Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THCS

Khoa Ngữ văn, Trƣờng  
DẠY HỌC TIẾNG  
VIỆT NHẰM PHÁT  
TRIỂN NĂNG LỰC  
GIAO TIẾP CHO  
HỌC SINH THCS  
Đại học Sƣ phạm Hà Nội  
Điện thoại: 0983114982  
Email:  
ThS. LÊ THỊ MINH  
NGUYỆT  
TÓM TẮT  
Bài báo phân tích quan niệm về năng lực GT đƣợc chấp nhận rộng rãi ở châu Âu  
và đánh giá năng lực GT của HS THCS. Từ đó, đƣa ra những gợi dẫn có ý nghĩa cho  
việc dạy học môn Ngữ văn trong chƣơng trình giáo dục phổ thông sau 2015: từ xây  
dựng chƣơng trình, viết SGK, đổi mới PP dạy học đến việc kiểm tra đánh giá năng lực  
GT cho HS.  
Từ khoá: dạy học Tiếng Việt, quan điểm giao tiếp, năng lực giao tiếp  
ABSTRACT  
Teaching Vietnamese language to develop communicative competence  
for secondary students  
The report analyses the concept of “communicative competence” which is  
accepted widely in Europe and assesses the secondary students‟ communicative  
competence. Based on those tasks, we give meaningful recommendations for teaching  
philology in the post-2015: from program establishment, text book writing, teaching  
method renovation, to communicative competence assesment for students.  
Key words: teaching Vietnamese language, communicative approach,  
communicative competence  
406  
Giao tiếp (GT) vốn là một chức năng làm tiền đề khách quan cho sự phát sinh và  
phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ ra đời không có mục đích tự thân mà nhằm đáp ứng nhu  
cầu GT giữa con ngƣời trong cộng đồng xã hội - một nhu cầu mang tính bẩm sinh. Dạy  
học ngôn ngữ theo quan điểm GT là một xu hƣớng hiện đại đƣợc nhiều nƣớc thực hiện  
từ rất lâu và đã đạt đƣợc những thành tựu không thể phủ nhận. Ở Việt Nam, Chƣơng  
trình giáo dục Phổ thông sau 2015 có điểm đổi mới nổi bật là đƣợc xây dựng theo định  
hƣớng phát triển năng lực. GT là một năng lực chính không thể thiếu trong các năng lực  
cần hình thành, phát triển cho học sinh (HS) trong thời kì hội nhập quốc tế. Quan niệm  
về năng lực GT đƣợc chấp nhận rộng rãi ở châu Âu sẽ là cơ sở khoa học đƣa ra những  
gợi dẫn có ý nghĩa cho việc đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở nhà trƣờng phổ thông hiện  
nay.  
1. Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp và năng lực giao tiếp  
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu muốn nhìn nhận GT nhƣ một đƣờng hƣớng dạy  
học hay là cách tiếp cận (communicative language teaching hoặc communicative  
approach) nhấn mạnh vào sự tƣơng tác (interaction) nhằm phát triển năng lực GT cho  
ngƣời học. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, nên hiểu GT nhƣ là một  
cách tiếp cận trong dạy học với nghĩa rộng. Bởi vì, cách tiếp cận (approach) là những lí  
thuyết hay giả thuyết định hƣớng cho việc dạy và học; còn phƣơng pháp dạy học là việc  
áp dụng vào thực tế một quan niệm cụ thể và thƣờng phải phân xuất đƣợc thành các  
bƣớc dạy học (hay còn gọi là an - gô- rít hoá quá trình dạy học). Edward Anthony  
(1963) đã miêu tả ba cấp bậc khác nhau của các khái niệm: cách tiếp cận (approach)  
đƣợc xác định nhƣ là nguyên tắc mang tính lí thuyết (theoretical principle), phƣơng  
pháp (method) là một quy trình dạy học (procedural plan), kĩ thuật (technique) liên quan  
đến chiến thuật trong quy trình dạy học (strategies) [6, tr. 77-78]. Wikipedia, the free  
encyclopedia cũng viết: “communicative language teaching is usually characterized as a  
broad approach to teaching, rather than as a teaching method” (dạy học tiếng theo quan  
điểm GT thƣờng đƣợc miêu tả nhƣ là một quan niệm rộng trong việc dạy học hơn là  
một phƣơng pháp dạy học cụ thể) [9]. H. Douglas Brown cũng đƣa ra quan điểm của  
mình “CLT is best understood as an approach, not a method” (Dạy học theo GT nên  
đƣợc hiểu hợp lí nhất là một cách tiếp cận trong dạy học chứ không phải là một phƣơng  
pháp) [4, tr. 266]. Jack C. Richards [8] cũng cho rằng GT nhƣ một hệ phƣơng pháp luận  
(methodology) đƣợc hầu hết các giáo viên dạy ngôn ngữ hiện nay trên thế giới lựa chọn.  
PP luận này chi phối việc thiết kế chƣơng trình, tổ chức quy trình dạy học và việc kiểm  
tra đánh giá.  
407  
Chúng tôi cho rằng dạy học tiếng Việt theo quan điểm GT là một cách tiếp cận  
trong dạy học ngôn ngữ nhằm phát triển tối đa năng lực GT cho ngƣời học. Quan  
điểm này có một số đặc trƣng sau:  
- Dạy ngôn ngữ thực chất là dạy sử dụng ngôn ngữ trong GT. Dạy tiếng mẹ đẻ  
khác với dạy học ngôn ngữ thứ hai ở chỗ không chỉ là hình thành năng lực GT mà còn  
là phát triển năng lực GT cho HS, nâng lên thành GT có nghệ thuật thông qua bốn kĩ  
năng nghe, nói, đọc, viết.  
- Mục tiêu dạy học tiếng Việt theo quan điểm GT là nhằm phát triển năng lực GT  
cho ngƣời học.  
- Chƣơng trình và nội dung học tập phải đƣợc thiết kế, sắp xếp mô phỏng các tình  
huống GT thực gắn với văn hoá GT của dân tộc, nhân loại và chú ý đồng đều đến kĩ  
năng nghe, nói, đọc, viết cho HS.  
- Trong quá trình dạy học, ngƣời học đƣợc khuyến khích tham gia vào các hoạt  
động GT và tƣơng tác càng nhiều càng tốt. Có một số PP điển hình cho dạy học tiếng  
theo quan điểm GT là đóng vai, học thông qua dạy, trò chơi, dạy học theo nhóm, dạy  
học theo dự án...  
- Việc kiểm tra đánh giá cũng cần đánh giá năng lực GT của ngƣời học trên cả  
bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.  
Khái niệm “năng lực ngôn ngữ” (laguage competence) và “năng lực GT”  
(communicative competence) đã đƣợc các nhà ngôn ngữ học sử dụng nhiều thế kỉ nay  
nhƣng cũng là một trong những thuật ngữ gây tranh cãi nhiều nhất. Có thể kể đến tên  
tuổi các nhà nghiên cứu: Chomxky (1965), Campbell & Wales (1970), Hymes (1972)…  
Canale & Swain (1980) cho rằng “năng lực GT” đƣợc cấu thành từ ba yếu tố: năng lực  
ngữ pháp (Grammatical competence), năng lực ngôn ngữ xã hội (Sociolinguistic  
competence) và năng lực chiến lƣợc (Strategic competence) [5]. Bachman đã đƣa ra  
khung lí thuyết về năng lực GT ngôn ngữ trong đó có ba thành tố chính là: năng lực  
ngôn ngữ, năng lực chiến lƣợc và cơ chế tâm sinh lí. Ông cho rằng thành tố năng lực  
ngôn ngữ trong khung lí thuyết của mình có nhiều điểm tƣơng đƣơng với khái niệm  
“năng lực GT” của các nhà nghiên cứu khác. Năng lực này bao gồm 2 loại năng lực  
chính là: năng lực tổ chức (Organizational competence), và năng lực dụng học  
(Pragmatic competence) [3]. Trong các sơ đồ về năng lực GT, Celce – Murcia đã trăn  
trở nhiều lần và đƣa ra một sơ đồ tƣơng đối phức tạp về năng lực GT. Nếu nhƣ các tác  
giả trƣớc Celce – Murcia chỉ mới đƣa ra các thành tố của năng lực GT thì đóng góp mới  
của bà là chỉ ra mối quan hệ và sự tƣơng tác của các thành tố này. Trong đó, năng lực  
408  
văn hoá xã hội, năng lực ngôn ngữ và năng lực hành ngôn cùng tác động đến năng lực  
diễn ngôn ở trung tâm; còn năng lực chiến lƣợc là năng lực rộng bao trùm lên tất cả [7].  
Có thể nói, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Thị Thanh Hƣơng là ngƣời đầu tiên đối  
chiếu khái niệm năng lực GT ở châu Âu với chƣơng trình dạy học phần Tiếng Việt ở  
nhà trƣờng phổ thông. Trong bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến việc dạy học  
tiếng Việt ở nhà trƣờng phổ thông [2], tác giả đã thống kê nội dung dạy học phần Tiếng  
Việt trong chƣơng trình Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện hành với các thành tố của năng  
lực GT đã đƣợc các nhà nghiên cứu châu Âu rộng rãi chấp nhận. Kết quả cho thấy, nội  
dung dạy học phần tiếng Việt mới chỉ chú ý đến thành tố năng lực ngữ pháp. Chúng tôi  
muốn nhấn mạnh thêm rằng chƣơng trình Ngữ văn ở nhà trƣờng phổ thông, trong đó có  
phần Tiếng Việt chƣa phải đã phát triển đầy đủ năng lực ngữ pháp cho HS. Vì năng lực  
ngữ pháp theo quan điểm của các nhà nghiên cứu ở châu Âu là khả năng vận dụng các  
quy tắc ngữ pháp chứ không phải phát biểu các luận thuyết hay quy tắc ngữ pháp.  
Theo chúng tôi, để phát triển năng lực GT cho ngƣời học cần chú ý đến các  
thành tố: năng lực ngôn ngữ (tri thức về sử dụng và tiếp nhận các đơn vị ngôn ngữ),  
năng lực diễn ngôn (liên kết các đơn vị ngôn ngữ thành diễn ngôn), năng lực hành ngôn  
(phán đoán và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với chức năng, gửi và nhận các thông điệp có  
mục đích…), năng lực văn hóa xã hội (hiểu và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với cảnh  
huống và quy ƣớc xã hội), năng lực chiến lƣợc (hiểu, lựa chọn và thực hiện các chiến  
lƣợc ngôn ngữ để điều hoà sự đụng độ trong GT)…  
2. Năng lực giao tiếp của học sinh THCS  
Các nhà tâm lí học đều khẳng định HS THCS đã có năng lực GT tƣơng đối tốt.  
Nhu cầu GT với bạn bè phát triển mạnh là một đặc điểm nổi bật ở tuổi thiếu niên. Ngôn  
ngữ GT ở HS THCS tƣơng đối tốt và rất tự nhiên.  
Bên cạnh ý kiến của chuyên gia, để đánh giá năng lực GT của HS THCS một cách  
độc lập và khách quan, chúng tôi đã phát phiếu điều tra về năng lực GT cho 200 HS lớp 8 ở  
Hà Nội và 150 HS lớp 8 ở Yên Bái. Chúng tôi dùng công cụ là phiếu đánh giá năng lực GT  
của tác giả V.P. Da-kha-rốp (Zakharov) [1] – một phiếu đánh giá đã đƣợc Việt hoá và sử  
dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam. Trắc nghiệm của Da-kha-rốp là một hệ thống  
80 câu hỏi, chia theo 10 nhóm kĩ năng, mỗi nhóm gồm 8 câu. Mỗi câu có ba hình thức  
điểm: 0, 1 và 2: Điểm 0: Ứng với không có dấu hiệu của năng lực tƣơng ứng; Điểm 1:  
Ứng với năng lực xuất hiện không xuyên; Điểm 2: Có năng lực tƣơng ứng, đƣợc thể  
hiện trong nhiều trƣờng hợp, thƣờng xuyên. Điểm lý thuyết “lý tƣởng” cao nhất của  
mỗi nhóm có thể đạt đƣợc là 16, thấp nhất có thể là 0. Dựa vào thang điểm của  
V.P.Dakharop cho mỗi kỹ năng có thể chia 4 mức độ sau: Mức 1: từ 15 đến 16 là  
409  
loại giỏi; mức 2: từ 11 đến 14 là loại khá; mức 3: Từ 8 đến 10 là loại trung bình;  
mức 4: Từ 7 trở xuống là loại yếu. Chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:  
Bảng 2.1. Kĩ năng GT của HS Hà Nội  
Tổng  
điểm  
Điểm  
Thứ  
bậc  
TT  
Kĩ năng  
trung bình  
1
2
KN thiết lập các mối quan hệ  
KN cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tƣợng  
KN nghe đối tƣợng GT  
1701  
1667  
2212  
1626  
1735  
1449  
2202  
1540  
1696  
1736  
17564  
8.50  
8.33  
11.06  
8.13  
8.67  
7.24  
11.01  
7.70  
8.48  
8.68  
8.782  
5
7
3
1
4
KN tự chủ cảm xúc, hành vi  
8
5
KN tự kiềm chế, kiểm tra ngƣời khác  
KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu  
4
6
10  
2
7
KN linh hoạt, mềm dẻo trong GT  
KN thuyết phục đối tƣợng GT  
KN chủ động điều khiển quá trình GT  
Sự nhạy cảm trong GT  
8
9
9
6
10  
Tổng  
3
Bảng 2.6. Kĩ năng GT của HS Yên Bái  
Tổng  
điểm  
Điểm  
Thứ  
TT  
Kĩ năng  
trung bình  
bậc  
1
2
3
KN thiết lập các mối quan hệ  
KN cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tƣợng  
KN nghe đối tƣợng GT  
906  
1206  
933  
6.04  
8.04  
6.22  
8
1
5
410  
4
5
6
7
8
9
KN tự chủ cảm xúc, hành vi  
969  
919  
6.46  
6.12  
5.90  
7.04  
6.02  
6.14  
7.06  
6.504  
4
7
KN tự kiềm chế, kiểm tra ngƣời khác  
KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu  
885  
10  
3
KN linh hoạt, mềm dẻo trong GT  
KN thuyết phục đối tƣợng GT  
KN chủ động điều khiển quá trình GT  
1056  
903  
9
921  
6
10 Sự nhạy cảm trong GT  
Tổng  
1059  
9757  
2
Bảng thống kê trên cho thấy thực trạng năng lực GT của HS Hà Nội ở mức  
trung bình với tổng điểm = 17564, điểm trung bình chung là 8.782. Với HS Hà  
Nội, có hai kĩ năng là nghe đối tƣợng GT và linh hoạt, mềm dẻo trong GT đạt mức  
“khá”, 8 kĩ năng còn lại chỉ đạt mức “trung bình”. Với HS Yên Bái, thực trạng  
năng lực GT của các em ở mức độ “yếu” với tổng điểm = 9757, điểm trung bình  
chung là 6.50. Khác với HS Hà Nội, HS Yên Bái có kĩ năng đạt điểm cao nhất ở  
mức độ khá là kĩ năng cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tƣợng (kĩ năng này ở HS  
Hà Nội xếp thứ bậc 7). Các kĩ năng còn lại chỉ đạt mức độ yếu. Điểm tƣơng đồng  
thú vị trong bảng đánh giá năng lực GT của HS là kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu  
của HS Yên Bái và Hà Nội đều xếp thứ 10 (kĩ năng yếu nhất). Từ kết quả nghiên  
cứu ở trên, chúng tôi nhận thấy năng lực GT của HS cuối cấp THCS chỉ đạt mức  
trung bình và yếu. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của chƣơng trình giáo dục trong  
nhà trƣờng là phát triển, nâng cao năng lực GT cho các em – một năng lực chung,  
then chốt đã và luôn đƣợc đề cao trong mục tiêu đào tạo con ngƣời ở hầu hết các  
nƣớc trên thế giới. Hơn nữa, trong 10 nhóm kĩ năng, kĩ năng diễn đạt, sử dụng  
ngôn ngữ của HS THCS đang ở mức báo động. Trong nhà trƣờng phổ thông, kĩ  
năng này của HS chủ yếu đƣợc rèn và phát triển ở môn Ngữ văn, phần Tiếng Việt.  
Vì thế, việc tổ chức dạy học phần Tiếng Việt nhằm nâng cao năng lực GT cho HS  
đứng từ thực tế cuộc sống là hết sức cấp bách và cần thiết.  
3. Những đề xuất về việc dạy học Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp  
cho HS THCS  
411  
3.1. Đề xuất về mục tiêu và chƣơng trình dạy học Việt ngữ ở nhà trƣờng phổ thông. Hiện  
nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trƣơng triển khai “Đề án xây dựng chƣơng trình  
GDPT sau 2015” với sự đổi mới toàn diện, đồng bộ và nhất quán nền giáo dục từ mục  
tiêu, nội dung, phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Chƣơng trình đã khẳng định là  
đƣợc cấu trúc lại theo định hƣớng phát triển năng lực. Trong đó, năng lực GT đƣợc coi là  
một năng lực chính không thể thiếu trong việc đào tạo con ngƣời. Để phát triển năng lực  
GT cho HS, phần Tiếng Việt trong nhà trƣờng cần đồng thời thực hiện các nhiệm vụ:  
cung cấp cho HS những tri thức Việt ngữ học, giúp HS tìm hiểu, học tập văn hóa GT của  
ngƣời Việt và cả ngƣời nƣớc ngoài, tạo điều kiện để HS có thể vận dụng tri thức ngôn  
ngữ vào GT linh hoạt, năng động, phù hợp với chuẩn ngôn ngữ và chuẩn GT xã hội. Năng  
lực đó phát triển đến một mức độ nhất định có thể trở thành “nghệ thuật GT”. Với mục  
tiêu nhƣ vậy, cần có chƣơng trình dạy học theo định hƣớng GT. Không chỉ trong dạy học  
tiếng mẹ đẻ, các nhà giáo dục học nghiên cứu dạy học ngôn ngữ thứ hai trên toàn thế giới  
đã nghi ngờ tính giá trị và tính phù hợp của các chƣơng trình ngôn ngữ hiện có (chƣơng  
trình dựa vào cấu trúc và chƣơng trình dựa vào tình huống) và khẳng định phải có một  
cách tiếp cận mới đối với việc lựa chọn nội dung dạy học. Chƣơng trình Ngữ văn mới cần  
đƣợc thiết kế nhằm phát triển đầy đủ các thành tố của năng lực GT (năng lực ngôn ngữ,  
năng lực diễn ngôn, năng lực hành ngôn, năng lực văn hóa xã hội, năng lực chiến lƣợc).  
Chọn lựa vấn đề nào của ngôn ngữ học để đƣa vào dạy học trong chƣơng trình Ngữ văn  
THCS có ý nghĩa quan trọng với việc phát triển năng lực GT cho HS. Bởi vì, chỉ khi nào  
chƣơng trình và sách giáo khoa đƣợc biên soạn một cách thực sự khoa học thì việc dạy  
học của GV và HS mới đạt đƣợc mục tiêu đề ra.  
1.2. Đề xuất về đổi mới phƣơng pháp dạy học trong nhà trƣờng THCS. Định hƣớng đổi  
mới chƣơng trình giáo dục phổ thông sau 2015 đã khẳng định cần lựa chọn các PP, kĩ  
thuật, hình thức dạy học phù hợp với việc phát triển năng lực cho ngƣời học. Để dạy  
học Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực cho HS, không thể không sử dụng các phƣơng  
pháp dạy học điển hình cho quan điểm GT nhƣ phƣơng pháp đóng vai (chúng tôi quan  
niệm đóng vai là một phƣơng pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức cho HS hóa thân  
thành ngƣời khác nhằm thực hành những cách ứng xử ở một tình huống giả định. Từ đó,  
giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào sự kiện cụ thể mà các em  
trải nghiệm và quan sát đƣợc. Sau việc “trình diễn”, HS cần thảo luận để rút ra kiến thức và  
kĩ năng cần đạt của bài học), phƣơng pháp học thông qua dạy (là một phƣơng pháp dạy  
học mà HS chiếm lĩnh đƣợc tri thức, kĩ năng, các giá trị và phát triển đƣợc năng lực  
bằng chính việc dạy của mình cho những HS khác), PP dạy học theo nhóm (là PP dạy  
học trong đó giáo viên sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hƣớng tạo ra sự tƣơng  
412  
tác trực tiếp giữa các thành viên để thành viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng  
nhau phối hợp làm việc nhằm hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm)...  
1.3. Đề xuất về việc kiểm tra đánh giá phần Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực GT  
cho HS. Việc đổi mới mục tiêu, cấu trúc chƣơng trình và phƣơng pháp dạy học tất yếu  
phải có hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp, điều chỉnh lại những hạn chế của các hình  
thức kiểm tra đánh giá hiện hành. Dạy học môn Ngữ văn ở THCS có mục tiêu là nâng  
cao năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ cho các em với bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.  
Nhƣng trên thực tế dạy học ở THCS, HS chỉ chủ yếu đƣợc kiểm tra năng lực đọc, viết  
bằng hình thức viết bài mà chƣa có mạch kiểm tra kĩ năng nghe, nói cho HS. Điều này  
đã tác động ngƣợc trở lại là trong nhà trƣờng, việc dạy học nghe và nói cũng không  
đƣợc quan tâm.  
Quan niệm về năng lực GT của các nhà nghiên cứu châu Âu và thực trạng về  
năng lực GT của HS THCS đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại việc dạy học Ngữ văn  
trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay và đƣa ra những gợi dẫn có ý nghĩa cho việc dạy  
học Tiếng Việt, dạy học môn Ngữ văn trong chƣơng trình giáo dục phổ thông sau 2015:  
từ việc xây dựng chƣơng trình, viết SGK, đổi mới PP dạy học đến việc kiểm tra đánh  
giá năng lực GT cho HS.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ngô Công Hoàn (1997), Những trắc nghiệm tâm lí (tập 2), Nxb Đại học Quốc Gia Hà  
Nội.  
2. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng (2006), “Từ khái niệm “năng lực GT” đến vấn đề dạy và  
học Tiếng Việt trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay”, Tạp chí Ngôn ngữ (4, 9-10).  
3. Bachman L. (1990), Fundamental Considerations in Language testing, Oxford  
University Press.  
4. Brown H. (1997), Principles of Language learning and teaching, San Francisco  
Stage University.  
5. Canale M., & Swain M. (1980), Theoretical bases of Communicative approaches to  
Second language teaching and testing, Applied Linguistics, 1.  
6. Hadley A. (1993), Teaching Language in Context. Heinle & Heinle Publishers.  
7. Marianne C. (2007), Rethinking the Role of Communicative Competence. University  
of California, USA.  
413  
8. Richards J. (2006), Communicative Language Teaching Today, Cambridge  
University Press.  
9. http:// wikipedia, the free encyclopedia, Communicative language teaching.  
414  
pdf 9 trang baolam 20000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfday_hoc_tieng_viet_nham_phat_trien_nang_luc_giao_tiep_cho_ho.pdf