Hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong bối cảnh mới

319  
HỖ TRỢ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG  
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG BỐI CẢNH MỚI  
ThS. Nguyễn Phạm Anh , TS. Ngô Tuấn Anh  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
TÓM TẮT  
Thương mại điện tử là một phương thức hiện đại, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh  
cho các doanh nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ  
thời gian qua. Do đó đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp  
Việt Nam là tất yếu và cần có những bước chuẩn bị phù hợp. Bài viết này phân tích, đánh  
giá những lợi ích do thương mại điện tử mang lại cho doanh nghiệp, cũng như đánh giá  
thực trạng ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua, từ  
đó đưa ra các khuyến nghị nhằm đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh  
nghiệp thời gian tới.  
Từ khóa: Thương mại điện tử, TMĐT, E-Commerce  
1. GIỚI THIỆU  
Cùng với sự hội nhập kinh tế sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, và  
phát triển thương mại điện tử là tất yếu giúp Việt Nam tận dụng được các cơ hội do công  
nghệ thông tin và truyển thông mang lại, cũng như cần có giải pháp giảm thiểu những tác  
động tiêu cực của hình thức thương mại điện tử phải đối mặt. Nhận thức được tầm quan  
trọng của thương mại điện tử, Đảng, chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước đã ban  
hành hàng loạt chương trình, kế hoạch và những văn bản qui phạm pháp luật điều chỉnh  
hoạt động của thương mại điện tử, và trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện  
tử giai đoạn 2016 – 2020 của chính phủ đã đề ra mục tiêu phát triển nhanh thương mại điện  
tử xuyên biên giới, phục vụ thiết thực hoạt động xuất nhập khẩu; giao dịch thương mại điện  
tử loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu  
vào năm 2020.  
Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tận dụng được những lợi ích do thương mại  
điện tử mang lại trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, dịch bệnh Covid 19 đang  
hoành hành trên thế giới chưa đến hồi kết càng cho thấy tầm quan trọng của phương thức  
này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để ứng dụng được thương  
mại điện tử thành công thì chính phủ và các doanh nghiệp cần hiểu rõ những điều kiện cần  
đáp ứng cũng như những thách thức sẽ gặp phải để có những điều chỉnh phù hợp.  
320  
2. NHỮNG YÊU CẦU ĐỂ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG  
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và truyền thông  
Điều kiện đầu tiên để ứng dụng thương mại điện tử là phải có một nền công nghệ  
thông tin và truyền thông đủ mạnh, đủ năng lực để tính toán, xử lý và truyền thông tin, dữ  
liệu. Các yếu tố trên phải có chi phí hợp lý đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng.  
Với mục tiêu khuyến khích sự tăng trưởng của Internet và công nghệ thông tin của đất  
nước, Chính phủ Việt Nam hiểu rằng đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ thông tin -  
viễn thông và thương mại điện tử sẽ nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam ở  
Châu Á và đang từng bước thực hiện chiến lược này.  
Hạ tầng cơ sở nhân lực  
Nguồn nhân lực cho thương mại điện tử được hiểu là tất cả các chủ thể tham gia vào  
hoạt động thương mại điện tử. Để phát triển ứng dụng thương mại điện tử đòi hỏi nhân lực  
không chỉ cần có đủ số lượng và chất lượng về cán bộ chuyên môn, mà quan trọng hơn  
phải có được đa số người tiêu dùng biết các kiến thức làm việc trên mạng, sử dụng thành  
thạo các kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông, biết ngoại ngữ, hiểu biết pháp luật  
về thương mại điện tử …Xét đến cùng thương mại điện tử có phát triển được hay không  
tất cả đều bắt nguồn từ con người, chủ thể của thương mại điện tử. Đòi hỏi này của thương  
mại điện tử sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo của một quốc gia.  
Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trên thế giới trong một vài năm trở lại đây, thực tế ngày  
càng thiếu các nhà quản trị hệ thống được đào tạo bài bản, phần lớn các công ty không có  
khả năng quản lý một cách hiệu quả hệ thống sử dụng những công nghệ tính toán hiện đại,  
ở đây vấn đề nhân lực lại đặt lên hàng đầu.  
Một điều nổi trội nữa trong tổng quan về thương mại điện tử thế giới là “nước lớn”  
không phải lúc nào cũng có thương mại điện tử phát triển hơn. Theo bảng tổng sắp của tổ  
chức kinh tế EIU (Economist Intelligence Unit- Tổ chức chuyên đánh giá mức độ phát triển  
của các quốc gia, xuất bản Tạp chí nhà kinh tế ở Anh) về mức độ sẵn sàng sử dụng thương  
mại điện tử của mỗi quốc gia. Chẳng hạn Nhật, Đức, Pháp đứng sau nhiều “nước nhỏ” như  
Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sỹ. Ngay cả những nước có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin  
và truyền thông cao, thậm chí là thị trường viễn thông có sức cạnh tranh lớn nhất trên thế  
giới như Singapore, Hồng Kông (thuộc danh sách những nước có trang bị công nghệ thông  
tin tốt nhất) vẫn chưa thuộc nhóm những nước đứng đầu thế giới về mức độ sẵn sàng sử  
dụng thương mại điện tử. Nói khác đi, chính sách môi trường công nghệ thông tin phát  
triển cao là yếu tố quan trọng nhưng yếu tố quyết định sống còn cho sự phát triển hiệu quả  
321  
của thương mại điện tử lại là yếu tố về con người, vấn đề nhân lực, vấn đề hạ tầng cơ sở  
nhân lực.  
Hạ tầng kinh tế - chính trị - xã hội  
Để ứng dụng và phát triển thương mại điện tử cần phải có luật và các văn bản dưới  
luật thừa nhận thương mại điện tử và điều chỉnh các hoạt động liên quan đến thương mại  
điện tử như: Thanh toán điện tử, giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo mật thông tin, bảo  
vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ và thông tin cá nhân …các yêu cầu của các văn  
bản này là phù hợp với các đặc điểm, tính chất và cơ chế hoạt động riêng của thương mại  
điện tử. Đối với Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận được rằng Việt nam vẫn bị xếp  
vào danh sách các nước có nền kinh tế lạc hậu, năng suất lao động thấp, chi phí dịch vụ  
cao, hoạt động thương mại của chúng ta phát triển chậm, mức độ giao dịch cả trong và  
ngoài nước thấp. Danh sách bạn hàng của ta vẫn chỉ gồm các khách hàng truyền thống như  
Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan.... Mạng lưới bán hàng của ta nói chung rất hẹp,  
đa số các công ty thiếu thông tin về thị trường nên bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh một cách  
đáng tiếc, ngoài ra Việt Nam cũng chưa xây dựng được một hành lang pháp lý để phát triển  
thương mại điện tử, chữ ký điện tử, bảo vệ an toàn thông tin trên mạng…cho nên con  
đường xây dựng và phát triển thương mại điện tử của Việt Nam còn một bước dài và rất  
nhiều việc phải làm.  
Hệ thống thanh toán tự động  
Thanh toán trực tuyến là một trong những vấn đề cốt yếu của thương mại điện tử.  
Thiếu hạ tầng thanh toán chưa thể có thương mại điện tử theo đúng nghĩa của nó. Nếu chưa  
có hệ thống thanh toán tự động thì chưa thể có hệ thống thương mại điện tử hoàn hảo mà  
thương mại điện tử lúc đó mới chỉ giới hạn trong khâu quảng cáo, giới thiệu thông tin, việc  
kết thúc phi vụ buôn bán vẫn phải thanh toán bằng hình thức thủ công truyền thống, làm  
giảm hiệu quả của việc ứng dụng thương mại điện tử. Hiện nay, phổ biến nhiều phương  
thức thanh toán như tiền mặt, thẻ thông minh, thẻ tín dụng…  
Chế độ bảo mật và an ninh trong thương mại điện tử  
Trong thương mại điện tử thông tin của mọi hình thức quan hệ diễn ra trên mạng,  
ngoài tầm kiểm soát “trực tiếp” của các chủ thể tham gia thương mại điện tử. Thông tin  
trong thương mại điện tử là tài sản riêng của các đối tượng tham gia. Do vậy nếu một khi  
chưa có chế độ bảo mật và công nghệ đảm bảo an ninh cho các thông tin thì khó có thể làm  
cho các đối tượng tham gia thương mại điện tử yên tâm, cũng có nghĩa là không thể phát  
triển nhanh các ứng dụng thương mại điện tử. Do đó tính an toàn là vấn đề trọng tâm phải  
được xem xét và giải quyết.  
322  
Đối với khách hàng thì dù vật phẩm trên mạng có hấp dẫn đến đâu, nếu họ không  
tin tưởng vào tính an toàn của giao dịch thì họ sẽ không dám tới các kênh giao dịch trên  
mạng. Giao dịch giữa các doanh nghiệp thì lại càng như vậy. Hành vi gian lận, nghe trộm,  
virus và các xâm phạm trái phép của các Hacker vào hệ thống thông tin đều là những kẻ  
địch nguy hiểm của thương mại điện tử. Vì vậy, thương mại điện tử trên mạng cần phải  
đưa ra những phương án giải quyết an toàn như cơ chế mã hoá, cơ chế ký tên, quản lý an  
toàn kiểu phân bố, kiểm soát truy nhập, bức tường lửa an toàn cho máy chủ (server), phòng  
chống virus …  
Bảo vệ các sở hữu trí tuệ và người tiêu dùng  
Việc bảo vệ sở hữu trí tuệ được số hoá đưa đến các vấn đề khác hẳn so với việc bảo  
vệ các tài sản sở hữu trí tuệ truyền thống. Các sở hữu trí tuệ truyền thống như một công  
trình được viết ra, nghệ thuật và âm nhạc được bảo vệ bởi luật pháp của từng quốc gia và  
trong nhiều trường hợp là luật quốc tế.  
Nhiều khi các bộ luật hoạt động như là rào cản nhưng nó lại không ngăn ngừa được  
các vi phạm diễn ra và nó không cung cấp các công cụ để theo dõi một cách tin cậy các  
cách mà các đối tượng vi phạm dùng để lấy các sở hữu trí tuệ. Hiện tại sở hữu trí tuệ cũng  
đang rất được quan tâm. Quốc hội Mỹ đã thử nghiệm một số giải pháp mang tính luật pháp  
để đối phó với vấn đề bản quyền số hoá. Tổ chức quốc tế về sở hữu trí tuệ WIPO (World  
Intellectual Property Organization) đang thử nghiệm việc khuyến khích và dự báo hướng  
đi của vấn đề bản quyền còn rất ít và rất mới thì Mỹ cũng đã đưa ra các hướng dẫn về vấn  
đề này trong luật bản quyền. Hiệp hội công nghệ thông tin của Mỹ ITAA (Information  
Technology Association of America) một tổ chức thương mại về công nghệ thông tin của  
Mỹ đã đưa ra văn bản về bảo vệ các thông tin số hoá có bản quyền.  
Hệ thống chính sách - pháp luật  
Để ứng dụng và phát triển thương mại điện tử cần phải có luật và các văn bản dưới  
luật thừa nhận thương mại điện tử và điều chỉnh các hoạt động liên quan đến thương mại  
điện tử như thanh toán điện tử, giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo mật thông tin, bảo vệ  
người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ thông tin cá nhân….Yêu cầu của các văn bản  
này là phải phù hợp với các đặc điểm, tính chất và có cơ chế hoạt động riêng của thương  
mại điện tử.  
Phạm vi các vấn đề liên quan đến luật pháp và các quy chế khác nhau từ nước này  
sang nước khác và vì Internet là một phương tiện quốc tế, các công ty hoạt động trong lĩnh  
vực thương mại điện tử đều có thể là đối tượng điều chỉnh của điều luật hoặc các chế độ  
323  
tài phán khác nhau. Trong những tranh chấp giữa các bên không thuộc cùng một nước, vấn  
đề quan trọng là ở nơi nào các công ty có thể bị kiện và luật nào sẽ được áp dụng.  
Tại Mỹ, luật về “Chữ ký điện tử” được Tổng thống Bill Clintơn ký có hiệu lực từ  
1/10/2001 quy định bất kỳ dạng chữ ký điện tử nào cũng được coi có giá trị pháp lý ngang  
với chữ ký thông thường. Luật chữ ký điện tử của Mỹ đã gỡ bỏ khá nhiều sự thiếu khách  
quan ở các bang khác nhau về vấn đề này. Một số bang của Mỹ như California, Illinois,  
Utah cũng có luật riêng về chữ ký điện tử.  
Thêm vào đó, một số nước khác cũng có quy định về chữ ký điện tử như Đức, Anh,  
Ireland. Ngoài ra còn phải kể đến thông tư chữ ký điện tử của Liên minh Châu Âu (EU),  
theo thông tư này về mặt pháp lý, không phân biệt pháp lý chữ ký điện tử so với chữ ký  
thường chỉ vì chữ ký điện tử có dạng thức điện tử, nếu một số yêu cầu được đáp ứng, chữ  
ký điện tử cũng có giá trị pháp lý như chữ ký tay và có thể được sử dụng làm bằng chứng  
xét xử kiện tụng…nhằm giảm thiểu các rủi ro về luật pháp trong thương mại điện tử.  
3. NHỮNG ÍCH LỢI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP  
VIỆT NAM  
❖ Giảm chi phí và giảm giá thành sản phẩm  
Trong các giao dịch thông thường đòi hỏi phải có sự tương tác trực tiếp giữa các  
bên thì chi phí giao dịch lớn như chi phí đi lại, chi phí cơ hội cho những công việc khác  
mà lẽ ra ta làm được trong thời gian đi đến và ở nơi đàm phán… Trong khi đó chi phí giao  
dịch của thương mại điện tử lại không đáng kể vì các bên có liên hệ với nhau qua mạng.  
❖ Tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp  
Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông, thương mại điện tử đã làm  
tăng thêm tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Thương mại điện tử cho phép các công ty  
dễ dàng cung cấp cho khách hàng sự hiện diện toàn cầu. Internet có xu thế tạo lợi nhuận  
cho cả công ty lớn và nhỏ. Vì sân chơi bình đẳng hơn nên thông qua các Website của mình,  
các công ty nhỏ cũng có thể đạt được một doanh thu như một công ty lớn mà điều này  
dường như không tưởng trong môi trường thương mại truyền thống. Nếu nhìn ở một khía  
cạnh khác thì khi ứng dụng thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể đáp ứng rất nhanh các  
yêu cầu của khách hàng, có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn và thông tin về sản phẩm về  
cách hướng dẫn sử dụng cho khách hàng. Ví dụ như người tiêu dùng muốn mua một chiếc  
tủ lạnh, khi đó chỉ cần ngồi ở nhà truy cập Internet, khách hàng có thể có được thông tin  
về nhiều loại tủ lạnh khác nhau, giá cả khác nhau…mà không cần phải đi tới cửa hàng.  
324  
❖ Rút ngắn dây chuyền cung cấp và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng  
Thông qua mạng, nhà cung cấp có thể cung cấp hàng hoá đến thẳng người tiêu dùng  
cuối mà không phải thông qua các khâu trung gian như bán buôn, bán lẻ, không tốn nhiều  
thời gian và rút ngắn tối đa dây chuyền cung cấp sản phẩm.  
❖ Thương mại điện tử giúp cho các doanh nghiệp nắm được nguồn thông tin phong phú  
Thương mại điện tử giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú, nhờ  
đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển  
của thị trường trong nước, khu vực và thị trường quốc tế, giúp cho các doanh nghiệp mở  
rộng thị trường trong và ngoài nước. Chỉ cần một lượng vốn tối thiểu, công ty có thể dễ  
dàng và nhanh chóng tăng thêm được lượng khách hàng và các nhà cung cấp có chất lượng  
cao, có thể lựa chọn được các đối tác thích hợp trên phạm vi toàn cầu.  
❖ Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác  
Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa  
các đối tác tham gia vào quá trình thương mại. Thông qua mạng các doanh nghiệp có thể  
giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau. Nhờ đó mà sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến  
hành nhanh chóng và liên tục. Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát  
hiện nhanh chóng trên phạm vi quốc gia, quốc tế và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.  
❖ Tạo điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới  
Trước xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại điện tử giúp cho  
các doanh nghiệp nâng cao khả năng chuyên môn hoá trong kinh doanh, giúp cho các doanh  
nghiệp sớm hội nhập vào nền kinh tế thế giới và là yêu cầu đòi hỏi của thời đại.  
Tóm lại, thương mại điện tử không chỉ là một cải tiến trong phương thức giao dịch  
thương mại mà còn là một cuộc đổi mới về cơ cấu và phương thức vận động của nền kinh  
tế. Đây là một phương thức chưa từng có, nó đưa các hoạt động thương mại lên mạng, mở  
rộng cơ hội mua bán, hạ thấp giá thành và nâng cao hiệu quả giao dịch, nâng cao khả năng  
cạnh tranh của các nước trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.  
4. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA DOANH NGHIỆP  
VIỆT NAM THỜI GIAN QUA  
4.1 Về hạ tầng công nghệ triển khai ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp  
Đa số doanh nghiệp đều trang bị máy tính PC, laptop và các thiết bị di động để hỗ  
trợ hoạt động kinh doanh, thể hiện nhu cầu doanh nghiệp trong xu thế ứng dụng công nghệ  
thông tin. Theo khảo sát của Bộ Công Thương (2019) cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp có trên  
50% lao động thường xuyên sử dụng email trong công việc. Song song với việc sử dụng  
325  
email, xu hướng các doanh nghiệp ứng dụng những công nghệ mới tiên tiến hơn vào hoạt  
động trong công ty cũng tăng lên như nền tảng hỗ trợ giao tiếp như Viber, WhatsApp,  
Skype, Facebook Messenger, Zalo…Các doanh nghiệp đa phần đều có trang web tuy nhiên  
chủ yếu dừng ở mức giới thiệu doanh nghiệp. Hơn nữa, thời gian qua cũng đánh dấu sự  
tăng trưởng tốt của mô hình kinh doanh trên các mạng xã hội, có thể thấy đây là hình thức  
hiệu quả với chi phí thấp đang được nhiều doanh nghiệp lựa chọn mà điển hình là các  
doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh và cá nhân. Trong số các doanh nghiệp tham  
gia khảo sát thì có 36% doanh nghiệp cho biết có bán hàng trên mạng xã hội (tăng 4% so  
với năm 2017). Đồng thời, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá bán hàng qua mạng xã hội đạt hiệu  
quả cao là 45% (tăng nhiều so với tỷ lệ 39% năm 2017), trong khi tỷ lệ này đối với bán  
hàng qua website là 32%và qua ứng dụng di động là 22%. Năm 2018 thương mại điện tử  
Việt Nam tiếp tục phát triển toàn diện với tốc độ tăng trưởng trên 30%, phấn đấu đạt được  
mục tiêu 10 tỷ USD loại hình doanh nghiệp với người tiêu dùng vào năm 2020 nêu trong  
Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016 – 2020.  
202  
2018  
39.9  
186  
2017  
33.6  
170  
2016  
21.7  
0
50  
100  
150  
200  
250  
Ước tính giá trị mua sắm trực tuyến của một người (USD)  
Ước tính số người tham gia mua sắm trực tuyến (triệu người)  
Hình 1: Doanh thu và số lượng mua sắm trực tuyến hình thức B2C của Việt  
Nam giai đoạn 2016-2018  
Nguồn: Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam và tính toán của tác giả 2019  
Để triển khai dự án thương mại điện tử trong doanh nghiệp, nhà quản lý có thể lựa  
chọn một trong các phương pháp sau: Doanh nghiệp sử dụng nguồn nội lực để xây dựng  
hệ thống, xây dựng phần mềm ứng dụng thương mại điện tử; hay Doanh nghiệp mua hệ  
thống bên ngoài.  
326  
Trên thị trường hiện nay cũng có một số sản phẩm dành cho doanh nghiệp lớn với  
cường độ giao dịch cao, quy mô lớn như IBM WebSphere Commerce Business Edition,  
Oracle E-Business Suite, và Broadvision One-To-One Commerce. Phần mềm thương mại  
điện tử dành cho doanh nghiệp lớn cung cấp các công cụ liên kết và hỗ trợ cho các hoạt  
động mua sắm, sản xuất và bán hàng của doanh nghiệp. Phần lớn các công ty thương mại  
B2B đặt hàng tại các đối tác cung cấp với các quy trình đã được thống nhất giữa các bên.  
Để bán sản phẩm, phần mềm thương mại điện tử cung cấp các chuẩn cho giao dịch thương  
mại điện tử như xử lý và hoàn thiện giao dịch đảm bảo an toàn, chính xác hơn. Ví dụ, phần  
mềm có thể tương tác với hệ thống quản lý hàng tồn kho của công ty và tiến hành những  
điều chỉnh phù hợp, tạo đơn mua hàng với những mặt hàng có lượng tồn kho giảm xuống  
mức thấp và nhập dữ liệu kế toán trong hệ thống ERP hoặc hệ thống lưu trữ.  
Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2018 của Google và Temasek, quy mô thị trường  
thương mại điện tử Việt Nam năm 2018 là 9 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình năm  
(Compound Average Growth Rate – CAGR) của giai đoạn 2015 – 2018 là 25% và thị  
trường đạt 33 tỷ USD vào năm 2025. Nếu kịch bản này xảy ra, quy mô thị trường thương  
mại điện tử Việt Nam năm 2025 đứng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia (100 tỷ USD)  
và Thái Lan (43 tỷ USD).  
70%  
60%  
50%  
40%  
30%  
20%  
10%  
0%  
60%  
58.10%  
54.20%  
4.60%  
3.20%  
3%  
1
2
3
Tỷ trọng doanh thu TMĐT B2C so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh  
thu dịch vụ tiêu dùng cả nước  
Tỷ lệ người dân sử dụng Internet  
Hình 2: Tỷ trọng doanh thu B2C và tỷ lệ người sử dụng Internet  
Nguồn: Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam 2019  
4.2 Về Nhân lực triển khai ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp  
Nguồn nhân lực về thương mại điện tử (đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao)  
vẫn đang là vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm chú trọng để phát triển, do đặc thù  
327  
của thương mại điện tử nên đòi hỏi nhóm lao động chuyên trách này vừa có kiến thức về  
công nghệ lại phải hiểu biết về thương mại để nắm bắt kịp thời các xu hướng mới ứng dụng  
một cách hiệu quả nhất. Năm 2018 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp có lao động chuyên tr|ch  
về thương mại điện tử không thay đổi nhiều so với các năm trước (năm 2018 có 28% doanh  
nghiệp cho biết có lao động chuyên trách về thương mại điện tử giảm 2% so với năm 2017).  
5. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ  
Đối với các cơ quan quản lý  
Thứ nhất, Để phát triển thương mại điện tử, Chính phủ cần xây dựng hạ tầng công  
nghệ, pháp lý đối với việc hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng và phát triển TMĐT. Thực  
hiện đầy đủ và đồng bộ các giải pháp phát triển về nhân lực, hạ tầng công nghệ thông tin  
và viễn thông, thanh toán điện tử…Hơn nữa, việc phát triển thương mại điện tử còn phải  
phù hợp với kế hoạch phát triển công nghệ thông tin và kinh tế xã hội của đất nước, qua đó  
mới có được bước đi hợp lý trong qua trình xây dựng và phát triển thương mại điện tử của  
Việt Nam.  
Thứ hai, Hoàn thiện khung pháp lý cho thương mại điện tử, Việt Nam cũng phải rà  
soát lại hệ thống văn bản pháp luật cũng như các chính sách còn tồn tại từ trước có gì mâu  
thuẫn và bất hợp lý, không phù hợp với thương mại điện tử để còn có những điều chỉnh  
sao cho phù hợp.  
Thứ ba, Chính phủ cần có các biện pháp khuyến khích, ưu tiên khu vực kinh tế tư  
nhân trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng và phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam vì  
đây là khu vực kinh tế năng động nhất của nền kinh tế, phần lớn các quốc gia trên thế giới  
cũng tập trung phát triển thương mại điện tử ở khu vực kinh tế này. Chính phủ cần đẩy  
mạnh hơn nữa các biện pháp đưa Internet về nông thôn, vùng sâu vùng xa của Việt Nam.  
Việt Nam với hơn 80% dân số sống ở vùng nông thôn, mức sống thấp, điều kiện tiếp cận  
thông tin và thương mại điện tử còn là vấn đề rất nan giải và lâu dài.  
Đối với doanh nghiệp  
Thứ nhất, phải xác định ứng dụng TMĐT là tiên quyết trong bối cảnh hội nhập kinh  
tế và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, có đẩy mạnh ứng dụng TMĐT trong doanh  
nghiệp mới giúp doanh nghiệp hoà nhập với môi trường kinh doanh toàn cầu, nâng cao  
năng lực cạnh tranh.  
Thứ hai, cần chuẩn bị nguồn lực tài chính, nhân lực thực thi TMĐT và các phương  
án lựa chọn các hình thức triển khai phù hợp với năng lực của doanh nghiệp nhằm mang  
lại hiệu quả cao nhất.  
328  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt:  
1. Bộ Chính trị, Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và phát triển công  
nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  
2. Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2020), Sách trắng về thương mại điện tử 2020  
3. Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam (2020), Báo cáo thương mại điện tử Việt  
Nam 2019  
4. Thủ tướng Chính phủ (2020), Chỉ thị số 22/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về  
việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại  
Việt Nam  
Tiếng Anh:  
5. Brenda Kienan (2000). “E- commerce, Small Business Solution, Microsoft”, place  
of publication: Microsoft Press  
pdf 10 trang baolam 19080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong bối cảnh mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfho_tro_cac_doanh_nghiep_viet_nam_day_manh_ung_dung_thuong_ma.pdf