Thực trạng đọc của học sinh lớp 1 người Stiêng ở Bình Phước (Qua khảo sát tại 5 điểm của Trường Tiểu học Ngô Quyền, huyện Bù Gia Mập)

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
51  
THỰC TRẠNG ĐỌC CỦA HỌC SINH LỚP 1  
NGƯỜI STIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC  
(Qua khảo sát tại 5 điểm của Trường Tiểu học  
Ngô Quyền, huyện Bù Gia Mập)  
HỒ XUÂN MAI*  
Kết quả khảo sát thực trạng đọc của 60 học sinh lớp 1 người Stiêng và 60 học  
sinh lớp 1 người Kinh (học kỳ 1 - năm học 2020-2021) của một trường tiểu học ở  
huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước cho thấy: số học sinh lớp 1 người Stiêng  
đọc dưới trung bình khá cao (cá biệt, có một số em chưa đọc được); trong khi số  
học sinh người Kinh cùng lớp đọc dưới trung bình ít hơn nhiều. Nguyên nhân từ  
đâu và cần có giải pháp gì để khắc phục thực trạng này - đó là vấn đề được đặt  
ra trong bài viết.  
Từ khóa: thực trạng đọc, tiếng Việt, học sinh Stiêng, khảo sát, lớp 1  
Nhận bài ngày: 18/2/2021; đưa vào biên tập: 25/2/2021; phản biện: 8/3/2021; duyệt  
đăng: 05/5/2021  
1. DẪN NHẬP  
chúng tôi chỉ trình bày kết quả về thực  
trạng đọc. Để đảm bảo tính khách  
quan, mức độ chính xác chúng tôi đưa  
ra 6 bài tập đọc(2), gồm thơ và văn  
xuôi ở những thời điểm khác nhau và  
được thiết kế như sau:  
Để phục vụ cho đề tài Thực trạng đọc,  
viết của học sinh lớp 1 người Stiêng  
(Qua khảo sát một trường tiểu học ở  
huyện Bù Gia Mập, Bình Phước),  
chúng tôi đã chọn Trường Tiểu học  
Ngô Quyền để khảo sát năng lực đọc,  
viết của học sinh lớp 1 người Stiêng ở  
tỉnh Bình Phước (cuối tháng 1/2021).  
Đây là trường tiểu học duy nhất của  
huyện có đủ số học sinh lớp 1 là  
người Stiêng. Trường có 5 điểm; mỗi  
điểm cách nhau khoảng 5km. Chúng  
tôi sử dụng bảng hỏi 45 chỉ tiêu để  
khảo sát 60 học sinh người Stiêng (30  
nam, 30 nữ) và 60 học sinh người  
Kinh tương ứng để làm cơ sở đối  
chiếu, đánh giá. Trong bài viết này,  
- Nhìn và đọc lại đoạn trích đã học:  
Bài 5 - Lớp em (thơ)  
Phòng học lớp em  
Gọn gàng, ngăn nắp  
Hộp bút, sách, cặp  
Sắp xếp đúng nơi. (Minh Châu) (Đoạn  
trích này có 18 âm tiết, tính luôn tên  
bài học).  
Bài 3 - Hát mừng thầy cô (văn xuôi):  
Cả tháng nay, lớp em hăng say tập  
văn nghệ. Hội thi Hát mừng thầy cô  
nhân ngày 20 tháng 11 đã đến. (Đoạn  
trích này có 27 âm tiết, tính luôn tên  
bài học).  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
HỒ XUÂN MAI – THỰC TRẠNG ĐỌC CỦA HỌC SINH LỚP 1…  
52  
- Nhìn và đọc đoạn trích đang học tại tôi đều dựa vào “Bảng Hướng dẫn  
thời điểm khảo sát  
khảo sát (kỹ năng đọc - viết, nghe -  
hiểu của học sinh lớp 1, 2 và 3, 4, 5)”  
của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ly Kha -  
Phạm Hải Lê thiết kế(3), và các thông  
tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo:  
Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày  
28/8/2014 (Thông tư 30-2014), Thông  
tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016  
(Thông tư 22-2016); Thông tư 36/TT-  
BGDĐT ngày 28/12/2017 (Thông tư  
36-2017) để tham khảo. Bảng khảo  
sát học sinh người Stiêng và học sinh  
người Kinh ở Bù Gia Mập - nơi mà  
con em các dân tộc ít người nói tiếng  
mẹ đẻ chưa hoàn chỉnh đã bước vào  
lớp 1, còn con em người Kinh thì chỉ  
biết nói, và khi bước vào lớp 1 mới  
làm quen mặt chữ - chúng tôi đưa ra  
ba mức độ để đánh giá là tốt, trung  
bình và dưới trung bình; gồm các kỹ  
năng: tốc độ đọc, số âm tiết không  
đọc được và số âm tiết bị nuốt/bỏ.  
Tiêu chí để đánh giá theo ba mức độ  
Bài 5 - Ước mơ của con (thơ)  
Mẹ ơi, con mơ ước  
Được làm chú phi công  
Trên ngàn mây xanh biếc  
Lượn cùng trời mênh mông. (Lê  
Châu). (Đoạn trích này có 20 âm tiết,  
tính luôn tên bài học).  
Bài 5 - Bất ngờ (văn xuôi)  
Vừa vào ngõ, bé nghe tiếng kêu:  
- Bà ơi, có khách... có khách!  
Bé hỏi:  
- Bà ơi, ai gọi bà vậy?  
- Cháu của bà đó. (Đoạn trích này có  
27 âm tiết, tính luôn tên bài học).  
- Nhìn và đọc đoạn trích chưa học tại  
thời điểm khảo sát  
Bài 5 - Mùa hoa (thơ)  
Dưới nắng ban mai  
Ngàn hoa khoe sắc  
Oải hương tím ngát  
Nhụy hoa tỏa hương. (Phạm Châu Lê), này rất thấp, cụ thể:  
(Đoạn trích này có 18 âm tiết, tính  
Về tốc độ đọc: Nếu học sinh lớp 1  
luôn tên bài học).  
người Stiêng đạt 15 âm tiết/1 phút,  
còn học sinh người Kinh là 20 âm  
tiết/1 phút (Thông tư 30/2014 và  
Thông tư 22/2016 yêu cầu học sinh  
phải đọc 30 âm tiết/1 phút), chúng tôi  
xếp vào mức độ tốt. Như vậy, so với  
quy định của các thông tư, học sinh  
lớp 1 người Stiêng chỉ cần đạt một  
nửa còn học sinh người Kinh là hai  
phần ba. Mức trung bình của học sinh  
người Stiêng và học sinh người Kinh  
lần lượt là 10 và 15 âm tiết/1 phút.  
Bài 1 - Hoa tháng tư (văn xuôi)  
Hoa gạo đỏ. Hoa loa kèn trắng. Hoa  
giấy, hoa bằng lăng tím xòe cánh  
mỏng manh. Hoa lộc vừng đỏ, xõa  
thành chùm buông xuống mặt hồ.  
(Đoạn trích này có 31 âm tiết, tính  
luôn tên bài học).  
2. CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ  
Để khảo sát, đánh giá các kỹ năng  
đọc, như mức độ đúng-sai, số âm tiết  
bị bỏ sót khi đọc, tốc độ đọc…, chúng Dưới mức này là dưới trung bình.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
53  
Về số học sinh và số âm tiết không cầu khắc phục và học sinh khắc phục  
đọc được: Nếu học sinh đọc trơn được, chúng tôi xem đó là nuốt/bỏ âm  
không được, giáo viên cho đánh vần. tiết.  
Nếu học sinh không đánh vần được  
Về cách thức tiến hành, chúng tôi nhờ  
âm tiết hoặc đánh vần được nhưng  
giáo viên dạy lớp hướng dẫn; nhóm  
tiếp tục đọc không được âm tiết vừa  
khảo sát theo dõi và sử dụng điện  
đánh vần thì xem là không đọc được.  
thoại thông minh để đo tốc độ đọc và  
Về số âm tiết bị nuốt/bỏ: Nếu học sinh đánh dấu những âm tiết bị bỏ/nuốt  
không đọc 3 âm tiết trong một đoạn thì cũng như những âm tiết đọc sai. Về  
giáo viên cho đánh vần, đọc lại. Nếu kỹ thuật, chỉ yêu cầu đọc trơn, đọc  
học sinh đọc lại được thì hiện tượng riêng từng học sinh và đọc nối, xen kẽ  
không đọc trước đó được xem là giữa một học sinh người Stiêng và  
bỏ/nuốt âm tiết.  
một học sinh người Kinh.  
Trong ba kỹ năng tốc độ đọc, không  
đọc được và nuốt/bỏ âm tiết thì tốc độ  
đọc và không đọc được được xem là  
năng lực đọc của học sinh, còn kỹ  
3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT  
3.1. Nhìn và đọc lại đoạn trích đã  
học  
3.1.1. Tốc độ đọc  
Đoạn thơ (18 âm tiết)  
Đoạn văn xuôi (27 âm tiết)  
Đối tượng  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Tốt  
Tốt  
Học sinh người Stiêng  
Học sinh người Kinh  
44  
0
16  
26  
0
52  
0
8
0
34  
39  
21  
năng thứ ba chỉ là thói quen của học  
3.1.2. Số học sinh và số âm tiết  
không đọc được  
sinh.  
Chúng tôi không khảo sát mức độ  
phát âm sai âm tiết, cụ thể là dấu  
thanh, vì đây là cái sai của độ tuổi,  
không thể gọi là thực trạng hay năng  
lực của học sinh.  
a. Đoạn thơ  
- Số học sinh Stiêng không đọc được  
là 44/60; số âm tiết không đọc được  
trung bình là 8/18.  
- Số học sinh người Kinh không đọc  
được: 0.  
Cần nói thêm là giữa hình thức không  
đọc được và nuốt/bỏ âm tiết có chỗ  
giống nhau nhưng không hoàn toàn  
trùng nhau. Không đọc được là đã cố  
gắng đánh vần, ráp chữ nhưng vẫn  
không đọc thành âm. Còn bị nuốt/bỏ  
âm tiết là những âm tiết đó không  
b. Văn xuôi  
- Số học sinh Stiêng không đọc được  
là 51/60; số âm tiết không đọc được  
trung bình là 14/27.  
- Học sinh người Kinh không đọc  
được đọc trong chuỗi âm, nếu yêu được: 0.  
HỒ XUÂN MAI – THỰC TRẠNG ĐỌC CỦA HỌC SINH LỚP 1…  
54  
Thống kê cho thấy có một hiện tượng tôi loại yếu tố năng lực giáo viên), mà  
rất đáng chú ý là số âm tiết trong đoạn do một nguyên nhân khách quan nào  
thơ mà 44 học sinh người Stiêng đó như sẽ trình bày ở phần tiếp theo.  
không đọc là 8/18. Còn số âm tiết  
Nhận xét:  
trong đoạn văn mà 51 học sinh không  
- Có từ một nửa tới hai phần ba học  
đọc cũng gần như giống nhau, là  
sinh người Stiêng dưới trung bình ở  
14/27 âm tiết. Tại sao có sự trùng hợp  
tất cả các kỹ năng. Con số này ở học  
này? Về mặt khách quan, mỗi học  
sinh người Kinh chỉ khoảng 2%.  
sinh có riêng những điều kiện, hoàn  
- Tính đến thời điểm khảo sát, đây là  
cảnh và năng lực ngôn ngữ thì tại sao  
những đoạn thuộc những bài đã được  
những âm tiết không đọc được ở cả  
học và là những bài trọng tâm của học  
đoạn thơ lẫn văn xuôi giống nhau? Có  
kỳ 1, với số từ tương đối ít hơn so với  
phải những âm tiết này khó, không  
yêu cầu phải đạt được của các thông  
phù hợp nên các học sinh không đọc  
tư (Thông tư 30-2014, Thông tư 22-  
được? Câu trả lời sẽ được trình bày  
2016 và Thông tư 36-2017) là 30 âm  
trong nhận xét ở dưới.  
tiết. Vậy, tại sao với những bài đã  
3.1.3. Số học sinh nuốt/bỏ âm tiết  
được học, học sinh người Stiêng vẫn  
và số âm tiết bị nuốt/bỏ  
không thể đọc, đọc sai và bỏ từ? Tại  
a. Đoạn thơ  
sao học sinh không nhận được mặt  
chữ mà phải rất khó khăn để đánh vần  
“Cờ a cờ a ca ca hỏi cả...cả...cả, thờ  
ang thờ ang thang sắc tháng...  
- Học sinh Stiêng: 41/60 học sinh  
nuốt/bỏ âm tiết; số âm tiết bị nuốt/bỏ  
trung bình là 9/18.  
tháng...tháng,  
nờ  
ay  
nờ  
ay  
- Học sinh người Kinh nuốt/bỏ âm tiết:  
0.  
nay...nay...nay”?  
- Tại sao cùng bước vào lớp 1, cùng  
có số tiết và thời lượng như nhau  
nhưng kết thúc học kỳ 1, học sinh  
người Kinh đã đọc trơn rất tốt, trong  
khi đó học sinh người Stiêng không  
đọc được? Trong số 60 học sinh  
người Stiêng, chỉ 65 lượt/3 kỹ năng ở  
cả hai bài học đọc được ở mức độ  
trung bình, 295 lượt dưới trung bình  
và không một học sinh nào đạt mức  
độ tốt; trong khi đó học sinh người  
Kinh cùng lớp có 162 lượt đạt mức  
trung bình (gấp hai lần so với học sinh  
người Stiêng) và 198 lượt đạt mức độ  
tốt.  
b. Văn xuôi  
- Học sinh Stiêng: 47/60 học sinh  
nuốt/bỏ; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung  
bình là 14/27.  
- Học sinh người Kinh: 0.  
Kết quả khảo sát cho thấy những âm  
tiết học sinh người Stiêng không đọc  
ở mục (3.1.3.) cũng chính là những  
âm tiết đọc không được ở (3.1.2.), với  
số âm tiết bị bỏ so với (3.1.2.) chỉ là  
một; còn số học sinh không đọc được  
ở (3.1.3.) so với (3.1.2.) không đáng  
kể. Như vậy, không phải học sinh  
người Stiêng học không được (chúng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
55  
Vậy nguyên nhân từ đâu?  
thể học tốt phân môn này.  
Chúng tôi đã phỏng vấn phụ huynh và Ngoài yếu tố tiếng Việt tiền học đường,  
giáo viên dạy lớp, và được biết, đó là yếu tố tiếp theo khiến cho học sinh  
yếu tố tiếng Việt tiền học đường. Tất người Stiêng không thể học tốt phân  
cả 5 người (giáo viên, người quản lý) môn Tiếng Việt là bởi từ ngữ trong  
sách giáo khoa không mới lạ đối với  
học sinh người Kinh nhưng với học  
sinh người Stiêng thì khác: đây là lần  
đầu tiên các em nghe/đọc âm tiết  
nhưng hoàn toàn chưa thấy, chưa  
quen với sự vật, sự việc gắn liền với  
âm tiết đó. Chính vì lý do này, các em  
không thể đọc tốt (dù ở dạng đọc trơn)  
bài học. Điều này lý giải tại sao mục  
(3.1.2.) có 44 học sinh không đọc  
được đoạn thơ, với số âm tiết không  
đọc được là 8/18 và 51 học sinh  
không đọc được đoạn văn xuôi, với số  
âm tiết không đọc được là 14/27.  
Trong khi đó, ở mục (3.1.3.) có tới 41  
học sinh người Stiêng nuốt/bỏ chữ khi  
đọc đoạn thơ với số âm tiết bị bỏ là  
9/18; và 47 em bỏ chữ khi đọc đoạn  
văn xuôi, với số âm tiết bị bỏ là 14/27.  
và 5 phụ huynh đều có chung một ý  
kiến là học sinh người Stiêng “học  
thua” các bạn người Kinh cùng  
lớp/khối là do các em chưa nói được  
tiếng Việt hoặc nói được rất ít; cho  
nên, khi học phân môn Tiếng Việt, các  
em phải thực hiện cùng lúc hai thao  
tác là tập nói và tập đọc. Trong lúc đó,  
học sinh người Kinh chỉ thực hiện một  
thao tác là lặp lại những gì đã nghe,  
đã đọc, đã học. Về logic và tâm lý,  
điều này là bất lợi đối với học sinh  
người Stiêng. Thứ nhất, vì chưa nói  
được hoặc mới biết nói tiếng Việt nên  
khả năng nhớ những âm tiết đã học  
hoàn toàn khó khăn, thậm chí là  
không thể. Học sinh không biết đọc đó  
là âm gì (của tiếng Việt) nên phải cố  
nhớ hoặc phải bỏ/nuốt âm tiết.  
Trường hợp những học sinh nhớ  
được con chữ để đánh vần, ráp chữ  
thì cũng bất lợi, bởi hoạt động đánh  
3.2. Nhìn và đọc đoạn trích đang  
học tại thời điểm khảo sát  
3.2.1. Tốc độ đọc  
Đoạn thơ (20 âm tiết)  
Đoạn văn xuôi (27 âm tiết)  
Đối tượng  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Tốt  
Tốt  
Học sinh người Stiêng  
Học sinh người Kinh  
40  
0
20  
29  
0
47  
7
13  
33  
0
31  
20  
vần chính là hoạt động nói tiếng Việt,  
tức lặp lại hạn chế như đã nói ở trên.  
Thứ hai, về tâm lý, vì không nói được,  
không đọc được mà phải nói, phải đọc  
nên các em sợ. Đến lượt mình, chính  
nỗi sợ hãi đã khiến cho các em không  
So với (3.1.1. - tuần 14), tốc độ đọc  
trong (3.2.1. - tuần 17) tốt hơn ở cả  
đoạn thơ lẫn văn xuôi. Kết quả này có  
thể lý giải bởi hai lý do: Một, về sinh  
học, độ tuổi này rất mau quên để tiếp  
nhận cái mới, cái hiện tại. Cho nên,  
HỒ XUÂN MAI – THỰC TRẠNG ĐỌC CỦA HỌC SINH LỚP 1…  
56  
khi đọc lại những bài đã học, các em - Số học sinh Stiêng nuốt/bỏ âm tiết là  
quên là điều hiển nhiên. Hai, về tâm lý 43/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung bình  
và logic, bài đang học tuần 17 là trọng là 10/20.  
tâm, là (gần với) tuần thi học kỳ 1 nên  
các em được giáo viên ôn luyện kỹ  
hơn, các em cũng cố gắng hơn nên  
số học sinh đọc tốt tăng lên.  
- Số học sinh người Kinh nuốt/bỏ âm  
tiết: 0.  
b. Văn xuôi  
- Số học sinh Stiêng nuốt/bỏ âm tiết là  
47/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung bình  
là 13/27.  
3.2.2. Số học sinh và số âm tiết  
không đọc được  
a. Đoạn thơ  
- Số học sinh người Kinh nuốt/bỏ âm  
tiết: 0.  
- Số học sinh Stiêng không đọc được  
là 40/60; số âm tiết không đọc được  
trung bình là 10/20.  
Nhận xét:  
- Từ bài đã học đến bài đang học, tất  
cả đều có hơn từ một nửa tới hai  
phần ba học sinh người Stiêng dưới  
trung bình ở tất cả các kỹ năng. Chỉ  
có 7 học sinh người Kinh ở mục  
(3.2.2., mục b) đọc không được.  
- Học sinh người Kinh không đọc  
được: 0.  
b. Văn xuôi  
- Số học sinh Stiêng không đọc được  
là 47/60; số âm tiết không đọc được là  
14/27.  
- Có sự giống nhau về số âm tiết mà  
học sinh Stiêng không đọc được và  
bỏ/nuốt khi đọc. Điều này lý giải như  
thế nào, nếu đó không phải là nguyên  
nhân từ sách giáo khoa. Không thể có  
lý do gần như tất cả các em học sinh  
Stiêng đều có chung những âm tiết  
không đọc được, cũng như có chung  
những âm tiết không thể đọc, phải  
bỏ/nuốt. Cho nên, ý kiến của giáo viên,  
người quản lý và phụ huynh trong  
nhận xét 1 giúp chúng ta lý giải hiện  
tượng này. Đó là những âm tiết trong  
những bài học nói riêng, sách giáo  
khoa nói chung, rất xa lạ đối với học  
sinh Stiêng. Chính vì lý do này mà  
các học sinh không thể đọc hoặc chỉ  
có thể đọc sau khi đã mất rất nhiều  
thời gian đánh vần, ráp chữ. Cũng  
khoảng thời gian này thì học sinh  
- Số học sinh người Kinh không đọc  
được là 7/60; số âm tiết không đọc  
trung bình là 6/27.  
Kết quả khảo sát cho thấy, 13/60 học  
sinh người Stiêng đọc được 27 âm tiết  
trong đoạn văn xuôi đang học tại thời  
điểm khảo sát, còn 47/60 học sinh  
không đọc được. Trong khi đó chỉ có 7  
học sinh người Kinh không đọc được  
(được xếp vào nhóm chưa hoàn  
thành). Đối với đoạn thơ, hai phần ba  
học sinh người Stiêng không đọc  
được. Số âm tiết trong đoạn thơ mà  
học sinh người Stiêng không đọc  
được là 10/20; còn trong đoạn văn  
xuôi là 14/27.  
3.2.3. Số học sinh nuốt/bỏ âm tiết  
và số âm tiết bị nuốt/bỏ  
a. Đoạn thơ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
57  
người Kinh đã hoàn thành các yêu 60/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung bình  
cầu.  
là 15/31.  
- Số học sinh người Kinh nuốt/bỏ âm  
tiết là 4/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung  
bình là 3/31.  
3.3. Nhìn và đọc đoạn trích chưa  
học tính đến thời điểm khảo sát  
3.3.1. Tốc độ đọc  
Đoạn thơ (18 âm tiết)  
Đoạn văn xuôi (31 âm tiết)  
Đối tượng  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Dưới  
trung bình  
Trung  
bình  
Tốt  
Tốt  
50  
10  
10  
36  
0
53  
15  
7
0
4
Học sinh người Stiêng  
Học sinh người Kinh  
14  
41  
3.3.2. Số học sinh và số âm tiết Nhận xét:  
không đọc được  
- Với những bài đã học và đang học,  
năng lực đọc của học sinh người  
Stiêng yếu hơn học sinh người Kinh  
cùng lớp nhiều lần nên đối với bài  
chưa học sẽ càng khó khăn để học  
sinh người Stiêng có thể đọc được.  
Bài chưa học học sinh không biết đọc  
nên phải đọc chậm, bỏ âm tiết  
hoặc/và đọc không được (cả đoạn  
trích là thơ và đoạn trích là văn xuôi).  
a. Đoạn thơ  
- Số học sinh Stiêng không đọc được  
là 50/60; số âm tiết không đọc được  
trung bình là 11/18.  
- Số học sinh người Kinh không đọc  
được: 0.  
b. Văn xuôi  
- Số học sinh Stiêng không đọc được:  
53/60; số âm tiết không đọc được  
trung bình là 16/31.  
- Với học sinh người Kinh năng lực  
đọc không hoàn toàn tốt, có nhiều học  
sinh chỉ đạt ở mức trung bình; thậm  
chí có em không đọc được như trong  
(3.2.2.) và (3.3.3.).  
- Số học sinh người Kinh không đọc  
được: 0.  
3.3.3. Số học sinh nuốt/bỏ âm tiết  
và số âm tiết bị nuốt/bỏ  
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
a. Đoạn thơ  
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện  
trong học kỳ 1, chưa phải kết quả đọc  
của học sinh lớp 1 tính theo năm học  
theo quy định của các thông tư. Tuy  
nhiên qua kết quả học kỳ 1 cũng phản  
ánh một phần thực trạng đọc của học  
sinh lớp 1 người Stiêng.  
- Số học sinh Stiêng nuốt/bỏ âm tiết là  
52/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ trung bình  
là 10/18.  
- Số học sinh người Kinh nuốt/bỏ âm  
tiết là 1/60; số âm tiết bị nuốt/bỏ là  
4/18.  
b. Văn xuôi  
1. Những tiêu chí và mức độ đánh giá  
thực trạng đọc của học sinh lớp 1  
- Số học sinh Stiêng nuốt/bỏ âm tiết là  
HỒ XUÂN MAI – THỰC TRẠNG ĐỌC CỦA HỌC SINH LỚP 1…  
58  
người Stiêng do chúng tôi đưa ra đều 2. Nguyên nhân từ đâu? Từ yếu tố  
thấp hơn so với quy định của Bộ Giáo tiếng Việt „tiền học đường‟, từ sách  
giáo khoa hoặc/và chương trình, từ  
phương pháp giảng dạy hay còn  
nguyên nhân nào khác? Đây là những  
câu hỏi cần sớm được giải đáp mới  
có thể giúp khắc phục thực trạng trên.  
dục và Đào tạo. Tuy nhiên, kết quả  
khảo sát 60 học sinh người Stiêng  
đều rất đáng lo ngại. Thứ nhất, số  
học sinh đạt từ trung bình trở xuống  
chiếm hơn hai phần ba, tức gần 50  
học sinh. Thứ hai, kết quả khảo sát  
cho thấy, thực trạng đọc của học sinh  
lớp 1 người Stiêng ở Trường Tiểu  
học Ngô Quyền đối với bài đã học,  
đang học và chưa học và ở tất cả các  
kỹ năng có giới hạn. Thực trạng đọc  
của học sinh người Kinh cũng không  
hoàn toàn đạt yêu cầu như mong  
muốn.  
Nếu là yếu tố tiếng Việt tiền học  
đường thì giải pháp đối với vấn đề  
này thuộc tầm chiến lược. Lúc đó, yêu  
cầu là làm sao để tất cả con em người  
Stiêng đều đã nói tiếng Việt như con  
em người Kinh cùng độ tuổi trước khi  
bước vào lớp 1. Yêu cầu này sẽ phải  
cần nhiều thời gian, nhiều nghiên cứu  
và đánh giá khoa học mới có thể có  
giải pháp khả thi.  
Nếu căn cứ vào quy định của các  
thông tư, học sinh các dân tộc vùng  
sâu, vùng xa và đặc biệt là học sinh  
các dân tộc ít người ở vùng trung du,  
miền núi rất khó đạt được(4).  
Nếu nguyên nhân từ sách giáo khoa  
hoặc/và chương trình thì các địa  
phương đưa ra những hướng dẫn đối  
với phân môn Tiếng Việt sao cho việc  
giảng dạy có hiệu quả nhất.  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Giáo viên dạy lớp cho chúng tôi biết là phải tách những học sinh này ngồi riêng để tiện  
theo dõi, bồi dưỡng.  
(2)  
Nguồn ngữ liệu sử dụng: Các bài đọc gồm thơ và văn xuôi trong sách giáo khoa Tiếng  
Việt 1 và Tiếng Việt 2, bộ Chân trời sáng tạo, do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm  
2020.  
(3) Bản điện tử do tác giả chuyển và đồng ý cho chúng tôi sử dụng.  
(4) Thêm vào đó, mức độ yêu cầu học sinh phải đạt của các thông tư cũng không thống nhất  
nhau. Chẳng hạn, Thông tư 30/2014 quy định ba mức chưa hoàn thành, hoàn thành và  
hoàn thành tốt; Thông tư 22/2016 quy định mức chưa hoàn thành và hoàn thành; còn Thông  
tư 36/2017 thì quy định ba mức chưa hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành tốt.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2014.Thông tư 30/2014/TT-GDĐT ngày 28/8/2014.  
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2016.Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016.  
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2017.Thông tư 36/TT-BGDĐT ngày 28/12/2017.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
59  
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2020.Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 20/10/2020.  
5. Nguyễn Thị Ly Kha - Phạm Hải Lê. 2013. “Bảng Hướng dẫn khảo sát (kỹ năng đọc-  
viết, nghe-hiểu của học sinh lớp 1, 2 và 3, 4, 5)”, Trường Đại học Sư phạm TPHCM.  
pdf 9 trang baolam 17260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng đọc của học sinh lớp 1 người Stiêng ở Bình Phước (Qua khảo sát tại 5 điểm của Trường Tiểu học Ngô Quyền, huyện Bù Gia Mập)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_doc_cua_hoc_sinh_lop_1_nguoi_stieng_o_binh_phuoc.pdf