Một cách tiếp cận giáo dục công dân toàn cầu trong môn Ngữ văn

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Một cách tiếp cận giáo dục công dân toàn cầu  
trong môn Ngữ văn  
Bùi Thị Diển  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Xu thế toàn cầu hoá đã tăng cường sự phụ thuộc và liên kết giữa các  
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
Email: buidien.vg[email protected]  
quốc gia. Công dân toàn cầu và giáo dục công dân toàn cầu trở thành một  
trong những mục tiêu giáo dục quan trọng. Giáo dục công dân toàn cầu cần  
được thực hiện đồng bộ trong tất cả các khâu từ quan điểm, chính sách và cần  
chi tiết đến chương trình, kế hoạch và hoạt động giáo dục từng bộ môn. Môn  
Ngữ văn được cho là môn học có nhiều cơ hội trong giáo dục công dân toàn  
cầu cho học sinh. Phương pháp tiếp cận giáo dục công dân toàn cầu cho môn  
học này cần linh hoạt để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Giáo viên có thể  
tích hợp thông qua việc lựa chọn chủ đề, nội dung, qua lựa chọn phương pháp  
tích cực để tăng cường nhận thức và hành động về các vấn đề toàn cầu như  
cho học sinh liên hệ thực tiễn, phát biểu suy nghĩ, điều tra, phỏng vấn thực  
tế, viết báo cáo, trình bày, xuất bản. Những hoạt động này sẽ giúp người học  
trở thành những công dân toàn cầu, luôn sẵn sàng vì một thế giới tốt đẹp hơn.  
TỪ KHÓA: Công dân toàn cầu; giáo dục công dân toàn cầu; Ngữ văn; toàn cầu hoá; chủ đề  
tích hợp.  
Nhận bài 10/8/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 15/9/2019 Duyệt đăng 25/10/2019.  
1. Đặt vấn đề  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái niệm công dân toàn cầu và giáo dục công dân toàn  
cầu  
Trong xu thế toàn cầu hoá, quá trình hội nhập quốc tế  
ngày càng được đẩy mạnh, dẫn đến xu hướng dịch chuyển  
giữa các quốc gia và liên kết quốc tế. Nhân loại đang sống  
trong một thế giới phꢀng, kết nối, ảnh hưởng và phụ thuộc  
nhau. Chính vì thế, công dân toàn cầu (CDTC) và giáo dục  
(GD) CDTC được cả thế giới quan tâm và được xác định là  
một trong những mục tiêu phát triển bền vững: “Đến năm  
2030, đảm bảo rằng tất cả người học đều có kiến thức và kĩ  
năng cần thiết để thúc đẩy phát triển bền vững, thông qua  
GD vì sự phát triển và lối sống bền vững, nhân quyền, bình  
đꢀng giới, thúc đẩy nền văn hoá hòa bình và không bạo lực,  
CDTC và đề cao sự đa dạng văn hoá cũng như sự đóng góp  
của văn hoá đối với phát triển bền vững” [1, tr.19]. Ở Việt  
Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản toàn  
diện GD và đào tạo đã nêu ra yêu cầu về một nền GD phát  
triển những cá nhân hài hoà, toàn diện trong môi trường  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế  
thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [2]. GD  
CDTC cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức, chính sách  
cho đến CT GD.Trong các bộ môn, Ngữ văn được cho là  
môn học có nhiều cơ hội trong việc GD những nội dung  
GD CDTC cho học sinh (HS), cho nên việc tăng cường  
tích hợp nội dung GD toàn cầu trong môn Ngữ văn rất khả  
thi và cần thiết trong việc tạo nên những công dân toàn cầu  
Việt Nam. Bài viết thuộc Đề tài KH&XHNV cấp Quốc gia  
“Nghiên cứu về công dân toàn cầu Việt Nam”, mã số đề  
CDTC là một khái niệm nhận được nhiều nghiên cứu  
và các tổ chức quốc tế đề cập. Tổ chức Oxfam cho rằng,  
CDTC là người nhận thức được thế giới và có ý thức về  
vai trò của mình như là một công dân thế giới, tôn trọng và  
trân quý sự đa dạng, có hiểu biết sự vận động của thế giới,  
nhiệt tình cam kết về công bằng xã hội, tham gia vào cộng  
đồng tất cả các cấp từ địa phương đến toàn cầu, hợp tác vì  
một thế giới công bằng và bền vững hơn, chịu trách nhiệm  
về hành động của mình [3, tr.5]. Tổ chức UNESCO cũng  
xác định CDTC luôn hướng đến một cộng đồng lớn, phụ  
thuộc lẫn nhau về chính trị, xã hội, văn hóa và kết nối giữa  
địa phương, quốc gia và toàn cầu. Một CDTC cần tôn trọng  
các giá trị con người, không phân biệt chủng tộc, giới, tuổi  
tác, tôn giáo và quan điểm chính trị; Tôn trọng sự đa dạng  
và quan điểm đa chiều; Quý trọng thế giới tự nhiên, sự sống  
của vạn vật; Có trách nhiệm giải quyết các thách thức toàn  
cầu; Suy nghĩ mang tính toàn cầu trong việc xóa bỏ bất bình  
đꢀng và bất công. Tác giả Fernando M. Reimers cũng cho  
rằng, một CDTC có năng lực phải hiểu được thế giới kết nối  
và có khả năng hoạt động hiệu quả xuyên quốc gia để giải  
quyết các thách thức, hoặc nắm bắt các cơ hội trong khả  
năng của mình [4, tr.3].  
Quá trình toàn cầu hóa và tăng cường nhận thức về người  
CDTC đòi hỏi sự chú trọng mới đối với GD CDTC. GD  
tài: KHGD/16-20.ĐT.009, do Tiến sĩ Lương Việt Thái làm CDTC phát triển và nâng cao thái độ, các kĩ năng vì mục  
chủ nhiệm.  
tiêu GD và một CT giảng dạy rộng và cân bằng [5, tr.7].  
UNESCO cũng cho rằng, GD CDTC nhằm mục đích trao  
quyền cho người học tham gia và đảm nhận vai trò tích cực  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
68  
Bùi Thị Diển  
tại địa phương, quốc gia và trên toàn cầu để đối mặt và giải riêng lꢁ mà cần được học tập thông qua tất cả các lĩnh vực  
quyết các thách thức toàn cầu và cuối cùng để trở thành của CT học và mỗi môn học có một thế mạnh riêng, đóng  
người chủ động đóng góp cho hòa bình, khoan dung, bao góp quan trọng để thực hiện trong việc phát triển các kiến  
gồm sự an toàn và bền vững thế giới. GD CDTC nhằm mục thức, kĩ năng và thái độ liên quan đến CDTC.  
đích tạo dựng kiến thức, kĩ năng, giá trị và thái độ mà người  
học cần để có thể đóng góp cho một thế giới hòa bình, công  
bằng và toàn diện hơn. GD CDTC đòi hỏi nhiều cách tiếp  
cận khác như GD nhân quyền, GD hòa bình, GD để phát  
triển bền vững và GD cho sự hiểu biết quốc tế với quan  
điểm học tập suốt đời và nhiều hình thức học tập khác.  
UNESCO đề xuất ba thành tố liên quan chặt chẽ trong  
GD CDTC bao gồm nhận thức, cảm xúc xã hội và hành vi.  
Nhận thức để có được kiến thức, hiểu biết và tư duy phê  
phán về các vấn đề toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa phương  
và sự liên kết, phụ thuộc của các quốc gia. Cảm xúc xã hội  
để có ý thức về một nhân loại chung, chia sꢁ các giá trị và  
trách nhiệm, sự đồng cảm, đoàn kết và tôn trọng sự khác  
biệt, đa dạng. Hành vi để hành động hiệu quả và có trách  
nhiệm ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu vì một thế  
giới hòa bình và bền vững hơn [6, tr.15]. Tổ chức Oxfam  
cũng đưa ra quan niệm, một CT cho GD CDTC với những  
thành tố chính như: Kiến thức và hiểu biết, kĩ năng, giá trị  
và thái độ (xem Bảng 1).  
Tại Việt Nam, tuy chưa có một phát ngôn hoặc tuyên bố  
chính thức nào về CDTC thể hiện trong môn học nhưng  
xét cho cùng một số nội dung liên quan đến CDTC cũng  
được nêu ra ở một số văn bản, hướng dẫn thực hiện. Ví  
dụ, Bộ GD&ĐT đã ban hành những văn bản chỉ đạo có  
nội dung CDTC như GD đạo đức/giá trị sống, rèn luyện kĩ  
năng sống, hiểu biết xã hội cho HS; Thực hiện tích hợp các  
nội dung GD (bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên, môi  
trường biển, hải đảo, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu  
quả, quyền và bổn phận của trꢁ em, bình đꢀng giới, ứng phó  
với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; ...)  
vào các môn học và hoạt động GD [7], [8]. Trong CT GD  
phổ thông, một số yêu cầu, nội dung GD CDTC được thể  
hiện ở mục tiêu, nội dung, yêu cầu cần đạt và hướng dẫn  
thực hiện CT các môn học và hoạt động GD có ưu thế.  
2.2. Giáo dục công dân toàn cầu qua chương trình môn Ngữ  
văn Việt Nam  
Các nghiên cứu đều chỉ ra vai trò và hiệu quả của ngôn  
ngữ mẹ đꢁ trong việc GD CDTC cho HS. Cụ thể, tổ chức  
Oxfam đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho việc tích hợp  
những nội dung GD CDTC vào môn Tiếng Anh. Theo đó,  
môn học có khả năng phát triển sự đồng cảm, kĩ năng giao  
tiếp và khả năng tranh luận hiệu quả, cung cấp những hiểu  
biết sâu sắc về các vấn đề cá nhân và toàn cầu, chꢀng hạn  
như định kiến và xung đột, tạo cơ hội tìm hiểu các vấn đề  
toàn cầu trong bối cảnh thực tế để phát triển các kĩ năng cốt  
lõi; Khám phá các giá trị, niềm tin và kinh nghiệm của các  
nhóm người khác nhau, dựa vào văn bản và suy nghĩ về một  
loạt các nền văn hóa và truyền thống.  
Bảng 1: Những thành tố chính của CT GD CDTC  
Kiến thức và  
hiểu biết  
Kĩ năng  
Các giá trị và  
thái độ  
Công bằng xã hội  
Tư duy phê phán và Tự ý thức và lòng tự  
sáng tạo  
trọng  
Bản sắc và sự đa Đồng cảm  
dạng  
Cam kết công bằng xã  
hội  
Toàn cầu hoá và Sự tự nhận thức và Tôn trọng con người và  
sự phụ thuộc  
phản ánh  
quyền con người  
Cách tiếp cận CDTC trong môn Tiếng Anh thể hiện ở  
việc bồi dưỡng những con người biết cảm thông, tôn trọng  
sự đa dạng trong cộng đồng địa phương, quốc gia và toàn  
cầu, cho phép người học đề cao quan điểm, khám phá cách  
các văn bản từ xã hội, lịch sử khác nhau và bối cảnh văn  
hóa ảnh hưởng đến các giá trị và ý thức về bản sắc, cung  
cấp cơ hội thực tế để người học phát triển khả năng tự thể  
hiện và các kĩ năng giao tiếp, tương tác. Ví dụ, thay vì viết  
thư thuyết phục cho khán giả giả định, người học có thể viết  
thư cho cơ quan chức năng địa phương về các vấn đề quan  
trọng. Ngoài ra, người học có thể trình bày bài phát biểu để  
chia sꢁ quan điểm về các vấn đề địa phương toàn cầu trong  
trường học hoặc cộng đồng rộng lớn [3, tr.1].  
Phát triển bền vững Giao tiếp  
Trân trọng sự đa dạng  
Hoà bình và mâu Hợp tác và giải Quan tâm đến môi  
thuẫn  
quyết mâu thuẫn  
trường và cam kết phát  
triển bền vững  
Quyền con người  
Khả năng quản lí sự Cam kết cùng tham gia  
phức tạp và sự biến và kết hợp  
đổi  
Quyền lực và quản Hành động ứng Tin tưởng mọi người có  
trị dụng thể tạo nên sự thay đổi  
GD CDTC có thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp  
giảng dạy như thảo luận và tranh luận, đóng vai, các hoạt  
động nguyên nhân, hậu quả và điều tra. Đây không phải là  
những phương pháp đặc trưng cho GD CDTC nhưng được  
sử dụng dưới quan điểm GD CDTC, góp phần bồi dưỡng  
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, có thể tích hợp một số nội  
dung GD CDTC trong các mạch nội dung nghe nói đọc viết  
trong môn Ngôn ngữ. Cụ thể như phát triển sự đồng cảm,  
khám phá những quan điểm khác nhau và nhận ra sự phức  
các kĩ năng như tư duy phản biện, đặt vấn đề, giao tiếp và tạp của một vấn đề bằng cách đóng vai một nhân vật hoặc  
hợp tác. Những phương pháp này cho phép người học khám tình huống cụ thể. Ví dụ như hậu quả của trận động đất ở  
phá, phát triển và thể hiện các giá trị và ý kiến riêng, trong Haiti năm 2010; Khám phá tác dụng của ngôn ngữ nói trong  
khi lắng nghe trân trọng quan điểm của người khác [5, tr.9]. việc đẩy lùi những bất công xã hội bằng cách nghiên cứu  
GD CDTC không nhất thiết cần được dạy như một môn học các bài phát biểu của Nelson Mandela hoặc Martin Luther  
Số 22 tháng 10/2019  
69  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
King; So sánh các văn bản về cùng một vấn đề toàn cầu, thời biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại  
để hội nhập quốc tế, trở thành CDTC” [10, tr.9]. Bên cạnh  
đó, CT cũng định hướng lựa chọn ngữ liệu với các tiêu chí  
“thể hiện tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc, ý thức về chủ  
quyền quốc gia; có tính nhân văn, GD lòng nhân ái, khoan  
dung, tình yêu chân thiện mĩ, tình yêu thiên nhiên, tinh thần  
hội nhập quốc tế, hướng đến những giá trị phổ quát của  
nhân loại” [10, tr.21]. Đây có thể được coi là một phần nội  
dung có mối liên quan chặt chẽ đến GD CDTC. Đáng chú  
ý, CT cũng nêu những nội dung GD ưu tiên xuyên suốt bao  
gồm chủ quyền quốc gia, hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc  
văn hoá, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, quyền  
con người, quyền trꢁ em, bình đꢀng giới, GD tài chính,....”  
[10, tr.82]. Hướng dẫn này thể hiện tinh thần của CDTC  
trong CT.Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là mỗi GV cần  
xây dựng kế hoạch phù hợp cho từng chủ đề/bài học góp  
phần hình thành, rèn luyện, phát triển những kĩ năng cần  
thiết của CDTC. Dựa vào CT Ngữ văn hiện hành và CT  
Ngữ văn mới, GV hoàn toàn có thể thiết kế những bài học  
giá trị vừa hoàn thành mục tiêu GD của môn học vừa hướng  
đến những kiến thức, kĩ năng, thái độ trong hướng dẫn GD  
CDTC.  
chꢀng hạn như di cư hoặc phá rừng từ nhiều quan điểm  
và phong cách viết; Viết một tờ rơi hoặc tạo một áp phích  
thuyết phục mọi người hành động về vấn đề toàn cầu; Viết  
và gửi các bài báo hoặc gửi thư cho các doanh nghiệp địa  
phương về một vấn đề toàn cầu tại địa phương, chꢀng hạn  
như dấu chân carbon hoặc chuỗi cung ứng quần áo [3, tr.2].  
Theo đó, môn Ngữ văn Việt Nam hoàn toàn có khả năng  
định hướng để GD CDTC hiệu quả. Trên thực tế, một số  
yêu cầu, nội dung GD CDTC được thể hiện ở mục tiêu, nội  
dung, yêu cầu cần đạt và hướng dẫn thực hiện CT cũng như  
các hoạt động GD môn học. Cụ thể, trong CT Ngữ văn hiện  
hành, mục tiêu môn học được xác định là không chỉ cung  
cấp những kiến thức, kĩ năng về tiếng Việt và Văn học mà  
còn giúp HS có thêm những hiểu biết về văn hoá, xã hội,  
lịch sử, đời sống nội tâm con người và bản thân, góp phần  
bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách HS. Trong đó,  
mục tiêu thái độ rất gần gũi với những nội dung GD trong  
CDTC, đó là: “Môn Ngữ văn bồi dưỡng cho HS tình yêu  
tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên,  
đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí  
tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; GD  
cho HS trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp  
tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá  
của dân tộc và nhân loại.”[9, tr.5]. Không chỉ thể hiện trong  
mục tiêu, phương pháp dạy học cũng được xây dựng trên  
quan điểm “thông qua các hình tượng văn học và các tình  
huống giao tiếp bằng tiếng Việt văn hoá, môn Ngữ văn còn  
có khả năng kết hợp GD công dân, củng cố và mở rộng hiểu  
biết về văn hoá xã hội cho HS” [9, tr.6]. Qua đó, có thể thấy  
CT môn Ngữ văn hiện hành đã xuất hiện những nội dung  
liên quan chặt chẽ đến GD CDTC như tinh thần hữu nghị  
và hợp tác quốc tế, có ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị  
văn hoá của dân tộc và nhân loại, hành động trách nhiệm,  
sự sẵn sàng tham gia.  
Trong CT GD phổ thông mới, những mục tiêu và nội  
dung này tiếp tục được phát huy, cụ thể mục tiêu đưa ra là  
“hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tốt đẹp:  
Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm, bồi  
dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính.  
Môn Ngữ văn giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung  
quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong  
phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; Có tình yêu  
đối với tiếng Việt và văn học; Có ý thức về cội nguồn và  
bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị  
văn hoá Việt Nam; Có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá  
nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế [10, tr.5]. Ngoài  
ra, với những mục tiêu phát triển năng lực dựa trên hướng  
dẫn nội dung về các văn bản/các vấn đề về hòa bình, sự đa  
dạng văn hóa, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, phát  
triển bền vững,… cũng giúp cho HS hiểu về mối quan hệ  
giữa cá nhân và cộng đồng nhân loại, giữa quốc gia dân tộc  
và thế giới, sự phụ thuộc lẫn nhau. Yêu cầu cần đạt của CT  
GD phổ thông môn Ngữ văn mới cũng nêu ra cần giúp HS:  
“Biết giữ gìn tư cách, bản sắc của công dân Việt Nam, đồng  
Như vậy, môn Ngữ văn rất có ưu thế trong việc GD các  
nội dung của công dân toàn cầu, tác động đến nhận thức và  
tư tưởng, tình cảm, từ đó thúc đẩy hành động vì một thế giới  
bền vững, hòa bình và thịnh vượng.  
2.3. Quy trình xây dựng kế hoạch bài học công dân toàn cầu  
trong môn Ngữ văn  
Như đã đề cập ở trên, việc GD CDTC không nhất thiết  
phải thể hiện ở những bài học riêng mà hoàn toàn có thể  
tích hợp vào các nội dung và hoạt động dạy học sẵn có  
trong các môn học, cụ thể là qua môn Ngữ văn. Phương  
pháp tiếp cận này đã được minh chứng qua nhiều nghiên  
cứu, đặc biệt là qua công trình của Fernando M. Reimers  
(2017), Trao quyền cho HS cải thiện thế giới trong 60 bài  
học. Trong cuốn sách này, tác giả đã xây dựng 5 bài học  
mẫu về GD CDTC từ lớp 1 đến lớp 12 để có thể được dạy  
trong nhiều môn học trong CT. Những bài học khung này  
hoàn toàn có thể được dạy hiệu quả phù hợp với cấu trúc  
của nhiều môn học. Ngoài ra, có thể liên kết 5 bài học này  
và với những cấp học khác để tăng cường năng lực toàn  
cầu. Mẫu thiết kế mỗi bài học được tác giả đưa ra bao gồm  
các phần sau [4, tr.21]:  
Tên kế hoạch bài học (Người thiết kế)  
Tóm tắt và Mục đích: Cung cấp thông tin tổng quan về  
bài học, về tính phù hợp  
Cấp lớp:  
Thời gian: Cần bao nhiêu thời gian cho bài học này?  
Môn học: Bài học này có thể được tích hợp vào môn học  
nào?  
Mục tiêu giảng dạy: những năng lực, kiến thức, kĩ năng,  
định hướng HS dự kiến đạt được  
Chuẩn: Bài học này giúp đạt được những mục tiêu phát  
triển bền vững nào, năng lực nào?  
Mục tiêu nhận thức: Những ý tưởng lớn hay sự hiểu biết  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
70  
Bùi Thị Diển  
lâu dài có được từ bài học này là gì?  
cài được một số mục tiêu kiến thức, năng lực CDTC thông  
Câu hỏi trọng tâm: Đưa ra hai đến bốn câu hỏi quan qua việc lựa chọn chủ đề phỏng vấn là các vấn đề toàn  
trọng chỉ dẫn, những câu hỏi này phải phù hợp với khả năng cầu, đòi hỏi nhận thức của cá nhân và việc chung tay giải  
hiểu biết và khuyến khích sự tìm tòi và thảo luận. Các câu quyết như môi trường, công nghệ thông tin, xã hội. Thông  
hỏi phải tạo cảm hứng cho tư duy phản biện.  
qua hoạt động phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, HS trình  
Mục tiêu học tập của HS: GV muốn HS học được những bày được hiểu biết về bản thân về các vấn đề xã hội ở địa  
kiến thức cụ thể gì thông qua bài học này? Trình bày các phương từ đó mở rộng liên hệ đến đất nước và trên thế giới.  
mục tiêu có thể quan sát được và các mục tiêu về thiên Bên cạnh cách hiểu, HS cũng trình bày được quan điểm,  
hướng, thái độ, quy trình tư quy trong các lĩnh vực cảm xúc ý kiến đánh giá về thực trạng, nguyên nhân, giải pháp cho  
xã hội.  
các vấn đề được đưa ra để phỏng vấn. HS lí giải được thực  
Đánh giá: Mô tả các công cụ đánh giá có thể giúp GV trạng và xác định được một số hoạt động có thể tham gia  
nhận biết liệu HS đã đạt được các mục tiêu đề ra hay chưa, hoặc những ứng xử phù hợp khi xây dựng bộ câu hỏi phỏng  
bao gồm danh sách kiểm tra, thang đo, bài kiểm tra và câu vấn hoặc tiến hành trả lời phỏng vấn.  
đố, các bài kiểm tra kiến thức không chính thức .  
(2) Hình thức và tổ chức hoạt động: Những nội dung và kĩ  
Trình tự hoạt động: Liệt kê chuỗi hoạt động cho bài học năng về CDTC được thể hiện xuyên suốt, thông qua tất cả  
này, bao gồm động lực, các hoạt động chính của bài học và các hoạt động trong tiến trình tổ chức dạy học.  
kết luận. Mô tả rõ HS nên được chia nhóm như thế nào và  
- HS khám phá những nội dung về phỏng vấn và thực  
trình bày các câu hỏi hoặc cách khuyến khích để hướng dẫn hành phỏng vấn, HS thực hiện phỏng vấn bạn bè/cộng  
HS hoạt động trong từng trường hợp.  
đồng/ địa phương theo những chủ đề CDTC.  
Nguồn tài liệu cho GV và HS: Liệt kê các tài liệu in hoặc  
- Trước khi đến lớp, HS tìm hiểu và thực hiện các nhiệm  
tài liệu trực tuyến hỗ trợ GV chuẩn bị bài học và giúp HS vụ nhóm theo phân công của GV: Chuẩn bị một bài phỏng  
thực hiện các hoạt động. vấn về cá nhân; một bài phỏng vấn nơi HS đang sinh sống  
Các nghiên cứu trên cho thấy tính khả thi và hiệu quả của về một trong các vấn đề sau: Bản thân và những giá trị của  
việc áp dụng GD CDTC trong các môn học. Dựa vào các bản thân, môi trường, biến đổi khí hậu; Sử dụng hợp lí các  
nghiên cứu trên, quy trình tích hợp giảng dạy CDTC trong nguồn tài nguyên, khoa học và công nghệ - sự phát triển  
môn Ngữ văn có thể được thực hiện theo các bước sau:  
của internet; Dân chủ, công bằng, bình đꢀng giới; Đa dạng  
(1) Dựa theo các chủ đề bài học trong CT hoặc bài học văn hoá.  
cụ thể để lựa chọn mạch nội dung CDTC phù hợp. Ví dụ,  
HS làm việc theo nhóm, xác định đối tượng phỏng vấn ở  
các mạch nội dung như: 1/ Hiểu biết của HS về những vấn địa phương, tiến hành nghiên cứu sơ bộ về chủ đề phỏng  
đề ở địa phương, quốc gia, thế giới; Hiểu, đánh giá về thực vấn, phác thảo bộ câu hỏi phỏng vấn theo các chủ đề đã  
trạng, nguyên nhân, giải pháp cho các vấn đề; Hiểu, phân được xác định.  
tích được về mối quan hệ tác động/phụ thuộc lẫn nhau; 2/  
- Trên lớp, HS vừa thực hành luyện tập vừa rút ra những  
Hiểu, phân tích được mối quan hệ tác động qua lại giữa lưu ý, yêu cầu về phỏng vấn và trả lời phỏng vấn với các  
các vấn đề (Ví dụ, phát triển kinh tế và môi trường; Xung chủ đề liên quan.  
đột và đói nghèo; …); 3/ Xác định được một số hoạt động  
- Sau giờ học, HS hoàn thiện lại bộ câu hỏi phỏng vấn.  
có thể tham gia hoặc những ứng xử phù hợp). Mức độ xác HS tiếp tục củng cố, rèn luyện kĩ năng phỏng vấn và trả  
định tùy vào từng cấp học và bài học cụ thể cho phù hợp lời phỏng vấn cũng như khả năng khai thác, tìm hiểu, kết  
với đối tượng.  
nối các vấn đề xã hội thông qua các hoạt động cá nhân và  
(2) Soạn kế hoạch bài học cần chú ý đến mục tiêu nêu ra nhóm. Cuối cùng, HS viết báo cáo về kết quả phỏng vấn để  
cụ thể trong mục tiêu bài học và những nội dung và phương kết nối thông tin thu thập được với phần đánh giá, trình bày,  
pháp được thực hiện liên quan đến các nội dung trong GD đề xuất của bản thân và trình bày trước lớp.  
CDTC. Trong các phần hoạt động và tổ chức bài học, đối  
(3) Phương pháp: Chú ý đến các phương pháp dạy học  
với những vấn đề liên quan, GV có tạo cơ hội khai thác tích cực và tăng cường tính thực tiễn cho HS. Cụ thể, ví  
sâu hơn hoặc nhấn mạnh để hướng tới những nội dung GD dụ trong hoạt động khởi động. GV cho HS xem một số bài  
CDTC.  
phỏng vấn tiêu biểu về các chủ đề toàn cầu, sau đó cho HS  
(3) Tổ chức thực hiện hoạt động kế hoạch bài học, ở mỗi trình bày suy nghĩ về hình thức và nội dung phỏng vấn, cho  
tình huống phù hợp, GV có thể cho HS liên hệ hoặc phát HS thực hành phỏng vấn ở địa phương cộng đồng để thu  
biểu về các nội dung liên quan đến GD CDTC, tạo cơ hội thập được kiến thức thực tế về các chủ đề xã hội. HS viết  
cho HS được thể hiện quan điểm riêng cũng như đề cao và báo cáo về thông tin thu thập được và đánh giá vấn đề để đề  
tôn trọng những quan điểm khác nhau.  
xuất các giải pháp; Hình thành các nhóm phóng viên môi  
Dưới đây là ví dụ về một giáo án cụ thể tích hợp CDTC trường, xã hội, công nghệ.  
trong CT môn Ngữ văn lớp 11 hiện hành: Phỏng vấn và trả  
lời phỏng vấn  
Như vậy, GV hoàn toàn có thể kết hợp một cách khéo léo  
những nội dung GD CDTC trong CT dựa trên mục tiêu bài  
(1) Mục tiêu: Ngoài những mục tiêu gắn liền với yêu cầu học. Đặc biệt, đối với những bài học GV được quyền chủ  
cần đạt về Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, GV có thể đan động lựa chọn chủ đề, nội dung để rèn luyện kĩ năng, năng  
Số 22 tháng 10/2019  
71  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Hình 1: Nhꢀng hình ảnh thử nghiệm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu CDTC Việt Nam  
lực cho HS, GV hoàn toàn có thể biến đó thành những bài các quốc gia. Việc GD CDTC cần thúc đẩy theo hướng tận  
học hữu ích, thú vị hướng về GD CDTC.  
dụng những nội dung, phương pháp giảng dạy sẵn có, kết  
hợp một cách khéo léo, những mục tiêu GD CDTC. Việc  
GD CDTC cần được thực hiện một cách đồng bộ, thông qua  
tất cả các hoạt động GD, từ ngoại khoá đến chính khoá, từ  
cấu trúc cho đến nội dung và phương pháp của từng môn  
học. Sự vận dụng khéo léo và xuyên suốt trong toàn bộ quy  
trình GD sẽ giúp cho việc thực hiện GD CDTC thu được  
hiệu quả cao.  
Trong các bộ môn, đặc biệt là môn Ngữ văn có nhiều  
cơ hội trong việc GD các nội dung liên quan đến CDTC.  
Không cần thiết kế các bài học riêng lꢁ, GV có thể tích hợp  
thông qua việc lựa chọn chủ đề, nội dung trong các bài phát  
triển kĩ năng, năng lực. GV có thể tích hợp thông qua việc  
cho HS liên hệ thực tiễn, phát biểu suy nghĩ hoặc thông qua  
việc tận dụng các phương pháp dạy học tích cực như điều  
tra, phỏng vấn thực tế, viết báo cáo, trình bày, xuất bản.  
Những hoạt động này giúp người học không chỉ hiểu và  
đánh giá cao về các vấn đề toàn cầu mà còn trở thành người  
Trên cơ sở những điều đã được mô tả ở trên, tác giả  
đã thiết kế một số kế hoạch bài học môn Ngữ văn và thử  
nghiệm ở một số địa phương trong khuôn khổ của dự án.  
Những kế hoạch bài học thử nghiệm vừa đạt được mục tiêu  
môn học vừa tăng cường nhận thức và hành động của HS  
về các vấn đề toàn cầu. HS rất hăng hái, tích cực tham gia  
các hoạt động xã hội, thể hiện sự quan tâm và sẵn sàng hành  
động của bản thân.Tuy nhiên, để có những kế hoạch bài học  
này, GV sẽ mất nhiều thời gian và công sức không chỉ trong  
thiết kế, chuẩn bị kế hoạch dạy học mà còn trong tổ chức  
các hoạt động trong và ngoài lớp học.  
Hình ảnh thử nghiệm giáo án Phỏng vấn và trả lời phỏng  
vấn (Ngữ văn 11) ở một số lớp trên địa bàn Hà Nội và  
Quảng Bình trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu CDTC Việt  
Nam (xem Hình 1).  
3. Kết luận  
GD CDTC đóng vai trò vô cùng quan trọng, mang lại  
lợi ích không chỉ cho người học và còn vì lợi ích của tất cả tham gia tích cực để ứng phó với mọi thách thức toàn cầu.  
Tài liệu tham khảo  
[1] United Nations, Transforming our world: The 2030  
agenda for sustainable development, Goal 4 http://www.  
un.org/sustainabledevelopment/education/.  
[2] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, (2013), Nghị  
quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo  
dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã  
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  
[3] Oxfam, (2015), English and global citizenship: why  
teach English with a Global Citizenship approach?, Ox-  
fam House.  
[4] Fernando M. Reimers, (2017), Empowering Students  
to Improve the World in Sixty Lessons Version 1.0,  
CreateSpace Independent Publishing Platform, ISBN-  
10: 1546456775.  
[5] Oxfam,(2015), Education for global citizenship, a guide  
for schools Oxfam Education and Youth, Oxfam House,  
John Smith Drive, Oxford OX4 2JY.  
[6] UNESCO, (2015), Global Citizenship Education,Topics  
and learning objectives, United Nations Educational,  
Scientic and Cultural Organization, 7, place de Fontenoy,  
75352 Paris 07 SP, France.  
[7] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2014), Hướng dẫn thực hiện  
nhiệm vụ Giáo dục Tiểu học năm học 2014 - 2015, số  
4119/BGDĐT-GDTH ngày 06 tháng 8 năm 2014.  
[8] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2014), Hướng dẫn thực hiện  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
72  
Bùi Thị Diển  
nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2014 - 2015, số  
4099/BGDĐT-GDTrH ngày 05 tháng 8 năm 2014.  
[9] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2006), Chương trình Giáo dục  
phổ thông môn Ngꢀ văn, Ban hành kèm theo quyết định  
số 16/2006/QD-BGD&DT ngày 05 tháng 5 năm 2006  
của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.  
[10] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông môn Ngꢀ văn, Ban hành kèm theo Thông tư số  
32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ  
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.  
AN APPROACH FOR GLOBAL CITIZENSHIP EDUCATION  
IN TEACHING VIETNAMESE LITERATURE SUBJECT  
Bui Thi Dien  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
52 Lieu Giai, Ba Dinh district, Hanoi, Vietnam  
Email: buidien.vg[email protected]  
ABSTRACT: The trend of globalization has increased the dependence and  
linkages among all nations. Global citizenship and global citizenship  
educationbecomeoneoftheimportanteducationalgoals.Globalcitizenship  
education should be implemented synchronously in all stages from the  
perspective and policies to the curriculum, plan and educational activities  
of each subject. Vietnamese literature is considered as a subject with  
many opportunities in global citizenship education. The approach method  
needs to be flexible to ensure the feasibility and effectiveness. Teachers  
can integrate through the selection of topics and content; by choosing  
positive methods to increase awareness and action on global issues such  
as giving students chances to connect with real-life contexts, expressing  
feelings and thoughts, investigating, conducting field interviews, writing  
reports, presenting and publishing. These activities will help learners  
become global citizens, preparing for a better world.  
KEYWORDS: Global citizens; global citizenship education; Vietnamese literature;  
globalization; integrated theme.  
Số 22 tháng 10/2019  
73  
pdf 6 trang baolam 25620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một cách tiếp cận giáo dục công dân toàn cầu trong môn Ngữ văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_cach_tiep_can_giao_duc_cong_dan_toan_cau_trong_mon_ngu_v.pdf