Đôi nét về đặc điểm trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
83
ĐÔI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG ẨM THỰC
TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
Ngô Minh Nguyệt
Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa Trung Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 21 tháng 08 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 21 tháng 09 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 03 năm 2021
Tóm tắt: Trường từ vựng, còn gọi là trường từ vựng - ngữ nghĩa, là một trong những vấn đề
quan trọng trong nghiên cứu từ vựng. Mỗi trường từ vựng gồm một tập hợp các từ có quan hệ về nghĩa,
phản ánh các đặc trưng liên quan của sự vật, hiện tượng. Trường từ vựng có tính tầng bậc, thể hiện ở
chỗ trường từ vựng rộng có thể tách thành các trường từ vựng hẹp và ngược lại, các tiểu trường có liên
quan với nhau lại có thể tổ hợp thành trường lớn hơn. Trường từ vựng mang tính liên tưởng, phản ánh
đặc điểm tư duy và năng lực tri nhận của mỗi dân tộc. Do đó, nó không chỉ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ đơn
thuần mà còn hàm chứa ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Trong khuôn khổ bài viết này, trên cơ sở điểm qua đôi
nét lí luận về trường từ vựng, chúng tôi tập trung phân tích làm sáng tỏ đặc điểm trường từ vựng - ngữ
nghĩa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm góp một tài liệu tham khảo cho công tác dạy học và
nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam.
Từ khóa: trường từ vựng, ẩm thực, tiếng Hán, tiếng Việt
1. Đặt vấn đề*
Từ vựng là một trong ba bình diện
ánh đặc điểm tư duy và năng lực tri nhận của
mỗi dân tộc. Do đó, từ vựng nói chung và
trường từ vựng nói riêng không chỉ thuộc
lĩnh vực ngôn ngữ đơn thuần mà còn hàm
chứa ý nghĩa văn hóa sâu sắc.
của ngôn ngữ. Trong các nhân tố cấu thành
từ vựng, nghĩa của từ là sản phẩm của tư duy
và nhận thức, cũng là nhân tố bên trong
thuộc phạm trù nội dung luôn được giới
nghiên cứu xếp vào hàng những vấn đề quan
trọng nhất của ngôn ngữ học. Nghiên cứu từ
vựng, không thể không đề cập đến trường từ
vựng, còn gọi là trường từ vựng - ngữ nghĩa.
Mỗi trường từ vựng gồm một tập hợp các từ
có quan hệ về nghĩa, phản ánh các đặc trưng
liên quan của sự vật, hiện tượng, chúng có
tính tầng bậc và tính liên tưởng rõ nét. Một
trường từ vựng rộng có thể tách thành các
trường từ vựng hẹp và ngược lại, các trường
từ vựng hẹp có liên quan với nhau lại có thể
tổ hợp thành trường từ vựng lớn hơn, phản
Những năm gần đây, nghiên cứu so
sánh trường từ vựng trong các ngôn ngữ
ngày càng được coi trọng và khẳng định
được giá trị ứng dụng của nó, hiệu quả cao
nhất là trong dạy học ngoại ngữ. Thành quả
nghiên cứu của các học giả Trung Quốc trên
lĩnh vực này phải nói đến Ji (2006), Yang
(2007), Lin (1994)... Ở Việt Nam, tiêu biểu
có nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ
Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức
Tồn... Trong đó, quan điểm của Đỗ Hữu
Châu về trường từ vựng trong Từ vựng ngữ
nghĩa tiếng Việt (1987) và Cơ sở ngữ nghĩa
* Tác giả liên hệ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
84
học từ vựng (1997) đã gợi mở cho chúng tôi rất
nhiều trong quá trình tìm hiểu về trường từ
vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt.
Các mắt xích trong mạng lưới ngữ nghĩa của
trường nghĩa đều là một nghĩa vị, bao gồm
các mối quan hệ giữa nghĩa vị với nghĩa vị.
Trường từ vựng là hệ thống hình thành bởi
các từ, ngữ có tính chất chung về mặt ngữ
nghĩa, là một chỉnh thể các đơn vị ngôn ngữ
liên kết chặt chẽ, cùng chi phối, tác dụng lẫn
nhau. Các thành phần thuộc một trường từ
vựng không phải tồn tại một cách cô lập mà
nó có liên hệ với nhau, tạo thành hệ thống.
Trong bài viết này, trên cơ sở điểm
qua đôi nét lí luận về trường từ vựng, chúng
tôi vận dụng những phương pháp và thủ
pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, so
sánh đối chiếu, nhằm làm sáng tỏ đặc điểm
trường từ vựng - ngữ nghĩa ẩm thực cơ bản
trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm góp một
tài liệu tham khảo cho công tác dạy học và
nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam.
2.2. Phân loại trường từ vựng
Trường từ vựng có thể chia thành
bốn loại, gồm trường biểu vật, trường biểu
niệm, trường liên tưởng và trường tuyến
tính. Trong đó, trường biểu vật là “tập hợp
các từ ngữ đồng nhất với nhau về ý nghĩa
biểu vật (về phạm vi biểu vật)” (Đỗ, 1997,
tr. 171). Điều đó chứng tỏ, trường biểu vật
bao gồm tất cả những từ có liên quan đến
một từ trung tâm của trường, chẳng hạn như
trường nấu nướng có các từ xào, chiên, luộc,
rán, hầm, hấp, kho, nấu…; trường động vật
có các từ chó, hổ, rắn, ngựa, kiến…; trường
thực vật có các từ cỏ, cây, hoa, lá, cây thông,
cây liễu, cây lúa, cây bàng… Mỗi trường từ
vựng biểu vật có thể tiếp tục chia nhỏ hoặc
khái quát hơn. Ví dụ, trường nấu nướng có
thể chia thành các quan hệ nghĩa vị như dùng
nước, dùng dầu, dùng hơi nước, dùng hơi
nóng khô... để chế tác món ăn, hình thành các
trường từ vựng nhỏ hơn. Các tiểu trường có
quan hệ về nghĩa lại có thể tập hợp thành
trường lớn hơn, như trường thực vật ghép
với trường động vật và trường vi sinh vật tạo
thành trường sinh vật.
2. Đôi nét về trường từ vựng
2.1. Khái niệm trường từ vựng
Vào khoảng những năm 20-30 của
thế kỉ XX, Jost Trier là người đầu tiên nêu ra
khái niệm trường từ vựng dựa trên cơ sở lí
thuyết ngôn ngữ của F. de Saussuse, bắt đầu
nghiên cứu ngữ nghĩa như một hệ thống. Đến
những năm 50, lí thuyết về trường từ vựng
thực sự thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu
ngôn ngữ và có những bước phát triển rõ rệt
so với những năm 30-40. Có thể nói, lí thuyết
trường từ vựng là thành tựu nổi bật của ngữ
nghĩa học cấu trúc.
Khái niệm trường từ vựng còn gọi là
trường từ vựng - ngữ nghĩa, trường nghĩa…
trong ngôn ngữ học vốn xuất phát từ khái
niệm trường trong vật lí học. Lí luận về
trường từ vựng chủ yếu tập trung vào mối
quan hệ giữa các từ, cấu thành một hệ thống
từ vựng hoàn chỉnh, trong đó, ngữ nghĩa của
các từ trong hệ thống ngôn ngữ có mối liên
hệ mật thiết với nhau. Đỗ Hữu Châu sau
nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực từ vựng,
ông nhấn mạnh mối quan hệ về nghĩa của các
từ trong cùng một trường và cho rằng, chúng
được thể hiện qua “những tiểu hệ thống ngữ
nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ
nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan
hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa
chúng” (Đỗ, 1987, tr. 156) và khẳng định
“mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là
một trường nghĩa. Đó là những từ đồng nhất
với nhau về ngữ nghĩa” (Đỗ, 1987, tr. 157).
Trường biểu vật thể hiện đặc trưng
văn hóa và phương thức tư duy của mỗi dân
tộc. Vì thế, trường biểu vật ở các ngôn ngữ
khác nhau thường không giống nhau. Ví dụ,
trong tiếng Việt có các từ nồi, niêu, xoong,
chảo, nhưng trong tiếng Hán chỉ dùng một
từ 锅 oa, nếu muốn phân biệt thì phải miêu
tả thêm tính chất của sự vật đó, như 大锅 đại
oa (nồi to), 小锅 tiểu oa (nồi nhỏ), 铜锅 đồng
oa (nồi đồng), 砂锅 sa oa (nồi đất)...
Trường biểu niệm “là một tập hợp
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
85
các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” (Đỗ,
1997, tr. 176). Trong một trường biểu niệm
lại có các trường biểu niệm nhỏ hơn. Các
trường biểu vật và trường biểu niệm có thể
giao thoa nhau và cốt lõi trung tâm là các từ
điển hình. Các từ cùng một trường biểu niệm
có thể khác nhau về trường biểu vật. Ví dụ,
các từ: và, cắn, đớp… có chung một cấu trúc
biểu niệm là hoạt động đưa thức ăn vào miệng
nhưng chúng thuộc về các trường biểu vật
khác nhau, trong đó và, cắn thuộc trường biểu
con người, đớp thuộc trường biểu động vật.
các biểu tượng, biểu trưng trong ngôn ngữ
văn học. Điều này đã được đề cập đến trong
các công trình lí luận về đối chiếu ngôn ngữ
và văn hóa của Nguyễn Văn Chiến (1992),
Lê Quang Thiêm (2004)…
Trường tuyến tính là tập hợp các từ
có thể kết hợp với một từ cho trước tạo thành
một chuỗi chấp nhận được. Ví dụ, trường
tuyến tính với từ ăn là một tập hợp các từ
cơm, rau, thịt, canh, bánh, kẹo, hoa quả…;
hoặc cay, mặn, nhạt, ngọt, bùi… Các từ nằm
trong trường tuyến tính góp phần hiện thực
hóa một số nghĩa nào đó của từ trung tâm.
Trường tuyến tính cho biết đặc điểm của từ
trong quá trình hành chức, những quan hệ và
cấu trúc ngữ nghĩa của từ.
Trường liên tưởng “là tập hợp các từ
biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động,
tính chất... có quan hệ liên tưởng với nhau”
(Mai, 2007, tr. 231). Một từ khi được nhắc
tới thường gợi cho người ta liên hệ tới một
loạt các từ khác, đó chính là liên tưởng. Nói
cách khác, tập hợp những từ cùng được gợi
ra từ mối liên tưởng với một từ trung tâm gọi
là trường liên tưởng. Mỗi từ đều có mạng
lưới liên tưởng khác nhau. Ví dụ, trong tiếng
Việt từ cơm khiến ta liên tưởng đến các từ
cơm nếp, cơm tẻ, gạo, nấu, ăn…, từ bò trong
trâu bò khiến người ta liên tưởng đến bò cái,
bò sữa, bê, nhai lại, gặm cỏ, cày bừa, chịu
đựng, nhẫn nại, ngu dốt… Trong tiếng Hán,
từ 牛 ngưu chỉ chung cho cả trâu và bò, chỉ
khi cần phân biệt, người ta mới dùng 水牛
thủy ngưu (con trâu) phân biệt với 黄 牛
hoàng ngưu (con bò), và cũng khiến người
ta liên tưởng đến 母牛 (bò cái), 公牛 (bò
đực), 奶牛 (bò sữa), 耕犁 (cày bừa)... Ngoài
ra, trong tiếng Hán, 牛 ngưu còn có nghĩa
ngang ngạnh, bướng bỉnh, như trong các lối
nói 牛脾气 (tính cách ngang ngạnh), 这个人显
得很牛 (Người này tỏ ra rất bướng bỉnh).
2.3. Tiêu chí xác lập trường từ vựng
Việc phân định các đơn vị ngôn ngữ
thuộc các trường từ vựng là một vấn đề
không hề đơn giản, bởi vì có nhiều đơn vị
thuộc ranh giới giữa các trường từ vựng. Đỗ
Hữu Châu đã đưa ra tiêu chí xác lập trường
từ vựng. Trong đó, ý nghĩa của từ được coi
là tiêu chí quan trọng nhất để phân lập các
trường từ vựng. Thông qua các trường và sự
định vị được từ trong một trường thích hợp,
chúng ta sẽ hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ.
Các tiêu chí xác lập trường từ vựng – ngữ
nghĩa mà Đỗ Hữu Châu đề xuất cụ thể như
sau:
• Thứ nhất, tìm những trường hợp điển
hình, tức là những trường hợp mang và
chỉ mang các đặc trưng từ vựng – ngữ
nghĩa được lấy làm cơ sở, các từ điển
hình giữ vai trò trung tâm của trường.
Chẳng hạn, tâm của trường biểu vật là
từ biểu thị sự vật, tâm của trường biểu
niệm là một cấu trúc biểu niệm.
Trường liên tưởng có tính chủ quan
cao, phụ thuộc vào điều kiện, môi trường
sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống của
mỗi cá nhân. Vì thế, có nhiều trường hợp
trường liên tưởng mang màu sắc thời đại,
dân tộc và chủ quan. Do vậy, nắm được
những điểm chung trong liên tưởng của mỗi
thời đại, mỗi nhóm xã hội là điều kiện cần
thiết để lí giải những hiện tượng hàm ẩn hay
• Thứ hai, xác lập vùng ngoại vi bằng
những từ có khả năng đi vào một số
trường.
Muốn xác định một từ có thuộc
trường từ vựng nào đó hay không thì phải
xuất phát từ hai cơ sở, đó là ngữ nghĩa chúng
có liên quan với nhau hay không và ngữ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
86
nghĩa chúng có cùng chi phối lẫn nhau hay
không. Điều đó có nghĩa là, vị trí trong
trường từ vựng - ngữ nghĩa của từ này có liên
quan gì về mặt ngữ nghĩa đối với các từ khác
trong cùng một trường nghĩa. Ví dụ, chua,
chua lè, chua loét, chua lòm... (trong tiếng
Việt), 酸,酸溜溜,酸不溜丢… (trong tiếng
Hán) đều biểu thị vị chua. Vì thế, chúng có
liên quan về ngữ nghĩa, lại được phân chia
dựa trên mức độ của vị chua nên có đặc điểm
chi phối lẫn nhau. Do đó, chúng cùng thuộc
một trường từ vựng.
gốc đó. Ví dụ: chọn cấu trúc biểu niệm hoạt
động, đưa thức ăn vào miệng làm gốc, có thể
thu được các nhóm từ ngữ cùng trường biểu
niệm như (1) ăn, nếm, nhắm, tợp, nhậu, nuốt,
và…; (2) cắn, ngậm, gặm, nhá, nhai…; (3)
mút, hút…
Trong một hệ thống từ vựng hoàn
chỉnh, quan hệ ngữ nghĩa giữa từ với từ luôn
được hoàn thiện và thay đổi không ngừng
theo thời gian. Mặt khác, có những trường
hợp, các từ cũ bị mất đi, hoặc từ cũ được
dùng với nghĩa mới, hoặc có từ mới hoàn
toàn ra đời. Ý nghĩa của từ trong một trường
từ vựng không tồn tại độc lập mà có mối liên
hệ với các từ khác, vì thế chỉ cần nói đến từ
này, người ta sẽ liên tưởng và kích hoạt các
từ khác. Đặc trưng này được nhiều học giả
coi là chiến lược nắm bắt từ vựng có hiệu
quả, cần được ứng dụng vào dạy học ngôn
ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng.
Để xác lập các từ thuộc trường biểu
vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật
làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ
có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được
chọn làm gốc đó. Các danh từ này phải có ý
nghĩa khái quát cao, gần như là tên gọi của
các phạm trù biểu vật như người, động vật,
thực vật… Các danh từ này cũng là tên gọi
các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa
của từ về mặt biểu vật là những nét nghĩa cụ
thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Tuy vậy, trường
biểu vật không phải chỉ có danh từ để gọi tên
sự vật, hiện tượng, mà có thể bao gồm cả tính
từ, động từ, trạng từ…, biểu hiện những
phương diện khác nhau nhưng đều liên quan
đến phạm vi sự vật, thuộc về trường biểu vật
đó. Chẳng hạn, chọn ẩm thực làm gốc, ta có
thể thu thập các từ đồng nhất về phạm vi biểu
vật với ẩm thực, như:
3. Đặc điểm của trường từ vựng ẩm thực
trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của
các học giả đi trước, chúng tôi xác định
trường từ vựng ẩm thực là tập hợp các từ,
cụm từ dùng để gọi tên và phản ánh các đặc
trưng liên quan đến thức ăn, đồ uống và cách
thưởng thức các thức ăn đó, đồ uống đó của
một ngôn ngữ nhất định. Trường từ vựng ẩm
thực có tác dụng định vị các đối tượng, thuộc
tính của hoạt động ăn uống, để khu biệt với
các đối tượng, thuộc tính của hoạt động khác
trong sinh hoạt văn hóa của một cộng đồng
dân cư.
- Tên gọi thức ăn, đồ uống, gồm:
cơm, rau, cá, thịt, trà, rượu…
- Tên gọi nguyên liệu chế biến thức
ăn, gồm: gạo, rau, thịt lợn, thịt gà…
- Tên gọi phương thức chế biến thức
ăn, gồm: nấu, nướng, xào, hấp, luộc…
Trường từ vựng ẩm thực trong tiếng
Hán và tiếng Việt cũng giống như các trường
từ vựng khác trong ngôn ngữ nói chung, có
ba đặc điểm: tính tầng bậc, tính hệ thống và
tính tương đối.
Để xác lập các trường tuyến tính,
người ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả
các từ có thể kết hợp với nó thành những
chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận
được trong ngôn ngữ. Ví dụ: trường tuyến
tính của từ ăn là cơm, bánh, bốc, đũa… Để
xác lập trường biểu niệm, người ta chọn một
cấu trúc biểu niệm làm gốc, trên cơ sở đó thu
thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm
3.1. Tính tầng bậc
Sự phân loại sự vật hiện tượng có thể
ở những mức độ sâu hoặc không sâu, rộng
hoặc hẹp. Do đó, trường từ vựng cũng có
trường rộng, trường hẹp. Trước khi thực hiện
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
87
bài viết này, chúng tôi đã thu thập từ các từ
điển và sách báo về ẩm thực, từ tác phẩm văn
học… được tổng số 1869 đơn vị từ thuộc
trường ẩm thực trong tiếng Việt và 2705 đơn
vị thuộc trường ẩm thực trong tiếng Hán. Cụ
thể là từ ngữ thuộc tiểu trường nguyên liệu
ẩm thực trong tiếng Việt có 492 đơn vị, tiếng
Hán có 505 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu trường
thức ăn trong tiếng Việt có 968 đơn vị, tiếng
Hán có 1493 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu
trường đồ uống trong tiếng Việt có 207 đơn
vị, tiếng Hán có 472 đơn vị. Từ ngữ thuộc
tiểu trường phương thức chế biến thức ăn
trong tiếng Việt có 57 đơn vị, tiếng Hán có
113 đơn vị. Từ ngữ thuộc tiểu trường mùi vị
ẩm thực trong tiếng Việt có 78 đơn vị, tiếng
Hán có 33 đơn vị.
lại có thể kết hợp với một số trường từ vựng
khác tập hợp thành trường từ vựng rộng hơn
nữa, cho đến khi trở thành trường rộng nhất
trong hệ thống ngôn ngữ, như trường sự vật,
trường thời gian, trường không gian... Như
vậy, trường từ vựng có tính tầng bậc, các
trường nhỏ là trường trực thuộc các trường
lớn hơn. Tính tầng bậc của trường từ vựng
thể hiện quan hệ tổ hợp theo trục dọc của ngữ
nghĩa.
Trước tiên, một vài từ dưới sự chi
phối của một khái niệm chung có thể tập hợp
lại thành một trường từ vựng. Trong đó, từ
biểu thị khái niệm chung là từ bậc trên, từ
biểu thị các khái niệm cụ thể được gọi là từ
bậc dưới. Trường từ vựng được hình thành
bởi các từ bậc dưới, cũng có thể được biểu
thị bởi đặc trưng ngữ nghĩa. Ví dụ, tính tầng
bậc của tiểu trường tên gọi thức ăn trong
tiếng Việt được thể hiện như sau:
Một số trường từ vựng tương đối nhỏ
có thể tập hợp thành trường từ vựng rộng
hơn, đồng thời trường từ vựng vốn khá rộng
Sơ đồ 1
Tính tầng bậc của tiểu trường tên gọi thức ăn
… ...
nhau giữa chúng. Chẳng hạn, về mùi vị, có
mặn thì có nhạt, nếu không có cảm giác mặn
thì chắc rằng sẽ không có nhạt. Vì thế, từ
nhạt ra đời để phân biệt với từ mặn. Hay các
món sống, tái, chín cũng cùng phụ thuộc lẫn
nhau, từ sống phân biệt với từ tái và chín.
Các trường biểu vật khác nhau về số lượng
từ ngữ và tổ chức. Giả sử trong một trường
có các “miền” (trường nhỏ, nhóm nhỏ hơn)
thì số lượng từ trong mỗi miền là khác nhau,
đồng thời ở mỗi một ngôn ngữ, cùng một
miền có mật độ cao thấp khác nhau.
Sơ đồ trường từ vựng trên đây được
thể hiện theo trục dọc gồm ba tầng, tầng hai
và ba lại có quan hệ trục ngang. Quan sát từ
trên xuống dưới, ta có thể dễ dàng hình dung
ra tính tầng bậc của trường từ vựng. Trường
từ vựng sẽ được phân tích liên tục theo tầng
thứ như vậy cho đến khi nào không thể phân
tích thành các nhóm nhỏ hơn.
3.2. Tính hệ thống
Các từ ngữ thuộc cùng một trường từ
vựng sẽ có mối liên hệ, tác động lẫn nhau về
mặt ngữ nghĩa. Bởi các từ của cùng một
trường ra đời là để phân biệt ngữ nghĩa lẫn
Tuy nhiên, do trường từ vựng có tính
hệ thống với đặc trưng khác nhau ở các ngôn
ngữ, phương ngữ và thời đại khác nhau, nên
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
việc tạo thành trường từ vựng cũng khác
88
Trong mô hình trên, các từ thuộc (a)
nhau. Cùng một từ trong hệ thống ngôn ngữ
khác nhau có thể có giá trị ngữ nghĩa khác
nhau. Ví dụ trong tiếng Hán, 锅 oa bao gồm
các loại nồi, niêu, xoong, chảo nói chung,
nhưng trong tiếng Việt nồi và chảo, niêu đẳng
lập với nhau, không phải là quan hệ bao hàm.
là các từ trung tâm của trường nghĩa A, các
từ thuộc (b) là các từ trung tâm của trường
nghĩa B, các từ thuộc (ab) là các từ ngoại vi
của trường nghĩa A và trường nghĩa B (Đỗ,
2013, tr. 196).
3.4. Đặc điểm hoạt động của các từ ngữ
theo quan hệ trường từ vựng
3.3. Tính tương đối
Việc hình thành trường từ vựng lấy
đơn vị là nghĩa của từ. Do đó, cùng một từ
có những nghĩa khác nhau sẽ thuộc các
trường từ vựng khác nhau. Các trường từ
vựng này được gọi là trường từ vựng giao
nhau. Ví dụ từ kỉ tử nếu sử dụng làm vị thuốc
bắc thì thuộc trường thuốc Đông y, nhưng
nếu sử dụng trong thức ăn thì lại thuộc
trường ẩm thực. Mặt khác, một trường từ
vựng tương đối rộng có thể phân chia thành
các trường từ vựng nhỏ hơn từ các góc độ
khác nhau. Vì thế, việc xác định một từ thuộc
trường từ vựng nào, những từ nào tạo thành
một trường từ vựng không phải là tuyệt đối,
mà chỉ mang tính tương đối.
Nghĩa của từ chỉ được hiện thực hóa
trong việc kết hợp từ. Với vai trò là thành
viên của các trường từ vựng, quan hệ về ngữ
nghĩa giữa các từ đóng vai trò vô cùng quan
trọng, có tác dụng chi phối khả năng kết hợp
giữa chúng với nhau để tạo câu phục vụ giao
tiếp ngôn ngữ. Một từ trong trường từ vựng
A có thể kết hợp với từ trung tâm của chính
trường đó, cũng có thể kết hợp với từ ngữ
ngoại vi của trường đó, hoặc từ của trường
này kết hợp với từ trung tâm của trường
khác. Chẳng hạn:
(1) Thức ăn nấu xong rồi.
Ngữ pháp Tesnière coi vị từ là trung
tâm của câu. Vì vậy, trong câu này, từ trung
tâm là nấu, đối tượng đề cập đến là thức ăn.
Nấu là từ trung tâm của trường, nên nghĩa
“cho vào nước đun lên” của từ nấu đã tiền
giả định tham thể thức ăn trong cấu trúc
nghĩa của câu, và tham thể này có thể không
cần xuất hiện. Tương tự, Jackendoff (1990)
gọi hiện tượng này là “nén tham tố”
(argument fusion – tham tố [ngữ pháp] thể
hiện tham thể [ngữ nghĩa] mặc định đã được
nén/tích hợp trong ngữ nghĩa của vị từ nên
có thể khiếm diện). Vì thế có lúc có thể nói
tắt là Thức ăn xong rồi mà ý nghĩa của từ nấu
vẫn được “ngầm hiểu” mặc dù từ nấu không
hiện diện.
Liên quan đến tính tương đối của
trường từ vựng là vấn đề phân bổ các từ
trong trường từ vựng. Trường từ vựng bao
gồm các từ ngữ trung tâm và các từ ngữ
ngoại vi. Các từ ngữ trung tâm là các từ ngữ
biểu thị sự vật, hoạt động, mang tính đặc
trưng cho trường từ vựng đó. Các từ ngữ
ngoại vi là các từ biểu thị sự vật, hiện tượng,
không chỉ thuộc về trường từ vựng đó mà
còn có thể thuộc về trường từ vựng khác. Đó
chính là sự giao thoa giữa ý nghĩa của các
trường từ vựng khác nhau. Đỗ Việt Hùng
dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu đã mô
hình hóa từ ngữ trung tâm và từ ngữ ngoại vi
trong trường nghĩa như sau:
(2) Cơm sống rồi.
Từ sống là từ thuộc trường từ vựng
“cơm”, nhưng không phải là từ trung tâm, vì
từ này có thể xuất hiện trong các trường từ
vựng khác. Chúng là các từ ngoại vi của
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
trường từ vựng “cơm”.
(3) Sĩ thì nấu sử sôi kinh/ Làm nên
khoa bảng công danh để truyền. (Ca dao
Việt Nam)
89
như ngọt, bùi lại được liên hệ với những điều
tốt đẹp, như Tố Hữu đã từng viết Ngọt bùi
nhớ lúc đắng cay/ Ra sông nhớ suối có ngày
nhớ đêm. Trong tiếng Hán cũng có những lối
nói như 爱情的苦味 ái tình đích khổ vị (vị
đắng tình yêu), 爱情的甜蜜 ái tình đích điềm
mật (vị ngọt tình yêu)... Vì vậy, khi tìm hiểu
về trường từ vựng ẩm thực, chúng ta không
thể xem nhẹ vai trò của nghĩa liên hội. Đây
là một điểm mấu chốt cho thấy đặc điểm tri
nhận của người Việt Nam và người Trung
Quốc về các vấn đề trong ẩm thực nói riêng
và trong cuộc sống nói chung.
Trong ví dụ này, động từ nấu là động
từ trung tâm của trường thức ăn, được sử
dụng kết hợp với sử. Tuy nhiên, cách nói này
không hề sai, bởi đây được coi là hiện tượng
sử dụng từ ngữ chuyển trường – một cách
phổ biến để tạo hiệu quả tu từ trong diễn đạt
ngôn ngữ, đặc biệt là văn chương. Đặc điểm
của các từ ngữ chuyển trường là vẫn giữ
được một phần nét nghĩa ở trường cũ, nhưng
đã được nâng giá trị diễn đạt hơn hẳn sự kết
hợp của các từ trong cùng một trường. Nấu
có khả năng thể hiện ý nghĩa phải trải qua
một quá trình khó khăn, lâu dài. Việc sử
dụng từ nấu khiến sử, kinh giống như những
thức ăn trải qua khâu chế biến, đun trong lửa,
chín trong nước sôi, liên tưởng đến hình ảnh
người học trò ngày đêm khổ luyện, vất vả
nhọc nhằn để thành danh. Đây là một cách
sử dụng từ ngữ hết sức uyển chuyển và sinh
động, được hình thành từ phép tư duy liên
tưởng mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.
Việc sử dụng các từ ngữ chuyển
trường thường dẫn đến sự chuyển trường của
các từ ngữ khác tạo nên hiện tượng cộng
hưởng ngữ nghĩa. Vì vậy, việc chuyển nghĩa
của các từ ngữ có giá trị biểu đạt rất lớn.
Chúng vừa có giá trị biểu đạt trong trường
mới, lại vừa mang theo những sắc thái của
chúng ở trường cũ, tạo nên tính hình tượng
sinh động trong ngôn ngữ, giúp nâng cao
hiệu quả giao tiếp.
4. Các tiểu trường ngữ nghĩa ẩm thực
trong tiếng Hán và tiếng Việt
Có thể thấy rằng, ngoài những ý
nghĩa vốn có tính chất khá ổn định trong hệ
thống trường từ vựng như nghĩa biểu vật,
nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái ra, trong
quá trình hành chức, từ còn có ý nghĩa chưa
ổn định mà có thể biến động, mang tính xã
hội, lịch sử, cá nhân cụ thể, tạo hiệu quả giao
tiếp cao, trong đó phải kể đến nghĩa liên hội.
Đây là loại nghĩa gắn với những liên tưởng
của cá nhân, nhóm người hoặc cộng đồng
người, thông qua cơ chế ẩn dụ hoặc hoán dụ.
Chẳng hạn, người Việt Nam và người Trung
Quốc đều có sự liên tưởng giữa những vị
đắng, cay, chua với những cảm giác tiêu cực,
những khó khăn, thất bại không ai muốn có
mà vẫn phải đối mặt. Ngược lại, những vị
Trên cơ sở các tiêu chí xác lập trường
từ vựng, trong khuôn khổ bài viết này, chúng
tôi tiến hành xác lập trường từ vựng ẩm thực
trong tiếng Hán và tiếng Việt theo mô hình
trường biểu vật. Dựa vào nguồn ngữ liệu thu
thập được, chúng tôi tìm ra những từ mà nét
nghĩa đầu tiên của chúng có sự đồng nhất
trong phạm vi biểu vật là tên gọi thức ăn, đồ
uống, nguyên liệu dùng để chế biến, mùi vị
thức ăn, đồ uống, hoạt động của con người
tác động đến thức ăn, đồ uống (bao gồm hoạt
động chế biến và hoạt động thưởng thức),
sau đó khái quát việc phân xuất trường từ
vựng ẩm thực thành các tiểu trường cụ thể
trong sơ đồ sau:
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
90
Sơ đồ 2
Các tiểu trường ẩm thực cơ bản
Sơ đồ trên cho thấy, tiểu trường ăn
và tiểu trường uống có sự giao thoa với nhau.
Chẳng hạn, các mùi vị đắng, cay, ngọt,
thơm… đều có thể thuộc vào nhóm “mùi vị
thức ăn” và “mùi vị đồ uống”, hoặc gạo vừa
là từ chỉ nguyên liệu chế biến thức ăn (cơm),
vừa là nguyên liệu để chế biến đồ uống
(rượu). Xuất phát từ sự giao thoa ấy, chúng
tôi chia trường từ vựng ẩm thực thành sáu
tiểu trường chủ yếu.
đó có cả nguyên liệu chính và các phụ liệu,
gia vị. Theo thống kê của chúng tôi, số lượng
từ ngữ thuộc tiểu trường nguyên liệu ẩm thực
trong tiếng Hán có 505 đơn vị, trong tiếng
Việt có 492 đơn vị. Từ điển tiếng Việt giải
thích nguyên liệu là “đối tượng lao động đã
được con người khai thác hoặc sản xuất,
thường được sử dụng tiếp để tạo nên sản
phẩm mới” (Hoàng, 2011, tr. 982), trong đó
có nguyên liệu chế biến thức ăn, đồ uống.
Nguồn nguyên liệu ẩm thực của Trung Quốc
và Việt Nam được thể hiện bằng mô hình
dưới đây:
4.1. Tiểu trường tên gọi nguyên liệu
Tiểu trường tên gọi nguyên liệu gồm
những từ như rau, thịt, cá, hành, tỏi…, trong
Sơ đồ 3
Nguồn nguyên liệu ẩm thực
Trong các loại nguyên liệu nói trên,
đương nhiên có sự khác biệt về chủng loại và
tần số sử dụng… tùy vào điều kiện trồng trọt,
chăn nuôi của hai nước.
những bộ phận được sử dụng, có bộ phận
không được sử dụng để chế biến thức ăn.
Như vậy, tiểu trường nguyên liệu ẩm thực có
sự giao thoa với trường từ vựng tên gọi động
vật, tên gọi thực vật, tên bộ phận cơ thể động
vật… Do đó, khi khảo sát đặc điểm các từ
ngữ có sự giao thoa như vậy, chúng tôi sẽ
không tập trung nghiên cứu sâu cấu trúc
Nguyên liệu sử dụng để chế biến
thức ăn của con người được lựa chọn tỉ mỉ,
thậm chí có những yêu cầu nhất định khi sơ
chế. Chẳng hạn, cùng là thực vật nhưng có
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
91
cũng như đặc trưng ngữ nghĩa của chúng.
4.2. Tiểu trường tên gọi thức ăn, đồ uống
không phải là món ăn. Với con người, những
thứ “có thể tiêu hóa được” phần lớn cần phải
trải qua quá trình chế biến hoặc sử dụng theo
những quy tắc nhất định áp dụng cho cả cộng
đồng, đó là các thức ăn (chủ yếu là thức ăn
chín).
Tiểu trường tên gọi thức ăn, đồ uống
gồm các từ cơm, bánh, xôi, phở, rượu, chè…
Tiểu trường này có thể chia thành hai
tiểu trường nhỏ hơn là tiểu trường tên gọi
thức ăn và tiểu trường tên gọi đồ uống. Theo
thống kê của chúng tôi, số lượng từ ngữ
thuộc tiểu trường thức ăn trong tiếng Hán có
1493 đơn vị, trong tiếng Việt có 968 đơn vị.
Con số này cho thấy khả năng sáng tạo thức
ăn của cả hai dân tộc, đặc biệt là Trung Quốc
là vô cùng to lớn. Tiếp đó là đồ uống, tiếng
Hán có 472 đơn vị trong khi tiếng Việt chỉ
có 207 đơn vị.
Khi khảo sát tên gọi thức ăn, chúng
tôi loại trừ trường hợp những loại nguyên
liệu được dùng để hoán dụ cho tên gọi thức
ăn. Bởi vì trong thực tế, tên nguyên liệu ít
được sử dụng độc lập để thay thế cho tên
thức ăn. Một trường hợp tên gọi thức ăn nữa
cũng nằm ngoài phạm vi bài viết này, đó là
tên các loại hoa quả sử dụng để ăn ngay sau
khi làm sạch. Bởi vì tên những loại thức ăn
này cũng chính là tên các loại cây trong tự
nhiên, như cam, quýt, bưởi… thuộc trường
từ vựng thực vật.
Về tiểu trường thức ăn, theo Từ điển
tiếng Việt, thức ăn có hai nghĩa, thứ nhất là
“thứ có chứa chất dinh dưỡng và có thể tiêu
hóa được, dùng để nuôi sống con người và
động vật nói chung”, hai là “các thứ dùng để
ăn với cơm, thường là cá, thịt... nói chung”
(Hoàng, 2011, tr. 1250). Trong bài viết này,
chúng tôi vận dụng cách hiểu thứ nhất và
thống nhất sử dụng thuật ngữ thức ăn chứ
Sơ đồ 4
Từ nguồn nguyên liệu nói trên, thông
qua các kĩ thuật chế biến khác nhau, người
ta có thể tạo ra các thức ăn khác nhau. Trong
đó, nếu xét theo nguồn nguyên liệu tạo thành
thức ăn thì có thể chia thành 2 loại như sơ đồ
sau:
Phân loại thức ăn theo nguồn nguyên liệu
Theo sơ đồ này, cách hiểu các thức
ăn từ lương thực là các món được làm từ
nguyên liệu có chứa tinh bột. Các thức ăn từ
thực phẩm là thứ không chứa tinh bột, dùng
để chế biến các thức ăn kèm theo món có
chứa tinh bột trong các bữa ăn.
Nếu lấy trung tâm là các bữa ăn (bữa
chính và bữa phụ) với các thời điểm ăn khác
nhau thì có thể chia thức ăn theo sơ đồ dưới
đây:
Sơ đồ 5
Phân loại thức ăn theo thời điểm sử dụng
Ngoài ra còn có thể phân loại thức ăn
theo cách thức chế biến thành các món rán,
món xào, món canh...
Một điều đáng lưu ý là đối với các
thức ăn chế biến từ lương thực, nếu dựa trên
chức năng, người ta thường nhắc đến sự đối
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
92
lập giữa cơm cháo và quà bánh. Trong đó,
cơm cháo chỉ những thức ăn chính, thường
dùng trong bữa ăn hàng ngày, còn quà bánh
chỉ những thức ăn thêm. Đây là một trong
những tiêu chí quan trọng để người Việt
đánh giá về thức ăn.
hàng ngày” (Hoàng, 2011, tr. 438). Có thể
thấy rằng, thức thường chỉ các sự vật đã hoàn
thành, không nhấn mạnh quá trình con người
tạo ra nó. Do đó, chúng tôi không sử dụng
khái niệm thức uống/ món uống, mà sử dụng
khái niệm đồ uống, vì đồ nhấn mạnh quá
trình con người tạo ra sự vật để sử dụng trong
trường hợp cụ thể. Từ cách lí giải này, kết
hợp với nghĩa của từ uống, chúng tôi cho
rằng đồ uống là chất lỏng do con người chế
biến, có vai trò duy trì sự sống cho cơ thể và
phục vụ nhu cầu thưởng thức của con người.
Các món cơm cháo có vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống, bởi chúng là
nguồn cung cấp dinh dưỡng đảm bảo duy trì
sự sống của con người. Vì vậy, tên gọi các
thức ăn này mang tính truyền thống và ít biến
động. Tên gọi các món quà bánh thường có
sự thay đổi, tạo mới hàng ngày, bởi vì ăn quà
bánh không phải để no bụng, mà là để “ăn
chơi”. Đó là lí do vì sao hiện nay, thị trường
quà bánh của Việt Nam cũng như Trung
Quốc đang ngày càng đa dạng về chủng loại
và số lượng, từ các món sản xuất trong nước
đến các món ngoại nhập, đáp ứng yêu cầu
ẩm thực ngày càng cao của người tiêu dùng.
Có thể nói rằng, đồ uống ra đời cùng
với sự phát triển của nhân loại nói chung và
của dân tộc Trung Hoa, Việt Nam nói riêng.
Chúng tôi đã khảo sát tên gọi các loại đồ
uống trong các bộ từ điển, sách báo, tạp chí
và bảng báo giá đồ uống tại một số nhà hàng,
siêu thị… Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành
phân loại tên gọi đồ uống theo nhóm, đồng
thời dựa vào 2 tiêu chí đặc điểm nguyên liệu
và cách thức chế biến, chia đồ uống thành 4
nhóm như sau :
Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc,
hiện nay chưa có tài liệu nào thống kê đầy đủ
số lượng các thức ăn. Tuy nhiên, ước chừng
Việt Nam có khoảng trên một vạn thức ăn
(Phan, 2006, tr. 34). Ở Trung Quốc, tính
riêng nguồn ngữ liệu từ sách dạy nấu ăn mà
chúng tôi thu thập đã có đến hàng vạn món,
trên thực tế con số này còn lớn hơn rất nhiều.
Trong đó, mỗi vùng miền, mỗi địa phương
lại có thể có thức ăn tiêu biểu của mình.
Chẳng hạn, Nam Định có bánh gai, Hải
Dương có bánh đậu xanh, Hà Nội có phở,
bún chả, Huế có bún bò giò heo, Quảng Nam
có mì Quảng, cao lầu, miền Tây Nam Bộ có
canh cá lóc, Bắc Kinh có vịt quay, Tứ Xuyên
có lẩu…
• Đồ uống nấu từ nước đun sôi, như: nước,
chè, vối…
• Đồ uống lên men hoặc chưng cất từ ngũ
cốc, như: rượu, bia…
• Đồ uống pha từ bột xay từ hạt của cây
nguyên liệu, như: cà phê, ca cao…
• Đồ uống chế từ hoa quả, như: sinh tố,
nước cam, nước chanh…
Điều đáng lưu ý là, một vài trường
hợp có sự giao thoa giữa thức ăn và đồ uống,
đó là: sữa chua, rượu nếp, sinh tố… Bởi
trong thực tế, chúng tồn tại vừa như một thức
ăn dạng lỏng, lại vừa như một loại đồ uống.
Chúng tôi coi đó là dạng đặc biệt của thức
ăn, đồ uống.
Về tiểu trường đồ uống, Từ điển
tiếng Việt (Hoàng, 2011) có nhắc tới khái
niệm thức ăn, nhưng lại không hề có khái
niệm thức uống, hay đồ uống. Để có được
định nghĩa và sự lựa chọn tên gọi khái niệm
cho phù hợp, trước hết chúng tôi tìm hiểu
nghĩa của hai từ thức và đồ. Thức là “thứ,
món, loại nói chung” (Hoàng, 2011, tr.
1250), đồ là “vật do con người tạo ra để dùng
vào một việc cụ thể nào đó trong đời sống
4.3. Tiểu trường hoạt động thưởng thức
thức ăn, đồ uống
Quá trình chế biến thức ăn đồ uống
cuối cùng cũng đều nhằm phục vụ cho khâu
thưởng thức. Trong tiếng Hán và tiếng Việt
có một lượng không nhỏ động từ chỉ hoạt
động thưởng thức thức ăn, đồ uống, phản ánh
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
93
sinh động các đặc trưng văn hóa dân tộc
trong ẩm thực. Hoạt động ăn uống quan hệ
mật thiết nhất với miệng, đặc biệt là răng,
lưỡi. Đối với con người, đôi tay và cách sử
dụng dụng cụ ẩm thực cũng liên quan đến
phương cách thưởng thức. Cùng với sự phát
triển của xã hội và trình độ văn minh của loài
người không ngừng nâng cao, con người đã
sáng tạo ra các dụng cụ phục vụ hoạt động
ăn uống. Từ các dụng cụ thô sơ đến các dụng
cụ tinh tế mang tính mỹ thuật ra đời kéo theo
rất nhiều phương thức ăn uống làm phong
phú cho hoạt động thưởng thức thức ăn đồ
uống. Người Trung Quốc và người Việt Nam
từ lâu đã biết dùng đũa để gắp, và, xiên..., để
đưa thức ăn vào miệng, tạo nên đặc trưng ăn
bằng đũa, khác biệt với ăn bằng thìa, dĩa, dao
của người phương Tây.
uống trong tiếng Hán và tiếng Việt không
những đa dạng về số lượng, mà hiện tượng
đồng nghĩa, gần nghĩa cũng khá phổ biến,
tạo nên sự phong phú về sắc thái nghĩa của
từ. Chẳng hạn, cùng với nghĩa là “uống”,
nhưng trong tiếng Hán có các từ như 喝 hát
dùng trong khẩu ngữ với mọi đối tượng là
chất lỏng, 饮 ẩm thường dùng trong bút ngữ,
服 phục thường dùng cho các loại thuốc chữa
bệnh, mang sắc thái bút ngữ, 抽 trừu chỉ hoạt
động uống bằng cách hút, còn 吸喝 hấp hát
dùng trong uống và hút nói chung. Trong
tiếng Việt cũng có các từ như uống, húp,
hớp,… thậm chí còn có cả ẩm tửu, phục dược
là những từ gốc Hán đôi khi cũng được sử
dụng với sắc thái bút ngữ trang trọng.
4.4. Tiểu trường mùi vị ẩm thực
Tiểu trường mùi vị ẩm thực gồm các
từ chua, ngọt, đắng, cay, mặn, thơm… Dân
gian Trung Quốc có câu “dân dĩ thực vi
thiên, thực dĩ vị vi tiên” (người ta lấy ăn làm
đầu, trong ăn uống, vị là quan trọng nhất).
Câu nói này đã chứng tỏ tầm quan trọng của
mùi vị trong ẩm thực. Ngày nay, người
Trung Quốc và người Việt Nam đều coi mùi
vị là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá thức ăn,
đồ uống ngon. Theo thống kê của chúng tôi,
số lượng từ ngữ thuộc tiểu trường mùi vị ẩm
thực trong tiếng Hán có 33 đơn vị, trong
tiếng Việt có tới 78 đơn vị.
Trong nghiên cứu Đặc điểm của
động từ ăn uống trong tiếng Hán và tiếng
Việt, tác giả đã chia hoạt động thưởng thức
thức ăn, đồ uống thành ba loại, gồm (1) hoạt
động ăn uống nói chung gồm các từ: 吃 ngật
(ăn), 尝 thường (nếm), 服 phục (uống), 喝 hát
(uống), 抽 trừu (hút), 吸喝 hấp hát (uống
hút), 喂 úy (bón), 食 thực (ăn), 餐 xan (ăn), 饮
ẩm (uống), 品 phẩm (thưởng thức), 品 尝
phẩm thường (thưởng thức), 咂 táp (tợp)...
(trong tiếng Hán) và lót dạ, nhâm nhi, nhấm
nháp, tráng miệng, ăn, chén, đớp, măm,
ngốn, tọng, xơi, hốc, bón, bú, đút, mớm, nốc,
nếm, nhắm, nhậu, uống, húp, tớp, tợp, hút...
(trong tiếng Việt); (2) Hoạt động của miệng,
bao gồm: 含 hàm (ngậm), 咽 yên (nuốt), 咬
giảo (cắn), 吞 thốn (nuốt), 嚼 tước (nhai), 啃
khẳng (gặm), 衔 hàm (ngậm), 噍 tiếu (nhai),
咀 thư (nhai), 嗑 hạp (cắn), 喂养 úy dưỡng
(bón)... (trong tiếng Hán) và: cắn, gặm, nhá,
nhai, ngậm, mút, liếm, nuốt... (trong tiếng
Việt); (3) hoạt động của tay, gồm: 夹 giáp
(gắp), 盛 thịnh (xới), 捞 lao (vớt), 抓 trảo
(bốc), 舀 yểu (múc)... (trongtiếng Hán) và bốc,
và, xới, đơm, xúc, gắp, bốc, nhón, chạm,
nâng... (trong tiếng Việt) (Ngô, 2018, tr. 183).
Mùi vị bao gồm mùi và vị. Vị là một
khái niệm thường xuyên được nhắc tới khi
bàn về văn hóa ẩm thực. Nếu xét từ góc độ
sinh học thì nó chính là một cơ năng sinh lí,
là cảm nhận sinh lí đối với thức ăn, đồ uống
của cơ quan vị giác như các vị chua, ngọt,
đắng, cay, mặn. Nó có vai trò tương đương
với các cảm giác khác của con người như thị
giác, thính giác, khứu giác, xúc giác. Nói
cách khác, “vị” chính là đặc tính về một loại
cảm nhận nào đó mà lưỡi có được đối với
thức ăn đồ uống. Lưỡi đóng vai trò quan
trọng để cảm nhận vị. Ngoài ra, các bộ phận
khác trong khoang miệng cũng góp phần
giúp cảm nhận vị của thức ăn đồ uống như
ngạc, cổ họng. Theo các nhà sinh vật học,
Từ cách phân loại trên, có thể thấy,
các từ chỉ hoạt động thưởng thức thức ăn, đồ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
94
lưỡi có thể cảm nhận được hàng trăm loại vị.
Với các thức ăn và đồ uống khác nhau,
chúng ta có những cảm nhận khác nhau, như:
cay, ngọt, đắng, bùi, chua, chát, mặn…, hoặc
những cảm giác tổng hợp hơn, như: chua
ngọt, chua cay, ngon, vừa… Có thể nói, khó
có thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt hết các vị
mà lưỡi cảm nhận được về thức ăn.
rất nhiều người nước ngoài thì khi ngửi mùi
mắm sẽ cảm thấy khó chịu. Đó chính là sự
khác biệt về khẩu vị giữa các vùng khác
nhau. Có khi mùi và vị không thực sự phân
biệt rạch ròi, chẳng hạn khi nói “thức ăn có
mùi vị thơm ngon” thì đó là sự cảm nhận kết
hợp cả vị giác và khứu giác. Cảm giác ngon
miệng thường là sự tổng hợp của cả mùi và
vị chứ không chỉ có vị ngon. Do vậy, khi
thưởng thức thức ăn, người ta phải sử dụng
cả khứu giác và vị giác, thậm chí là tất cả các
giác quan cùng tham gia, như vậy mới cảm
nhận được vị ngon đích thực.
Tuy vậy, vị trong ẩm thực Trung
Quốc và Việt Nam luôn gắn liền với thuyết
“ngũ vị điều hòa”. Các nhà âm dương ngũ
hành của triết học Trung Quốc đã nhắc tới
ngũ vị mặn, đắng, chua, cay, ngọt và cho
rằng chúng tương ứng với ngũ hành thủy,
mộc, kim, hỏa, thổ là năm yếu tố cơ bản của
vật chất. Người Trung Quốc xưa còn đúc kết
kinh nghiệm cho rằng ngũ vị điều hòa có quy
luật theo mùa, “mùa xuân chua nhiều, mùa
hạ đắng nhiều, mùa thu cay nhiều, mùa đông
mặn nhiều, còn trung hòa bốn vị trên, đó là
vị ngọt” (Liu, 2004, tr. 63).
Như vậy, nếu xét theo nghĩa rộng,
mùi và vị liên quan đến nhiều phương diện
khác nhau như cơ quan cảm nhận mùi vị
(lưỡi, mũi…), hoạt động cảm nhận mùi vị
(ngửi, nếm…), tên gọi các mùi vị (chua,
ngọt, đắng, cay...)… Dựa trên định nghĩa về
mùi vị là “mùi và vị cảm nhận được (nói khái
quát)” (Hoàng, 2011), chúng tôi cho rằng từ
chỉ mùi vị là những từ chỉ tên gọi mùi và vị
cảm nhận được trong ẩm thực. Trong đó, các
từ chỉ vị bao gồm 酸 toan (chua), 甜 điềm
(ngọt), 苦 khổ (đắng), 辣 lạt (cay), 咸 hàm
(mặn)… trong tiếng Hán và chua, ngọt,
đắng, cay, mặn, chát… trong tiếng Việt và
các từ chỉ mùi như thơm, thối, 香, 臭... Các
từ chỉ mùi và vị này có tên gọi khác nhau tạo
thành các tiểu lớp từ chỉ vị ngọt, chua, đắng,
cay, mặn, chát.
Song song với vị, mùi trong ẩm thực
cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy
nhiên, mùi thường mang tính tâm lí chủ quan
hơn vị. Nếu vị được cảm nhận bằng lưỡi là
chủ yếu thì mùi lại được cảm nhận bằng mũi.
Hiện nay, chúng ta thường nhắc tới hai thái
cực đối lập về các mùi trong ẩm thực là các
mùi mang lại cảm giác dễ chịu, đại diện là
mùi thơm, và các mùi mang lại cảm giác khó
chịu như tanh, hôi, thối. Trong thực tế, các
thức ăn có mùi tanh, hôi, thối thường không
được ưa chuộng, trừ một vài món “thối” của
Trung Quốc được chế biến đặc biệt, còn
phần lớn các quốc gia trên thế giới ít sử dụng
thức ăn có những mùi này. Nếu nguyên liệu
có các mùi khó chịu, người ta phải tìm cách
chế biến phù hợp để khử mùi. Chỉ có mùi
thơm là mùi được các đầu bếp chú ý giữ và
phát huy để tăng sức hấp dẫn cho thức ăn.
4.5. Tiểu trường phương thức chế biến
Tiểu trường phương thức chế biến
gồm các từ như xào, luộc, rán… Theo thống
kê của chúng tôi, số lượng từ ngữ thuộc tiểu
trường phương thức chế biến thức ăn trong
tiếng Hán có 113 đơn vị, trong tiếng Việt có
57 đơn vị.
Kĩ thuật chế biến là cách thức tạo ra
thức ăn từ các nguồn nguyên liệu. Mỗi dân
tộc, mỗi quốc gia trên thế giới lại có thể có
những cách thức chế biến thức ăn, đồ uống
khác nhau.
Mùi và vị đôi khi mang tính chủ quan
và có thể khác biệt trong cách cảm nhận của
các dân tộc. Tiêu biểu như mùi của “nước
mắm” được coi là “quốc bản” của Việt Nam
(theo cách nói của Trần Ngọc Thêm) được
coi là gia vị tạo mùi thơm cho thức ăn, nhưng
Hoạt động chế biến thức ăn là hoạt
động của con người tác động lên thức ăn làm
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
95
cho chúng biến đổi từ trạng thái tươi, sống,
chưa ăn được, sang trạng thái chín, ăn được.
Dựa vào kết quả biến đổi tính chất thức ăn
trong chuỗi hoạt động chế biến, chúng tôi
chia các đơn vị ngôn ngữ thành hai nhóm,
biểu thị hai công đoạn của quá trình chế biến,
cụ thể là:
4.6. Tiểu trường vật dụng ẩm thực
Vật dụng ẩm thực là những vật liên
quan đến ăn và uống, được sử dụng trong
quá trình chế biến hoặc thưởng thức thức ăn,
đồ uống. Căn cứ vào chức năng cụ thể trong
ẩm thực, chúng tôi chia vật dụng ẩm thực
thành hai nhóm sau:
Hoạt động sơ chế là hoạt động chuẩn
bị trước khi làm chín thức ăn, chủ yếu là làm
sạch và tạo hình cho nguyên liệu theo những
yêu cầu nhất định. Ví dụ: nhặt, rửa, thái,
băm, chặt, ướp… (trong tiếng Việt) và 拣
giản (nhặt/ chọn), 洗 tẩy (rửa), 切 thiết, 剁
đóa (băm), 腌 yêm (ướp)... (trong tiếng Hán).
Những từ ngữ thuộc nhóm này cũng có sự
giao thoa với các trường biểu vật khác với
đối tượng không phải là thức ăn.
- Nhóm vật dụng dùng để chế biến,
như nồi, niêu, xoong, chảo, bếp…
- Nhóm vật dụng dùng để thưởng
thức, như bát, đũa, thìa, cốc, chén…
Có thể thấy rằng, nhiều vật dụng ẩm
thực có thể thực hiện cả chức năng nấu
nướng và chức năng khi thưởng thức. Đặc
biệt là đôi đũa trong văn hóa ẩm thực Việt
Nam và Trung Quốc vừa có thể dùng để chế
biến thức ăn, lại vừa có thể dùng để gắp thức
ăn, thể hiện những nét đặc sắc trong cách
thức ăn uống của hai dân tộc.
Hoạt động làm chín là hoạt động làm
cho tính chất của thức ăn thay đổi và có thể
ăn được. Đây là giai đoạn chính của quá trình
chế biến. Nếu xét theo dung lượng ngữ nghĩa
rộng hay hẹp, thì nhóm từ chỉ hoạt động làm
chín thức ăn có thể chia thành hai tiểu loại là
những đơn vị ngôn ngữ mang ý nghĩa khái
quát công việc nấu nướng, như 烹饪 phanh
nhẫm (nấu nướng), 烧煮 thiêu chử (đun nấu),
đun nấu, nấu nướng,...; những đơn vị ngôn
ngữ chỉ hoạt động chế biến cụ thể, như 炸 tạc
(rán), 烧 thiêu (xốt), 炒 sao (xào), rán, xào,
luộc… Nếu xét theo tiêu chí có hay không có
sự tác động của nhiệt lượng (lửa) thì có thể
chia nhóm từ này thành ba tiểu loại là: hoạt
động chế biến qua lửa (rán, xào…), hoạt
động chế biến không qua lửa (muối, ướp,
tẩm ướp…), hoạt động chế biến kết hợp qua
lửa và không qua lửa (làm nộm, làm tái…).
Trong các nhóm từ ngữ nêu trên, các từ chỉ
hoạt động chế biến qua lửa có thể nói là ngôn
ngữ nào cũng có và chiếm số lượng cao hơn
tất cả các nhóm từ còn lại. Căn cứ vào tính
chất đối tượng làm chín trung gian khi chế
biến, có thể chia nhóm từ chỉ hoạt động chế
biến qua lửa thành các nhóm nhỏ hơn như
làm chín trong nước, trong dầu, mỡ, trong
hơi nước, hoặc bằng than, lửa…
Từ nguồn ngữ liệu là từ điển, ca dao
tục ngữ, thành ngữ, các sách báo, tạp chí, các
bảng báo giá, chúng tôi đã thống kê được 60
đơn vị từ ngữ thuộc tiểu trường dụng cụ ẩm
thực trong tiếng Việt và 88 đơn vị trong tiếng
Hán. Tên gọi dụng cụ ẩm thực trong tiếng
Hán có mô hình cấu trúc là: yếu tố khu biệt
+ yếu tố chỉ loại. Chẳng hạn, yếu tố chỉ loại
trong tên gọi các loại đũa là 筷 khoái, 筷子
khoái tử, yếu tố chỉ loại trong tên gọi các loại
bát là 碗 uyển. Tên gọi các loại vật dụng ẩm
thực vì thế lại có thể chia thành các tiểu loại
nhỏ hơn dựa theo yếu tố khu biệt. Ví dụ,
trong tiếng Hán, các loại bát gồm 木碗 mộc
uyển (bát gỗ) là tên gọi theo chất liệu, 方形碗
phương hình uyển (bát vuông) là tên gọi theo
hình dáng, 拉面碗 lạp diện uyển (bát/ tô đựng
mì) là tên gọi theo vật chứa, 万用碗 vạn dụng
uyển (bát đa năng) là tên gọi theo chức năng,
乌木/脸谱筷子 ô mộc liễn phổ khoái tử (đũa
mặt nạ gỗ đen) là tên gọi theo chất liệu kết
hợp với hình dáng, 不锈钢/食碗 bất tú cương
thực uyển (bát ăn inox) là tên gọi theo chất
liệu kết hợp với chức năng, 龙凤情侣筷 long
phượng tình lữ khoái (đũa tình nhân long
phượng) là tên gọi theo phương thức tu từ...
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
96
Đỗ, H. C. (1997). Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tên gọi các loại vật dụng ẩm thực tiếng Việt
cũng có đặc điểm tương tự, chẳng hạn như
bát đũa có các loại như bát sứ, đũa tre, bát
ăn cơm, bát múc canh, đũa vuông, đũa cả,
bát sứ Hải Dương...
Đỗ, V. H. (2013). Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ
thống đến hoạt động. Nxb Đại học Sư phạm.
Hoàng, P. (2011). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng,
Trung tâm từ điển học.
Jackendoff, R. (1990). Semantic Structures. MIT Press.
5. Kết luận
Ji, J. (2006). Cong yuanxing yixiang kan Hanying
“chi” de renzhi yuyi wenhua chayi.
Yangzhou zhiye daxue xuebao, 10(2), 87-89.
Trường từ vựng ẩm thực là một trong
những trường từ vựng quan trọng trong tiếng
Hán và tiếng Việt. Trong tương quan giữa
hai ngôn ngữ, ngoài tiểu trường mùi vị ra, số
lượng đơn vị từ vựng thuộc trường ẩm thực
và các tiểu trường tương ứng với nó trong
tiếng Hán đều cao hơn nhiều so với tiếng
Việt. Nổi bật nhất là số lượng từ vựng thuộc
tiểu trường thức ăn trong tiếng Hán lên đến
1493 đơn vị, tiếng Việt cũng đạt tới 968 đơn
vị, quả là một con số bắt mắt và vượt trội.
Điều đó thể hiện khả năng phát hiện, tận
dụng thế giới vật chất xung quanh phục vụ
đời sống của nhân dân hai nước, đặc biệt là
khả năng sáng tạo to lớn để tạo ra thế giới
thức ăn đồ uống, dụng cụ chế biến và dụng
cụ ăn uống hết sức đa dạng phong phú. Đó
là lý do mà dân gian có câu cơm Tàu (vợ
Nhật nhà Tây) hay dân dĩ thực vi thiên
(người ta coi ăn là quan trọng nhất). Trường
từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng
Việt là một bằng chứng sinh động giúp ta tìm
hiểu về văn hóa ẩm thực – một bộ phận hợp
thành quan trọng trong văn hóa truyền thống
của hai nước Việt Trung.
Lê, Q. T. (2004). Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ.
Nxb Giáo dục.
Lê, Q. T. (2015). Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng
Việt từ 1945 đến 2005. Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Lin, S. (1994). Yinghan shici “eat” he “chi” de duibi
yanjiu. Hubei minzu xueyuan xuebao, (1),
83-86.
Liu, J. R. (2004). Zhongguo yinshi. Wuzhou chuanbo
Chubanshe.
Mai, N. C., Nguyễn, T. N. H., Đỗ, V. H., & Bùi, M.
T. (2007). Nhập môn ngôn ngữ học. Nxb
Giáo dục.
Ngô, M. N. (2018). Đặc điểm của động từ ăn uống
trong tiếng Hán và tiếng Việt. Tạp chí
Nghiên cứu Nước ngoài, 34(1), 178-189.
Nguyễn, Đ. T. (2010). Đặc trưng văn hóa dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy. Nxb Từ điển Bách khoa.
Nguyễn, T. G. (2014). Nghĩa học Việt ngữ. Nxb Giáo
dục Việt Nam.
Nguyễn, V. C. (1992). Ngôn ngữ học đối chiếu và đối
chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á. Trường
Đại học Sư phạm Ngoại ngữ.
Phan, V. H. (2006). Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm
thực Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội.
Wang, Zh. M, & Hou, X. F. (2005). Xinbian
jiachangcai 800 zhong. Shandong kexue
jishu Chubanshe.
Tài liệu tham khảo
Đỗ, H. C. (1987). Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Nxb
Đại học và Trung học CN.
Yang, Q. (2007). Hanying “chi” lei dongci de duibi
yanjiu. Hutan shifan xueyuan xuebao
(shehui kexue ban), 29(6), 13-136.
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
97
LEXICALSETS OFCULINARYVOCABULARY
IN CHINESEAND VIETNAMESE
Ngo Minh Nguyet
Faculty of Chinese Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam
Abstract: It is worthwhile examining lexical sets in lexicology studies. A lexical set is a group
of words which are semantically associated and describe distinctive features of an object or an event.
Lexical set is hierarchical in that a broad lexical set can be divided into narrower sets, and a group of
small lexical sets that are semantically related can form a bigger set. Lexical sets can reflect logical
thinking and cognitive ability of each people. It is, therefore, significant not only in the linguistic field
but also in the cultural sphere. Basing on the theories of lexical sets, the article attempts to clarify the
features of lexical sets of culinary vocabulary in Chinese and Vietnamese and to contribute a reference
to teaching and researching Chinese in Vietnam.
Keywords: lexical set, culinary/cuisine, Chinese, Vietnamese
Bạn đang xem tài liệu "Đôi nét về đặc điểm trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doi_net_ve_dac_diem_truong_tu_vung_am_thuc_trong_tieng_han_v.pdf

