Văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1242-1253  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
VĂN HỌC TUỔI MỚI LỚN Ở VIỆT NAM  
Võ Văn Nhơn*, Nguyễn Bảo Châu  
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Võ Văn Nhơn – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 04-5-2021; ngày nhận bài sửa: 20-6-2021; ngày duyệt đăng: 23-7-2021  
TÓM TẮT  
Hiện nay, khái niệm tuổi mới lớn đã rất quen thuộc với công chúng, nhưng văn học tuổi mới  
lớn vẫn còn là khái niệm tương đối mới mẻ trong lĩnh vực nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Trong  
bài viết này, bên cạnh việc minh định hai khái niệm tuổi mới lớn và văn học tuổi mới lớn dựa trên  
cơ sở kế thừa một số định nghĩa đã có của những nhà nghiên cứu văn học phương Tây, chúng tôi  
sẽ vận dụng phương pháp lịch sử trong nghiên cứu văn học để mang đến cho người đọc một cái  
nhìn tổng quát về quá trình hình thành và phát triển văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam, từ những  
bước đi đầu tiên từ đầu thế kỉ XX cho đến nay. Bên cạnh đó, với phương pháp so sánh, chúng tôi  
cũng sẽ làm rõ những thay đổi của các tác giả Việt Nam trong cách lựa chọn và khai thác đề tài  
khi viết về tuổi mới lớn theo từng giai đoạn phát triển.  
Từ khóa: tuổi mới lớn; văn học tuổi mới lớn; văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam  
1.  
Mở đầu  
Tuổi mới lớn là khái niệm quen thuộc, được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội  
Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm văn học tuổi mới lớn vẫn còn khá xa lạ trong lĩnh vực  
nghiên cứu văn học nước nhà. Việc chỉ hiểu một cách qua loa, đại khái về tuổi mới lớn có  
thể sẽ khiến hoạt động nghiên cứu đặc trưng của văn học tuổi mới lớn không được triển  
khai một cách mạnh mẽ và điều này vô hình trung tạo nên rào cản cho việc tìm hiểu về  
những thành tựu của dòng văn học ấy.  
Từ trước đến nay, khi bàn luận về văn học tuổi mới lớn, giới nghiên cứu và phê bình  
ở Việt Nam đã mặc định xem đây là dòng chảy nhỏ đang hòa vào dòng chảy lớn hơn của  
văn học dân tộc – văn học thiếu nhi. Sự hạn chế về lực lượng sáng tác và số lượng tác  
phẩm trong suốt thời gian đầu của văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam đã khiến người ta hoài  
nghi về sức sống của nó. Dẫu vậy, bằng tất cả sự nỗ lực và tấm lòng nhiệt thành vì thời hoa  
niên rực rỡ của mình và của những thiếu niên khác, các thế hệ nhà văn, nhà thơ Việt Nam,  
đặc biệt là từ những thập niên 60-70 và 80-90 của thế kỉ XX, đã từng bước đưa văn học  
tuổi mới lớn trở thành một thế lực rất đáng được coi trọng trong nền văn học hiện đại Việt  
Cite this article as: Vo Van Nhon, & Nguyen Bao Chau (2021). Young adult literature in Vietnam. Ho Chi  
Minh City University of Education Journal of Science, 18(7), 1242-1253.  
1242  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
Nam với một loạt các tác phẩm chất lượng, phản ánh chân thực cái thế giới tâm hồn phức  
tạp của thiếu niên mới lớn. Sự thành công của văn học tuổi mới lớn ở cả Việt Nam và thế  
giới trong giai đoạn cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI đã đánh dấu sự vận động của văn  
học hiện đại và đương đại, một sự vận động theo hướng chuyên môn hóa cao hơn, phục vụ  
cho từng nhu cầu, cho từng loại đối tượng độc giả cụ thể hơn so với văn học của các thời kì  
trước đó.  
2.  
Nội dung nghiên cứu  
2.1. Tuổi mới lớn và văn học tuổi mới lớn  
Trước khi mang đến cho người đọc một cái nhìn bao quát nhất về tiến trình văn học  
tuổi mới lớn ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỉ qua, chúng tôi sẽ tiến hành làm rõ hai khái  
niệm có khả năng gây tranh cãi nhất, đó là “tuổi mới lớn” và “văn học tuổi mới lớn”.  
Trong đó, tuổi mới lớn và văn học tuổi mới lớn sẽ được nhìn nhận lại không phải từ vấn đề  
độ tuổi mà là từ vấn đề đặc trưng của chúng.  
2.1.1. Khái niệm tuổi mới lớn  
Theo Strickland (2015), thuật ngữ “tuổi mới lớn” (tiếng Anh: “young adult”) lần đầu  
được Hiệp hội Dịch vụ thư viện dành cho tuổi mới lớn (tiếng Anh: “Young Adult Library  
Services Association”) nêu ra vào cuối thập niên 60 của thế kỉ XX. Vào thời điểm đó, thuật  
ngữ “tuổi mới lớn” được sử dụng với tư cách là một danh từ để chỉ thanh thiếu niên, những  
người trong giai đoạn từ 12 đến 18 tuổi. Dẫu vậy, không phải đến tận những năm cuối  
cùng của thập niên 60, người ta mới bàn đến vấn đề “tuổi mới lớn”. Theo Owen (2003),  
ngay từ năm 1802, trong bài viết được đăng trên The Guardian of Education, nhà giáo dục  
học Sarah Trimmer đã đề cập vấn đề “người trẻ” hay “tuổi trẻ” (tiếng Anh: “young  
adulthood”) khi giới thiệu đến độc giả nhóm “sách cho trẻ em” (tiếng Anh: “Books for  
Children) dành cho độc giả dưới 14 tuổi và nhóm “sách cho người trẻ” (tiếng Anh: “Books  
for Young Persons”) dành cho đối tượng từ 14 đến 21 tuổi. Đối với Trimmer, sự khác biệt  
trong nhận thức giữa thiếu niên và nhi đồng chính là lí do để giới xuất bản, giới sáng tác và  
giới khoa học nhìn nhận lại việc phân luồng độc giả. Độc giả tuổi mới lớn hay bộ phận  
thanh thiếu niên lúc này có đủ điều kiện để được nhìn nhận như một nhóm độc giả độc lập.  
Với hai cách định nghĩa của Sarah Trimmer và Hiệp hội Dịch vụ thư viện dành cho  
tuổi mới lớn, chúng ta có thể thấy một độ chênh nhất định trong việc giới hạn độ tuổi mới  
lớn. Trong giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ngày nay, người ta vẫn còn tranh  
cãi về vấn đề này. Theo Butcher và Hinton (2013), ở Hội nghị Ủy ban Giáo dục Anh quốc  
về Nghiên cứu và Giảng dạy văn học tuổi mới lớn, giới khoa học phương Tây đưa ra 4  
cách hiểu về “tuổi mới lớn”. Cách hiểu thứ nhất cho rằng, đối tượng tuổi mới lớn nằm  
trong khoảng từ 11 đến 16 tuổi. Cách hiểu thứ hai lại quan niệm, tuổi mới lớn là từ 10 đến  
21 tuổi. Cách hiểu thứ ba thì lùi độ tuổi khởi đầu và kết thúc của tuổi mới lớn lại một chút  
so với cách hiểu thứ hai, là trong khoảng 12 đến 22 tuổi. Cách hiểu thứ tư lại giới hạn theo  
1243  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
khối lớp chứ không còn theo độ tuổi nữa. Với cách hiểu này, đối tượng tuổi mới lớn chính  
là học sinh từ khối lớp 6 đến lớp 12.  
Theo sự quan sát của người viết, sở dĩ có sự chênh lệch trong cách tính tuổi cho đối  
tượng tuổi mới lớn chính là vì các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất với nhau  
trong việc xác định thời gian dậy thì của thiếu niên, khi ngay cả giữa phái nam và phái nữ  
đã có sự khác biệt rất lớn. Về cột mốc tuổi tác, các nhà nghiên cứu ít nhiều có sự tranh cãi  
nhưng họ đều đồng thuận một điều: Tuổi mới lớn là thời kì chuyển tiếp của quá trình từ trẻ  
con thành người lớn. Những ai đang trong thời kì này thì đều được gọi là thanh thiếu niên  
hay thiếu niên (tiếng Anh: “teenager” hay “adolescent”). Vào giai đoạn này, các thiếu niên  
phải trải qua rất nhiều sự biến đổi, có thể từ thân thể, tâm lí cho đến cả nhận thức. Cơ thể  
họ phát triển nhanh chóng dưới sự gia tăng của các hormone và từng bước trở thành cơ thể  
của một người trưởng thành. Họ bắt đầu tạo dựng cho mình nhiều mối quan hệ trong xã  
hội. Trung tâm của sự chú ý mà họ dành cho gia đình nay đã dịch chuyển sang bạn bè. Họ  
dành nhiều sự quan tâm hơn đến chính bản thân mình, cả về cơ thể lẫn tinh thần. Sự thay  
đổi đột ngột của nội tiết tố là một trong những nguyên nhân khiến tâm lí của thiếu niên trở  
nên nhạy cảm, dễ bị kích động hơn trước. Bên cạnh đó, họ có những thay đổi nhất định về  
khả năng nhận thức và tư duy khi không chỉ dừng lại ở trình độ biết và hiểu đơn thuần mà  
còn bắt đầu có sự tư duy về các vấn đề được đưa ra. Ở một khía cạnh nào đó, giai đoạn tuổi  
mới lớn, có thể được xem, chính là khởi đầu cho quá trình trưởng thành của mỗi người.  
Tính đến thời điểm này, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một định  
nghĩa cụ thể nào về tuổi mới lớn. Tất cả những gì chúng ta có được chỉ đơn thuần là sự mô  
tả về đối tượng. Tuy nhiên, dựa trên những công trình của giới khoa học nước ngoài, chúng  
tôi cho rằng tuổi mới lớn nên được hiểu là một giai đoạn có tính chất chuyển tiếp, từ trẻ  
con đến khi trở thành người lớn. Tuổi mới lớn tương ứng với giai đoạn dậy thì của cơ thể  
người, kéo dài từ khoảng 12 đến 18 tuổi, với những biến đổi trước tiên là về thể chất, sau  
đó là nhận thức và tinh thần. Tương ứng với khái niệm này, ta sẽ có độc giả tuổi mới lớn  
(nhóm độc giả từ 12 đến 18 tuổi), văn viết cho tuổi mới lớn (truyện ngắn, truyện dài, tiểu  
thuyết hướng đến đối tượng độc giả từ 12 đến 18 tuổi)…  
2.1.2. Khái niệm văn học tuổi mới lớn  
Với sự xuất hiện của nhiều cách hiểu khác nhau, thật khó để chúng ta tìm được một  
định nghĩa tường tận về khái niệm tuổi mới lớn. Sự nhập nhằng trong việc xác định độ tuổi  
mới lớn đã kéo theo vô vàn cách hiểu về khái niệm văn học tuổi mới lớn. Mặt khác, giới  
nghiên cứu văn học không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nước ngoài rất băn khoăn không biết  
có nên công nhận văn học tuổi mới lớn là một dòng văn học với những định hướng, đặc  
trưng của nó hay không. Hay chúng ta vẫn nên để văn học tuổi mới lớn là một bộ phận của  
văn học thiếu nhi, văn học trẻ em như từ trước đến nay đã làm?  
Theo chúng tôi, tuổi mới lớn là giai đoạn quá độ từ trẻ con thành người lớn. Vì vậy,  
những thay đổi về tâm sinh lí, những cảm xúc và trải nghiệm mà một thiếu niên trải qua sẽ  
1244  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
có những cách biệt rất lớn nếu so với khi họ là nhi đồng và khi là người trưởng thành. Suốt  
một thời gian dài, người lớn đều xếp tuổi mới lớn chung hạng với tuổi nhi đồng. Thiếu  
niên, do đó, luôn bị coi là những đứa trẻ không hơn không kém, vẫn còn non nớt, yếu đuối,  
dễ bị tổn thương nên rất cần sự bảo bọc và che chở. Điều tạo nên sự khác biệt giữa họ với  
lứa tuổi nhi đồng có lẽ là cái danh “những đứa trẻ to xác” với sự phát triển vượt trội về  
hình thể. Trên thực tế, giữa thiếu niên và nhi đồng tồn tại một khoảng cách rất xa, nhất là  
trong tư duy nhận thức. Với những đứa trẻ đang bước vào giai đoạn tuổi mới lớn, chúng  
phải đối mặt với nhiều thay đổi về thể chất và tinh thần, phải đối diện với những vấn đề  
phức tạp có liên quan đến các mối quan hệ xã hội, đến hành trình khám phá bản thân… Sự  
trưởng thành trong tư duy của chúng được thể hiện qua cách chúng giải quyết và tháo gỡ  
những vấn đề như thế nào, cách chúng đối diện hay trốn tránh những cảm xúc của mình ra  
sao. Đây đều là những trải nghiệm mà văn học nhi đồng không thể chia sẻ với độc giả của  
mình. Trong khi đó, văn chương người lớn lại bàn luận vấn đề với góc độ phức tạp, đầy ưu  
tư của những người từng trải nên đã đánh mất đi nhãn quan tinh khôi, hồn nhiên mà tuổi  
mới lớn đang có. Vì vậy, theo chúng tôi, văn học tuổi mới lớn là sự đan cài giữa văn học  
nhi đồng và văn học người lớn. Tức là, các tác phẩm viết cho tuổi mới lớn sẽ phải đề cập  
những vấn đề phức tạp của các mối quan hệ gia đình và xã hội mà lứa tuổi này đang đối  
mặt nhưng tất thảy phải được thể hiện qua lăng kính ngây thơ của những tâm hồn chưa kịp  
lớn một cách toàn diện. Với những lí do trên, chúng tôi cho rằng, văn học tuổi mới lớn cần  
được nhìn nhận như một dòng văn học chính thống và độc lập trong dòng chảy văn học  
dân tộc.  
Hiện nay, khái niệm văn học tuổi mới lớn được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra,  
nhưng theo chúng tôi, định nghĩa mang tính chất khái quát và xác đáng hơn cả đó là do  
Marci Glauss đưa ra vào năm 2014. Trong bài viết Text Complexity and Young Adult  
Literature: Establishing Its Place (2014), Glauss thẳng thắn cho rằng:  
Văn học tuổi mới lớn có thể được hình dung là những văn bản văn học có thiếu niên là  
những nhân vật chính, và họ phải giải quyết những vấn đề mà mọi thiếu niên có thể phải đối  
mặt [ngoài đời thực]. Kết quả thường phụ thuộc vào những quyết định và lựa chọn của nhân  
vật chính, đôi khi “tất cả yếu tố thuộc văn học truyền thống điển hình cho văn chương kinh  
điển” có thể được tìm thấy [trong văn học tuổi mới lớn] (p.408).  
Như vậy, khái niệm văn học tuổi mới lớn mà Glauss đưa ra đã vượt lên trên những  
tranh chấp về độ tuổi mới lớn. Nói cách khác, khái niệm của Glauss không lấy đối tượng  
độc giả làm trung tâm mà dành sự quan tâm đến văn bản nghệ thuật. Với cách định nghĩa  
như thế, khái niệm văn học tuổi mới lớn mà Glauss đề ra tập trung tuyệt đối vào những đặc  
trưng nghệ thuật của tác phẩm văn học. Trong đó, cách xây dựng hình tượng nhân vật  
trung tâm chính là một đặc trưng tiêu biểu quyết định xem tác phẩm đó sẽ thuộc về văn học  
thiếu nhi hay văn học tuổi mới lớn.  
1245  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
Vậy hình tượng nhân vật trung tâm như thế nào mới có thể xác định tác phẩm đó  
thuộc về văn học tuổi mới lớn? Điều đầu tiên, theo Glauss, nhân vật trung tâm hay nhân  
vật chính trong các truyện viết cho tuổi mới lớn phải thuộc giai đoạn tuổi mới lớn, tức là  
trong khoảng 12 đến 18 tuổi. Điều thứ hai, quan trọng hơn tất thảy, là nhà văn sẽ đặt nhân  
vật trung tâm này vào trong những tình huống cụ thể để anh ta phải đối diện và giải quyết  
những vấn đề mà độ tuổi này đặt ra. Đó có thể là những thách thức trong cách ứng xử với  
các mối quan hệ xã hội (tình yêu, tình bạn, tình cảm gia đình, tình thầy trò...). Đó có thể là  
những nhận thức của anh ta về chính mình (về những dục vọng, những nỗi buồn sâu thẳm  
của tuổi mới lớn, những đổ vỡ tinh thần, những khác biệt lớn lao giữa hiện thực và mộng  
ảo...). Đó có thể là những xung đột mang tính chất đối kháng giữa anh ta với xã hội - thời  
đại, giữa giai đoạn nhi đồng với giai đoạn tuổi mới lớn. Điều này sẽ được thể hiện rất đa  
dạng, có thể qua hành động, thái độ, cũng có thể qua suy nghĩ, lối sống… của chính các  
nhân vật. Với một số ít tác phẩm viết cho tuổi mới lớn, theo Glauss (2014), chúng có hệ  
thống biểu tượng, hình ảnh và cấu trúc tự sự rất giống với các thành tố văn chương của các  
tác phẩm kinh điển. Glauss cho rằng đây là một điều rất đáng hoan nghênh khi văn học  
tuổi mới lớn sẽ là cầu nối để độc giả thiếu niên được tiếp xúc với không khí của văn học  
kinh điển. Như vậy, khái niệm văn học tuổi mới lớn của Glauss chú trọng đến cấu trúc nội  
tại của văn bản văn học, mà ở đó, hình tượng nhân vật và những trải nghiệm của anh ta khi  
đến với thế giới tuổi mới lớn sẽ là nhân tố quan trọng để quyết định tác phẩm có nên thuộc  
về văn học tuổi mới lớn hay không.  
Mãi đến thập niên 20 của thế kỉ XXI, giới khoa học vẫn chưa có một định nghĩa  
thống nhất nào về khái niệm văn học tuổi mới lớn. Việc chọn lựa một định nghĩa nào phù  
hợp cho bài viết này, đối với chúng tôi, cũng là một chuyện rất khó khăn. Tuy vậy, chúng  
tôi sẽ lựa chọn định nghĩa mà Glauss đề ra vì nhận thấy định nghĩa này đã thuyết phục  
được chúng tôi khi lấy nội hàm văn bản văn học là trung tâm của sự suy xét và phân tích.  
Kết hợp với định nghĩa của Glauss, chúng tôi đưa ra một cách định nghĩa khác về  
khái niệm văn học tuổi mới lớn như sau: Văn học tuổi mới lớn là dòng văn học lấy hình  
tượng thiếu niên là trung tâm phản ánh và hướng đến đối tượng độc giả chủ yếu là thiếu  
niên, những người trong độ tuổi từ 12 đến 18 tuổi. Ở đó, thiếu niên được xây dựng với tư  
cách là nhân vật chính hay nhân vật trung tâm. Nhân vật này phải đối diện và giải quyết  
những thách thức mà đời sống tuổi mới lớn đặt ra để từ đó khám phá chính mình và nhìn ra  
thế giới. Khái niệm văn học tuổi mới lớn này sẽ là cơ sở để bài viết của chúng tôi được tiếp  
tục triển khai sau đây.  
2.2. Tiến trình văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam  
Trong lịch sử văn học thế giới, văn học tuổi mới lớn trước đây được xem là một  
nhánh thuộc dòng văn học chủ lưu là văn học thiếu nhi. Phải đến những năm 50-60 của thế  
kỉ XX, văn học tuổi mới lớn mới xuất hiện trên văn đàn với tư cách là một dòng văn học  
chính thống khi chứng kiến sự ra đời hàng loạt của các tác phẩm ăn khách như The  
1246  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
Catcher in the Rye (1951) của J. D. Salinger (bản dịch tiếng Việt: “Bắt trẻ đồng xanh”),  
The Outsiders (1967) của S. E. Hinton (bản dịch tiếng Việt: “Ngựa chứng đầu xanh”), The  
Pigman (1968) của Paul Zindel…  
Cũng giống như văn học tuổi mới lớn của thế giới, văn học tuổi mới lớn Việt Nam  
xuất hiện khá muộn màng trong tiến trình văn học dân tộc. Tuy nhiên, chỉ trong một thời  
gian ngắn, văn học tuổi mới lớn của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đạt  
được những thành tựu rực rỡ. Để có thể chinh phục được những thành công rực rỡ đó, văn  
học tuổi mới lớn phải trải qua những thăng trầm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện  
chính mình. Với dung lượng có hạn của bài viết, chúng tôi chỉ khảo sát các tác phẩm viết  
cho tuổi mới lớn được sáng tác bằng chữ Quốc ngữ trong những thập niên đầu của thế kỉ  
XX chứ không khảo sát các văn bản dịch từ các tác phẩm nước ngoài du nhập vào  
Việt Nam.  
2.2.1. Văn học tuổi mới lớn giai đoạn 1930-1945  
Trong suốt thời kì trung đại, văn học Việt Nam vốn là nơi để giới Nho sĩ bàn luận những  
chuyện quốc gia đại sự, những vấn đề mang tầm vóc lớn lao, vĩ đại như vận mệnh dân tộc,  
thân phận con người, chứ không phải là chỗ để những tâm tình ngây ngô, vụng dại, những băn  
khoăn về sự thay đổi của tâm sinh lí xuất hiện. Thế nên, xuyên suốt mấy mươi thế kỉ, văn học  
trung đại Việt Nam không hề có một tác phẩm nào dành cho tuổi mới lớn.  
Bước sang thế kỉ XX, trong khoảng 40 năm đầu của thế kỉ, văn học Việt Nam đã tiến  
hành công cuộc hiện đại hóa văn chương dân tộc. Những sáng tác đầu tiên cho thiếu nhi đã  
xuất hiện. Ở Bắc Kỳ có bài thơ Lên sáu và Lên tám (Tản Đà), Đông Tây ngụ ngôn, Nhi  
đồng lạc viên (Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc), ở Nam Kỳ có “nhi đồng tiểu thuyết”1 của hai  
tác giả Nguyễn Háo Vĩnh, Tùng Lâm. Lúc này, độc giả tuổi mới lớn vẫn còn là khái niệm  
mơ hồ, xa lạ của giới văn chương trong nước. Thêm vào đó, dư âm của thời đại phong kiến  
vẫn còn ảnh hưởng đến đời sống xã hội đương thời. Thiếu niên Việt Nam vào thế kỉ XX  
phải dựng vợ gả chồng ngay từ rất sớm. Có những chàng trai, cô gái chỉ khoảng 13-15 tuổi  
nhưng đã lập gia đình và đều được xem là những người trưởng thành. Vì lẽ đó, thời gian  
này, con người chỉ trải qua thời thơ ấu và ngay sau đó là chuyển đến giai đoạn thành gia  
lập thất, làm chủ gia đình nên họ hầu như không có thời hoa mộng. Một số ít thiếu niên  
còn độc thân, được gia đình cho cắp sách đến trường và tiếp cận với văn chương, nhưng có  
thể khẳng định đây chỉ là một nhóm rất nhỏ. Với bộ phận độc giả ít ỏi này, họ bị xếp, hoặc  
là vào nhóm độc giả nhi đồng, hoặc vào nhóm độc giả người lớn. Các độc giả tuổi mới lớn  
này vẫn phải đọc các tác phẩm viết cho nhi đồng và đó hầu hết đều là các sáng tác truyền  
dạy đạo lí làm người.  
Đến những năm 30-40, văn học thiếu nhi bắt đầu có những bước phát triển đáng ghi  
nhận. Sự ra đời của Tủ sách Sách Hồng của Tự lực văn đoàn đã để lại những ảnh hưởng  
1 Thuật ngữ của các tác giả Nam Bộ trong giai đoạn đó.  
1247  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
nhất định trong công chúng khi đây là tập hợp của những tác phẩm viết riêng cho nhi đồng  
và thiếu niên, như Bông cúc huyền, Cóc tía, Đạo sĩ (Khái Hưng), Con chim gi sừng (Hoàng  
Đạo), Hạt ngọc (Thạch Lam)... Thế nhưng, sự hạn chế của nhóm sách này là ở chỗ chúng  
chỉ “phản ánh đời sống sinh hoạt của trẻ em ở khu vực thành thị […] chưa phản ánh một  
cách toàn diện và còn khá xa lạ với đời sống của trẻ em ở nông thôn” (Doan, 2018, p.9).  
Bên cạnh Tự lực văn đoàn, ở khu vực văn chương miền Bắc, số lượng tác phẩm hướng đến  
độc giả nhi đồng cũng đã xuất hiện ngày một nhiều hơn như tiểu thuyết Tấm lòng vàng  
(Nguyễn Công Hoan), Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), các truyện ngắn Bảy bông lúa  
lép, Con mèo mắt ngọc, Người thợ rèn, Ba người bạn (Nam Cao), truyện thơ Nàng Bạch  
Tuyết và bảy chú lùn, Tấm Cám (Tú Mỡ), các truyện đồng thoại Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ  
Ngựa, Lá thư rơi, Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài)…  
Trong khi đó, ở khu vực văn chương miền Nam, các tác phẩm viết cho thiếu nhi lúc  
này cũng gây được không ít tiếng vang trên văn đàn, như Tích con cắc ké (Huấn Trai),  
Thằng Ngả gió (Chương Dân), Nghĩa đồng bào (Thuần Phong), Hai đứa con hiếu (Long  
Vân), Đối với thầy (Vũ Đình Tuệ), Trẻ mồ côi (Vân Đài), Cay đắng mùi đời (Hồ Biểu  
Chánh)… Số lượng tác phẩm viết cho thiếu nhi vô cùng dồi dào với sự góp mặt của nhiều  
cây bút uy tín. Các tác phẩm được đăng trên các tờ báo nổi tiếng nhất miền Nam như Phụ  
nữ tân văn, Lục tỉnh tân văn…  
Trong 40 năm đầu của văn học hiện đại Việt Nam, có thể thấy, sự phân chia đối  
tượng độc giả giữa nhi đồng và thiếu niên chưa rõ ràng. Vì vậy, văn học tuổi mới lớn thời  
gian này vẫn nằm chung một dòng chảy với văn học thiếu nhi Việt Nam chứ chưa thể trở  
thành một cá thể độc lập, vì vốn dĩ, trong bốn thập niên đầu của thế kỉ XX, văn học tuổi  
mới lớn vẫn chưa có một tác phẩm cụ thể nào có chủ đích hướng đến đối tượng độc giả  
riêng biệt này. Vì lẽ đó, các tác phẩm hướng đến độc giả nhi đồng cũng đồng thời là các  
sách truyện giải trí dành cho độc giả tuổi mới lớn với nội dung phần lớn mang nặng tính  
giáo huấn đạo đức, uốn nắn con người chứ chưa thực sự thâm nhập thế giới tâm hồn phức  
tạp của độc giả thiếu niên đương thời. Họa chăng chỉ có những loại sách của Tự lực văn  
đoàn hay một số ít tác phẩm như Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Dế Mèn phiêu lưu kí  
(Tô Hoài) mới đáp ứng được những nhu cầu tình cảm chân thực, những mộng ước lung  
linh mà nhóm độc giả thiếu niên hướng đến.  
2.2.2. Văn học tuổi mới lớn giai đoạn 1945-1985  
Vượt qua những thách thức của hai cuộc chiến tranh khốc liệt, văn học hiện đại Việt  
Nam vẫn không ngừng trưởng thành. Trong thời gian này, văn học tuổi mới lớn bắt đầu  
thoát thai khỏi vòng tay bảo trợ của văn học thiếu nhi và có được những bước đi chập  
chững đầu tiên của riêng mình. Giữa khu vực văn học miền Bắc và miền Nam, văn học  
tuổi mới lớn có không ít sự khác biệt về hệ thống đề tài. Điều này góp phần giúp văn học  
tuổi mới lớn Việt Nam được khoác một tấm áo rạng rỡ với muôn màu muôn sắc ngay từ  
những buổi bình minh lịch sử.  
1248  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
Giai đoạn 1945-1975 và khoảng 10 năm sau chiến tranh, miền Bắc luôn trong tâm  
thế vừa xây dựng đất nước, khôi phục cuộc sống sau chiến tranh, vừa phải đấu tranh chống  
kẻ thù xâm lược. Trong suốt thời gian đó, để cổ vũ tinh thần của thiếu niên nhi đồng và  
hun đúc ngọn lửa yêu nước, ý chí căm thù giặc ngoại xâm, văn học Việt Nam đã có không  
ít các tác phẩm xây dựng hình mẫu những thiếu niên lí tưởng, anh hùng, luôn cống hiến  
sức mình cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Hình tượng trung tâm của các tác  
phẩm này đều là em hay thiếu niên trong giai đoạn khoảng từ 10 đến 14 tuổi. Nội dung chủ  
yếu hướng đến việc phản ánh đời sống sinh hoạt của thiếu niên nhi đồng trong những năm  
tháng chiến tranh khốc liệt, qua đó, tô đậm những đóng góp tích cực của các em đối với  
cuộc chiến tranh của dân tộc. Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như: Chiến sĩ ca nô  
(Nguyễn Huy Tưởng), Chú bé giao liên làng Seo (Nguyễn Tuân), Dưới chân cầu Mây  
(Nguyên Hồng), Thiếu niên anh hùng (Phong Nhã), Hoa Sơn (Tô Hoài), Phác Kim Tố  
(Nguyễn Xuân Sanh), Quê nội (Võ Quảng), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn  
Thi)… Bên cạnh đó, văn học cũng chứng kiến sự xuất hiện của những truyện viết về người  
thật việc thật với hi vọng độc giả thiếu niên nhi đồng có thể lấy đó làm gương để ngày một  
hoàn thiện mình. Những tác phẩm nổi tiếng ở hướng đi này chính là Những năm tháng  
không quên (Nguyễn Ngọc Ký), Hoa Xuân Tứ (Quang Huy)… Đến năm 1957, Nhà xuất  
bản Kim Đồng được thành lập đã góp một phần không nhỏ trong việc tạo dựng những tiền  
đề cho văn học tuổi mới lớn và văn học thiếu nhi ở miền Bắc phát triển. Sự ra đời của Nhà  
xuất bản Kim Đồng kéo theo những tác phẩm văn học viết cho tuổi mới lớn được phát  
hành rộng rãi như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Cái Thăng (Võ Quảng), Vừ A Dính  
(Tô Hoài)…  
Ở miền Nam, nhà văn Hoàng Văn Bổn chính là tên tuổi chủ chốt cho mảng đề tài  
chiến tranh của văn học thiếu niên nhi đồng với các đầu sách như Tướng Lâm Kỳ Đạt, Lũ  
chúng tôi, Tuổi thơ trong làng, Bên kia sông Đồng Nai, Theo dấu người xưa, Ngày xửa  
ngày xưa. Trong đó, đáng chú ý nhất là tác phẩm Tướng Lâm Kỳ Đạt, vốn rất được độc giả  
tuổi nhỏ yêu thích. Bên cạnh một số tác phẩm hướng đến mục đích sự cổ vũ tinh thần  
kháng chiến của thiếu niên nhi đồng, văn học tuổi mới lớn ở miền Nam bắt đầu có khuynh  
hướng tách mình ra khỏi văn học thiếu nhi và tập trung xây dựng những câu chuyện dành  
riêng cho độc giả tuổi mới lớn. Giảm dần những hình mẫu người thật việc thật tỏa sáng lí  
tưởng, giảm dần những lời hô hào xung phong vào chiến khu, văn học tuổi mới lớn ở miền  
Nam quyết tâm trở thành những chuyến tàu đưa người đọc về với khung trời mộng mơ,  
ngây ngô, tinh nghịch, nổi loạn của những năm tháng 13-14 tuổi. Sự hình thành của dòng  
văn học này ở miền Nam, thuở ban đầu, xuất phát từ trách nhiệm của những người cầm bút  
đối với độc giả trẻ và tinh thần tự tôn đối với văn học dân tộc.  
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, thị trường buôn bán các sách truyện viết cho  
tuổi mới lớn ở miền Nam đều do giới Hoa thương Chợ Lớn nắm giữ. Tiếc thay, các quyển  
sách này đều bị nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1969) đánh giá là loại “cỏ dại”, khi truyền bá  
những thói hư tật xấu đến thiếu niên miền Nam đương thời. Trước tình hình lũng đoạn thị  
1249  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
trường của giới Hoa thương, các nhà văn Nhật Tiến, Lê Tất Điều và Minh Quân đã chủ  
trương sáng tác những tác phẩm phù hợp với tinh thần tuổi mới lớn, nhưng rất tiếc, lại  
không gây được tiếng vang. Ít lâu sau, nhà văn Nguyễn Trường Sơn cùng một nhóm các  
văn sĩ miền Nam lập nên Tủ sách Tuổi Hoa, gồm các loại sách Hoa Xanh (truyện tình cảm  
gia đình, tình bạn bè), Hoa Đỏ (truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám), Hoa Tím (truyện  
dành cho tuổi 16-18) được in trên giấy khổ nhỏ, chữ lớn, dành cho thiếu niên. Trong đó,  
các tác phẩm nổi tiếng của bộ sách Hoa Tím gây ấn tượng mạnh với độc giả tuổi mới lớn  
lúc bấy giờ là Hoa bâng khuâng, Con đường lá me (Thùy An), Khúc nam ai, Cánh gió,  
Gợn sóng (Kim Hài), Bức tranh màu xám (Ý Yên), Hoa cườm thảo (Lý Thụy Ý), Kỉ niệm  
hồng (Thu Dung)… Trong thời gian này, một số báo lần lượt ra đời phục vụ cho độc giả  
tuổi mới lớn, thành công hơn cả là các báo Tuổi Hoa, Ngàn Thông, Tuổi Ngọc.  
Cùng với sự thành công của các báo “tuổi hoa”, “tuổi ngọc”, các đầu sách chất  
lượng, phù hợp với tâm lí của độc giả tuổi mới lớn cũng lần lượt được xuất bản. Những tác  
phẩm này không chỉ đề cao tinh thần nhân ái và tình cảm thắm thiết của thiếu niên dành  
cho gia đình, bạn bè, quê hương mà chúng còn chia sẻ những tâm tình vui, buồn vu vơ của  
lứa tuổi “ương ương dở dở”. Những tác giả và tác phẩm nhận được sự quan tâm đông đảo  
của độc giả tuổi mới lớn khi đó có thể kể đến như bộ tiểu thuyết Vẻ buồn tỉnh lị (Duyên  
Anh), các truyện dài Quê nhà yêu dấu (Nhật Tiến), Giờ ra chơi (Nguyễn Đình Toàn),  
Huyền xưa (Từ Kế Tường), Cửa trường, phía bên ngoài (Mai Thảo), Anh Chi yêu dấu  
(Đinh Tiến Luyện), Một chút mưa thơm (Mường Mán), Cổng trường vôi tím, Bước khẽ tới  
người thương (Nhã Ca), Hồn muối (Nguyễn Thị Hoàng), hay những bài thơ Tuổi mười ba,  
Buổi sáng học trò, Cần thiết, Tám phố Sài Gòn (Nguyên Sa)…  
Sau sự kiện lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975, giới văn nghệ sĩ miền Nam vì nhiều lí  
do đã không còn xuất hiện trên văn đàn chính thống. Nhiều tờ báo viết cho tuổi mộng mơ  
cũng đình bản. Trong suốt quãng thời gian 1975-1985, văn học tuổi mới lớn nói riêng và  
nền văn học dân tộc nói chung vẫn còn trượt dài theo quán tính của hai cuộc chiến tranh  
chống Pháp và chống Mĩ. Không ít những tác phẩm viết cho tuổi mới lớn trong thời đại  
mới vẫn loay hoay trở về những mảng đề tài cũ với tinh thần ngợi ca như Tảng sáng (Võ  
Quảng), Cơn giông tuổi thơ (Thu Bồn), Cát cháy (Thanh Quế)… Một số tác phẩm rẽ  
hướng phản ánh những bức tranh sinh hoạt mới của đời sống sau ngày thống nhất như Tình  
thương (Phạm Hổ), Chú bé có tài mở khóa (Nguyễn Quang Thân). Một số thì viết về  
những gương sáng để tuổi trẻ noi theo học hỏi, tiêu biểu là Búp sen xanh (Sơn Tùng).  
Nhưng nhìn chung, văn học tuổi mới lớn trong 10 năm sau chiến tranh đã bị chững lại và  
không có quá nhiều sự đổi mới.  
Như vậy, giai đoạn 1945-1985 là quãng thời gian văn học tuổi mới lớn Việt Nam có  
những bước đi chập chững đầu tiên trên con đường chinh phục độc giả của mình. Dẫu quá  
trình phát triển có nhiều chông gai, trắc trở và tồn tại những hướng đi khác nhau giữa văn  
học miền Nam và miền Bắc, nhưng nhìn chung, những tác phẩm văn chương viết cho tuổi  
mới lớn của nước ta trong giai đoạn đầu đã cho thấy được lực lượng sáng tác hùng hậu, hệ  
1250  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
thống đề tài đa dạng với hình thức nghệ thuật phong phú. Đây sẽ là nền tảng vững chắc để  
dòng văn học này có những bước tiến mạnh mẽ trong giai đoạn sau này.  
2.2.3. Văn học tuổi mới lớn giai đoạn 1986-nay  
Tiếp nối những thành tựu bước đầu của giai đoạn trước, văn học tuổi mới lớn Việt  
Nam dần khởi sắc với những hướng đi rõ ràng, cụ thể và mạnh mẽ hơn kể từ sau thời kì  
Đổi mới. Lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo. Các tác phẩm mở rộng biên độ sáng tác  
với những tư duy nghệ thuật độc đáo, hệ thống đề tài mới mẻ, sâu sắc, phản ánh kịp thời  
những trải nghiệm sống động của lứa tuổi mới lớn thời đại hôm nay. Những điều đó khiến  
cho những đầu sách của văn học tuổi mới lớn, trong 10 năm trở lại đây, đã trở thành hiện  
tượng “best-seller” trên thị trường sách nội địa.  
Từ sau năm 1986, lực lượng sáng tác sách truyện cho tuổi mới lớn ngày càng quy tụ  
được nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ của Việt Nam. Từ những nhà văn lão thành bước ra từ  
thời kì chiến tranh như Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Phùng Quán, Nguyễn Ngọc Ký...  
cho đến những nhà văn vốn được nuôi dưỡng trong bầu không khí văn chương “tuổi ngọc”,  
“tuổi hoa” của miền Nam trước năm 1975 như Từ Kế Tường, Mường Mán, Đoàn Thạch  
Biền, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Nhật Ánh..., rồi cả những nhà văn trẻ tuổi được  
sinh ra và lớn lên trong thời bình như Nguyễn Ngọc Thuần, Phan Hồn Nhiên, Dương  
Thụy... đều đã cống hiến cho văn học tuổi mới lớn Việt Nam những tác phẩm đặc sắc và  
giàu chất lượng.  
Sự góp mặt của những nhà xuất bản chuyên phát hành những đầu sách viết cho tuổi  
mới lớn như Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Măng Non (tiền thân của Nhà xuất  
bản Trẻ) cũng góp phần thúc đẩy cho văn học tuổi mới lớn phát triển rộng rãi. Bên cạnh đó,  
hàng loạt các tờ báo hay tạp chí chuyên viết cho thanh thiếu niên như Mực Tím, Áo Trắng,  
Hoa Học Trò... được tạo điều kiện để đầu tư xuất bản cũng đã trở thành “món ăn” tinh thần  
không thể thiếu cho các độc giả tuổi mới lớn. Những không gian báo chí với các mục sáng  
tác văn thơ thế này cũng chính là nơi sẽ phát hiện và ươm mầm những tài năng trẻ của văn  
học nước nhà. Điều này không chỉ giúp cho nền văn học Việt Nam có được đội ngũ kế thừa  
tài hoa mà còn góp phần đa dạng hóa dòng văn học tuổi mới lớn của chúng ta bằng những  
tiếng nói của người trong cuộc, bằng những trải nghiệm của người trẻ thời đại này.  
Suốt hơn 30 năm qua kể từ sau thời kì Đổi mới 1986, văn học tuổi mới lớn của nước  
ta đã có được một hệ thống đề tài và thể loại rất đa dạng và phong phú. Đó có thể những bộ  
truyện dày dặn như Kính vạn hoa (Nguyễn Nhật Ánh) kể về những câu chuyện vui buồn  
của tuổi học trò, những cuộc phiêu lưu thú vị xoay quanh ba nhân vật Quý ròm, Tiểu Long,  
nhỏ Hạnh cùng các nhân vật khác. Đó có thể là những truyện dài tinh nghịch của lũ học trò  
“nhất quỷ nhì ma” trong Bàn có năm chỗ ngồi, Những chàng trai xấu tính (Nguyễn Nhật  
Ánh) hay Mùa hè năm Petrus (Lê Văn Nghĩa). Đó có thể là những bâng khuâng tình đầu,  
những ngây ngô vụng dại, những cái liếc mắt chạm tay nhưng mang vào cả bầu trời thương  
nhớ của truyện dài Bầy chim trắng trong sân trường (Đinh Tiến Luyện), Cô gái đến từ  
hôm qua, Thằng quỷ nhỏ, Hoa hồng xứ khác (Nguyễn Nhật Ánh), Tình nhỏ làm sao quên,  
1251  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1242-1253  
Tôi thương mà em đâu có hay (Đoàn Thạch Biền), hay qua những trang truyện ngắn của  
Dương Thụy. Đó có thể là thế giới kì bí với những chuyến phiêu lưu đến nghẹt thở qua các  
truyện fantasy (truyện kì ảo) của Phan Hồn Nhiên như Những đôi mắt lạnh hay Chuỗi hạt  
Azoth. Suốt hơn 30 năm qua, văn học tuổi mới lớn đã có những thể nghiệm sáng tạo, đi vào sự  
phức hợp trong tâm lí và tính cách của thiếu niên hiện đại mà truyện fantasy của Phan Hồn  
Nhiên là một ví dụ tiêu biểu. Đặc biệt, những truyện dài viết về những tình cảm trong trẻo,  
những cơn “say nắng” của tuổi mộng mơ được các nhà văn viết nhiều hơn, đào sâu hơn, triển  
khai với nhiều góc độ khác nhau, bởi đây vốn là vấn đề luôn luôn khơi gợi được nhiều sự tò  
mò nhất và gây được nhiều sự đồng cảm nhất ở độc giả tuổi mới lớn. Trong một thời đại cởi  
mở và phóng khoáng như hiện nay, việc tuổi mới lớn tiếp xúc vấn đề tình cảm này từ sớm đã  
khiến cho đây không phải là một vấn đề gì quá bí ẩn hay bị phụ huynh quyết tâm cấm đoán  
như thời kì trước nữa nên các tác phẩm viết cho tuổi mới lớn mà bàn luận về những tơ tình  
vương vấn trong đầu óc thanh thiếu niên luôn có số lượng bán rất chạy.  
Nhìn lại chặng đường đã qua của văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam, chúng ta thấy  
được những tiến bộ vượt bậc về chất lượng và số lượng của các tác phẩm viết cho tuổi mới  
lớn ngày hôm nay so với thuở ban đầu mới hình thành. Sự phong phú về hệ thống đề tài và  
sự đông đảo về đội ngũ sáng tác là những điểm cộng rất đáng ghi nhận cho sự phát triển  
của văn học tuổi mới lớn. Tuy nhiên, sự lấn át hoàn toàn của thể loại truyện dài nếu so với  
các thể loại khác lại là một điểm trừ rất lớn của dòng văn học này ở Việt Nam. Thơ ca,  
truyện ngắn và tiểu thuyết tuy vẫn xuất hiện trên thị trường nhưng lại không được bạn đọc  
ưa chuộng bằng những truyện dài với cốt truyện sinh động, tình tiết hấp dẫn. Để tiếp tục  
gặt hái được những thành công trong tương lai, văn học tuổi mới lớn nước ta rất cần sự đa  
dạng hóa về thể loại và sự đột phá trong cách khai thác những trải nghiệm của thanh thiếu  
niên về bản thân, con người và thế giới.  
3.  
Kết luận  
Tuổi mới lớn là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình trưởng thành của con người  
với rất nhiều sự biến đổi từ thân thể, tâm lí cho đến cả nhận thức. Vì thế, độc giả lứa tuổi  
này rất cần có một dòng văn học dành riêng cho họ. Trải qua rất nhiều thử thách trong hơn  
50 năm hình thành và phát triển, văn học tuổi mới lớn Việt Nam đã luôn nỗ lực để được  
người đọc nhìn nhận với tư cách là một dòng văn học chính thống và độc lập trong dòng  
chảy văn học dân tộc. Cho đến hiện tại, dòng văn học này đã phần nào thành công khi từng  
bước tách khỏi dòng văn học thiếu nhi Việt Nam và khẳng định được bản sắc của mình. Để  
có được điều đó, không gì đáng trân trọng hơn là những tình cảm yêu thương của những  
nhà văn đối với thời hoa niên rực rỡ. Chính tình yêu thương ấy đã khiến họ sáng tạo không  
mệt mỏi để làm nên những tác phẩm làm say đắm tâm hồn của những ai đã, đang và sẽ đi  
qua hành trình tuổi mới lớn.  
1252  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Võ Văn Nhơn và tgk  
Tuyên bố về quyền lợi: Các tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Butcher, K., & Hinton, K. (2013). Chapter 1: Understanding Young Adult Literature. Young Adult  
Literature: Exploration, Evaluation and Appreciation, 1-50. London: Pearson.  
Doan, Q. S. (1969). Ban ve van chuong nhi đong [Discussing Children’s Literature]. Tuoi Ngoc  
newspaper, 1(7/1969), 22-23.  
Doan, T. B. T. (2018). Su nghiep van hoc cua Vo Quang [A Study of Vo Quang’s Literary Career].  
Ho Chi Minh City: University of Social Sciences and Humanities – Vietnam National  
University Ho Chi Minh City.  
Glaus, M. (2014, February). Text Complexity and Young Adult Literature: Establishing Its Place.  
Journal of Adolescent and Adult Literacy, 57(5), 407-416. doi: 10.1002/JAAL.255  
Lam Dien (2017, December 20). Nguyen Nhat Anh ra mat 170.000 ban Cay chuoi non di giay xanh  
[Nguyen Nhat Anh released 170.000 copies of “Young Banana Tree Wearing Green Shoes”].  
Owen, M. (2003, March). Developing a Love of Reading: Why Young Adult Literature Is  
Important.  
Orana,  
1(39),  
11-17.  
Retrieved  
from:  
Strickland, A. (2015). A Brief History of Young Adult Literature. CNN. Retrieved from  
YOUNG ADULT LITERATURE IN VIETNAM  
Vo Van Nhon*, Nguyen Bao Chau  
University of Social Sciences and Humanities – Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam  
*Corresponding author: Vo Van Nhon – Email: [email protected]  
Received: May 04, 2021; Revised: June 06, 2021; Accepted: July 23, 2021  
ABSTRACT  
Young adult is a familiar concept, and books for young adults have been widely published  
and commonly read for more than a century in Vietnam, the concept of “young adult literature”  
has rarely received adequate discussions in the Vietnamese literary studies. In this article, we will  
provide a brief literature review of how Western researchers have been looking at young adult  
literature. The paper then attempts to provide an explanation of the two concepts of young adult  
and young adult literature that best suit the Vietnamese context. Furthermore, with a historical  
approach, we also overview the formation and development of young adult literature in Vietnam  
from the beginning of the twentieth century to the present. In addition, we examine how Vietnamese  
writers have changed their studies of literary themes for young adult during the last century.  
Keywords: young adult; young adult literature; young adult literature in Vietnam  
1253  
pdf 12 trang baolam 18500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn học tuổi mới lớn ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoc_tuoi_moi_lon_o_viet_nam.pdf