Những yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới

Trần Thị Yên  
Những yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao năng lực  
tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số  
khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới  
Trần Thị Yên  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc  
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam  
Email: yenttdt@gmail.com  
thiếu số không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục mà còn là nhiệm vụ chung  
của cả hệ thống chính trị và xã hội. Trước mắt là cải thiện, nâng cao chất lượng  
giáo dục vùng dân tộc thiểu số, lâu dài là góp phần nâng cao chất lượng cuộc  
sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự tiến bộ,  
phát triển của đất nước. Khi tiến hành nâng cao năng lực tiếng Việt cho học  
sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp và  
quan tâm tới các yếu tố tác động, vì mỗi yếu tố có vai trò nhất định đối với hiệu  
quả của việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh khi thực hiện chương  
trình giáo dục phổ thông mới.  
TỪ KHÓA: Ảnh hưởng; nâng cao; tiếng Việt; tiểu học; dân tộc thiểu số.  
Nhận bài 03/3/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 12/4/2019 Duyệt đăng 25/4/2019.  
1. Đặt vấn đề  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Học sinh là người dân tộc thiểu số  
Tiếng Việt (TV) là ngôn ngữ quốc gia [1]. Trong lĩnh vực  
giáo dục và đào tạo, TV là ngôn ngữ chính thức dùng trong  
nhà trường và cơ sở giáo dục khác [2]. Là một quốc gia đa  
dân tộc, mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng. Học sinh (HS)  
người dân tộc thiểu số (DTTS) khi đến trường được tiếp  
cận tri thức bằng ngôn ngữ quốc gia -TV. TV là ngôn ngữ  
thứ hai đối với HS người DTTS trong tiếp cận giáo dục và  
giao tiếp xã hội.  
Học sinh người DTTS là nhân tố quyết định tới chất  
lượng, hiệu quả trong quá trình nâng cao năng lực TV. Bởi  
các em là chủ thể của quá trình tiếp nhận, phát triển, củng  
cố và hoàn thiện năng lực TV của bản thân mình. Vì vậy,  
vấn đề đặt ra là cần phải biết các em có “vốn” TV đến đâu,  
tinh thần thái độ tiếp nhận TV thế nào.  
Thứ nhất, khi HS người DTTS trước khi đến trường (đi  
học) ngôn ngữ mà các em sử dụng để giao tiếp trong gia  
đình và trong cộng đồng dân tộc (tộc người) là tiếng dân tộc  
(tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữ thứ nhất). Khi đi học, “hành trang”  
các em mang theo đến trường là tiếng mẹ đẻ (TMĐ); truyền  
thống, phong tục, tập quán và văn hóa dân tộc. Ở trường  
khi tiếp cận tri thức, giao tiếp với thầy cô, bạn bè ngôn ngữ  
sử dụng là TV (ngôn ngữ thứ hai). Học TV; sử dụng TV để  
giao tiếp với thầy cô, bạn bè; tiếp thu tri thức bằng TV là  
khó khăn lớn nhất mà HS người DTTS khi bắt đầu tiếp cận  
với giáo dục phải vượt qua. HS người DTTS là chủ thể của  
quá trình tiếp thu, phát triển TV, nên việc nâng cao năng  
lực TV cho các em phụ thuộc vào “vốn” TV mà các em  
có được từ trước khi đi học. Đối với năng lực TV của HS  
người DTTS cấp Tiểu học có thể chia ra làm hai giai đoạn:  
Giai đoạn 1: Khi vào lớp 1, vốn TV của HS người DTTS có  
2 khả năng sau:  
Thực tiễn quá trình giáo dục ở vùng DTTS đã chỉ ra rằng,  
TV là “rào cản” lớn nhất khi HS người DTTS tiếp cận tri  
thức, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân. Trong khi  
đó, yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới [3]  
đối với môn TV cấp Tiểu học được thiết kế theo các mạch  
kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; sử dụng TV thành thạo để  
giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt  
các môn học khác; đồng thời qua môn học, HS được bồi  
dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân cách. HS tiểu học  
người DTTS không nằm ngoại lệ.  
Nâng cao năng lực TV là một nội dung quan trọng trong  
quá trình giáo dục HS người DTTS. Để nâng cao năng lực  
TV cho HS người DTTS cần lựa chọn, thực hiện đồng bộ  
các giải pháp phù hợp, khả thi với từng dân tộc (tộc người)  
cụ thể, với từng lứa tuổi cụ thể. Đồng thời, cần xem xét các  
yếu tố (bên trong, bên ngoài, chủ quan, khách quan) tác  
động đến quá trình thực hiện các giải pháp nâng cao năng  
- HS người DTTS đến trường/lớp tiểu học ngay từ những  
lực TV cho HS người DTTS cấp Tiểu học. Bài viết này buổi học đầu tiên (tiền tiểu học – lớp 1) mang trong mình  
phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng hai khả năng tiếp cận: Một là, HS người DTTS biết được  
cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS, giúp cho một ít TV ở mức độ nghe, nói do được tiếp cận với các  
cán bộ quản lí, giáo viên (GV) công tác ở vùng dân tộc có lớp mẫu giáo và thỉnh thoảng sử dụng được ngôn ngữ TV  
căn cứ nâng cao hiệu quả năng lực TV cho HS người DTTS thông thường (ngôn ngữ TV hằng ngày) do điều kiện sống  
ở Tiểu học.  
đan xen với các dân tộc khác, hoặc điều kiện sống ở nơi  
thuận lợi hơn, hoặc cha/mẹ biết nói TV; Hai là, HS người  
Số 16 tháng 4/2019  
61  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
DTTS mang trong mình hoàn toàn bằng TMĐ (tiếng dân sang thanh sắc hoặc nặng khi phát âm những tiếng mang  
tộc) không biết TV do không được tiếp cận với các lớp mẫu thanh như: Xã hội => xá hội; vĩnh viễn => vính viến.  
giáo, sống ở vùng tương đối biệt lập, cha mẹ nói TV chưa  
thành thạo;  
- Về từ vựng: TV có hệ thống đại từ nhân xưng và các từ  
ngữ xưng hô phong phú. Khi nói năng, tùy thuộc vào vai  
- HS người DTTS là những lớp còn lại (từ lớp 2 - lớp 5) giao tiếp mà người sử dụng một từ ngữ nào đó cho thích  
các mức độ về năng lực ngôn ngữ TV được tăng dần lên sau hợp. Trong khi đó, ở nhiều ngôn ngữ DTTS, hệ thống từ  
mỗi lớp học, nhưng chưa hẳn đã tốt ở cả 4 năng lực (nghe, ngữ loại này thường hạn chế.  
nói, đọc, viết). Có những năng lực tốt hơn nhưng cũng có  
- Về ngữ pháp: Phương thức tạo từ của TV và TDT có  
những năng lực chưa tốt hoặc vẫn ở mức ban đầu (chưa có nhiều sự khác biệt. Thông thường HS người DTTS hay sử  
gì). Như vậy, dù ở giai đoạn nào thì vốn TV chưa có hoặc dụng cách tạo từ của TMĐ áp dụng cho cách tạo từ TV  
chưa đủ, sẽ có thể dẫn đến hiện tượng tự ti, ngại giao tiếp, trong nói và viết bằng TV. Ví dụ: Tiếng Mông: Cái ba tháng  
cùng với đặc điểm tâm lí rụt rè, ngại giao tiếp với người lạ (tháng ba); Tôi mẹ (mẹ tôi); chỗ này rất tốt ở (chỗ này ở  
(do rào cản ngôn ngữ, do điều kiện sống). Do đó, việc phân rất tốt).  
ra các mức độ, các năng lực phù hợp với từng đối tượng  
Theo quy luật, khi học TV, các em chịu ảnh hưởng của  
HS/lớp/khối học là vấn đề khó khăn, bởi nếu thực hiện TMĐ trong quá trình học TV. Sự ảnh hưởng của TMĐ trong  
không tốt ảnh hưởng tới kế hoạch toàn bộ của nhà trường, quá trình học TV là một quá trình tự nhiên. Sự ảnh hưởng  
ảnh hưởng tới chính HS (đặc biệt về góc độ tâm lí), và ảnh đó được diễn ra theo hướng: Người học có thói quen đưa  
hưởng đến cả đối tượng thực hiện (đặc biệt là GV). Do vậy, những đặc điểm ngôn ngữ của TMĐ vào hệ thống ngôn  
HS là người DTTS là yếu tố nội tại quan trọng đầu tiên có ngữ mới (TV). Kết quả tất yếu là: Những yếu tố giống giữa  
ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực TV.  
TV và TMĐ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS người DTTS  
Thứ hai, sự giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng dân tộc (TMĐ) khi học TV; Những yếu tố khác nhau thường cản trở, gây  
và TV: Do có sự không tương thích về số lượng các âm, khó khăn khi học TV. Đó cũng là nguyên nhân gây ra lỗi sử  
thanh điệu giữa các TMĐ và TV nên HS người DTTS khi dụng TV: Lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu,…  
học TV thường hay mắc một số lỗi phổ biến như: Phát âm  
Thứ ba, đặc điểm tâm, sinh lí và bản sắc văn hóa tộc  
không chuẩn về âm đầu, vần, dấu thanh; cấu trúc câu khi người của HS người DTTS: Các yếu tố tâm lí lứa tuổi, tư  
nói thường ngược với cấu trúc câu trong TV. Thực tế cho duy, nhận thức, xúc cảm, động cơ, đặc điểm cá nhân người  
thấy, HS mỗi dân tộc có khả năng tiếp nhận và sử dụng TV học,... và bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, truyền  
rất khác nhau. Ví dụ: HS dân tộc Tày, Nùng, Mông (miền thống tộc người tác động trực tiếp đến việc hình thành thái  
núi phía Bắc) rất khó khăn khi sử dụng các dấu thanh trong độ đối với TV trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai. Để  
nói TV; HS dân tộc Tây nguyên không phân biệt, sử dụng HS có được xúc cảm, hứng thú (thái độ tích cực) trong các  
được dấu thanh trong nói TV (thường là thiếu dấu), đặc biệt giờ học TV thì ngữ liệu bài học phải gần gũi, quen thuộc  
là dấu sắc với dấu ngã. Chẳng hạn như sau:  
với HS và GV thiết kế các hoạt động học tập giúp HS được  
- Về Ngữ âm: Cấu trúc âm tiết, TV có các dạng âm tiết thực hành, trải nghiệm, kích thích sự hứng thú, tích cực và  
đóng, nửa đóng, mở và nửa mở. Trong khi đó, một số ngôn sáng tạo ở HS.  
ngữ DTTS có cấu trúc âm tiết không điển hình do số lượng  
Thứ tư, môi trường xã hội: Sự hình thành phát triển vốn  
âm cuối hết sức hạn chế. Ví dụ: Trong tiếng Mông chỉ có từ tỉ lệ thuận với sự hiểu biết của HS với môi trường sống  
một phụ âm cuối với hai biến thể ng và nh nên HS người xung quanh của HS. Môi trường sống càng phong phú thì  
DTTS Mông rất khó phát âm các vần có âm cuối tắc vô sự hiểu biết (thể hiện qua ngôn ngữ) càng đa dạng. Với HS  
thanh p, t , k (Ví dụ vần: op, ôp, ơp; at, ăt, ac, ăc, âc,…). người DTTS, các yếu tố xã hội như: Gia đình, nhà trường,  
Một số dân tộc thuộc nhóm dân tộc Tày, Thái thường khó cộng đồng dân cư, các hoạt động xã hội,... có tác động  
phát âm các nguyên âm đôi và biến chúng thành các nguyên không nhỏ đến quá trình học TV. Nếu các thành viên trong  
âm đơn: uô thành u hoặc ô; ươ thành ư hoặc ơ; iê thành i gia đình HS thường xuyên sử dụng ngôn ngữ thứ hai (TV)  
hoặc ê,… Vì thế, hệ thống nguyên âm, phụ âm ở một số dân trong giao tiếp hằng ngày thì sẽ thúc đẩy HS trong quá trình  
tộc (Tày, Thái) không có đầy đủ các nguyên âm đôi như TV học ngôn ngữ thứ hai và ngược lại. HS sống ở nơi kinh tế  
khó khăn cho việc phân biệt nguyên âm đơn gần gũi (uô/u; - xã hội phát triển, có nhiều phương tiện truyền thông đại  
ươ/ư; ie/i, e); Thanh điệu đối với TV có thanh điệu trong chúng như đài phát thanh và truyền hình, sách, báo,… có  
khi đó một số dân tộc không có thanh điệu (tiếng Ê đê, nhiều người sử dụng ngôn ngữ thứ hai thì sẽ học nhanh hơn  
Jrai, Banar,…): Có một số ngôn ngữ có thanh điệu nhưng so với những HS sống ở vùng sâu, vùng xa, nơi có ít người  
số lượng và phẩm chất các thanh không hoàn toàn tương sử dụng ngôn ngữ thứ hai. Ở những nơi đó, HS không có  
ứng với số lượng và phẩm chất trong các thanh TV (tiếng cơ hội tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ hai ở gia đình và cộng  
Thái, Mông, Dao,…). Dẫn đến hiện tượng phát âm không đồng. Toàn bộ việc học ngôn ngữ thứ hai của HS hầu như  
đúng các thanh TV cũng khá phổ biến ở HS người DTTS. chỉ được thực hiện ở lớp học, trường học.  
Ví dụ: HS các dân tộc Jrai, Banar, Ê đê,… khó phát âm  
Thứ năm, nội dung và phương pháp giáo dục với HS dân  
những tiếng mang thanh điệu TV, HS các dân tộc Thái, Tày, tộc: Một số cách tiếp cận không phù hợp đối với việc học  
Nùng,… thường khó phát âm thanh ngã và thường chuyển ngôn ngữ hai đó là: Ở Việt Nam, toàn bộ việc học của HS  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
62  
Trần Thị Yên  
người DTTS được thực hiện bằng ngôn ngữ hai ngay từ nhiều ở người GV. Tuy nhiên, trong thực tế đối với GV  
lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Lên cấp Tiểu học, các em lại vấn đề nâng cao năng lực TV cho HS người DTTS là một  
cùng học chung một bộ sách giáo khoa, cùng phương pháp thách thức lớn về phương pháp do ảnh hưởng của tình trạng  
dạy học như HS dân tộc Kinh. Cách tiếp cận này được gọi đa dân tộc trong một lớp học, gây khó khăn cho GV trong  
là “thả nổi”, tức là dạy ngôn ngữ thứ hai như ngôn ngữ việc giảng dạy ngôn ngữ TV: Do đặc điểm cư trú của các  
thứ nhất. Phương pháp thả nổi này cũng được áp dụng ở DTTS Việt Nam là đan xen nhiều thành phần dân tộc trên  
nhiều nước phát triển trên thế giới nhưng không được công cùng một địa bàn nên thông thường mỗi lớp học có từ 2-5  
nhận là phương pháp dạy học có hiệu quả. Nó thường gây thành phần dân tộc. Một số ít cho khoảng 7 - 8 thành phần  
ra những kết quả học tập yếu kém cho HS người DTTS ở dân tộc,… Mặt khác, đội ngũ GV ở vùng DTTS thường  
nhiều nơi trên thế giới.  
không ổn định, luôn biến động, thay đổi do chính sách luân  
Việc học ngôn ngữ thứ hai như ngôn ngữ thứ nhất khiến chuyển và nghỉ chế độ cũng ảnh hưởng tới việc nâng cao  
HS người DTTS nhiều lúc cảm thấy quá sức khi phải nỗ năng lực TV.  
lực để hiểu những gì đang diễn ra trong lớp và những gì  
Địa bàn vùng DTTS là vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng  
đang trông chờ các em. HS phải luôn luôn nhắc lại và ghi khó khăn nên đại đa số là các GV trẻ cả về tuổi đời và tuổi  
nhớ những nội dung trong các bài học mà không hiểu hoặc nghề: Trẻ thường có nhiệt huyết nhưng họ lại thiếu kinh  
không có ý tưởng mới nào. Kết quả là HS cảm thấy chán nghiệm giảng dạy, thiếu những hiểu biết về văn hóa, phong  
học, nghỉ học, bỏ học.  
tục tập quán của các DTTS ở địa phương, đặc biệt là chưa  
Ban đầu, HS có thể học được một số từ ngữ thông dụng biết tiếng DTTS. Năng lực TV của một bộ phận GV, đặc  
hằng ngày bằng ngôn ngữ thứ hai và có thể giao tiếp ở mức biệt đối với GV người DTTS thường chưa tốt: Phát âm TV  
đơn giản. Nhưng khi các bài học ngày càng trở nên khó hơn chưa chuẩn, khả năng giải nghĩa từ, kiến thức ngữ pháp và  
với những khái niệm, thuật ngữ trừu tượng sẽ khiến HS khó năng lực sử dụng ngôn ngữ TV chưa thực sự thành thạo.  
có thể học tốt được với vốn từ hạn chế của mình. Vì vậy, Trong khi đó, nâng cao năng lực TV thường tính đến giãn  
đến các lớp giữa của cấp Tiểu học, kết quả học tập của các tiết/tăng tiết học, thời gian để xây môi trường TV thân thiện  
em thường giảm sút đáng kể.  
trong lớp học, thời gian di chuyển ở các điểm trường,… Vì  
Đã từng có những phương pháp đi ngược lại quá trình thế khó khăn đối với CBQL, GV trong việc thực hiện chế  
tự nhiên trong việc học ngôn ngữ như kiểu “nhúng chìm”. độ (kinh phí) dạy tăng tiết dẫn đến hai trạng thái: Tạo được  
Theo cách tiếp cận nhúng chìm, HS sẽ có khả năng phản động lực và chưa tạo động lực, ảnh hưởng tới hiệu quả nâng  
ứng nhanh và giao tiếp trôi chảy bằng ngôn ngữ hai, nhưng cao năng lực TV cho HS.  
việc hiểu nghĩa lại bị hạn chế vì chủ yếu là hiểu nghĩa trên  
2.3. Gia đình và cộng đồng  
bề mặt. Nghĩa của từ và câu do HS chỉ được học qua thực tế  
quy phạm nên không đủ độ bền vững, mơ hồ và không rành  
mạch. Vốn từ ngữ ấy gây nhiều khó khăn cho HS khi học  
tập các môn học đòi hỏi độ chính xác và nhiều thuật ngữ  
như Toán, Khoa học và cả cho các môn yêu cầu sử dụng  
ngôn từ tinh tế như văn chương.  
Gia đình, cộng đồng là yếu tố môi trường quan trọng  
không thể thiếu, việc thường xuyên sử dụng TV trong gia  
đình, cộng đồng góp phần củng cố năng lực TV cho HS  
dân tộc. Đặc biệt là đối với những dân tộc sống ở vùng sâu,  
vùng xa tương đối biệt lập, không có sự đan xen với các  
dân tộc khác.  
2.2. Cán bộ quản lí và giáo viên  
Chức năng của TV trong giao tiếp gia đình thấp hơn rất  
Đội ngũ thực hiện nội dung, chương trình giáo dục mới nhiều so với TMĐ của người DTTS. Có thể nói, trong gia  
là GV và cán bộ quản lí (CBQL). Đội ngũ này là nhân tố đình mà các thành viên cùng một dân tộc thì hầu như đều  
quan trọng có tác động trực tiếp đến HS và có vai trò quyết sử dụng tiếng dân tộc (Báo cáo khảo sát thực trạng các giải  
định chất lượng giáo dục. Trong quá trình giáo dục ở vùng pháp nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS -  
DTTS, đội ngũ GV và CBQL giúp HS xoá bỏ “rào cản” Mã số B2018-VKG-05). Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp  
ngôn ngữ; giúp HS tiểu học người DTTS tự tin đến trường, hằng ngày, không ít gia đình vẫn sử dụng một thời lượng  
lớp và có thái độ tích cực đối với việc học TV. Tuy nhiên, không nhỏ TV trong giao tiếp tùy thuộc vào mục đích, chủ  
vấn đề TV cho HS người DTTS vẫn còn là mối quan tâm đề hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp. Chẳng hạn, không ít  
được nhắc đến nhiều nhất hiện nay đối với giáo dục tiểu gia đình chủ động giao tiếp bằng TV với con, cháu nhỏ tuổi  
học. Điều này phụ thuộc nhiều vào đội ngũ CBQL, GV. nhằm mục đích giúp chúng nhanh chóng sử dụng tốt TV.  
Nâng cao năng lực TV cho HS người DTTS cần một đội Thậm chí có cha mẹ còn cố tình chỉ sử dụng TV. Hiện tượng  
ngũ CBQL, GV không chỉ đủ năng lực nghề nghiệp mà còn này có thể gặp ở bất cứ dân tộc nào.  
đòi hỏi phải có những hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lí HS  
Mặc dù nhận thức của cộng đồng, cha mẹ HS về sự cần  
người DTTS, đặc điểm tộc người/vùng miền; và còn phải thiết phải nâng cao năng lực TV cho con em tuy đã có tiến  
đáp ứng được những yêu cầu của chương trình tiểu học mới bộ song nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế nên việc phối  
(dạy theo phát triển năng lực, dạy học tích hợp,…), thì việc kết hợp gặp nhiều trở ngại lớn. Trong thực tế, đi đến các  
quản lí, việc thực hiện dạy - học nói chung, dạy - học nâng điểm trường/xã (Báo cáo khảo sát thực trạng các giải pháp  
cao năng lực TV nói riêng mới có hiệu quả. Hiệu quả việc nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS - Mã  
nâng cao năng lực TV đối với HS người DTTS phụ thuộc số B2018-VKG-05): Nhiều cha mẹ thường phó mặc cho  
Số 16 tháng 4/2019  
63  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục HS. Một số cha/ 10.488/16.703, chiếm tỉ lệ 62.7%. Có 4.471 trường, 12.055  
mẹ chưa ý thức được việc cho HS đi học chuyên cần, sẵn điểm trường thiếu các đồ dùng, sách, truyện để nâng cao/  
sàng cho con nghỉ học khi bận lên nương rẫy hoặc bắt làm tăng cường TV cho HS người DTTS. Có 4.383 trường,  
việc nhà, trông em. Việc cha/mẹ HS hạn chế TV nên khó có  
thể giao tiếp với GV bằng TV để nắm bắt được việc học tập  
của con em họ. Bản thân họ cũng chưa ý thức được việc tạo  
môi trường, điều kiện và thời gian để quan tâm, giáo dục  
HS tại gia đình.  
12.055 điểm trường thiếu văn phòng phẩm để xây dựng môi  
trường TV (PED report 2016)… Đó là những ảnh hưởng  
trong việc nâng cao năng lực TV cho HS người DTTS.  
2.5. Vùng miền và tộc người  
a. Về vùng miền  
- Điều kiện tự nhiên: Vùng DTTS và miền núi với địa  
Vốn dĩ TV đối với các em còn hạn chế, lại trở về với gia  
đình, cộng đồng, hằng ngày các em giao tiếp với bố mẹ,  
cộng đồng bằng TMĐ, môi trường giao tiếp TV bị hạn hẹp. hình dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh nhất, khí hậu khắc  
Các em chỉ nói TV khi ở trường còn khi về với gia đình các nghiệt, đất rộng, người thưa…: Nếu như ở vùng Trung Du  
em lại sống trong gia đình thuần tiếng dân tộc. Môi trường  
giao tiếp bằng TV hạn chế và không thuần nhất, điều này  
ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển năng lực sử  
dụng TV của các em gặp nhiều khó khăn.  
Nhìn tổng thể, hiện tại, trong giao tiếp gia đình nói chung,  
chức năng của TV ít được phát huy hơn so với tiếng dân tộc.  
Như vậy, trạng thái song ngữ trong gia đình người DTTS ở  
dạng tổng quát là: Tiếng dân tộc trong gia đình là ngôn ngữ  
cao còn TV là ngôn ngữ thấp.  
Do vậy, sự ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng rất lớn tới  
việc nâng cao năng lực TV cho HS người DTTS đặc biệt  
đối với những vùng sống tương đối độc lập mà khi nâng cao  
năng lực TV cho HS cần chú ý.  
và miền núi phía Bắc trong đó có Tây Bắc là nơi có địa hình  
cao nhất, bị chia cắt và hiểm trở nhất Việt Nam thì vùng Bắc  
Trung Bộ và duyên hải miền Trung lại là nơi có điều kiện  
khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả nước (Hằng năm thường  
xảy ra nhiều thiên tai như bão, lũ, gió Lào, hạn hán,…).  
Miền Nam với vùng Tây Nam Bộ mặc dù ít xảy ra thiên tai  
hơn nhưng nổi bật và ít có trên cả nước đó là vùng có gần  
một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm,…  
Do đó, giao thông đi lại, sinh hoạt ăn ở,… rất khó khăn ảnh  
hưởng rất nhiều đến việc đi lại và sự an toàn cũng như sức  
khỏe của người dạy và người học. Đối với các trường tiểu  
học đa số nằm rải rác khắp nơi trong toàn xã/huyện với  
nhiều điểm trường (có trường hơn chục điểm lẻ) thuộc vùng  
sâu, vùng xa và cả những vùng chưa có điện lưới quốc gia,  
kéo theo là các điều kiện giao lưu, giao tiếp xã hội, kết nối  
mạng internet để khai thác thông tin xã hội,… bị hạn chế  
ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình thực hiện dạy - học TV.  
Vì thế, khi tiến hành các hoạt động nâng cao năng lực TV  
cần lưu ý sự phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi vùng.  
- Kinh tế: Do những ảnh hưởng lớn về điều kiện tự nhiên  
khắc nghiệt, vì thế tốc độ phát triển kinh tế của vùng DTTS  
và miền núi còn thấp hơn các vùng khác trong cả nước. Đó  
là chưa kể đến ngay trong một vùng đã khó khăn còn đặc  
biệt khó khăn hơn, điều này thể hiện rõ trong quy định về  
xã/thôn đặc biệt khó khăn [4]. Một số thôn chưa có điện  
lưới quốc gia, các phòng, lớp học còn thiếu, chưa đạt tiêu  
chuẩn,… ảnh hưởng tới kinh tế, gia đình HS chưa đảm bảo  
được các điều kiện cần thiết cho người dạy, người học.  
- Xã hội: Quản lí xã hội của một số dân tộc (tộc người)  
còn mang tính khép kín trong cộng đồng, cùng với nó là  
những phong tục lạc hậu như kết hôn sớm, kết hôn cận  
huyết, cúng ma khi ốm đau, kiêng kị, cấm kị,… kéo theo  
những hệ lụy như tỉ lệ mù chữ cao, trình độ dân còn trí thấp,  
giáo dục bậc cao kém phát triển, ảnh hưởng không nhỏ đến  
việc thực hiện nâng cao năng lực TV.  
2.4. Các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học  
Các điều kiện cơ sở vật chất (CSVC), thiết bị dạy học  
(TBDH) ở các trường tiểu học, đặc biệt nhiều trường ở các  
điểm trường lẻ vùng DTTS còn thiếu thốn chưa đáp ứng  
được yêu cầu nâng cao TV. Nâng cao năng lực TV đòi hỏi  
phải bổ sung thêm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, tài liệu,  
học liệu cho GV và HS trong các giờ học, nhưng thực tế, họ  
vẫn chỉ sử dụng chung bộ đồ dùng và các tài liệu được cấp  
phát chung cho cả nước. Chưa kể đến điều kiện thời tiết ở  
miền núi rất ẩm thấp: Các loại tranh ảnh, đồ dùng làm bằng  
bìa, giấy,... dễ bị mục nát, hỏng sau 1, 2 năm sử dụng nên  
lại càng bị thiếu.  
Trang thiết bị tối thiểu, tài liệu, học liệu đồ dùng, đồ chơi  
tại các trường, điểm trường còn thiếu thốn, môi trường giáo  
dục trong và ngoài lớp học hạn chế, chưa đảm bảo các điều  
kiện để phát triển các năng lực giáo dục cho HS, nhất là  
năng lực ngôn ngữ TV. Tình trạng thiếu phòng học, phòng  
học tạm, học nhờ còn nhiều. Nhiều điểm trường lẻ chưa  
có đủ phòng học, chưa đảm bảo các điều kiện về diện tích,  
nhà vệ sinh, chưa xây dựng được môi trường giáo dục, môi  
trường sư phạm theo quy định, môi trường TV cho HS chưa  
được chú ý, đặc biệt các lớp lẻ cắm bản nhiều thuộc địa  
bàn các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn (Các điểm trường  
lẻ còn nhiều phòng học chưa kiên cố, thiếu phòng để học 2  
buổi/ngày. Nhiều trường không đảm bảo điều kiện để HS  
ở bán trú: Tổng số phòng học gồm 53.862 (trong đó: Số  
phòng học tạm là 8.590, chiếm tỉ lệ 15.9%; số phòng học  
b. Về tộc người  
Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, với những điểm đặc  
trưng cơ bản là: Ngôn ngữ; văn hóa; ý thức tự giác tộc  
người:  
- Về ngôn ngữ: Mỗi tộc người có ngôn ngữ riêng, vì  
còn thiếu là 4.127, chiếm tỉ lệ 7.7%) (PED report 2016). Số thế TV là “rào cản” lớn nhất đối với HS người DTTS khi  
trường có đủ đồ dùng theo quy định là 5.845/6.748, chiếm tiếp cận với giáo dục. Đó là chưa kể đến ngay trong một  
tỉ lệ 86.6%; số điểm trường có đủ đồ dùng theo quy định là vùng rộng là một huyện, hẹp là một xã/thôn/bản các DTTS  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
64  
Trần Thị Yên  
thường sống đan xen nhau, số lượng những thôn/bản hoặc các tiết học môn TV của những lễ hội/nghi lễ của HS bắt  
buộc nghỉ).  
xã sống tập trung 1- 2 dân tộc cũng không ít. Đặc điểm phân  
bố này dẫn tới sự đa dạng các thành phần dân tộc trong các  
trường học, lớp học (đặc biệt đối với cấp Tiểu học): Ngay  
trong một trường, các lớp học ở điểm lẻ thường thuần nhất  
một thành phần dân tộc, còn ở điểm trường chính thường  
gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Điều này dẫn tới  
tình trạng HS người DTTS mang trong mình có thể là cá thể  
song ngữ (TMĐ - TV; TMĐ - tiếng dân tộc 1;…), hoặc đa  
ngữ (TMĐ - TV - tiếng dân tộc khác; TMĐ - tiếng dân tộc  
1- tiếng dân tộc 2,…). Do vậy, vấn đề ngôn ngữ: Đơn ngữ/  
song ngữ/đa ngôn ngữ cần phải được tính đến: Điều chỉnh  
để phù hợp, đặc biệt đối với những dân tộc sống tương đối  
biệt lập với vốn TV còn hết sức hạn chế.  
- Văn hoá và sự đa dạng văn hóa: Đa dạng văn hóa cộng  
đồng các dân tộc DTTS không chỉ thể hiện ở sắc thái vùng  
văn hóa, mà còn thể hiện ở sắc thái văn hóa tộc người dưới  
ba cấp độ: Nhóm dân tộc gần gũi nhau về ngôn ngữ, từng  
tộc người và các nhóm địa phương trong một tộc người.  
Tinh hoa văn hóa các DTTS thể hiện trong kho tàng văn hóa  
dân gian, trong y phục, trang sức và hoa văn, trong luật tục,  
trong kiến trúc nhà ở, trong cách ứng xử giữa con người với  
con người, giữa con người với cộng đồng. Những tinh hoa  
văn hóa DTTS góp phần phong phú bản sắc văn hóa dân  
tộc Việt Nam - Một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng.  
Do đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng một môi trường đa  
văn hóa vừa đảm bảo được nét riêng của từng cộng đồng  
các DTTS vừa đảm bảo văn hóa của cộng đồng các tộc  
người khác và văn hóa của quốc gia nhằm xóa bỏ rào cản  
về sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa.  
- Ý thức tự giác tộc người: Cộng đồng các dân tộc sống  
đan xen với nhau hàng ngàn năm trên đất nước Việt Nam,  
song mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng. Đặc  
trưng riêng vốn có của mỗi tộc người được thể hiện ở ngôn  
ngữ, trang phục, ý thức tự giác tộc người. Chẳng hạn như  
người Dao có các ngành Dao Đỏ, Dao Tiền,... người Mông  
có Mông Đen, Mông Trắng, Mông Hoa,... có thể phân biệt  
nhờ trang phục và ngôn ngữ. Dù sinh sống đan xen giữa  
các dân tộc, song trong phạm vi thôn/bản vẫn có thuần một  
tộc người sống quây quần với nhau, đoàn kết, giúp nhau  
trong cuộc sống. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc  
tế, đi đến những vùng DTTS vẫn thấy được các giá trị cộng  
đồng và sự tự ý thức dân tộc được thể hiện khá rõ nét kể cả  
ăn, mặc, ở sinh hoạt,... thể hiện những đặc trưng riêng của  
cộng đồng các dân tộc. Các DTTS còn lưu giữ và chịu sự  
chi phối của các loại hình tín ngưỡng và nghi lễ ăn sâu vào  
nếp sống của các dân tộc trở thành phong tục, tập quán và là  
một yếu tố văn hóa của các dân tộc. Chẳng hạn như lễ cấp  
sắc của người Dao; lễ hội xuống đồng của người Tày; múa  
sạp của người Thái,... vẫn được duy trì và phát triển trong  
cộng đồng các DTTS. Vì vậy, khi thực hiện nâng cao năng  
lực TV cần tính đến yếu tố này, bởi nếu không hiểu rõ về ý  
thức tự giác của mỗi tộc người thì có thể sẽ bị “va chạm”  
về mặt nội dung (phạm vào giá trị cộng đồng và điều này  
nên tránh), và thời gian (cần tính đến thời gian tăng hay dãn  
2.6. Cơ chế và chính sách  
Kinh phí và nguồn lực hỗ trợ cho các hoạt động dạy TV  
và nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS còn  
eo hẹp. Hiện nay, chưa có chế độ, chính sách hỗ trợ cho GV,  
ngoài hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế cho một số hoạt  
động như tăng cường TV cho HS người DTTS, nhưng cũng  
manh múm, nhỏ lẻ thiếu bền vững và chỉ dừng ở một thời  
gian nhất định khi dự án kết thúc. Trong khi đó, các hoạt  
động nâng cao TV chủ yếu các nhà trường thực hiện bằng  
việc tăng cường TV khiến cho giờ dạy của GV tăng lên  
so với quy định, đòi hỏi phải có kinh phí trả thêm giờ cho  
GV, hoặc bổ sung thêm GV, nhưng có nhiều nguyên nhân  
mà các địa phương chưa bổ sung được vì các huyện vùng  
DTTS chưa có kinh phí trả lương để tuyển dụng thêm GV.  
Mặt khác, GV chịu áp lực về mặt thời gian, thường phải đến  
sớm và về muộn, thời gian kéo dài hơn 8 tiếng/ngày; nhiều  
nơi, tại các điểm lẻ, chỉ có 1 GV/lớp, GV phải kiêm thêm  
rất nhiều việc. Đây cũng là một hạn chế ảnh hưởng tới động  
lực làm việc của GV (chế độ đối với người dạy).  
2.7. Mối quan hệ giữa các yếu tố  
Trong quá trình thực hiện các giải pháp nâng cao năng  
lực TV cho HS tiểu học người DTTS, các yếu tố (HS là  
người DTTS; CBQL và GV; gia đình và cộng đồng; điều  
kiện về CSVC, TBDH; vùng miền và tộc người; cơ chế  
và chính sách) không tác động vào quá trình này một cách  
đơn lẻ, độc lập mà các yếu tố có mối quan hệ, liên hệ với  
quá trình và với nhau tạo nên mạng lưới các mối quan hệ.  
Trong đó có mối quan hệ chủ yếu, mối quan hệ thứ yếu;  
mối quan hệ trực tiếp, mối quan hệ gián tiếp,... Yếu tố HS  
là người DTTS và CBQL và GV là hai yếu tố chủ yếu, có  
vai trò quyết định, chi phối quá trình nâng cao năng lực TV  
cho HS người DTTS. “HS là người DTTS” có vai trò chủ  
thể trong quá trình tiếp nhận và phát triển năng lực TV. Tuy  
nhiên, những giá trị văn hóa tộc người (tiếng dân tộc, truyền  
thống, phong tục, tập quán) cản trở quá trình tiếp nhận và  
phát triển năng lực TV của HS. Vượt qua cản trở này đòi  
hỏi phải có sự cố gắng nỗ lực của HS và sự trợ giúp của GV.  
“GV” là chủ thể trong quá trình dạy - học. Năng lực nghề  
nghiệp, năng lực ngôn ngữ dân tộc (tiếng dân tộc của HS)  
của GV quyết định nâng cao năng lực TV cho HS. Trong  
quá trình dạy học, GV không chỉ giúp HS vượt qua những  
cản trở về văn hóa tộc người mà còn bảo tồn, phát huy phát  
triển các yếu tố đó, khai thác các mặt tích cực giúp HS tiếp  
nhận và phát triển năng lực TV.  
Các yếu tố gia đình và cộng đồng; điều kiện về CSVC,  
TBDH; vùng miền và tộc người; cơ chế và chính sách tác  
động gián tiếp song có vai trò đảm bảo yếu tố HS và GV  
thực hiện có hiệu quả. Gia đình và cộng đồng là môi trường  
tốt để giúp HS củng cố năng lực TV. Yếu tố CSVC tạo điều  
kiện GV thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. Yếu tố chính sách  
tạo động lực làm việc cho GV.  
Số 16 tháng 4/2019  
65  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
xu hướng ưu tiên sử dụng tiếng dân tộc (TMĐ) là những  
trở ngại trong việc thực hiện nâng cao năng lực TV cho  
HS tiểu học người DTTS; 3/ Các điều kiện về nhân lực  
(CBQL, GV) về vật lực (CSVC, TBDH), về tài lực (kinh  
phí, chính sách,...) tác động không nhỏ đến chất lượng giáo  
dục tiểu học vùng DTTS nói chung, chất lượng TV của HS  
người DTTS nói riêng; 4/ Điều kiện tự nhiên phức tạp, giao  
3. Kết luận  
Nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS  
không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục mà là nhiệm  
vụ chung của cả hệ thống chính trị và xã hội. Trước mắt  
là cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục vùng DTTS, lâu  
dài là góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống các DTTS,  
đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước. Khi tiến  
hành nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS thông (kết nối xã, bản/làng) còn khó khăn tạo nên những  
cần thực hiện đồng bộ các giải pháp và quan tâm tới các khó khăn trong giao lưu, học tập của người dạy và người  
yếu tố tác động, vì mỗi yếu tố có vai trò nhất định gồm: 1/ học ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nâng cao năng  
Nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học người DTTS cần lực TV. Đói nghèo, bệnh tật, thiên tai, biến đổi khí hậu,...  
chú ý đến phân loại đối tượng HS người DTTS về vùng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thể lực và trí lực của  
miền, về tộc người, về khu trú/sinh sống (đan xem hay biệt người dạy và người học. Một số tập tục và tâm lí tộc người  
lập), về khối/lớp và về năng lực ngôn ngữ TV. Điều này có lạc hậu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển  
ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay không thành công thể chất và tinh thần của người dạy và người học khó khăn  
của việc thực hiện nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học cho việc thực hiện nâng cao năng lực TV cho HS tiểu học  
người DTTS; 2/ Đa ngôn ngữ trong gia đình, cộng đồng với người DTTS.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Quốc Hội, (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ  
nghĩa Việt Nam, (Điều 5 của Hiến pháp).  
khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân  
tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020, ngày 22  
tháng 01 năm 2019.  
[2] Luật Giáo dục 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều  
của Luật Giáo dục năm 2009 (Điều 7 của Luật Giáo dục).  
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Thông tư 32 ban hành  
chương giáo dục phổ thông - chương trình tổng thể, ngày  
26 tháng 12 năm 2018.  
[5] Trần Thị Yên (chủ nhiệm), Đề xuất nội dung và hình thức  
bồi dưỡng giáo dục đặc thù theo định hướng phát triển  
năng lực học sinh cho giáo viên tiểu học vùng dân tộc  
thiểu số, mã số V2016-05NV, Viện Khoa học Giáo dục  
Việt Nam.  
[4] Thủ tướng Chính phủ, (2019), Quyết định phê duyệt bổ  
sung, điều chỉnh và đổi tên danh sách thôn đặc biệt khó  
FACTORS INFLUENCING STRENGTHENING VIETNAMESE LANGUAGE  
CAPACITY FOR ELEMENTARY STUDENTS OF ETHNIC MINORITIES  
WHEN IMPLEMENTING THE NEW GENERAL EDUCATION PROGRAM  
Tran Thi Yen  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
101 Tran Hung Dao St., Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam  
Email: yenttdt@gmail.com  
ABSTRACT: Strengthening Vietnamese language capacity for ethnic minority  
elementary students is not only a duty of the education sector but also a  
common task of both political and social systems. In the immediate future,  
it is necessary to improve and enhance the quality of education in ethnic  
minority areas, and in the long term, to contribute to improving the quality of  
life and sustainable development for ethnic minorities, therefore, contribute in  
the advancement of the country. While strengthening Vietnamese language  
capacity for elementary students of ethnic minorities, it is necessary to  
synchronize the solutions and pay attention to the impact factors, because  
each element plays a certain role to the effectiveness of strengthening  
Vietnamese language capacity for students when implementing the new  
general education program.  
KEYWORDS: Influence; strengthening; Vietnamese; elementary; ethnic minorities.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
66  
pdf 6 trang baolam 23400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_yeu_to_anh_huong_toi_viec_nang_cao_nang_luc_tieng_viet.pdf