Một số gợi ý khi thiết kế dạy học đọc - hiểu văn bản văn học môn Ngữ văn ở trung học cơ sở theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Một số gợi ý khi thiết kế dạy học đọc - hiểu  
văn bản văn học môn Ngữ văn ở trung học cơ sở  
theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018  
Nguyễn Thị Quế  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Thiết kế dạy học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là thiết  
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam  
Email: nguyenque[email protected]  
kế theo định hướng năng lực. Dạy học đọc - hiểu văn bản văn học cấp Trung  
học cơ sở hướng đến mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học  
và các năng lực chung cho học sinh. Giáo viên khi thiết kế bài dạy đọc - hiểu  
văn bản văn học cần lưu ý đến việc hướng đích: Xác định các mục tiêu năng  
lực cụ thể trong tiết học, quy trình dạy học hướng đến tổ chức hoạt động học  
cho học sinh, các phương pháp, kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức để thực  
hiện hoạt động học. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương tiện và đồ dùng dạy  
học, môi trường học tập cũng rất quan trọng để hỗ trợ cho việc phát triển năng  
lực của học sinh.  
TỪ KHÓA: Thiết kế dạy học; Chương trình Giáo dục phổ thông mới; văn bản văn học.  
Nhận bài 05/8/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 20/9/2019 Duyệt đăng 25/10/2019.  
b. Người học sẽ phát triển các NL chung nào?  
1. Đặt vấn đề  
CT GDPT 2018 xác định 3 nhóm NL chung là: NL tự chủ  
và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và  
sáng tạo [2; tr.5]. GV khi thiết kế cần chủ động xác định đưa  
các NL chung này vào mục tiêu bài học. Có thể chọn một  
hoặc nhiều NL chung nhưng nên có trọng điểm tập trung  
vào một nhóm NL chung trong một bài học, coi đó là trọng  
tâm. Khi thiết kế các tiết đọc - hiểu, việc GV chọn nhóm NL  
chung nào cần phải tính đến trên cơ sở văn bản đọc - hiểu  
đó phù hợp với việc phát triển nhóm NL nào nhiều hơn,  
hoặc GV chủ định đưa nhóm NL chung nào vào tiết dạy.  
Thiết kế dạy học theo Chương trình (CT) Giáo dục phổ  
thông (GDPT) 2018 là thiết kế dạy học phát triển năng lực  
(PTNL). Thiết kế “tập trung vào mục tiêu hình thành và  
PTNL, học sinh (HS) thực hiện các hoạt động để tự tìm ra  
kiến thức, hiểu biết phù hợp với mình, qua đó biết cách học  
và biết tự học” [1]. Vì vậy, giáo viên (GV) cần hiểu rõ các  
đặc điểm và quy trình của thiết kế dạy học PTNL để thiết  
kế bài dạy. Với môn Ngữ văn ở trung học cơ sở (THCS),  
dạy học đọc - hiểu văn bản văn học (VBVH) là một phần  
quan trọng để PTNL ngôn ngữ, năng lực (NL) văn học và  
các NL chung. Việc dạy học đọc - hiểu VBVH thường dễ  
sa vào giảng giải nội dung. Nay phải chuyển từ giảng giải  
sang tổ chức hoạt động, chuyển từ nội dung sang NL. Vậy,  
thiết kế dạy học như thế nào để đáp ứng được mục tiêu này?  
Bài viết đưa ra một số gợi ý về thiết kế dạy học giúp GV có  
thêm một cách tiếp cận từ góc độ dạy học đọc - hiểu VBVH  
môn Ngữ văn ở THCS.  
2.1.2. Lựa chọn nội dung dạy học  
Lựa chọn nội dung dạy học cần căn cứ vào yêu cầu cần  
đạt trong khung CT Ngữ văn 2018. Với tiết dạy đọc - hiểu,  
GV căn cứ vào mục tiêu cần đạt của 4 NL, trong đó chú  
trọng 3 NL: Đọc - hiểu, nói, nghe.  
Để xác định nội dung dạy học, GV cần hiểu sâu giá trị nội  
dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Trên cơ sở đó, GV  
chọn lọc những nội dung cụ thể phù hợp với HS, phục vụ  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Một số gợi ý thiết kế dạy học văn bản văn học ở trung học cho mục tiêu đã đặt ra ban đầu. Tránh việc nhồi nhét kiến  
cơ sở theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới  
2.1.1. Xác định mục tiêu bài học  
thức, bắt HS phải hiểu tác phẩm như một nhà nghiên cứu  
văn học. Thiết kế NL thay vì nặng về nội dung dạy học nay  
thiên về việc dạy học bằng cách nào? Từ nội dung học, HS  
ứng dụng được gì để hiểu các tác phẩm khác cũng như hiểu  
chính mình, những người xung quanh mình?... Vì vậy, dạy  
học đọc - hiểu VBVH, GV không nên đưa tràn lan tất cả  
các vấn đề trong tác phẩm. Hãy chọn lựa để HS nắm được  
chỉnh thể tác phẩm và đi sâu vào những vấn đề đặc sắc nhất.  
Khi thiết kế dạy học các môn học theo CT GDPT 2018,  
việc xác định mục tiêu của bài học phải được xây dựng trên  
cơ sở xác định được các thành tố của NL mà HS cần đạt  
được sau mỗi bài học, bao gồm việc xác định mục tiêu về  
NL chuyên môn và NL chung. GV cần xác định rõ:  
a. Người học sẽ PTNL ngôn ngꢀ và NL văn học gì?  
Để xác định mục tiêu này, GV cần: Dựa vào các biểu hiện  
cụ thể của NL ngôn ngữ và NL văn học trong khung CT  
Ngữ văn ở THCS tương ứng với khối lớp mình đang thiết  
kế; Dựa vào VBVH sẽ tổ chức cho HS.  
2.1.3. Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật và hình thức dạy học  
Về phương pháp dạy học (PPDH), CT GDPT tổng thể  
2018 chỉ rõ: “Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
56  
Nguyễn Thị Quế  
trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động dụng để tổ chức hoạt động đọc - hiểu.  
Ví dụ: Với bài Sang thu (Hữu Thỉnh), GV có thể sử dụng  
kĩ thuật động não khi bắt đầu tìm hiểu tác phẩm với câu hỏi:  
Em nghĩ đến những điều gì khi sang thu? HS có thể có vô  
vàn những ý tưởng phong phú khi thu về tùy vào đặc điểm ở  
mỗi vùng miền nơi các em sinh sống: Gió heo may se lạnh,  
mùi cốm thơm dịu ngọt, hoa sữa nồng nàn, trời mây bàng  
bạc, không gian hanh hao, nắng nhạt,... Từ những ý tưởng  
trên, GV đã khơi dậy những trải nghiệm, tạo không khí để  
HS đọc - hiểu văn bản.  
Để phát triển các NL chung, GV có thể chủ động lựa chọn  
phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp. PPDH hợp tác,  
kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật ổ bi,…rất phù hợp để PTNL  
giao tiếp và hợp tác. PPDH giải quyết vấn đề, kĩ thuật tia  
chớp, kĩ thuật động não…rất phù hợp để PTNL giải quyết  
vấn đề và sáng tạo.Tất cả các PPDH tích cực theo lối thầy tổ  
chức, trò thực hiện đều có thể PTNL tự chủ, tự học cho HS.  
của HS, trong đó GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt  
động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những  
tình huống có vấn đề để khuyến khích HS tích cực tham gia  
vào các hoạt động học tập, tự phát hiện NL, nguyện vọng  
của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát  
huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được  
để phát triển” [3; tr.32]. Sử dụng các PPDH tích cực là cách  
để hình thành và phát triển NL người học. Các PPDH được  
chọn lựa để phù hợp với nội dung dạy học. Một số PPDH  
có thể sử dụng trong dạy học đọc - hiểu VBVH như sau:  
- PPDH hợp tác: Dạy học hợp tác phát huy được tính tích  
cực, tính trách nhiệm; PTNL cộng tác làm việc và NL giao  
tiếp của HS. Khi tiến hành đọc - hiểu văn bản, GV tổ chức  
HS thành các nhóm và sử dụng kĩ thuật ổ bi, XYZ, khăn  
trải bàn,… để HS tiến hành trao đổi, thảo luận theo nhóm.  
Dạy học hợp tác được sử dụng để HS tìm hiểu những vấn đề  
như: Phân tích hình tượng nghệ thuật, phân tích giá trị nghệ  
thuật, tìm hiểu đặc điểm thể loại văn học…  
2.1.4. Thiết kế các hoạt động học  
Có nhiều cách khác nhau để tổ chức cho HS đọc - hiểu  
tác phẩm văn học. Tác giả hướng đến phân tích một quy  
trình dạy học đọc - hiểu VBVH như sơ đồ dưới đây (xem  
Sơ đồ 1):  
- PPDH giải quyết vấn đề: Các vấn đề đưa ra để HS xử  
lí, giải quyết cần phù hợp với chủ đề bài học, trình độ nhận  
thức của HS, gần gũi với cuộc sống thực, chứa đựng những  
mâu thuẫn cần giải quyết để từ đó gợi ra cho HS nhiều  
hướng suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề. PPDH giải quyết  
vấn đề phát triển khả năng tư duy, NL. Phương pháp này rất  
phù hợp để HS tìm hiểu những vấn đề liên quan đến việc lí  
giải, cắt nghĩa nội dung tác phẩm. Ví dụ: Đọc - hiểu truyện  
Thánh Gióng, GV đưa ra vấn đề: Lí giải chiến thắng của  
Thánh Gióng, có người cho rằng đây là chiến thắng của  
người anh hùng tài giỏi, có người cho rằng đây là chiến  
thắng của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Em có ý kiến gì về  
vấn đề này? Đây là vấn đề đòi hỏi HS phải phân tích các chi  
tiết quan trọng trong tác phẩm, biết liên hệ và tổng hợp để  
khái quát hóa nội dung ý nghĩa hình tượng Thánh Gióng.  
- Phương pháp đóng vai: Đây là PPDH rất phù hợp với  
hoạt động đọc - hiểu, nhất là với những văn bản có yếu tố  
tự sự. Phương pháp này còn được gọi là sân khấu hóa tác  
phẩm văn học để HS dễ đồng cảm và cảm nhận sâu sắc hơn  
tác phẩm. Khi tổ chức phương pháp trên, GV cần lưu ý:  
Dành thời gian phù hợp cho HS thảo luận, xây dựng kịch  
bản và chuẩn bị đóng vai, khích lệ những HS nhút nhát  
tham gia. Chuẩn bị đạo cụ và hóa trang đơn giản để tăng  
tính hấp dẫn. Ví dụ: Đóng lại tiểu phẩm Thầy bói xem voi  
sau khi đọc - hiểu tác phẩm.  
KHỞI ĐỘNG  
KHÁM PHÁ KIẾN THỨC  
LUYỆN TẬP  
VẬN DỤNG  
Hình 1: Quy trình dạy học đọc - hiểu VBVH  
Bước 1: Khởi động  
Để khởi động, GV có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy  
học tích cực như: Trò chơi, đóng vai, động não, xem video,  
nghe nhạc, xem tranh ảnh và thảo luận,... Mục tiêu là khơi  
dậy được hứng thú và tạo sợi dây kết nối giữa người đọc  
và VBVH.  
- Phương pháp vấn đáp: Đây là phương pháp thường  
được coi là truyền thống. Song phương pháp này dễ sử  
dụng nhất trong giờ đọc - hiểu. Khi sử dụng phương pháp  
này, GV nên chú ý trong việc xây dựng các câu hỏi: Phù  
hợp với đặc điểm nhận thức của HS, hệ thống câu hỏi logic,  
đi đúng vào trọng tâm nội dung đọc - hiểu. Ngoài ra, GV  
cần phối hợp phương pháp vấn đáp với các phương pháp  
tích cực khác. Hình thức tổ chức khi dạy học vấn đáp cũng  
cần kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm.  
- Về kĩ thuật dạy học: Các kĩ thuật dạy học tích cực như:  
Ví dụ: Khởi động khi học văn bản Làng (Kim Lân), GV  
tổ chức khởi động bằng cách HS thực hiện nhiệm vụ: Hãy  
chia sẻ với bạn bè, thầy cô về nơi em sinh sống?  
HS có thể chuẩn bị trước ở nhà những bức tranh hay đặc sản  
của quê hương, những cảm nhận của riêng em về mảnh đất  
yêu quý của mình. Từ đó, GV kết luận và liên hệ tới bài học.  
Bước 2: Khám phá kiến thức  
Với bước 2, HS thực sự thâm nhập vào bài học, khám phá  
những khái niệm, tri thức mới. Đây là bước trọng tâm của  
quá trình dạy học. Đối với dạy học VBVH, GV có thể cho  
KWL, tia chớp, sơ đồ tư duy, động não,... đều có thể sử HS thực hiện các bước sau:  
Số 22 tháng 10/2019  
57  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bước 4: Vận dụng  
a. Đọc trải nghiệm văn bản và nêu cảm nhận chung ban  
Hoạt động vận dụng diễn ra khi HS biết đưa những giá trị  
vừa được tiếp nhận vào ứng dụng, thực hành trong bối cảnh  
mới. Vận dụng giúp nâng cao NL tự học, tự đọc - hiểu các  
tác phẩm văn học ngoài tác phẩm đã học. Vận dụng giúp  
HS gắn nội dung tác phẩm với đời sống của chính mình,  
hiểu sâu sắc hơn về mình và đời sống xã hội.  
Ví dụ: Vận dụng sau khi học đặc điểm chứa đựng bài học  
nhân sinh trong truyện ngụ ngôn: Tìm hiểu bài học đặt ra  
trong một truyện ngụ ngôn khác mà em đã biết; Vận dụng  
sau khi học tác phẩm Làng (Kim Lân): Hãy thực hiện một  
dự án tại địa phương em sinh sống để quảng bá những nét  
đẹp của địa phương nhằm thể hiện tình cảm và niềm tự hào  
đối với quê hương.  
đầu  
- Đọc trải nghiệm: GV cần tạo cơ hội cho HS được đọc  
trải nghiệm văn bản như cuộc thám hiểm đầu tiên vào thế  
giới ngôn từ. Với HS ở THCS, cần yêu cầu HS đọc trước  
ở nhà và kiểm soát việc đọc bằng phiếu bài tập. Các phiếu  
bài tập được thiết kế bám sát vào văn bản để GV kiểm soát  
được việc đọc.  
Hoạt động đọc trên lớp cần diễn ra đa dạng: HS tự đọc,  
HS nghe GV hoặc bạn đọc diễn cảm một đoạn, trong đó  
quan trọng nhất là HS phải tự mình đọc. Nếu văn bản quá  
dài, GV có thể yêu cầu HS đọc những đoạn tiêu biểu, yêu  
cầu HS tóm tắt.  
- Nêu cảm nhận chung ban đầu: Cảm nhận ban đầu  
thường mang màu sắc cảm xúc và để lại ấn tượng sâu đậm  
với HS. Có thể là cảm nhận chung về tác phẩm hoặc cảm  
nhận về một khía cạnh trong tác phẩm: Về nhân vật chính,  
về cuộc sống của các nhân vật, về bức tranh thiên nhiên,…  
GV hãy tạo cho HS môi trường thân thiện, cởi mở, không  
áp đặt, kích thích HS tư duy.  
2.1.5. Lựa chọn phương tiện dạy học  
“Phương tiện dạy học được dùng để chỉ những thiết bị  
dạy học (như các loại đồ dùng trực quan, dụng cụ máy  
móc…), những trang thiết bị, kĩ thuật mà thầy trò dùng khi  
giải quyết nhiệm vụ dạy học” [4; tr.6]. Phương tiện dạy học  
b. Hình dung, tưởng tượng để tái tạo lại thế giới văn bản góp phần làm tăng hiệu quả dạy học của GV; làm rõ các nội  
Đây là bước để HS thâm nhập vào thế giới hình tượng dung học tập; khích lệ người học học tập và giúp GV trở  
được xây dựng bằng ngôn từ. Ở thao tác này, tưởng tượng nên sáng tạo. Để thiết kế, lựa chọn phương tiện dạy học,  
đóng vai trò quan trọng. Thông qua tưởng tượng, HS hình GV cần chú ý: Phương tiện và học liệu phải phù hợp với  
dung lại một phần, hay toàn bộ thế giới nghệ thuật của văn nội dung, phương pháp, kĩ thuật dạy học. Lựa chọn phương  
bản. Để HS sáng tạo ngay từ thao tác đó, trên cơ sở cốt lõi tiện, học liệu để phát triển được NL của HS. Lựa chọn, tìm  
văn bản, GV khuyến khích các em tái tạo lại văn bản bằng kiếm, sáng tạo các đồ dùng dạy học, học liệu, tư liệu với  
ngôn ngữ của mình, theo cách diễn đạt của bản thân, không khối lượng phù hợp. Ưu tiên những học liệu có sẵn, dễ sử  
kể lại y nguyên tác phẩm. GV có thể sử dụng các hình thức dụng như trích đoạn sách, báo hay tranh ảnh, trích đoạn  
sau để thúc đẩy HS hình dung, tưởng tượng nhằm tái tạo băng hay đĩa ghi âm, băng hay đĩa hình, các mô hình tự xây  
dựng, tài liệu tự sưu tập, phiếu học tập...  
lại thế giới nghệ thuật của văn bản như: Kể lại những gì em  
nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được khi đọc văn bản hoặc  
diễn lại một cảnh ngắn, một đoạn thoại.  
c. Phân tích, lí giải, cắt nghĩa các yếu tố nội dung, nghệ  
thuật của văn bản  
Dạy học Ngữ văn ở THCS theo CT GDPT mới cần đa  
dạng hóa các phương tiện dạy học. Đó có thể là một bộ  
phim có kịch bản dựa trên các tác phẩm văn học trong nhà  
trường (Ví dụ: HS xem phim Chị Dậu khi học đoạn trích  
Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố). Đó có thể là những tranh,  
ảnh, video cung cấp các kiến thức lên quan đến nội dung  
văn bản trong sách giáo khoa (Ví dụ: Khi học tác phẩm  
Hoàng Lê nhất thống chí (Hoàng Lê nhất thống chí), GV  
có thể chiếu phim tư liệu về lịch sử chống quân Thanh xâm  
lược của nghĩa quân Tây Sơn, giúp HS hiểu về giá trị lịch sử  
và giá trị văn học của tác phẩm)... Việc sử dụng các tư liệu  
này không chỉ hỗ trợ HS tìm hiểu nội dung bài học mà còn  
tạo cơ hội để HS được trải nghiệm nhiều hơn.  
Ở bước này, GV hướng dẫn HS đọc hiểu sâu các yếu tố  
nội dung, nghệ thuật của văn bản qua hệ thống câu hỏi. Đây  
là bước quan trọng đòi hỏi HS phải sử dụng thao tác liên  
tưởng để tìm ra ý nghĩa hàm ẩn của hình tượng văn học. Do  
đó, GV cần linh hoạt sử dụng các phương pháp và kĩ thuật  
dạy học giúp HS tự kiến tạo tri thức từ văn bản, đánh giá,  
vận dụng sáng tạo văn bản và rút ra cách đọc văn bản theo  
đặc trưng thể loại. Để giúp HS thực hiện tốt bước này, GV  
cần biết chọn lựa các chi tiết, hình ảnh, sự việc đắt giá trong  
VBVH; sử dụng hệ thống câu hỏi đọc - hiểu hợp lí theo các  
cấp độ, bao gồm: Câu hỏi phát hiện, câu hỏi phân tích, suy  
luận; câu hỏi đánh giá phản hồi, câu hỏi so sánh kết nối,...  
PPDH có thể sử dụng: Dạy học giải quyết vấn đề, dạy học  
hợp tác, phương pháp vấn đáp,… Hình thức tổ chức nên kết  
hợp làm việc cá nhân với làm việc nhóm.  
2.1.6. Lựa chọn môi trường học tập  
Môi trường học tập là nơi diễn ra hoạt động của GV và  
HS trong không gian, thời gian xác định. Trong môi trường  
này, có sự tương tác giữa người dạy và người học. Môi  
trường học tập không tự có sẵn mà GV cần phải tạo lập,  
phát triển, duy trì và nuôi dưỡng nó. Có thể kể đến những  
Bước 3: Luyện tập  
Ở bước này, HS được luyện tập, khắc sâu các kĩ năng, kiểu môi trường thường được lựa chọn sau đây: Giờ lên  
kiến thức đã học. HS được thực hành những bài tập liên lớp, môi trường dã ngoại, môi trường trò chơi, môi trường  
quan đến bài học. GV có thể sử dụng bài tập trắc nghiệm thực tiễn... Việc lựa chọn môi trường học tập đa dạng sẽ  
hoặc tự luận ngắn.  
mang lại hiệu quả tích cực và tăng hứng thú cho HS.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
58  
Nguyễn Thị Quế  
Trong hoạt động dạy học môn Ngữ văn THCS, sử dụng ra hình ảnh gì?  
đa dạng môi trường học tập là việc cần khuyến khích. Học  
một tác phẩm văn học về các cuộc chiến tranh chống ngoại  
xâm của dân tộc mà HS được tham quan, dã ngoại tại địa  
điểm lịch sử (bảo tàng lịch sử, di tích lịch sử...) hoặc được  
nghe những chiến binh năm xưa kể chuyện chiến trường,  
được đi viếng nghĩa trang liệt sĩ, thăm bà mẹ Việt Nam  
anh hùng chắc chắn các em sẽ hiểu sâu sắc hơn tác phẩm  
đã học, biết liên hệ kiến thức đã học với thực tế đời sống.  
Học các tác phẩm văn học, GV có thể tổ chức cho HS đóng  
kịch lại câu chuyện đã học. Việc tổ chức sân khấu hóa tác  
phẩm văn học là phương pháp tốt để tạo ra môi trường học  
tập mang màu sắc nghệ thuật, nơi HS có cơ hội để nhập vai,  
hóa thân, trải nghiệm.  
HS trả lời theo suy nghĩ cá nhân, GV dẫn dắt vào bài học.  
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức  
a. Đọc và nêu cảm nhận chung  
- Đọc văn bản: GV đọc mẫu; HS đọc văn bản trong sách  
giáo khoa.  
- HS chia sꢀ nhóm đôi (trong 2 phút) nêu cảm nhận chung  
về nhân vật ếch bằng cách trả lời câu hỏi: Em thấy ếch như  
thế nào? HS báo cáo trước lớp (2-3 HS).  
b. Hình dung và kể lại thế giới văn bản  
* Tìm hiểu từ ngữ: HS tìm hiểu nghĩa của các từ khó  
trong sách giáo khoa thông qua trao đổi với bạn và đọc chú  
thích trong sách giáo khoa, tra từ điển (nếu cần).  
* Hình dung và kể lại:  
- GV yêu cầu HS hoàn thành phiếu bài tập trong thời gian  
5 phút (xem Bảng 1).  
- HS làm việc theo nhóm đôi.  
2.2. Thiết kế minh họa dạy học đọc - hiểu văn bản văn học  
TRUYỆN NGỤ NGÔN: ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG  
(Lớp 6)  
1. Mục tiêu  
Bảng 1: Phiếu bài tập hình dung và kể lại thế giới văn bản  
- Phát triển NL đọc - hiểu, NL văn học:  
+ Biết phân tích nhân vật ếch qua: Hành động, thái độ  
của nhân vật.  
+ Hiểu ý nghĩa hàm ẩn được gửi gắm trong truyện ngụ  
ngôn Ếch ngồi đáy giếng.  
+ Chỉ ra được đặc điểm của thể loại truyện ngụ ngôn.  
+ Biết liên hệ bài học trong câu chuyện với trải nghệm  
của bản thân.  
+ Biết phê phán thói chủ quan, kiêu ngạo và tích cực học  
tập, rèn luyện để nâng cao hiểu biết của bản thân.  
- Phát triển các NL chung:  
+ Tự chủ, tự học: Vận dụng được một cách linh hoạt kiến  
thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong những tình  
huống mới. Từ câu chuyện con ếch, liên hệ bản thân để  
nhận ra những điều mình cần học hỏi.  
+ Giao tiếp, hợp tác: Thông qua các hoạt động nhóm, HS  
biết mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hình thức giao  
tiếp. HS nắm được nhiệm vụ của mình, biết phối hợp với  
bạn để tạo ra sản phẩm của nhóm.  
+ Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết phân tích vấn đề,  
giải quyết vấn đề để tìm ra ý nghĩa câu chuyện. Sáng tạo  
trong hình thức đóng vai.  
2. Chuẩn bị bài học  
Chuẩn bị của GV:  
- Phương pháp và kĩ thuật dạy học: Phương pháp vấn đáp,  
giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, đóng vai…  
- Phương tiện dạy học: Sách giáo khoa, các phiếu bài tập  
cho HS, máy tính, máy chiếu để chiếu các phiếu bài tập, đạo  
cụ để đóng kịch.  
Nhân vật  
Nhận xét của em  
Hoàn cảnh sống của ếch:  
+ Sống ở đâu?  
....................................................................  
+ Cộng đồng xung quanh nó là ai?  
....................................................................  
Hành động của ếch:  
....................................................................  
Suy nghĩ của con ếch:  
....................................................................  
- HS trình bày kết quả thảo luận. Các nhóm bổ sung ý  
không trùng lặp với nhóm trước, nhất là ở phần nhận xét.  
- HS chỉ ra được: Ếch sống trong một cái giếng, xung  
quanh nó là nhái, cua, ốc. Đó là điều kiện sống chật hẹp,  
nhỏ bé, ẩm ướt với một cộng đồng xung quanh cũng ít ỏi,  
toàn những loài vật yếu ớt. Hoàn cảnh sống như vậy khiến  
cho mỗi tiếng kêu của ếch trở nên vang động, khiến các con  
vật hoảng sợ. Đây là cơ sở để ếch nghĩ bầu trời trên đầu chỉ  
bé bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể. Đấy  
là một suy nghĩ chủ quan, ngây thơ cho thấy ếch là một kꢀ  
thiếu hiểu biết nhưng lại huênh hoang, ngạo mạn.  
c. Đọc hiểu chi tiết văn bản  
- Tìm hiểu bài học của truyện:  
+ GV đưa ra vấn đề: Có bạn cho rằng ếch bị giẫm bẹp vì  
do mưa to, nước dềnh lên khiến ếch bị ra khỏi giếng. Có  
bạn cho rằng ếch bị dẫm bẹp vì ếch làm theo thói quen khi  
sống trong giếng. Em có ý kiến gì về vấn đề này? Bài học  
em rút ra sau khi đọc câu chuyện?  
+ HS thảo luận nhóm (5 phút) sau đó trình bày (GV cũng  
có thể phát cho mỗi HS một tấm thiệp nhỏ, mỗi em ghi một  
bài học rút ra từ câu chuyện và dán lên bảng cuối lớp học).  
HS chỉ ra được nguyên nhân: Rời khỏi môi trường sống  
Chuẩn bị của HS:  
- Trước khi đến lớp HS cần: Đọc trước văn bản; tìm hiểu  
những kiến thức cơ bản; trả lời các câu hỏi đọc hiểu văn  
bản.  
3. Tiến trình hoạt động học  
Hoạt động 1: Khởi động:  
Sử dụng kĩ thuật tia chớp, trong 2 phút thực hiện yêu cầu: nhỏ hẹp, ếch được ra ngoài thế giới rộng lớn nhưng ếch vẫn  
Đọc câu thành ngữ “Ếch ngồi đáy giếng”, em tưởng tượng giữ thói quen cũ: Hành động nghênh ngang, nhâng nháo,  
Số 22 tháng 10/2019  
59  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
coi thường người khác. Vì vậy, cái chết của ếch là một tất  
yếu.  
Về mục tiêu: Xác định rõ các mục tiêu phát triển NL đọc  
- hiểu, NL văn học và NL chung.  
Bài học: Mượn chuyện về con ếch, tác giả dân gian nói  
về bài học cho con người:  
+ Phê phán những người hiểu biết ít ỏi, hạn hẹp nhưng tự  
cho mình là nhất, tự cao tự đại, coi thường người khác. Thói  
xấu này không chỉ khiến người đó trở nên lạc hậu, thụt lùi  
mà có thể trả giá bằng tính mạng.  
+ Câu chuyện nhắc nhở mỗi người cần biết khiêm tốn  
học hỏi để mở mang hiểu biết vì thế giới ngoài kia vô cùng  
rộng lớn, bao la.  
Về các hoạt động học: Tiến trình tổ chức bài học được  
thiết kế dựa trên hoạt động học của HS, giúp các em hoạt  
động, trải nghiệm, tự kiến tạo nên kiến thức, kĩ năng:  
Khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng. Các  
phương pháp được sử dụng là: PPDH hợp tác, phương pháp  
vấn đáp, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng  
vai, phương pháp trò chơi. Các hình thức tổ chức lớp học cá  
nhân, nhóm linh hoạt. Trong mỗi hoạt động hướng đến hình  
thành và phát triển NL cho HS. Cụ thể:  
- Tìm hiểu đặc điểm của truyện ngụ ngôn:  
GV yêu cầu HS hoàn thành phiếu bài tập (xem Bảng 2)  
Hoạt động hình thành kiến thức:  
NL đọc - hiểu, NL văn học:  
+ Biết phân tích nhân vật ếch qua: Hành động, thái độ  
của nhân vật.  
+ Hiểu ý nghĩa hàm ẩn được gửi gắm trong truyện ngụ  
ngôn Ếch ngồi đáy giếng.  
+ Chỉ ra được đặc điểm của thể loại truyện ngụ ngôn.  
NL tự chủ, tự học: Thông qua hình thức các phiếu bài tập,  
HS biết tự học để giải quyết nhiệm vụ.  
Bảng 2: Phiếu bài tập tìm hiểu đặc điểm truyện ngụ ngôn  
Các yếu tố của truyện ngụ ngôn  
Ngôn ngữ  
Nhận xét của em  
Cốt truyện  
Dung lượng  
NL giao tiếp, hợp tác: Thông qua các hoạt động nhóm,  
HS biết mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hình thức  
giao tiếp. HS nắm được nhiệm vụ của mình, biết phối hợp  
với bạn để tạo ra sản phẩm của nhóm.  
Hình ảnh, chi tiết  
Ý nghĩa  
Hoạt động luyện tập:  
NL đọc - hiểu, NL văn học:  
+ Biết liên hệ bài học trong câu chuyện với trải nghệm  
của bản thân.  
+ Biết phê phán thói chủ quan, kiêu ngạo và tích cực học  
tập, rèn luyện để nâng cao hiểu biết của bản thân.  
NL giao tiếp, hợp tác: Thông qua các hoạt động nhóm là  
đóng vai, HS biết mục đích giao tiếp để cùng xây dựng kịch  
bản, biết phối hợp với bạn để tạo ra sản phẩm của nhóm.  
NL sáng tạo: Biết tạo lời thoại riêng cho kịch bản, sáng  
tạo trong hình thức đóng vai.  
HS trình bày kết quả, nhận xét về đặc điểm nghệ thuật của  
truyện ngụ ngôn: Cốt truyện đơn giản, cô đúc; dung lượng  
ngắn gọn; ngôn ngữ của đời sống nên giản dị; hình ảnh chi  
tiết đắt giá, đa nghĩa; ý nghĩa: Qua chuyện về con vật, loài  
vật để nói tới con người. Bài học được gửi gắm trong truyện  
ngụ ngôn vì vậy nhẹ nhàng nhưng vô cùng thấm thía.  
Hoạt động 3: Luyện tập  
- Hoạt động nhóm: HS đóng kịch Ếch ngồi đáy giếng. GV  
chia lớp thành nhiều nhóm có số lượng tương đương nhau.  
Mỗi nhóm xây dựng kịch bản, viết lời cho nhân vật và tổ  
chức đóng vai. Sau đó GV chọn 2 nhóm lên diễn trước lớp.  
Hoạt động 4: Vận dụng  
- Trong 5 phút, HS ghi ra giấy được cắt hình chú ếch  
những điểm tốt của mình và những điểm mình cần học hỏi.  
GV tổ chức chia sꢀ bằng kĩ thuật ổ bi: HS đứng thành 2  
vòng tròn đồng tâm quay mặt vào nhau, 2 HS đối diện chia  
sꢀ với nhau. Sau đó vòng trong đứng yên, vòng ngoài dịch  
chuyển sang phải/trái, 2 HS đối diện tiếp tục chia sꢀ. Kết  
thúc chia sꢀ, HS dán lên góc chia sꢀ trong lớp học. HS có  
nhiều điểm cần học hỏi nhất được phong danh hiệu “Chú  
ếch ham học nhất”.  
Hoạt động vận dụng:  
NL đọc - hiểu và NL tự chủ, tự học: Biết liên hệ bài học  
trong câu chuyện tới bản thân, nhận thức những điểm tốt và  
những điểm cần học hỏi của mình. Việc phong danh hiệu  
cho HS là “Chú ếch ham học nhất” giúp các em tự nhận  
thức: Mình đã khiêm tốn chưa?  
Hoạt động tổng kết, đánh giá:  
NL tự chủ, tự học: Tự đánh giá thái độ và kết quả học tập  
của mình. Trên cơ sở đó, HS biết chủ động và tích cực hơn  
trong hoạt động học tập.  
Hoạt động 5: Tổng kết - đánh giá  
- HS tổng kết ý nghĩa của truyện Ếch ngồi đáy giếng và  
đặc điểm của truyện ngụ ngôn.  
3. Kết luận  
Sự chuyển đổi CT từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL  
kéo theo sự chuyển đổi từ thiết kế dạy học nội dung sang  
- HS tự đánh giá về thái độ và khả năng hợp tác trong tiết thiết kế dạy học NL. Thiết kế dạy học PTNL đòi hỏi sự đổi  
học.  
- GV tổng kết - đánh giá.  
mới từ mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp  
và kĩ thuật dạy học đến phương tiện dạy học, môi trường  
Thiết kế truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng là một thiết học tập…Theo đó, thiết kế dạy học PTNL hướng đến tổ  
kế bài học theo hướng PTNL. chức hoạt động học cho HS, PTNL tự học, phối hợp giữa  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
60  
Nguyễn Thị Quế  
hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm, tạo cơ hội cho HS kiến thức vào ngữ cảnh mới.Tuy nhiên, thiết kế dạy học  
ứng dụng kết quả học tập vào thực tiễn.Thiết kế dạy học  
đọc - hiểu VBVH môn Ngữ văn THCS yêu cầu GV không  
chỉ nắm chắc tác phẩm văn học mà cần bám vào khung  
CT, nắm được quy trình tổ chức dạy học đọc - hiểu, biết  
vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học  
đọc - hiểu, đồng thời linh hoạt trong thực tiễn dạy học.  
không bao giờ bị gò bó trong một quy trình cứng nhắc cụ  
thể nào. Một tiết dạy đọc - hiểu hay và hấp dẫn phụ thuộc  
cả vào kinh nghiệm và NL sáng tạo của mỗi GV. Khi GV  
có NL thiết kế dạy học thì việc lựa chọn và sử dụng tài  
liệu dạy học nào hay VBVH nào không còn tuyệt đối quan  
Qua đó, HS hiểu được ý nghĩa của tác phẩm, biết vận dụng trọng.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) - Phạm Thị Thu Hiền - Bùi  
Minh Đức - Đỗ Thu Hà - Lê Thị Minh Nguyệt, (2019),  
Dạy học phát triển năng lực học sinh môn Ngꢀ văn Trung  
học cơ sở, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông môn Ngꢀ văn, Hà Nội.  
[6] Đặng Thành Hưng, (10/2004), Kĩ thuật thiết kế bài học  
theo nguyên tắc hoạt động, Tạp chí Phát triển Giáo dục,  
tr.6.  
[7] Đỗ Ngọc Thống, (2019), Giáo án theo yêu cầu phát triển  
giao-an.  
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông tổng thể, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Minh Trung, (2018), Phương tiện dạy học,  
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2000), Sách Ngꢀ văn 6,7,8,9,  
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[8] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, (2018), Nghiên cứu  
thiết kế dạy học một số môn học và hoạt động trải nghiệm  
theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới, Trung tâm  
Phát triển bền vững chất lượng giáo dục phổ thông quốc  
gia, Nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên, Hà Nội.  
SOME PROPOSALS FOR DESIGNING LESSON PLANS FOR TEACHING  
READING COMPREHENSION OF LITERARY TEXTS AT SECONDARY LEVEL  
UNDER THE NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM 2018  
Nguyen Thi Que  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam  
Email: nguyenque[email protected]  
ABSTRACT: Under the new general education curriculum 2018, designing  
lesson plans is based on competence-development approach. Teaching  
reading comprehension of literary texts at secondary level aims at  
developing the language competences, literary competences, and  
general competences for students. Therefore, when designing reading  
comprehension texts, teachers should focus on determining the specific  
competency requirements in each lesson, teaching process, teaching  
methods, and teaching forms to organize learning activities for students.  
In addition, the teachers need to pay attention to teaching facilities  
and supplies, as well as learning environment to improve students’  
competencies.  
KEYWORDS: Designing teaching activities; the new general education curriculum;  
literary texts.  
Số 22 tháng 10/2019  
61  
pdf 6 trang baolam 34880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số gợi ý khi thiết kế dạy học đọc - hiểu văn bản văn học môn Ngữ văn ở trung học cơ sở theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_goi_y_khi_thiet_ke_day_hoc_doc_hieu_van_ban_van_hoc_m.pdf