Nguyên lý tự do của L. Tolstoi như một gợi ý cho đổi mới giáo dục Việt Nam

Khoa Ngữ văn, Trƣờng  
Đại học Sƣ phạm TP. Hồ  
Chí Minh  
NGUYÊN LÝ TỰ  
DO CỦA L.  
TOLSTOI NHƢ  
MỘT GỢI  
Ý
Điện thoại: 0908329924  
CHO ĐỔI MỚI  
GIÁO DỤC VIỆT  
NAM  
Email:  
PGS.TS. PHẠM THỊ PHƢƠNG  
TÓM TẮT  
Bài viết giới thiệu đôi nét cơ bản về “Giáo dục tự do”, cả trên phƣơng diện lý  
thuyết lẫn thực hành, của nhà sƣ phạm lỗi lạc Lev Tolstoi, để thấy Nguyên lý tự do  
trong giáo dục, nhƣ một nền tảng có tính khoa học của giáo dục hiện đại, là sự bức thiết  
đối với Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện.  
Từ khoá: đổi mới giáo dục, giáo dục tự do, Lev Tolstoi.  
ABSTRACT  
L. Tolstoy's Principle of Liberation  
as a Suggestion to Educational Innovation in Vietnam  
The paper conducts a basic introduction on the brilliant educator Lev Tolstoy's  
"Liberal Education", on both the aspects of theory and practice, shedding light on the  
fact that the principle of liberation in education as a scientific background of modern  
education yields a critical impulse on Vietnam‟s educational innovation in the context  
of fundamental and comprehensive reform.  
Key words: educational innovation, liberal education, Lev Tolstoi.  
Lev Nikolaievich Tolstoi (1828 – 1910) không chỉ là nhà nghệ sĩ, nhà tƣ tƣởng  
vĩ đại, ông còn là một nhà sƣ phạm lỗi lạc. Và chính phƣơng diện nhà nghệ sĩ nhân đạo,  
nhà tƣ tƣởng nhân văn đã trở thành nền tảng cho triết lý Giáo dục tự do (GDTD) đầy  
nhân bản của nhà sƣ phạm tiên phong. Tolstoi cống hiến thời gian cho hoạt động giáo  
96  
dục dài hơn cho văn chƣơng, từ lần đầu tiên thử nghiệm đứng lớp vào năm 1849 đến  
cuối năm 1910. Trong 61 năm đó ông liên tục viết các bài lí luận giáo dục, các bài luận  
chiến bảo vệ quan điểm sƣ phạm của mình, biên soạn sách giáo khoa, xây dựng và điều  
hành hơn 20 trƣờng phổ thông, mở các lớp huấn luyện phƣơng pháp sƣ phạm cho giáo  
viên, đích thân giảng dạy nhiều thế hệ con em nông dân. Về cuối đời, ông tự đánh giá  
rằng đóng góp lớn nhất của ông cho đời không phải là văn chƣơng, mà là sự nghiệp giáo  
dục. Nền GDTD của ông đƣợc ví nhƣ một trong những “đỉnh Everest”, “tác động đến  
việc phát triển giáo dục chẳng những ở Nga, mà còn trên toàn thế giới”1. Tuy nhiên, ở  
Việt Nam không phải ai cũng biết về L. Tolstoi trong cƣơng vị nhà sƣ phạm, lại càng ít  
biết hơn về những quan điểm GDTD lỗi lạc của ông.  
1. Giáo dục tự do là gì?  
“Giáo dục tự do” nhƣ một phong trào sƣ phạm độc lập hình thành từ cuối thế kỉ  
XIX – đầu thế kỉ XX, nhƣng mầm gốc sâu xa đã có từ thời cổ đại, đƣợc tìm thấy trong  
tƣ tƣởng nhân văn của các triết gia Hy Lạp. Bản thân triết học khi giải quyết vấn đề lớn  
nhất của nó là nhận thức luận, đã tìm thấy nhiều đồng nhất giữa quá trình nhận thức của  
con ngƣời với các vấn đề giáo dục. Hạt nhân cơ bản của triết học Socrates (470 – 399 tr.  
CN) là sự tự ý thức và sự tự hoàn thiện, từ đó ông nhìn giáo dục nhƣ một phƣơng tiện  
hỗ trợ từ phía ngƣời dạy nhằm đánh thức tính tích cực của đối tƣợng đƣợc đào tạo, còn  
về phía ngƣời học – là một cách thức tự trang bị kiến thức. Thời Khai Sáng, khuynh  
hƣớng GDTD đƣợc hiển lộ trong thuyết “Giáo dục tự nhiên” của Jean-Jacques  
Rousseau (1712 – 1778). Nhà nhân văn chủ nghĩa mới này quan niệm mục tiêu giáo dục  
không phải là dạy cho trẻ kiến thức, mà dạy cho nó làm thế nào để có kiến thức: “Vấn  
đề là chỉ cho nó cần phải làm thế nào để luôn khám phá ra sự thật, hơn là bảo cho nó  
biết một sự thật”2. Cuối thế kỉ XIX, John Dewey (1859 – 1952) một lần nữa xem xét lại  
bản thân khái niệm, gắn kết nó với nghĩa “dân chủ” và “cá tính”. Nhiệm vụ của giáo dục  
đƣợc ông coi là khuyến khích đối tƣợng hƣớng đến tự học, tự phát triển thông qua môi  
trƣờng đáp ứng nhu cầu của bản thân ngƣời học. L. Tolstoi và J. Dewey gặp gỡ nhau ở  
nhiều quan điểm giáo dục, rõ nhất là hai nguyên lý cốt lõi: Nguyên lý lấy ngƣời học làm  
trung tâm và Nguyên lý kinh nghiệm. Với chủ đích của đề tài và khuôn khổ của bài viết,  
ở đây chỉ bàn đến nguyên lý đầu, nhƣ một nguyên lý định hƣớng cho GDTD của Tolstoi  
mà ông gọi là Nguyên lý tự do.  
Một định nghĩa chung nhất cho GDTD: Một khuynh hƣớng trong lý thuyết và thực  
tiễn giáo dục, nhìn nhận giáo dục nhƣ sự trợ giúp năng lực cho trẻ em, để chúng đƣợc  
phát triển tự nhiên trong quá trình mở mang hiểu biết về thế giới xung quanh, đƣợc tự  
do quyết định trong thế giới ấy.  
Điểm nổi bật nhất của GDTD là nhấn mạnh đến năng lực cá nhân. Trong suốt  
chiều dài lịch sử tƣ tƣởng giáo dục thế giới có một vấn đề luôn đƣợc ƣu tiên đặt ra hàng  
97  
đầu: nên đặt trọng tâm đối tƣợng đƣợc giáo dục ở mặt nuôi dƣỡng tính cách xã hội hay  
ở mặt phát triển con ngƣời cá nhân? Ở giai đoạn đầu phát triển của nhân loại, xu hƣớng  
giáo dục con ngƣời công dân lấn át; còn khoa học giáo dục giai đoạn sau thì nghiêng về  
ý kiến nên đặt trọng tâm vào phát triển ý thức cá nhân, cá tính sáng tạo. Những ngƣời  
ủng hộ quan điểm nhân đạo mới của GDTD cho rằng trong hoàn cảnh hiện đại, cần tạo  
điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển tối ƣu phẩm tính và năng lực của con ngƣời,  
điều mà nền giáo dục áp chế từng ngăn trở.  
Cách đây 150 năm, Tolstoi đã xây dựng cả một hệ thống lý luận và tiến hành  
thành công mô hình GDTD. Mô hình này đƣợc cho là “bƣớc dự cảm của học thuyết tâm  
lý giáo dục nhân cách – hoạt động hiện đại của Edward Lee Thordike (Mỹ), Jean Piaget  
(Thụy Sỹ), Lev Vygotski, Vasili Davyov (Nga) nhằm hình thành những nhân cách phát  
triển toàn diện, hài hòa tâm hồn và trí tuệ, biết tƣ duy độc lập, sáng tạo và tự mình xử lý  
mọi tình huống”3.  
2. Triết lý Giáo dục tự do của L. Tolstoi  
Nhƣ một nhà tƣ tƣởng, một văn hào nhân đạo chủ nghĩa, tên tuổi Tolstoi cũng nhƣ  
tác phẩm của ông gắn với “Thuyết không phản kháng cái ác bằng bạo lực”. Giáo dục tự  
do (Свободное воспитание) của nhà sƣ phạm Tolstoi cũng đi ra từ học thuyết tôn giáo  
– đạo đức ấy. Hàm nghĩa “Свободное воспитание” của Tolstoi không hoàn toàn giống  
nội hàm “Liberal Education” hoặc “Free Education”, nó thực chất là sự đối nghịch với  
xu hƣớng “Giáo dục áp chế” (Педагогика насилия). Trong thực tế, ngƣời Nga đồng  
nhất “Giáo dục tự do” (Свободное воспитание) với các cách gọi khác của nó là “Giáo  
dục nhân ái” (Гуманная педагогика), “Giáo dục với lòng yêu thƣơng” (Педагогика  
любви), “Giáo dục không áp chế” (Педагогика ненасилия). Những gì trình bày tiếp  
theo đây trong bài sẽ cho thấy rõ hàm nghĩa này. Với bài viết này, tôi xin giới thiệu đôi  
nét về GDTD của Tolstoi. Theo tôi, đây là một quan điểm giáo dục Việt Nam cần  
hƣớng đến nhƣ một nỗ lực nhằm thay đổi căn cốt nhất, bởi nó cho chúng ta một cách  
hiểu đúng đắn nhất về bản chất của giáo dục, chỉ ra đƣợc nhƣ những căn nguyên dẫn  
đến chất lƣợng yếu kém mà giáo dục nƣớc ta đang phải đối mặt.  
Chống lại mọi hình thức cƣỡng bức, phƣơng châm của Tolstoi là giáo dục phải  
đem lại lợi ích thiết thực cho chính ngƣời đƣợc thụ hƣởng nó. Ông từng bỏ dở trƣờng  
đại học vì thấy chƣơng trình không đáp ứng nhu cầu của mình. Khiếm khuyết đó ông  
cũng nhận thấy trong nền giáo dục các nƣớc Tây Âu đƣơng thời. Năm 29 tuổi, với chủ  
đích trang bị kiến thức nhằm hiến thân bền lâu cho sự nghiệp giáo dục, nhà văn đã thành  
danh Tolstoi làm chuyến du khảo các trƣờng phổ thông Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Bỉ…  
Kết quả mang về là một sự thất vọng to lớn và một quyết tâm cũng to lớn: thất vọng về  
nền giáo dục áp chế mà ông gọi thẳng là “giáo dục trại lính”, “lỗ mãng”; quyết tâm xây  
dựng bằng đƣợc một triết lý giáo dục nhân bản và dân chủ hơn.  
98  
Để xây dựng nền tảng giáo dục học của mình, Tolstoi buộc phải nghiêm túc xem  
xét lại tất cả những cơ sở lý luận của khoa học giáo dục Nga và Tây Âu lúc đó là Chủ  
nghĩa Thực chứng, Thuyết Giản hoá, Tinh thần Duy lý… Cái mà ông “dị ứng” nhất  
trong những lý thuyết đó là sự chia cắt nhị nguyên tinh thần – thân xác, và vì thế, theo  
ông, chúng đã hình dung sai lầm về thế giới mà trong đó không còn chỗ cho linh hồn  
của con ngƣời, vô tình bỏ qua vấn đề đạo đức. Tolstoi không bằng lòng với việc  
Auguste Comte4 sử dụng phƣơng pháp sinh học giải thích lịch sử xã hội, cho rằng nhân  
loại là một cơ chế chung, muốn hiểu từng cá thể và mối quan hệ của nó với thế giới thì  
chỉ cần thông qua tri thức về những đặc thù của cơ chế ấy. Trong khi đó, Tolstoi lại nhìn  
thấy từng cá thể, với đặc tính riêng của mình, không thể chung đúc vào một cơ chế nhất  
định. Thuyết tiến hoá (Darwinism) đƣợc khẳng định trong khoa học giữa thế kỷ XIX,  
giải thích nguồn gốc của các dạng thức phức tạp của cuộc sống là đi ra từ các dạng thức  
đơn giản hơn. Không bao lâu sau, quy luật này đƣợc áp dụng trong khắp các lĩnh vực, từ  
thế giới sinh vật hoang dã đến con ngƣời, xã hội, nhƣ một chân lý phổ quát. Chủ nghĩa  
Darwin xã hội (Social Darwinism)5 nhìn nhận con ngƣời nhƣ một đồ vật, một tổng hợp  
các thông số, một hệ thống các nhu cầu. Xuất hiện Chủ nghĩa Marx, lý giải đấu tranh  
giai cấp nhƣ một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển nhân loại. Tolstoi không  
đồng ý áp dụng các công thức khoa học một cách tùy tiện vào lĩnh vực nhân văn. Không  
phủ nhận những thành công vĩ đại của khoa học chính xác trong nghiên cứu “các điều  
kiện của thế giới vật chất”, ông tuyên bố sự bất cập khi đƣa chúng vào nghiên cứu con  
ngƣời. Giải pháp kỹ thuật không bao giờ giải quyết đƣợc những vấn đề đạo đức. Ông  
nhìn thấy trong cái mục đích tìm kiếm ý nghĩa “hiện thực” của Chủ nghĩa thực chứng  
một trở ngại cho khoa học nhân văn, bởi con ngƣời muôn đời luôn vƣơn lên những giá  
trị cao hơn. Toàn bộ thế kỉ XX cho thấy Giản hoá luận đƣợc áp dụng nhƣ một phƣơng  
pháp luận cho các bộ môn khoa học nhân văn là hết sức sai lầm, hết sức tai hại, bởi đã  
máy móc “rút ngắn”, “đơn giản hoá” con ngƣời. Hệ lụy này nền giáo dục nhiều nƣớc  
trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang phải gánh chịu.  
Nhìn thấy trƣớc hậu quả của việc tuỳ tiện sử dụng thành tựu khoa học tự nhiên  
vào việc phát triển giáo dục học, Tolstoi đề xuất những tiền đề lý luận khác trên cơ sở  
hiểu biết sâu sắc về nguồn gốc và chức năng của nhận thức cá nhân. Ông đã đi xa hơn,  
toàn diện hơn bất kỳ bậc sƣ phạm tiền bối và đƣơng thời nào, thậm chí hơn cả nhiều  
ngƣời kế cận ông, trong việc nhận thức khoa học giáo dục liên quan đến thế giới nội  
tâm kỳ diệu của con ngƣời. Sự thiên tài và sáng suốt của ông thể hiện ở chỗ ngay từ đầu  
đã xác định mục tiêu của giáo dục là giải quyết hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan đến  
cá tính, đạo đức và năng lực con ngƣời – những phƣơng diện mà các nền giáo dục cũ  
hầu nhƣ không lƣu tâm. Từ đây ông tìm thấy một nguyên lý chìa khoá – “Nguyên lý tự  
do”. Từ “tự do” đƣợc Tolstoi hiểu nhƣ sự phát triển tự nhiên của đối tƣợng đƣợc giáo  
dục, trƣớc hết vì quyền lợi và mối quan tâm của anh ta. Trong một bài báo năm 1862  
99  
ông tuyên bố: “Hãy ý thức rằng chuẩn mực của giáo dục chỉ có một mà thôi – tự do.  
Chúng tôi đã chọn con đƣờng này trong hoạt động sƣ phạm của mình”6.  
Dựa trên Nguyên lý tự do, đặt ngƣời học vào trung tâm quá trình đào tạo, Tolstoi  
xây dựng một hệ thống các nguyên tắc giáo dục học sau đây:  
1) Nguyên tắc tính ý thức và tính tích cực  
Theo Tolstoi, giáo dục là quá trình đa phƣơng, chứ không phải chỉ là sự tác động  
đơn phƣơng lên trí tuệ đứa trẻ; đó là quá trình hoạt động tích cực, chứ không phải là sự  
thụ động tiêu hoá những kiến thức mà ngƣời ta thông tin tới nó. Học tập đối với đứa trẻ  
là quá trình năng động có kiến tạo. Nghĩa là, ông nhấn mạnh đến sự phát triển tự chủ, tƣ  
duy sáng tạo của học sinh, điều đó hữu ích thiết thực cho trẻ vào đời. Ông viết: “Nếu  
học sinh ở trƣờng mà không học tự sáng tạo, thì vào đời nó sẽ chỉ luôn luôn bắt chƣớc,  
sao chép... Trong mỗi đứa trẻ hiện hữu cái khát khao đƣợc độc lập, cái khát vọng mà sẽ  
dễ bị tiêu diệt trong mọi hình thức truyền thụ kiểu sao chép các mẫu có sẵn”7.  
Nguyên lý tự do đảm bảo cho lý trí và tình cảm không bị phân ly. Niềm tin mù  
quáng, sự áp đặt quan niệm đạo đức và thẩm mỹ không có chỗ trong chƣơng trình dạy  
của Tolstoi. Kiên nhẫn, nhẹ nhàng đánh thức con trẻ đến với cái đẹp, hình thành trong  
nó từng yếu tố của khối tình cảm vẹn toàn, mạnh mẽ, nhân ái – là cả một quá trình đƣợc  
dệt bằng từng giây phút, khoảnh khắc học tập, từ toàn bộ “tinh thần học đƣờng” (cụm từ  
mà Tolstoi yêu thích). Có nhiều phƣơng thức thực hiện điều này, một trong số đó là  
truyện cổ tích Nga và nƣớc ngoài, ngụ ngôn Aesop đựợc chính Tolstoi tuyển chọn và  
nhuận sắc, thƣờng là cắt đi phần kết thúc chứa lời răn dạy, để trẻ tự rút ra cho mình bài  
học. Cứ thế, sự kiện, khái niệm, ấn tƣợng để lại dấu vết tƣơi sáng không chỉ trong trí  
nhớ, mà còn trong trái tim, vì vậy không cần thiết phải thuộc lòng hay ghi nhớ chúng.  
Ông đặt vào trong tâm trí và cảm xúc đứa trẻ những hạt mầm chắc mẩy, từ đó sẽ nẩy nở  
liên tục không chỉ kiến thức vững chắc mà còn niềm tin vào cuộc sống, sự hứng khởi đi  
tìm cái hay cái đẹp.  
2) Nguyên tắc gắn liền giáo dục với cuộc sống  
Phân tích hệ thống giáo dục nhà trƣờng kiểu cũ, một hệ thống bị cắt rời khỏi cuộc  
sống, khỏi nhu cầu của dân chúng, Tolstoi chỉ ra rằng kinh nghiệm sống càng phong  
phú và đa dạng, thì ngƣời học càng có nhiều cơ hội thành công, càng dễ dàng hơn trong  
việc thiết lập và kết nối tri thức liên ngành và tăng động lực học tập.  
Tất cả những gì mà ngày nay chúng ta quy thành bộ môn “Kỹ năng sống” đã đƣợc  
Tolstoi áp dụng: Ông đặt ra nhiều tình huống, kể lại những sự kiện xảy ra trong ngày để  
trẻ tập trao đổi, bình luận về cách ứng xử; ông lập ra những lớp học nghề và dạy trẻ  
trồng cây trái, tự thu hoạch trên mảnh đất dành riêng cho nhà trƣờng; ông chú trọng tạo  
không gian học tập một cách linh hoạt và tự nhiên, học nhƣ chơi, nhiều tiết diễn ra ở  
100  
ngoài trời (trong công viên, ngoài đồng). Bọn trẻ đƣợc nhà văn trực tiếp hƣớng dẫn cách  
sƣu tầm văn học dân gian tại thôn xóm mình và các làng lân cận.  
3) Nguyên tắc phù hợp với khả năng tiếp cận  
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc trên, đòi hỏi truyền tải thông tin giáo khoa  
phức tạp trong một hình thức vừa tầm nhận thức của đối tƣợng. Ông quyết liệt phản đối  
việc truyền thụ cơ học những định nghĩa, định lí, khái niệm trừu tƣợng vào đầu đứa trẻ,  
nhất là những kiến thức khái quát, khó hiểu hoặc chƣa đƣợc thực tế kiểm chứng, theo  
Tolstoi, là điều tai hại, phá vỡ quá trình tự nhiên của tƣ duy.  
Tolstoi từng băn khoăn có nên chọn hai áng tuyệt bút Ông chủ hiệu đòn ma của  
Pushkin và Đêm trƣớc Giáng sinh của Gogol vào chƣơng trình giảng dạy hay không, vì  
e ngại xảy ra độ chênh trong trình độ nhận thức và cảm thụ giữa ngƣời dạy với con em  
nhà nông, dẫn đến áp chế đối với ngƣời học, xa rời bản chất của giáo dục tự do.  
Tolstoi để lại nhiều sách giáo khoa, tài liệu giáo dục do ông tự biên soạn. Những  
tập sách này đƣợc coi là bách khoa toàn thƣ đặc biệt về thế giới phong phú và sinh động  
quanh trẻ em, cung cấp một cách trực quan cho các em những kiến thức lí thú về vật lí,  
hóa học, sinh vật,… Tiêu chí đầu tiên của các công trình này là dễ hiểu và thú vị, phù  
hợp với từng lứa tuổi đào tạo. Khi Tolstoi còn sống, những cuốn giáo khoa này đƣợc  
phát hành, tái bản hơn 30 lần.  
Tuy nhiên quá trình giáo hoá cũng buộc đối tƣợng đƣợc đào tạo đối mặt với  
những trở ngại mà anh ta phải vƣợt qua, trƣởng thành dần, để rồi vƣơn tới cấp độ cần  
đạt. Ông lấy ví dụ: “Ngƣời mẹ dạy con mình nói chỉ để hiểu nhau, ngƣời mẹ theo bản  
năng cố hạ mình đến trình độ nhận biết vật thể và ngôn ngữ của đứa trẻ, nhƣng quy luật  
thúc đẩy giáo dục tiến lên không cho phép bà hạ mình xuống mà bắt đứa con phải vƣơn  
đến trình độ của bà. Một mối quan hệ tƣơng tự nhƣ vậy cũng tồn tại giữa nhà văn và  
bạn đọc, giữa nhà trƣờng và học sinh, giữa chính phủ và cộng đồng xã hội”8.  
4) Nguyên tắc kiến thức chắc chắn  
Tính vững chắc của kiến thức là sự hiểu biết thực chất vấn đề, khả năng biết liên  
hệ với kiến thức khác trong một hệ thống, nhìn ra đƣợc mối quan hệ nhân – quả của các  
hiện tƣợng ấy cũng nhƣ khả năng ứng dụng chúng.  
Để ngăn chặn việc học một cách hình thức, đuổi theo kiến thức hời hợt, Tolstoi  
đặt ra một loạt yêu cầu sau:  
- Cung cấp cho trẻ em cơ hội tự học và tự nhận thức, dƣới sự hƣớng dẫn kín đáo  
của giáo viên.  
Ngƣời thầy chịu trách nhiệm chính cho quá trình giáo dục, có nhiệm vụ cung cấp  
một môi trƣờng thuận lợi học tập, nhƣng không can thiệp vào quá trình nhận thức của  
101  
trẻ. Không can thiệp không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn ảnh hƣởng của ngƣời thầy. Có  
điều sự ảnh hƣởng ấy giống nhƣ sự trợ giúp, sự tƣơng tác tự nhiên, mà ở đó trò đƣợc  
đóng vai trò chủ động và thầy cũng là một ngƣời học. Tất nhiên, không có hệ thống giáo  
dục nào mà không có những hình thức này hay hình thức kia gây áp lực lên cá nhân, có  
điều phƣơng pháp sƣ phạm cần cố gắng giảm thiểu áp lực ấy, tăng cƣờng sự kết hợp lợi  
ích cá nhân với yêu cầu cần có của đào tạo.  
- Tạo ra một môi trƣờng giáo dục tự nhiên, lành mạnh, vui vẻ và thân thiện (mà  
ông gọi là “tinh thần học đƣờng”), đáp ứng đƣợc bản chất tự nhiên, tính tò mò của trẻ và  
nhu cầu tự do phát triển.  
Tolstoi đòi hỏi ở ngƣời thầy lòng yêu trẻ và ý thức tự hoàn thiện. Ông cho rằng  
yêu trẻ là phẩm chất hàng đầu của nhà sƣ phạm, thậm chí quan trọng hơn kiến thức và  
lòng nhiệt tình. Ông nói: “Nếu ngƣời thầy chỉ yêu công việc, anh ta sẽ là một giáo viên  
tốt. Nếu ngƣời thầy chỉ yêu trẻ, nhƣ cha mẹ yêu con, anh ta sẽ tuyệt vời hơn cả ngƣời  
giáo viên chỉ biết chúi mũi vào sách vở mà không yêu công việc và cũng chẳng yêu con  
trẻ. Nếu ngƣời thầy kết hợp trong mình cả hai tình yêu ấy, anh ta là một giáo viên hoàn  
hảo” 9.  
- Linh hoạt sử dụng một loạt các phƣơng pháp giáo dục và kỹ thuật phù hợp với  
đặc điểm của tâm lý trẻ em (trực quan, trò chuyện, tập phản hồi, cùng đọc sách, làm  
việc nhóm…); Kết nối hữu cơ giữa các hoạt động nhận thức trong giờ học với giờ  
ngoại khoá của trẻ em; Hệ thống hoá kiến thức bằng thao tác lặp lại, khái quát những  
kiến thức đã học.  
Một kiểu giờ dạy Tolstoi đặc biệt yêu thích là dẫn dắt cho học trò lớp lớn học  
chung với học trò lớp nhỏ. Bằng ngôn ngữ diễn đạt cố gắng dễ hiểu nhất, học trò lớp lớn  
sẽ giải thích kiến thức cho học trò lớp nhỏ, ngƣời thầy khích lệ, chỉnh sửa, bổ sung. Bài  
tập nhóm có lúc đƣợc thiết kế nhƣ một “dự án”, mà ở đó học trò đƣợc phân công vào  
những công đoạn phù hợp với năng lực của mình, có điều kiện rèn luyện các kỹ năng, từ  
đơn giản đến phức tạp hơn, từ bắt chƣớc đến sáng tạo. Với cách ấy, học trò lớp lớn củng  
cố đƣợc học vấn, tập dƣợt diễn đạt kiến thức và khả năng tƣ duy độc lập, trải nghiệm  
hiểu biết của mình; học trò lớp nhỏ tiếp cận kiến thức dƣờng nhƣ thú vị và dễ hiểu hơn.  
Sự thành công đặc biệt ở đây là đã tạo ra cơ hội cho học trò học hỏi, tranh luận, kiểm  
soát kiến thức lẫn nhau, tạo đƣợc mối quan hệ thân thiện và cởi mở giữa trò với trò,  
giữa trò với thầy. Lối học này rất nhiều điểm chung với Phƣơng pháp học tập chủ  
động (Active Learning) của nhà trƣờng thế kỉ XXI, với nhiều bƣớc cơ bản: Động não  
(Brainstorming) – Suy nghĩ-Từng cặp-Chia sẻ (Think-pair-share) – Hoạt động nhóm  
(Group based Learning) – Đóng vai (Role playing).  
Đồng thời, loại bài tập này là sự kết hợp nhiều hình thức: nói, viết, đồ họa, lao  
động thực tế, phối hợp các dạng bài tập của từng cá nhân với của tập thể nhóm; từ thực  
102  
hiện từng bài tập dần dần dẫn đến thực hiện cả một tập hợp bài tập, đòi hỏi học sinh kỹ  
năng kết hợp kiến thức từ nhiều môn học liên ngành, khả năng ứng dụng linh động và  
sáng tạo vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Những điều trên khá là phù hợp với  
yêu cầu của chương trình định hướng kết quả đầu ra (outcomes-based curriculum)  
hay chương trình định hướng phát triển năng lực (competency-based curriculum).  
5) Nguyên tắc phát triển tự nhiên và hài hòa  
Tất cả 4 nguyên tắc trên của GDTD đều xuất phát từ nguyên tắc chủ đạo và bao  
trùm này. Tất cả tri thức, kỹ năng, ý thức học tập… – những gì tựu thành qua quá trình  
học tập là bắt nguồn từ bản năng mong muốn phát triển tự nhiên và hài hoà với thế giới  
xung quanh.  
Theo Tolstoi, con ngƣời sinh ra đã là một cá thể tự do, mang sẵn trong mình hạt  
nhân yêu thƣơng của Thiên chúa, một bản năng “thiện tâm”, một năng lực sống hài hoà.  
Ông phản đối ý kiến trƣớc nay cho rằng tâm hồn trẻ em là trang giấy trắng mà nhà giáo  
dục viết lên đó những dòng chữ đầu tiên. Nhà nhân văn nhìn trong đứa trẻ một bản năng  
sống, biết xúc cảm, một nhân cách do thiên tạo ban cho nhƣ một khởi nguyên tốt lành.  
Và trẻ sẽ đến môi trƣờng giáo dục với toàn bộ khởi nguyên tốt lành ấy, khởi nguyên  
không do nhà giáo dục đem đến cho nó, mà chỉ là đánh thức, giúp nó ý thức ngày càng  
rõ hơn. Vậy nên mục tiêu giáo dục là tạo ra những điều kiện thuận lợi và phù hợp để  
con ngƣời phát huy toàn bộ những phẩm chất ấy.  
Tóm lại, từ những nguyên tắc trên, ta thấy triết lý GDTD của Tolstoi đƣợc dựa trên  
học thuyết tôn giáo – đạo đức “Thiên chúa ở trong ta”, thức tỉnh lòng yêu thƣơng bẩm  
sinh ở con trẻ, giúp nó phát triển hài hòa các năng lực trí tuệ. Đó là nền tảng vững chắc  
nhất, giống nhƣ tôn giáo, dẫn dắt con ngƣời đi qua nẻo Chân, Thiện, Mỹ đến với tri  
thức. Trong nghĩa đó, GDTD, đúng nhƣ tên gọi khác của nó – “Giáo dục với lòng yêu  
thƣơng” (nghĩa là Nền giáo dục đầy tình yêu thƣơng dành cho đối tƣợng thụ hƣởng giáo  
dục), xứng đáng đƣợc coi là nền giáo dục nhân bản nhất.  
3. Ngôi trƣờng thực nghiệm Giáo dục tự do đầu tiên  
Trên đây là những quan điểm lý luận giáo dục chung nhất của nhà sƣ phạm tiên  
phong Tolstoi. Trên thực tế, lý luận ấy đã chứng minh tính khả thi của nó cho toàn thế  
giới thấy trong việc đào tạo xuất sắc các thế hệ con cái của giai cấp cần lao bằng cách  
tạo ra cho họ một môi trƣờng sƣ phạm thuận lợi để họ có thể phát triển năng lực của  
mình.  
Triết lý GDTD đƣợc Tolstoi thử nghiệm thành công ở tỉnh lỵ Tula (cách Moskva  
gần 200km), tại trang ấp Yasnaia Poliana của dòng họ ông.  
Ta thử hình dung ra mô hình thực nghiệm GDTD đầu tiên này qua việc Tolstoi so  
sánh hai ngôi trƣờng kiểu cũ và mới.  
103  
Trƣớc hết, là ngôi trƣờng cũ của Tây Âu và Nga mà ông đích thân khảo sát. Ông  
gọi nó là “nhà trƣờng giáo điều thời Trung cổ, nơi mọi chân lý đều không đƣợc phép  
nghi ngờ”10, nơi sự khô cứng bóp chết niềm say mê học hỏi của tâm hồn non trẻ. Tolstoi  
tự hỏi đâu rồi những đứa trẻ “rì rầm, ngọ nguậy, tƣơi cƣời”? Khi ông đặt câu hỏi về kiến  
thức, học sinh trả lời “làu làu nhƣ sách”, nhƣng bản thân chúng không hiểu và không  
thích thú gì. Chƣơng trình học giáo điều, kiểu học nhồi sọ đã khiến “đứa trẻ yêu đời, tò  
mò muốn biết mọi thứ, mắt long lanh, nụ cƣời trên môi, luôn luôn tìm tòi học hỏi nhƣ  
một nguồn vui, diễn đạt sáng sủa, thƣờng là sinh động ý nghĩ của mình bằng lời nói  
riêng của mình” mà ta gặp trên phố đã trở thành một “bán sinh vật” hoàn toàn khác ở  
trƣờng: “kiệt quệ, rúm ró, mặt luôn mệt mỏi và sợ sệt, chán nản, môi lắp bắp lại lời  
ngƣời khác, một sinh vật mà tâm hồn nhƣ con sên đã chui sâu vào vỏ ốc”11. Ở những  
ngôi trƣờng nhƣ thế, nếu đứa trẻ chăm chú “nhai lại” kiến thức, nó đƣợc coi là học sinh  
giỏi, còn ngƣợc lại, nó bị coi là “disparate” (không phù hợp – t. Pháp). Và nghịch lý sẽ  
xảy ra: “Cho tới khi đứa trẻ đánh mất độc lập tính và tinh thần chủ động, khi ở nó bắt  
đầu xuất hiện những triệu chứng bệnh hoạn nhƣ đạo đức giả, dối trá lung tung, đần  
độn… thì nó sẽ không còn là disparate trong nhà trƣờng nữa, nó đã vào quỹ đạo, ông  
thầy bắt đầu hài lòng về nó. Khi ấy cũng xuất hiện những hiện tƣợng không ngẫu nhiên  
mà thƣờng xuyên lặp lại, đó là đứa trẻ ngu đần nhất trở thành thông minh nhất, và đứa  
thông minh nhất thành ra ngu đần nhất”12. Phê phán lối giáo dục này, Tolstoi viết: “Mọi  
sự giáo dục đều phải nhằm giải đáp những vấn đề cuộc sống đặt ra. Vậy mà nhà trƣờng  
chẳng những không gợi mở vấn đề, nó thậm chí không giải đáp nổi những vấn đề cuộc  
sống đặt ra. Nó chỉ chăm chăm giải đáp những vấn đề không phải do tuổi thơ mà do  
nhân loại đặt ra từ vài thế kỷ trƣớc, chẳng liên quan gì đến đứa trẻ”13.  
Kiểu trƣờng này là kiểu “đƣợc thiết kế không phải cho trẻ em đƣợc thoải mái học  
tập mà là để cho thầy giáo giảng dạy đƣợc thuận lợi”14, kiểu học này là kiểu tƣớc bỏ  
mọi quyền tự do và loại trừ mọi cá tính độc lập, một “thiết chế hành trẻ em”. Kiểu  
trƣờng, kiểu học ấy sẽ tiếp tục ở cấp đại học, nơi bản thân Tolstoi kinh qua và chối bỏ.  
Khác hẳn với kiểu nhà trƣờng nói trên, ngôi trƣờng thực nghiệm Yasnaia Poliana  
thực sự là một hình mẫu lý tƣởng của GDTD. Trong bài viết trứ danh Trƣờng Yasnaia  
Poliana tháng Mƣời một và Mƣời hai 1862, nhà sƣ phạm kiểu mới viết: “Trẻ em đến  
trƣờng, […] không ai phải mang theo gì hết – cả sách lẫn vở. Bài tập về nhà không có.  
Hơn thế nữa, không những không phải mang trên tay cái gì, mà chúng còn không phải  
mang gì trong đầu. Chúng chỉ mang bản thân mình đến, với toàn bộ khả năng tiếp thụ  
tự nhiên, và vững tin rằng hôm nay ở trƣờng cũng vui tƣơi y nhƣ hôm qua”.  
Giờ học đƣợc thiết kế theo hình thức trao đổi giữa giáo viên và học sinh, khuyến  
khích khả năng độc lập tƣ duy và sáng tạo từ phía ngƣời học. Ngay từ lúc mới vào  
trƣờng, học sinh đã đƣợc tập trình bày ý kiến của mình, mà không lo bị áp đặt kiến thức  
một chiều. Có thể không quá lời khi nói rằng 150 năm về trƣớc, nhà sƣ phạm Tolstoi đã  
104  
tiến hành dạy Tích hợp (Integrated teaching): Rất thƣờng xuyên các kiến thức về lịch sử  
– địa lý – văn học – nghệ thuật đƣợc liên kết với nhau trong một chủ đề, qua các câu  
chuyện lịch sử, tác phẩm văn học, hội họa hay âm nhạc, chẳng hạn nhƣ chủ đề về Chiến  
tranh Ái quốc Vĩ đại năm 1812.  
Điều gây ấn tƣợng là trong các môn của chƣơng trình Yasnaia Poliana, việc trau  
dồi “trí dục” không tách rời “đức dục”, bởi Tolstoi quan niệm đạo đức không thuộc về  
một địa hạt riêng rẽ, không nên phân biệt và đối lập nó với thế giới sự kiện. Trong tất cả  
các bộ môn trẻ em đƣợc học cả “trí” lẫn “đức”, nhƣ vốn là một thể hợp nhất và hài hòa.  
Đạo đức chính là trí tuệ, khi nó đƣợc tập trung vào tƣ duy phản biện, giải quyết vấn đề  
không sai lầm, dám chịu trách nhiệm trƣớc quyết định của mình. Trí tuệ chính là đạo  
đức khi nó dẫn dắt ngƣời ta đến những kết quả đúng đắn, đem lại phúc lợi chính đáng  
cho cá nhân và xã hội. (Điều này là một gợi ý cho việc nên dạy bộ môn Giáo dục công  
dân ở trƣờng phổ thông Việt Nam thế nào để hiệu quả hơn).  
Học sinh Yasnaia Poliana không bị quy định chỗ ngồi, không bị phạt mắng và đe  
dọa, không phải trải qua những kì sát hạch căng thẳng… Bài tập về nhà không có, vì tất  
cả đã đƣợc hoàn thành ở trƣờng, dƣới sự trợ giúp của giáo viên và học sinh lớp lớn hơn.  
Tập thể giáo viên làm việc say mê, trong sự đồng tâm, tôn trọng, học hỏi lẫn nhau.  
Họ cùng nhau trao đổi kế hoạch, tin tức, thảo luận thay đổi chƣơng trình học sao cho  
phù hợp sở thích và trình độ học trò.  
Khi trƣờng mới đƣợc thành lập, ít ai tin mô hình giáo dục này có thể thành công,  
trong đó có nhà cách mạng dân chủ N. Chernyshevski, ngƣời đƣa ra những ý kiến gay  
gắt phản đối lối giáo dục mà ông định danh là “mất trật tự”. Nhƣng kết quả làm ông hết  
sức bất ngờ, mà thốt lên: “Tuyệt vời! Tuyệt vời! Lạy Chúa sao cho ngày càng thêm  
nhiều trƣờng thiết lập đƣợc cái sự “mất trật tự” nhân hậu và hữu ích nhƣ vậy!... Và  
theo chúng tôi, phải nói đơn giản là “trật tự”, bởi lẽ ở đây có thấy sự mất trật tự nào  
đâu khi mà tất cả đều học hành chăm chỉ chừng nào chúng còn đủ sức…”15.  
Nhiều đoàn tham quan nƣớc ngoài đến Yasnaia Poliana đều công nhận tính ƣu  
việt của lối giáo dục mới này, một lối giáo dục mà con ngƣời đƣợc tôn trọng, con em  
nông dân đƣợc tự do và hạnh phúc hơn bất cứ ở đâu. Có thể nói, với môi trƣờng giáo  
dục nhƣ vậy, Tolstoi đã thực sự xóa bỏ chế độ nông nô chuyên chế ở Nga sớm hơn cả  
Dự luật Cải cách Dân cày 1861, khi nó chỉ hiện hữu trên văn bản chứ chƣa đƣợc thực  
thi trong đời sống Nga thế kỷ XIX.  
4. Giáo dục Việt Nam trƣớc nhu cầu đổi mới có chọn Nguyên lý tự do trong giáo  
dục?  
Câu chuyện Giáo dục Việt Nam bấy lâu là câu chuyện độc thoại và đơn độc: cho  
đến tận bây giờ vẫn dạy dỗ tái hiện kiến thức theo kiểu “tầm chƣơng trích cú” của văn  
105  
hoá thời Trung đại, vẫn khép mình trong cái “thôn địa cầu” (global village). Học trò bao  
nhiêu mẻ ra lò là bấy nhiêu mẻ giống nhau nhƣ đúc. Bởi, thay vì trang bị cho học sinh  
khả năng tƣ duy và phán đoán độc lập, chúng ta cầm tay chỉ việc, suy nghĩ hộ; thay vì  
trang bị cho các em phƣơng pháp làm việc, chúng ta lại dạy các em thuộc lòng kiến thức  
theo một nội dung có sẵn; thay vì phát triển năng lực cá nhân, chúng ta áp đặt đồng loạt  
cùng một chƣơng trình, lấy ý kiến số đông làm uy tín.  
Từ 1975 đến nay, qua nhiều lần cải cách mà vẫn chƣa thật sự thoát khỏi tình trạng  
bế tắc trên, giờ đây Giáo dục Việt Nam đang dồn suy tƣ cho một cuộc canh tân mới theo  
hƣớng xích lại gần hơn với Giáo dục thế giới, nên chăng hãy chọn tham khảo một trong  
các mô hình đã có thành tựu: đó chính là lý thuyết cũng nhƣ thực nghiệm thành công  
của nhà sƣ phạm L. Tolstoi?  
Trong bối cảnh đòi hỏi đổi mới không còn chỉ ở cấp độ phƣơng pháp tiếp cận, mà  
còn ở cả cấp độ mục đích giáo dục, ở hình ảnh sản phẩm (những ngƣời tốt nghiệp), thì  
Nguyên lý tự do trong giáo dục là một gợi ý sáng giá, hứa hẹn đầu ra sẽ là một thế hệ  
sẵn sàng vào đời tự lập và biết sáng tạo. Với độ lùi khoảng cách 150 năm của một triết  
lý giáo dục đã đƣợc khẳng định, và, với viễn cảnh của một xã hội dân chủ và tiến bộ,  
nên chăng hãy chọn lọc những gì tốt đẹp, phù hợp từ mô hình của Tolstoi, để tạo nên  
những thành công và giá trị mới?  
Thiết nghĩ, một khi Nguyên lý tự do trong giáo dục đƣợc đặt lên bàn nghị sự và  
đƣợc lựa chọn, thì đó là một biểu hiện đặc biệt cho thấy giới trí thức đang trƣởng thành  
hơn, tha thiết một xã hội dân chủ và tiến bộ, hy vọng vào một cuộc sống công bằng hơn,  
khi con đƣờng tiến thân đƣợc đảm bảo bằng lao động chân chính, kỹ năng sống và tri  
thức thật sự.  
Câu chuyện về nhà sƣ phạm Tolstoi là câu chuyện hôm qua, khi Giáo dục thế giới  
bắt đầu bƣớc vào thời kỳ hiện đại, nhƣng ý tƣởng của ông vẫn còn hấp dẫn và thiết thực  
với Việt Nam hôm nay. Thiết thực là vì những gì ông thực hành với GDTD từ thế kỉ  
XIX thực chất là Bốn cột trụ (Four Pillars) của nền giáo dục thế kỉ XXI mà Giáo dục  
Việt Nam đang hƣớng đến trên con đƣờng hội nhập: 1) Học để biết (Learning to know);  
2) Học để làm việc (Learning to do); 3) Học để làm ngƣời (Learning to be); 4) Học để  
biết cách chung sống (Learning to live together). Tựu trung, tất cả 4 điều trên là trả lời  
cho câu hỏi: Học để làm gì? Và triết lý GDTD của Tolstoi dƣờng nhƣ đã có sẵn câu trả  
lời: “Thực ra con ngƣời ta phải đƣợc đào tạo để chuẩn bị cho cuộc sống, cho lao động,  
mỗi kiểu lao động ngoài kỹ năng cho nó còn đòi hỏi một quy trình, một sự chuẩn xác, và  
điều quan trọng là kỹ năng sống và ứng xử với mọi ngƣời”16.  
Và 5 nguyên tắc của mô hình giáo dục Tolstoi: 1) Tính ý thức và tính tích cực; 2)  
Gắn liền giáo dục với cuộc sống; 3) Phù hợp với khả năng tiếp cận; 4) Kiến thức chắc  
106  
chắn; 5) Phát triển tự nhiên và hài hòa – thực chất cũng chính là phƣơng thức nhằm đạt  
đƣợc Bốn cột trụ kia.  
Còn nhìn vào thực tế, kết quả đầu ra (learning outcomes) của Trƣờng Yasnaia  
Poliana là câu trả lời đầy thuyết phục cho câu hỏi “Học để làm gì?” nêu trên: Rời khỏi  
mái trƣờng, các môn sinh của Tolstoi toả đi khắp nƣớc Nga, đều là những ngƣời thành  
công trong cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc vì đã đến cuộc đời này, đƣợc sống nhƣ  
mình mong muốn.  
*
Tôi xin kết thúc bài viết bằng một định đề của chính L. Tolstoi: “Nếu nhƣ nhân  
loại ý thức đƣợc tính bất cập của các nhà trƣờng mình tạo dựng, thì bản thân cái ý thức  
ấy đã sẽ là một sự kiện lịch sử có thể lấy làm cơ sở cho công cuộc thiết chế nhà  
trƣờng”17. Bất cứ quốc gia nào cũng sẽ có tƣơng lai xán lạn, nếu quốc gia đó bắt đầu  
biết nuôi dạy trẻ em đúng cách. Một khi giáo dục đi đúng đƣờng thì nó không chỉ cung  
cấp điều kiện để thế hệ trẻ thích nghi với xã hội, mà còn cung cấp cho họ phƣơng tiện  
để biến cải xã hội theo hƣớng tốt đẹp hơn. Nhà giáo dục ngƣời Pháp S. Freinet nói:  
“Nền dân chủ tƣơng lai của xã hội đƣợc chuẩn bị bằng trƣờng học dân chủ; trƣờng học  
áp chế không thể đào tạo nên ngƣời công dân của xã hội dân chủ tƣơng lai”18. Và  
chúng ta mong chờ những công dân mới ấy.  
107  
Chú thích:  
1 L. Tolstoi (1956), Tập hợp các bài viết về giáo dục, Nxb Goslitizdat, Moskva, tr. 48. (Л. Н. Толстой,  
1956. Педагогические соченения, M., Гослитиздат, tr. 48).  
2 J. J. Rousseau (2008), Emile hay là về giáo dục của Rousseau, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 273.  
3 Vũ Thế Khôi (2010), “Triết lý giáo dục của lòng yêu thƣơng”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, tr.  
41.  
4 Auguste Comte (1798–1857): ngƣời sáng lập ra ngành khoa học xã hội (social science), đƣợc coi là ông  
tổ của Chủ nghĩa thực chứng (Positivism). A. Comte cho rằng các phƣơng pháp nghiên cứu dùng trong  
khoa học tự nhiên cũng có thể áp dụng đƣợc cho việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề xã hội.  
5
Chủ nghĩa Darwin xã hội (Social Darwinism): trƣờng phái áp dụng thuyết tiến hóa Darwin cho xã hội  
loài ngƣời. Ngƣời sáng lập ra Chủ nghĩa Darwin xã hội là nhà khoa học ngƣời Anh Herbert Spencer  
(1820 – 1903). Nội dung trƣờng phái này đƣợc mô tả trong cuốn Nguyên lý sinh học (Principles of  
Biology,1864) của ông.  
6 L. Tolstoi (2010), “Về giáo dục quốc dân”, Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 22.  
7 L. Tolstoi (1958), Tổng tập công trình 90 tập, Nxb. Goslitizdat, Moskva, tập 8, tr. 118. (Л. Н Толстой,  
1958. Полные соченения в 90-е, M., Гослитиздат, T.8, c.118).  
8 L. Tolstoi (2010), “Về giáo dục và đào tạo”, Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 29.  
9 L. Tolstoi (1956), Tập hợp các bài viết về giáo dục, Nxb Goslitizdat, Moskva, tr. 11. (Л. Толстой, 1956.  
Педагогические соченения, M., Гослитиздат, c. 11).  
10, 11, 12, 13, 14 L. Tolstoi (2010), “Về giáo dục quốc dân”, Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 5, 13, 13,  
14, 12.  
15  
Dẫn theo Vũ Thế Khôi (2010), “Triết lý giáo dục của lòng yêu thƣơng”, Tạp chí Nghiên cứu văn học,  
số 10, tr. 39.  
16 L. Tolstoi (2010), “Về giáo dục và đào tạo”, Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 50.  
17 L. Tolstoi (2010), “Về giáo dục quốc dân”, Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 15.  
18  
S. Freinet (1990), Hợp tuyển bài viết về giáo dục, Nxb Goslitizdat, Moskva, tr. 153. (C. Френе, 1990.  
Избранные педагогические сочинения, M., Гослитиздат, c. 153).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Vũ Thế Khôi (2010), “Triết lý giáo dục của lòng yêu thƣơng”, Tạp chí Nghiên cứu  
văn học số 10, Hà Nội.  
2. Rousseau, J. J. (2008), Emile hay là về giáo dục của Rousseau, Nxb Tri thức, Hà  
Nội.  
108  
3. Tolstoi, L. N. (1956), Tập hợp các bài viết về giáo dục, Nxb Goslitizdat, Moskva.  
(Толстой Л. Н., 1956. Педагогические соченения, M., Гослитиздат, Москва).  
4. Tolstoi, L. N. (1958), Tổng tập công trình 90 tập, tập 8. Nxb Goslitizdat, Moskva.  
(Толстой Л. Н., 1958. Полные соченения в 90-е, T. 8, M., Гослитиздат, Москва).  
5. Tolstoi, L. N. (2010), Đƣờng sống, Nxb Tri thức, Hà Nội.  
109  
pdf 14 trang baolam 21880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguyên lý tự do của L. Tolstoi như một gợi ý cho đổi mới giáo dục Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguyen_ly_tu_do_cua_l_tolstoi_nhu_mot_goi_y_cho_doi_moi_giao.pdf