên liệu ẩm thực  
Trong các loại nguyên liệu nói trên,  
đương nhiên có sự khác biệt về chủng loại và  
tần số sử dụng… tùy vào điều kiện trồng trọt,  
chăn nuôi của hai nước.  
những bộ phận được sử dụng, có bộ phận  
không được sử dụng để chế biến thức ăn.  
Như vậy, tiểu trường nguyên liệu ẩm thực có  
sự giao thoa với trường từ vựng tên gọi động  
vật, tên gọi thực vật, tên bộ phận cơ thể động  
vật… Do đó, khi khảo sát đặc điểm các từ  
ngữ có sự giao thoa như vậy, chúng tôi sẽ  
không tập trung nghiên cứu sâu cấu trúc  
Nguyên liệu sử dụng để chế biến  
thức ăn của con người được lựa chọn tỉ mỉ,  
thậm chí có những yêu cầu nhất định khi sơ  
chế. Chẳng hạn, cùng là thực vật nhưng có  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
91  
cũng như đặc trưng ngữ nghĩa của chúng.  
4.2. Tiểu trường tên gọi thức ăn, đồ uống  
không phải là món ăn. Với con người, những  
thứ “có thể tiêu hóa được” phần lớn cần phải  
trải qua quá trình chế biến hoặc sử dụng theo  
những quy tắc nhất định áp dụng cho cả cộng  
đồng, đó là các thức ăn (chủ yếu là thức ăn  
chín).  
Tiểu trường tên gọi thức ăn, đồ uống  
gồm các từ cơm, bánh, xôi, phở, rượu, chè…  
Tiểu trường này có thể chia thành hai  
tiểu trường nhỏ hơn là tiểu trường tên gọi  
thức ăn và tiểu trường tên gọi đồ uống. Theo  
thống kê của chúng tôi, số lượng từ ngữ  
thuộc tiểu trường thức ăn trong tiếng Hán có  
1493 đơn vị, trong tiếng Việt có 968 đơn vị.  
Con số này cho thấy khả năng sáng tạo thức  
ăn của cả hai dân tộc, đặc biệt là Trung Quốc  
là vô cùng to lớn. Tiếp đó là đồ uống, tiếng  
Hán có 472 đơn vị trong khi tiếng Việt chỉ  
có 207 đơn vị.  
Khi khảo sát tên gọi thức ăn, chúng  
tôi loại trừ trường hợp những loại nguyên  
liệu được dùng để hoán dụ cho tên gọi thức  
ăn. Bởi vì trong thực tế, tên nguyên liệu ít  
được sử dụng độc lập để thay thế cho tên  
thức ăn. Một trường hợp tên gọi thức ăn nữa  
cũng nằm ngoài phạm vi bài viết này, đó là  
tên các loại hoa quả sử dụng để ăn ngay sau  
khi làm sạch. Bởi vì tên những loại thức ăn  
này cũng chính là tên các loại cây trong tự  
nhiên, như cam, quýt, bưởi… thuộc trường  
từ vựng thực vật.  
Về tiểu trường thức ăn, theo Từ điển  
tiếng Việt, thức ăn có hai nghĩa, thứ nhất là  
“thứ có chứa chất dinh dưỡng và có thể tiêu  
hóa được, dùng để nuôi sống con người và  
động vật nói chung”, hai là “các thứ dùng để  
ăn với cơm, thường là cá, thịt... nói chung”  
(Hoàng, 2011, tr. 1250). Trong bài viết này,  
chúng tôi vận dụng cách hiểu thứ nhất và  
thống nhất sử dụng thuật ngữ thức ăn chứ  
Sơ đồ 4  
Từ nguồn nguyên liệu nói trên, thông  
qua các kĩ thuật chế biến khác nhau, người  
ta có thể tạo ra các thức ăn khác nhau. Trong  
đó, nếu xét theo nguồn nguyên liệu tạo thành  
thức ăn thì có thể chia thành 2 loại như sơ đồ  
sau:  
Phân loại thức ăn theo nguồn nguyên liệu  
Theo sơ đồ này, cách hiểu các thức  
ăn từ lương thực là các món được làm từ  
nguyên liệu có chứa tinh bột. Các thức ăn từ  
thực phẩm là thứ không chứa tinh bột, dùng  
để chế biến các thức ăn kèm theo món có  
chứa tinh bột trong các bữa ăn.  
Nếu lấy trung tâm là các bữa ăn (bữa  
chính và bữa phụ) với các thời điểm ăn khác  
nhau thì có thể chia thức ăn theo sơ đồ dưới  
đây:  
Sơ đồ 5  
Phân loại thức ăn theo thời điểm sử dụng  
Ngoài ra còn có thể phân loại thức ăn  
theo cách thức chế biến thành các món rán,  
món xào, món canh...  
Một điều đáng lưu ý là đối với các  
thức ăn chế biến từ lương thực, nếu dựa trên  
chức năng, người ta thường nhắc đến sự đối  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
92  
lập giữa cơm cháo và quà bánh. Trong đó,  
cơm cháo chỉ những thức ăn chính, thường  
dùng trong bữa ăn hàng ngày, còn quà bánh  
chỉ những thức ăn thêm. Đây là một trong  
những tiêu chí quan trọng để người Việt  
đánh giá về thức ăn.  
hàng ngày” (Hoàng, 2011, tr. 438). Có thể  
thấy rằng, thức thường chỉ các sự vật đã hoàn  
thành, không nhấn mạnh quá trình con người  
tạo ra nó. Do đó, chúng tôi không sử dụng  
khái niệm thức uống/ món uống, mà sử dụng  
khái niệm đồ uống, vì đồ nhấn mạnh quá  
trình con người tạo ra sự vật để sử dụng trong  
trường hợp cụ thể. Từ cách lí giải này, kết  
hợp với nghĩa của từ uống, chúng tôi cho  
rằng đồ uống là chất lỏng do con người chế  
biến, có vai trò duy trì sự sống cho cơ thể và  
phục vụ nhu cầu thưởng thức của con người.  
Các món cơm cháo có vai trò hết sức  
quan trọng trong đời sống, bởi chúng là  
nguồn cung cấp dinh dưỡng đảm bảo duy trì  
sự sống của con người. Vì vậy, tên gọi các  
thức ăn này mang tính truyền thống và ít biến  
động. Tên gọi các món quà bánh thường có  
sự thay đổi, tạo mới hàng ngày, bởi vì ăn quà  
bánh không phải để no bụng, mà là để “ăn  
chơi”. Đó là lí do vì sao hiện nay, thị trường  
quà bánh của Việt Nam cũng như Trung  
Quốc đang ngày càng đa dạng về chủng loại  
và số lượng, từ các món sản xuất trong nước  
đến các món ngoại nhập, đáp ứng yêu cầu  
ẩm thực ngày càng cao của người tiêu dùng.  
Có thể nói rằng, đồ uống ra đời cùng  
với sự phát triển của nhân loại nói chung và  
của dân tộc Trung Hoa, Việt Nam nói riêng.  
Chúng tôi đã khảo sát tên gọi các loại đồ  
uống trong các bộ từ điển, sách báo, tạp chí  
và bảng báo giá đồ uống tại một số nhà hàng,  
siêu thị… Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành  
phân loại tên gọi đồ uống theo nhóm, đồng  
thời dựa vào 2 tiêu chí đặc điểm nguyên liệu  
và cách thức chế biến, chia đồ uống thành 4  
nhóm như sau :  
Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc,  
hiện nay chưa có tài liệu nào thống kê đầy đủ  
số lượng các thức ăn. Tuy nhiên, ước chừng  
Việt Nam có khoảng trên một vạn thức ăn  
(Phan, 2006, tr. 34). Ở Trung Quốc, tính  
riêng nguồn ngữ liệu từ sách dạy nấu ăn mà  
chúng tôi thu thập đã có đến hàng vạn món,  
trên thực tế con số này còn lớn hơn rất nhiều.  
Trong đó, mỗi vùng miền, mỗi địa phương  
lại có thể có thức ăn tiêu biểu của mình.  
Chẳng hạn, Nam Định có bánh gai, Hải  
Dương có bánh đậu xanh, Hà Nội có phở,  
bún chả, Huế có bún bò giò heo, Quảng Nam  
có mì Quảng, cao lầu, miền Tây Nam Bộ có  
canh cá lóc, Bắc Kinh có vịt quay, Tứ Xuyên  
có lẩu…  
• Đồ uống nấu từ nước đun sôi, như: nước,  
chè, vối…  
• Đồ uống lên men hoặc chưng cất từ ngũ  
cốc, như: rượu, bia…  
• Đồ uống pha từ bột xay từ hạt của cây  
nguyên liệu, như: cà phê, ca cao…  
• Đồ uống chế từ hoa quả, như: sinh tố,  
nước cam, nước chanh…  
Điều đáng lưu ý là, một vài trường  
hợp có sự giao thoa giữa thức ăn và đồ uống,  
đó là: sữa chua, rượu nếp, sinh tố… Bởi  
trong thực tế, chúng tồn tại vừa như một thức  
ăn dạng lỏng, lại vừa như một loại đồ uống.  
Chúng tôi coi đó là dạng đặc biệt của thức  
ăn, đồ uống.  
Về tiểu trường đồ uống, Từ điển  
tiếng Việt (Hoàng, 2011) có nhắc tới khái  
niệm thức ăn, nhưng lại không hề có khái  
niệm thức uống, hay đồ uống. Để có được  
định nghĩa và sự lựa chọn tên gọi khái niệm  
cho phù hợp, trước hết chúng tôi tìm hiểu  
nghĩa của hai từ thức và đồ. Thức là “thứ,  
món, loại nói chung” (Hoàng, 2011, tr.  
1250), đồ là “vật do con người tạo ra để dùng  
vào một việc cụ thể nào đó trong đời sống  
4.3. Tiểu trường hoạt động thưởng thức  
thức ăn, đồ uống  
Quá trình chế biến thức ăn đồ uống  
cuối cùng cũng đều nhằm phục vụ cho khâu  
thưởng thức. Trong tiếng Hán và tiếng Việt  
có một lượng không nhỏ động từ chỉ hoạt  
động thưởng thức thức ăn, đồ uống, phản ánh  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
93  
sinh động các đặc trưng văn hóa dân tộc  
trong ẩm thực. Hoạt động ăn uống quan hệ  
mật thiết nhất với miệng, đặc biệt là răng,  
lưỡi. Đối với con người, đôi tay và cách sử  
dụng dụng cụ ẩm thực cũng liên quan đến  
phương cách thưởng thức. Cùng với sự phát  
triển của xã hội và trình độ văn minh của loài  
người không ngừng nâng cao, con người đã  
sáng tạo ra các dụng cụ phục vụ hoạt động  
ăn uống. Từ các dụng cụ thô sơ đến các dụng  
cụ tinh tế mang tính mỹ thuật ra đời kéo theo  
rất nhiều phương thức ăn uống làm phong  
phú cho hoạt động thưởng thức thức ăn đồ  
uống. Người Trung Quốc và người Việt Nam  
từ lâu đã biết dùng đũa để gắp, và, xiên..., để  
đưa thức ăn vào miệng, tạo nên đặc trưng ăn  
bằng đũa, khác biệt với ăn bằng thìa, dĩa, dao  
của người phương Tây.  
uống trong tiếng Hán và tiếng Việt không  
những đa dạng về số lượng, mà hiện tượng  
đồng nghĩa, gần nghĩa cũng khá phổ biến,  
tạo nên sự phong phú về sắc thái nghĩa của  
từ. Chẳng hạn, cùng với nghĩa là “uống”,  
nhưng trong tiếng Hán có các từ như 喝 hát  
dùng trong khẩu ngữ với mọi đối tượng là  
chất lỏng, 饮 ẩm thường dùng trong bút ngữ,  
服 phục thường dùng cho các loại thuốc chữa  
bệnh, mang sắc thái bút ngữ, 抽 trừu chỉ hoạt  
động uống bằng cách hút, còn 吸喝 hấp hát  
dùng trong uống và hút nói chung. Trong  
tiếng Việt cũng có các từ như uống, húp,  
hớp,… thậm chí còn có cả ẩm tửu, phục dược  
là những từ gốc Hán đôi khi cũng được sử  
dụng với sắc thái bút ngữ trang trọng.  
4.4. Tiểu trường mùi vị ẩm thực  
Tiểu trường mùi vị ẩm thực gồm các  
từ chua, ngọt, đắng, cay, mặn, thơm… Dân  
gian Trung Quốc có câu “dân dĩ thực vi  
thiên, thực dĩ vị vi tiên” (người ta lấy ăn làm  
đầu, trong ăn uống, vị là quan trọng nhất).  
Câu nói này đã chứng tỏ tầm quan trọng của  
mùi vị trong ẩm thực. Ngày nay, người  
Trung Quốc và người Việt Nam đều coi mùi  
vị là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá thức ăn,  
đồ uống ngon. Theo thống kê của chúng tôi,  
số lượng từ ngữ thuộc tiểu trường mùi vị ẩm  
thực trong tiếng Hán có 33 đơn vị, trong  
tiếng Việt có tới 78 đơn vị.  
Trong nghiên cứu Đặc điểm của  
động từ ăn uống trong tiếng Hán và tiếng  
Việt, tác giả đã chia hoạt động thưởng thức  
thức ăn, đồ uống thành ba loại, gồm (1) hoạt  
động ăn uống nói chung gồm các từ: 吃 ngật  
(ăn), 尝 thường (nếm), 服 phục (uống), 喝 hát  
(uống), 抽 trừu (hút), 吸喝 hấp hát (uống  
hút), 喂 úy (bón), 食 thực (ăn), 餐 xan (ăn), 饮  
ẩm (uống), 品 phẩm (thưởng thức), 品 尝  
phẩm thường (thưởng thức), 咂 táp (tợp)...  
(trong tiếng Hán) và lót dạ, nhâm nhi, nhấm  
nháp, tráng miệng, ăn, chén, đớp, măm,  
ngốn, tọng, xơi, hốc, bón, bú, đút, mớm, nốc,  
nếm, nhắm, nhậu, uống, húp, tớp, tợp, hút...  
(trong tiếng Việt); (2) Hoạt động của miệng,  
bao gồm: 含 hàm (ngậm), 咽 yên (nuốt), 咬  
giảo (cắn), 吞 thốn (nuốt), 嚼 tước (nhai), 啃  
khẳng (gặm), 衔 hàm (ngậm), 噍 tiếu (nhai),  
咀 thư (nhai), 嗑 hạp (cắn), 喂养 úy dưỡng  
(bón)... (trong tiếng Hán) và: cắn, gặm, nhá,  
nhai, ngậm, mút, liếm, nuốt... (trong tiếng  
Việt); (3) hoạt động của tay, gồm: 夹 giáp  
(gắp), 盛 thịnh (xới), 捞 lao (vớt), 抓 trảo  
(bốc), 舀 yểu (múc)... (trongtiếng Hán) và bốc,  
và, xới, đơm, xúc, gắp, bốc, nhón, chạm,  
nâng... (trong tiếng Việt) (Ngô, 2018, tr. 183).  
Mùi vị bao gồm mùi và vị. Vị là một  
khái niệm thường xuyên được nhắc tới khi  
bàn về văn hóa ẩm thực. Nếu xét từ góc độ  
sinh học thì nó chính là một cơ năng sinh lí,  
là cảm nhận sinh lí đối với thức ăn, đồ uống  
của cơ quan vị giác như các vị chua, ngọt,  
đắng, cay, mặn. Nó có vai trò tương đương  
với các cảm giác khác của con người như thị  
giác, thính giác, khứu giác, xúc giác. Nói  
cách khác, “vị” chính là đặc tính về một loại  
cảm nhận nào đó mà lưỡi có được đối với  
thức ăn đồ uống. Lưỡi đóng vai trò quan  
trọng để cảm nhận vị. Ngoài ra, các bộ phận  
khác trong khoang miệng cũng góp phần  
giúp cảm nhận vị của thức ăn đồ uống như  
ngạc, cổ họng. Theo các nhà sinh vật học,  
Từ cách phân loại trên, có thể thấy,  
các từ chỉ hoạt động thưởng thức thức ăn, đồ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
94  
lưỡi có thể cảm nhận được hàng trăm loại vị.  
Với các thức ăn và đồ uống khác nhau,  
chúng ta có những cảm nhận khác nhau, như:  
cay, ngọt, đắng, bùi, chua, chát, mặn…, hoặc  
những cảm giác tổng hợp hơn, như: chua  
ngọt, chua cay, ngon, vừa… Có thể nói, khó  
có thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt hết các vị  
mà lưỡi cảm nhận được về thức ăn.  
rất nhiều người nước ngoài thì khi ngửi mùi  
mắm sẽ cảm thấy khó chịu. Đó chính là sự  
khác biệt về khẩu vị giữa các vùng khác  
nhau. Có khi mùi và vị không thực sự phân  
biệt rạch ròi, chẳng hạn khi nói “thức ăn có  
mùi vị thơm ngon” thì đó là sự cảm nhận kết  
hợp cả vị giác và khứu giác. Cảm giác ngon  
miệng thường là sự tổng hợp của cả mùi và  
vị chứ không chỉ có vị ngon. Do vậy, khi  
thưởng thức thức ăn, người ta phải sử dụng  
cả khứu giác và vị giác, thậm chí là tất cả các  
giác quan cùng tham gia, như vậy mới cảm  
nhận được vị ngon đích thực.  
Tuy vậy, vị trong ẩm thực Trung  
Quốc và Việt Nam luôn gắn liền với thuyết  
“ngũ vị điều hòa”. Các nhà âm dương ngũ  
hành của triết học Trung Quốc đã nhắc tới  
ngũ vị mặn, đắng, chua, cay, ngọt và cho  
rằng chúng tương ứng với ngũ hành thủy,  
mộc, kim, hỏa, thổ là năm yếu tố cơ bản của  
vật chất. Người Trung Quốc xưa còn đúc kết  
kinh nghiệm cho rằng ngũ vị điều hòa có quy  
luật theo mùa, “mùa xuân chua nhiều, mùa  
hạ đắng nhiều, mùa thu cay nhiều, mùa đông  
mặn nhiều, còn trung hòa bốn vị trên, đó là  
vị ngọt” (Liu, 2004, tr. 63).  
Như vậy, nếu xét theo nghĩa rộng,  
mùi và vị liên quan đến nhiều phương diện  
khác nhau như cơ quan cảm nhận mùi vị  
(lưỡi, mũi…), hoạt động cảm nhận mùi vị  
(ngửi, nếm…), tên gọi các mùi vị (chua,  
ngọt, đắng, cay...)… Dựa trên định nghĩa về  
mùi vị là “mùi và vị cảm nhận được (nói khái  
quát)” (Hoàng, 2011), chúng tôi cho rằng từ  
chỉ mùi vị là những từ chỉ tên gọi mùi và vị  
cảm nhận được trong ẩm thực. Trong đó, các  
từ chỉ vị bao gồm 酸 toan (chua), 甜 điềm  
(ngọt), 苦 khổ (đắng), 辣 lạt (cay), 咸 hàm  
(mặn)… trong tiếng Hán và chua, ngọt,  
đắng, cay, mặn, chát… trong tiếng Việt và  
các từ chỉ mùi như thơm, thối, 香, 臭... Các  
từ chỉ mùi và vị này có tên gọi khác nhau tạo  
thành các tiểu lớp từ chỉ vị ngọt, chua, đắng,  
cay, mặn, chát.  
Song song với vị, mùi trong ẩm thực  
cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy  
nhiên, mùi thường mang tính tâm lí chủ quan  
hơn vị. Nếu vị được cảm nhận bằng lưỡi là  
chủ yếu thì mùi lại được cảm nhận bằng mũi.  
Hiện nay, chúng ta thường nhắc tới hai thái  
cực đối lập về các mùi trong ẩm thực là các  
mùi mang lại cảm giác dễ chịu, đại diện là  
mùi thơm, và các mùi mang lại cảm giác khó  
chịu như tanh, hôi, thối. Trong thực tế, các  
thức ăn có mùi tanh, hôi, thối thường không  
được ưa chuộng, trừ một vài món “thối” của  
Trung Quốc được chế biến đặc biệt, còn  
phần lớn các quốc gia trên thế giới ít sử dụng  
thức ăn có những mùi này. Nếu nguyên liệu  
có các mùi khó chịu, người ta phải tìm cách  
chế biến phù hợp để khử mùi. Chỉ có mùi  
thơm là mùi được các đầu bếp chú ý giữ và  
phát huy để tăng sức hấp dẫn cho thức ăn.  
4.5. Tiểu trường phương thức chế biến  
Tiểu trường phương thức chế biến  
gồm các từ như xào, luộc, rán… Theo thống  
kê của chúng tôi, số lượng từ ngữ thuộc tiểu  
trường phương thức chế biến thức ăn trong  
tiếng Hán có 113 đơn vị, trong tiếng Việt có  
57 đơn vị.  
Kĩ thuật chế biến là cách thức tạo ra  
thức ăn từ các nguồn nguyên liệu. Mỗi dân  
tộc, mỗi quốc gia trên thế giới lại có thể có  
những cách thức chế biến thức ăn, đồ uống  
khác nhau.  
Mùi và vị đôi khi mang tính chủ quan  
và có thể khác biệt trong cách cảm nhận của  
các dân tộc. Tiêu biểu như mùi của “nước  
mắm” được coi là “quốc bản” của Việt Nam  
(theo cách nói của Trần Ngọc Thêm) được  
coi là gia vị tạo mùi thơm cho thức ăn, nhưng  
Hoạt động chế biến thức ăn là hoạt  
động của con người tác động lên thức ăn làm  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
95  
cho chúng biến đổi từ trạng thái tươi, sống,  
chưa ăn được, sang trạng thái chín, ăn được.  
Dựa vào kết quả biến đổi tính chất thức ăn  
trong chuỗi hoạt động chế biến, chúng tôi  
chia các đơn vị ngôn ngữ thành hai nhóm,  
biểu thị hai công đoạn của quá trình chế biến,  
cụ thể là:  
4.6. Tiểu trường vật dụng ẩm thực  
Vật dụng ẩm thực là những vật liên  
quan đến ăn và uống, được sử dụng trong  
quá trình chế biến hoặc thưởng thức thức ăn,  
đồ uống. Căn cứ vào chức năng cụ thể trong  
ẩm thực, chúng tôi chia vật dụng ẩm thực  
thành hai nhóm sau:  
Hoạt động sơ chế là hoạt động chuẩn  
bị trước khi làm chín thức ăn, chủ yếu là làm  
sạch và tạo hình cho nguyên liệu theo những  
yêu cầu nhất định. Ví dụ: nhặt, rửa, thái,  
băm, chặt, ướp… (trong tiếng Việt) và 拣  
giản (nhặt/ chọn), 洗 tẩy (rửa), 切 thiết, 剁  
đóa (băm), 腌 yêm (ướp)... (trong tiếng Hán).  
Những từ ngữ thuộc nhóm này cũng có sự  
giao thoa với các trường biểu vật khác với  
đối tượng không phải là thức ăn.  
- Nhóm vật dụng dùng để chế biến,  
như nồi, niêu, xoong, chảo, bếp…  
- Nhóm vật dụng dùng để thưởng  
thức, như bát, đũa, thìa, cốc, chén…  
Có thể thấy rằng, nhiều vật dụng ẩm  
thực có thể thực hiện cả chức năng nấu  
nướng và chức năng khi thưởng thức. Đặc  
biệt là đôi đũa trong văn hóa ẩm thực Việt  
Nam và Trung Quốc vừa có thể dùng để chế  
biến thức ăn, lại vừa có thể dùng để gắp thức  
ăn, thể hiện những nét đặc sắc trong cách  
thức ăn uống của hai dân tộc.  
Hoạt động làm chín là hoạt động làm  
cho tính chất của thức ăn thay đổi và có thể  
ăn được. Đây là giai đoạn chính của quá trình  
chế biến. Nếu xét theo dung lượng ngữ nghĩa  
rộng hay hẹp, thì nhóm từ chỉ hoạt động làm  
chín thức ăn có thể chia thành hai tiểu loại là  
những đơn vị ngôn ngữ mang ý nghĩa khái  
quát công việc nấu nướng, như 烹饪 phanh  
nhẫm (nấu nướng), 烧煮 thiêu chử (đun nấu),  
đun nấu, nấu nướng,...; những đơn vị ngôn  
ngữ chỉ hoạt động chế biến cụ thể, như 炸 tạc  
(rán), 烧 thiêu (xốt), 炒 sao (xào), rán, xào,  
luộc… Nếu xét theo tiêu chí có hay không có  
sự tác động của nhiệt lượng (lửa) thì có thể  
chia nhóm từ này thành ba tiểu loại là: hoạt  
động chế biến qua lửa (rán, xào…), hoạt  
động chế biến không qua lửa (muối, ướp,  
tẩm ướp…), hoạt động chế biến kết hợp qua  
lửa và không qua lửa (làm nộm, làm tái…).  
Trong các nhóm từ ngữ nêu trên, các từ chỉ  
hoạt động chế biến qua lửa có thể nói là ngôn  
ngữ nào cũng có và chiếm số lượng cao hơn  
tất cả các nhóm từ còn lại. Căn cứ vào tính  
chất đối tượng làm chín trung gian khi chế  
biến, có thể chia nhóm từ chỉ hoạt động chế  
biến qua lửa thành các nhóm nhỏ hơn như  
làm chín trong nước, trong dầu, mỡ, trong  
hơi nước, hoặc bằng than, lửa…  
Từ nguồn ngữ liệu là từ điển, ca dao  
tục ngữ, thành ngữ, các sách báo, tạp chí, các  
bảng báo giá, chúng tôi đã thống kê được 60  
đơn vị từ ngữ thuộc tiểu trường dụng cụ ẩm  
thực trong tiếng Việt và 88 đơn vị trong tiếng  
Hán. Tên gọi dụng cụ ẩm thực trong tiếng  
Hán có mô hình cấu trúc là: yếu tố khu biệt  
+ yếu tố chỉ loại. Chẳng hạn, yếu tố chỉ loại  
trong tên gọi các loại đũa là 筷 khoái, 筷子  
khoái tử, yếu tố chỉ loại trong tên gọi các loại  
bát là 碗 uyển. Tên gọi các loại vật dụng ẩm  
thực vì thế lại có thể chia thành các tiểu loại  
nhỏ hơn dựa theo yếu tố khu biệt. Ví dụ,  
trong tiếng Hán, các loại bát gồm 木碗 mộc  
uyển (bát gỗ) là tên gọi theo chất liệu, 方形碗  
phương hình uyển (bát vuông) là tên gọi theo  
hình dáng, 拉面碗 lạp diện uyển (bát/ tô đựng  
mì) là tên gọi theo vật chứa, 万用碗 vạn dụng  
uyển (bát đa năng) là tên gọi theo chức năng,  
乌木/脸谱筷子 ô mộc liễn phổ khoái tử (đũa  
mặt nạ gỗ đen) là tên gọi theo chất liệu kết  
hợp với hình dáng, 不锈钢/食碗 bất tú cương  
thực uyển (bát ăn inox) là tên gọi theo chất  
liệu kết hợp với chức năng, 龙凤情侣筷 long  
phượng tình lữ khoái (đũa tình nhân long  
phượng) là tên gọi theo phương thức tu từ...  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
96  
Đỗ, H. C. (1997). Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Tên gọi các loại vật dụng ẩm thực tiếng Việt  
cũng có đặc điểm tương tự, chẳng hạn như  
bát đũa có các loại như bát sứ, đũa tre, bát  
ăn cơm, bát múc canh, đũa vuông, đũa cả,  
bát sứ Hải Dương...  
Đỗ, V. H. (2013). Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ  
thống đến hoạt động. Nxb Đại học Sư phạm.  
Hoàng, P. (2011). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng,  
Trung tâm từ điển học.  
Jackendoff, R. (1990). Semantic Structures. MIT Press.  
5. Kết luận  
Ji, J. (2006). Cong yuanxing yixiang kan Hanying  
“chi” de renzhi yuyi wenhua chayi.  
Yangzhou zhiye daxue xuebao, 10(2), 87-89.  
Trường từ vựng ẩm thực là một trong  
những trường từ vựng quan trọng trong tiếng  
Hán và tiếng Việt. Trong tương quan giữa  
hai ngôn ngữ, ngoài tiểu trường mùi vị ra, số  
lượng đơn vị từ vựng thuộc trường ẩm thực  
và các tiểu trường tương ứng với nó trong  
tiếng Hán đều cao hơn nhiều so với tiếng  
Việt. Nổi bật nhất là số lượng từ vựng thuộc  
tiểu trường thức ăn trong tiếng Hán lên đến  
1493 đơn vị, tiếng Việt cũng đạt tới 968 đơn  
vị, quả là một con số bắt mắt và vượt trội.  
Điều đó thể hiện khả năng phát hiện, tận  
dụng thế giới vật chất xung quanh phục vụ  
đời sống của nhân dân hai nước, đặc biệt là  
khả năng sáng tạo to lớn để tạo ra thế giới  
thức ăn đồ uống, dụng cụ chế biến và dụng  
cụ ăn uống hết sức đa dạng phong phú. Đó  
là lý do mà dân gian có câu cơm Tàu (vợ  
Nhật nhà Tây) hay dân dĩ thực vi thiên  
(người ta coi ăn là quan trọng nhất). Trường  
từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng  
Việt là một bằng chứng sinh động giúp ta tìm  
hiểu về văn hóa ẩm thực – một bộ phận hợp  
thành quan trọng trong văn hóa truyền thống  
của hai nước Việt Trung.  
Lê, Q. T. (2004). Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ.  
Nxb Giáo dục.  
Lê, Q. T. (2015). Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng  
Việt từ 1945 đến 2005. Nxb Đại học Quốc  
gia Hà Nội.  
Lin, S. (1994). Yinghan shici “eat” he “chi” de duibi  
yanjiu. Hubei minzu xueyuan xuebao, (1),  
83-86.  
Liu, J. R. (2004). Zhongguo yinshi. Wuzhou chuanbo  
Chubanshe.  
Mai, N. C., Nguyễn, T. N. H., Đỗ, V. H., & Bùi, M.  
T. (2007). Nhập môn ngôn ngữ học. Nxb  
Giáo dục.  
Ngô, M. N. (2018). Đặc điểm của động từ ăn uống  
trong tiếng Hán và tiếng Việt. Tạp chí  
Nghiên cứu Nước ngoài, 34(1), 178-189.  
Nguyễn, Đ. T. (2010). Đặc trưng văn hóa dân tộc của  
ngôn ngữ và tư duy. Nxb Từ điển Bách khoa.  
Nguyễn, T. G. (2014). Nghĩa học Việt ngữ. Nxb Giáo  
dục Việt Nam.  
Nguyễn, V. C. (1992). Ngôn ngữ học đối chiếu và đối  
chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á. Trường  
Đại học Sư phạm Ngoại ngữ.  
Phan, V. H. (2006). Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm  
thực Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội.  
Wang, Zh. M, & Hou, X. F. (2005). Xinbian  
jiachangcai 800 zhong. Shandong kexue  
jishu Chubanshe.  
Tài liệu tham khảo  
Đỗ, H. C. (1987). Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Nxb  
Đại học và Trung học CN.  
Yang, Q. (2007). Hanying “chi” lei dongci de duibi  
yanjiu. Hutan shifan xueyuan xuebao  
(shehui kexue ban), 29(6), 13-136.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
97  
LEXICALSETS OFCULINARYVOCABULARY  
IN CHINESEAND VIETNAMESE  
Ngo Minh Nguyet  
Faculty of Chinese Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: It is worthwhile examining lexical sets in lexicology studies. A lexical set is a group  
of words which are semantically associated and describe distinctive features of an object or an event.  
Lexical set is hierarchical in that a broad lexical set can be divided into narrower sets, and a group of  
small lexical sets that are semantically related can form a bigger set. Lexical sets can reflect logical  
thinking and cognitive ability of each people. It is, therefore, significant not only in the linguistic field  
but also in the cultural sphere. Basing on the theories of lexical sets, the article attempts to clarify the  
features of lexical sets of culinary vocabulary in Chinese and Vietnamese and to contribute a reference  
to teaching and researching Chinese in Vietnam.  
Keywords: lexical set, culinary/cuisine, Chinese, Vietnamese  
pdf 15 trang baolam 21300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đôi nét về đặc điểm trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_net_ve_dac_diem_truong_tu_vung_am_thuc_trong_tieng_han_v.pdf