Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ - một loại hình văn chương bị lãng quên

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
TRUYỆN THƠ QUỐC NGỮ NAM KỲ –  
MỘT LOẠI HÌNH VĂN CHƯƠNG BỊ LÃNG QUÊN  
Dương Mỹ Thắm  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 7/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/8/2019  
Tóm tắt  
Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được xuất bản, tái bản với số  
lượng lớn và bày bán phổ biến khắp các hiệu sách với giá bình dân. Thời đó, truyện thơ Quốc ngữ  
được người dân Nam Kỳ lục tỉnh yêu chuộng. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử và nhu cầu thưởng  
thức văn chương của người dân thay đổi nên từ giữa thế kỷ XX loại hình văn chương này dần mai  
một và bị lãng quên. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi giới thiệu hoàn cảnh ra đời, thị trường và  
tiếp nhận của người đọc đối với truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ.  
Từ khóa: Truyện thơ, Quốc ngữ, Nam Kỳ.  
Verse-narrative written in Vietnamese Romanized script in Southern Vietnam  
– A forgetful literary genre  
Abstract  
In the early decades of the 20th century, verse-narrative written in Vietnamese Romanized script  
in Southern Vietnam was published and republished massively and sold in most of the bookstores  
with the reasonable price. At this time, the verse-narative was appreciated by readers from the six  
southern provinces. Due to the historical conditions and changes in people’s demands for reading  
literary works, however, this form of literature has become unpopular and neglectful since the mid-  
twentieth century. Within the scope of this study, the advent of this literary genre, the market, and  
the readers’ reaction to verse-narrative written in Vietnamese Romanized script in the south of  
Vietnam are presented.  
Keywords: Verse-narrative, Vietnamese Romanized script, Southern Vietnam.  
ngữ trong trường học thay thế chữ Nho.  
1. Hoàn cảnh ra đời của truyện thơ Quốc  
ngữ Nam Kỳ  
Chính sách thay đổi hệ thống chữ viết ở  
Nam Kỳ  
Theo Nguyễn Văn Trung (1974), chính  
quyền thực dân chính thức dùng chữ Quốc ngữ  
trong hành chính vào năm 1869, được đánh dấu  
bằng Nghị định 22/2/1869 của thống đốc Nam  
Kỳ, quy định bắt buộc dùng chữ viết của tiếng  
An Nam bằng mẫu tự Âu châu (chữ Quốc ngữ)  
trong giấy tờ chính thức. Nhưng mười năm sau,  
với nghị định 6/4/1878, người Pháp mới thực sự  
thi hành việc cưỡng bách dùng chữ Quốc ngữ  
trong hành chính. “Việc cưỡng bách dùng chữ  
Quốc ngữ trong hành chánh và học chánh được  
nhà cầm quyền Pháp (các Đề đốc) coi như một  
chính sách quan trọng hàng đầu” (Nguyễn Văn  
Trung, 1974: 26). Bên cạnh những nghị định  
Cuối thế kỷ XIX, Nam Kỳ là thuộc địa do  
người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật  
pháp của mẫu quốc. Đứng đầu Nam Kỳ là  
Thống đốc và bên dưới là các chủ tỉnh người  
Pháp. Nhà cầm quyền Pháp áp dụng nhiều chính  
sách để tiến hành cai trị Nam Kỳ trên tất cả các  
lĩnh vực của đời sống xã hội. Thấy được tầm  
quan trọng của giáo dục, nhà cầm quyền Pháp  
đã sử dụng nó như một công cụ thống trị, phá bỏ  
rào cản về sự bất đồng ngôn ngữ bằng cách áp  
đặt nền giáo dục mới dạy chữ Pháp, chữ Quốc  
17  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
mang tính bắt buộc, nhà cầm quyền Pháp còn  
khuyến khích bằng tiền thưởng cho những giáo  
viên dạy chữ Quốc ngữ và trao giải thưởng cho  
người Pháp học chữ Quốc ngữ nhằm thúc đẩy  
nhanh việc truyền bá chữ Quốc ngữ, phục vụ  
chính sách đồng hóa ở Nam Kỳ nói riêng ở Việt  
Nam nói chung.  
Nhà cầm quyền Pháp chấp nhận chữ Quốc  
ngữ làm ngôn ngữ chung và quyết tâm xóa bỏ  
chữ Nho vì cho đó là một vật cản lớn đối với sự  
phát triển nền văn minh Âu châu. Thống đốc  
Nam Kỳ ban hành Nghị định 14.6.1880: “Mỗi  
làng, thị xã của Tổng không có trường Pháp sẽ  
thiết lập một trường dạy Quốc ngữ”. Đồng thời,  
nhà cầm quyền Pháp áp dụng chính sách  
“thưởng 200 quan mỗi năm” (Nguyễn Văn  
Trung, 1974: 40) cho giáo viên dạy chữ Quốc  
ngữ có dạy thêm tiếng Pháp, phát miễn phí Gia  
Định báo – Tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Nam Kỳ  
– và bản dịch bộ Hình luật bằng chữ Quốc ngữ  
cho Lý trưởng các làng ở Nam Kỳ.  
Đầu thế kỷ XX, nền giáo dục mới ở Nam Kỳ  
đã đào tạo được một đội ngũ trí thức Tây học -  
một tầng lớp mới trong xã hội Nam Kỳ. Trương  
Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký,  
Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Đặng  
Lễ Nghi, Trần Phong Sắc là những trí thức ở Nam  
Kỳ chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp vừa  
thông thạo chữ Quốc ngữ vừa có một nền tảng  
giáo dục truyền thống rất vững chắc. Họ bắt đầu  
những công việc như phiên âm, dịch thuật, viết  
báo, sáng tác văn học bằng chữ Quốc ngữ. Đối  
tượng độc giả ở Nam Kỳ lúc bấy giờ chủ yếu là  
tầng lớp công chúng thị dân và viên chức nhỏ có  
thị hiếu thẩm mỹ bình dân. Họ quan tâm nhiều  
đến sự kiện, cốt truyện, tình tiết ly kỳ và ít chú ý  
về ngôn ngữ và nghệ thuật văn chương. Vì thế,  
nội dung truyện thơ Nôm bình dân rất phù hợp với  
thị hiếu của họ. Nhưng các ấn phẩm in Nôm ngày  
càng không phù hợp với chính sách ngôn ngữ -  
giáo dục của thực dân Pháp. Sự thoái trào của ấn  
phẩm Nôm đã tạo ra một khoảng trống, đòi hỏi  
phải có một loại ấn phẩm khác với thứ văn tự ngày  
càng trở nên thông dụng hơn để thay thế. Vì vậy,  
công việc cần làm và có thể làm ngay được là đem  
các truyện thơ Nôm và truyện văn xuôi chữ Hán  
sẵn có phiên âm, phiên dịch ra chữ Quốc ngữ. Đây  
là thời kỳ giao thời chuyển dần từ văn học Nôm  
sang văn học Quốc ngữ, những tác phẩm như  
truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ ra đời và chiếm số  
lượng lớn trên thị trường chữ nghĩa.  
Vì vậy, việc phiên âm Nôm ra Quốc ngữ,  
soạn lại “bổn cũ”, đặt “thơ mới”, “thơ hậu” cũng  
được các trí thức Nam Kỳ quan tâm hơn. Có khi  
họ chủ động biên soạn rồi gửi nhà in thực hiện  
các công đoạn còn lại để xuất bản tác phẩm và  
trên trang bìa chỉ ghi tên tác giả, như Chiêu  
Quân cống Hồ của Huỳnh Tịnh Của (1906),  
Chàng Nhái của Lê Duy Thiện (1929), hay  
Hạng Võ biệt Ngu Cơ của Hoàng Minh Tự  
(1930). Phổ biến nhất là họ biên soạn rồi bán  
bản quyền cho người khác, chủ bổn có thể là cá  
nhân hoặc hiệu sách, nhà in vì thế trên trang bìa  
phân biệt rất rõ tên tác giả, tên người xuất bản  
và bản quyền thuộc về ai. Cũng có khi các hiệu  
sách họ “đặt hàng” cho các tác giả biên soạn,  
làm mới những tác phẩm đã có, như Đức Tín  
Thư Xã đã “mướn người dịch lựa câu văn hay  
và đúng nghĩa, in theo lối kim thời để độc giả dễ  
đọc” (Lê Duy Thiện, 1929: 32) hay “Thơ Mục  
Liên Thanh Đề và thơ Lâm Sanh Lâm Thoại xưa  
sự tích mơ màng, bố cục rối nuồi [nùi] nên bỏ  
bổn cũ. Bổn biệu Quới Loan cậy ông Cử Hoành  
Sơn tân sang [san] rất hay” (Nguyễn Trọng  
Thạt, 1936: 17).  
Công nghệ in hiện đại du nhập vào Việt Nam  
Một trong những điều kiện quan trọng góp  
phần tạo nên sự thịnh hành của truyện thơ Quốc  
ngữ Nam Kỳ là công nghệ in. Cuối thế kỷ XIX,  
thực dân Pháp mang vào Sài Gòn công nghệ in  
hiện đại và thành lập nhà in nhà nước đầu tiên  
lấy tên là Imprimerie Impériale. Ban đầu nhà in  
chủ yếu in ấn tài liệu phục vụ nhà cầm quyền  
thực dân Pháp, chi phí do các cơ quan địa  
phương trả. Về sau, họ nhận in cả sách báo, giấy  
tờ của tư nhân. Nhân viên nhà in là những công  
nhân người Pháp, được hưởng lương theo lương  
bên Pháp cộng thêm phụ cấp thuộc địa, thâm  
niên. Người ta so sánh lương thợ nhà in 144  
đồng, bằng lương một cử nhân luật lúc bấy giờ  
(Nguyễn Văn Trung, 2015: 614).  
Nhà nghiên cứu McHale (2004) cho rằng:  
18  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
“Từ năm 1908 đến 1920, Pháp ra sức ngăn chặn  
các tài liệu Hoa ngữ tuồn vào nước ta (…)  
Những năm đầu giai đoạn này, chính quyền dè  
dặt trước các nhà xuất bản Việt Nam: chỉ một số  
ít người dân có thể đọc nguyên bản tiểu thuyết,  
và vài xuất bản phẩm tiếng Việt được lưu hành.  
Từ năm 1920 đến 1939, dù có những quãng  
ngắn ngủi quản lý chặt chẽ, nhưng nhà nước dần  
dần nới lỏng đối với công luận” (McHale, 2004:  
40). Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được xuất  
bản nhiều nhất là vào giai đoạn 1920 đến 1939.  
Khảo sát danh mục truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ, có hơn một nửa tác phẩm được nhà in  
Xưa Nay xuất bản. Những tác phẩm do nhà in  
Xưa Nay in ấn thường đầy đủ thông tin tác giả,  
người xuất bản, số lần in, giá bán, hình ảnh minh  
họa đẹp và thơ rõ ràng. Nhà in Xưa Nay tự nhận  
mình “chuyên nghề in mướn”, ngoài truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ nhà in Xưa Nay nhận in “hết  
thảy sách vở, kinh kệ, thiệp cưới, thiệp tang,  
danh thiếp với nhiều kiểu mẫu, màu sắc phong  
phú, đảm bảo chữ in rõ ràng, sạch sẽ mà giá  
thành rẻ” (Mạch Quốc Thoại, 1925: 76). Qua  
thông tin quảng cáo của nhà in Xưa Nay, có thể  
thấy công nghệ in vào đầu thế kỷ XX ở Nam Kỳ  
hiện đại có thể in số lượng lớn, mẫu mã phong  
phú, đa dạng. Thêm vào đó, trên các ấn phẩm  
truyện thơ do nhà in Xưa Nay xuất bản hầu hết  
đều có những khuyến cáo in lậu, như “Cuốn  
gian thì không có đóng con dấu của chủ bổn xin  
chư vị chớ lầm”, “Bổn hiệu chỉ mướn một mình  
nhà in Xưa Nay in thơ. Mua thơ phải nài cho  
được thơ của bổn hiệu Quới Loan in tại nhà in  
Xưa Nay thì chư vị sẽ được hỡi lòng vừa dạ”,  
“Cuốn gian không có con ‘dấu nổi’ của nhà in  
Xưa Nay”. Điều này cho thấy, thị trường in ấn  
những tác phẩm ít trang, giá rẻ diễn ra sôi động,  
một số nhà in ăn cắp bản quyền, tổ chức in lậu  
tác phẩm để trục lợi. Rất tiếc, chúng tôi không  
tìm thấy các ấn phẩm in lậu vì chúng được in ấn  
rồi bày bán, không thực hiện đăng ký và nộp lưu  
chiểu theo quy định nên chỉ có thể còn sót lại  
trong các tủ sách cá nhân.  
thư xã, Đức Lưu Phương, Đông Pháp, Thạnh  
Thị Mau. Mỗi nhà in họ có cách trình bày ấn  
phẩm của mình khác nhau và đều cho ấn phẩm  
của mình là tốt nhất, hay nhất và luôn có câu  
quảng cáo: muốn đọc thơ xin nài cho được các  
thứ thơ của nhà in Xưa Nay, của bổn xã (Tín  
Đức thư xã). Nói về cách trình bày thơ, đa số  
các nhà in đều chọn hai cách sắp xếp thơ, một là  
theo kiểu “thượng lục, hạ bát” (tức trên sáu,  
dưới tám), hai là theo kiểu hai câu lục bát trình  
bày cùng một dòng. Vì muốn giảm giá thành nên  
các nhà in thường chọn kiểu trình bày thứ hai  
đối với các bổn thơ có nội dung dài. Cách trình  
bày này giảm được số trang (thông thường 18  
trang cả bìa), giá thơ ở mức trung bình, đồng  
thời cũng đảm bảo lợi nhuận cho chủ bổn và nhà  
in. Tín Đức thư xã thì cho rằng cách trình bày  
hai câu lục bát cùng một dòng là rối, khó đọc:  
“Bởi vậy bổn xã chẳng nài công khó nhọc,  
mướn người dịch lựa câu văn hay và cho đúng  
nghĩa, in theo lối kim thời để độc giả dễ đọc và  
quyển thơ in rộng rãi, dày dặn, bìa lại có hình do  
nhà danh họa vẻ [vẽ]” (Lê Duy Thiện, 1929:  
33). “In theo lối kim thời” mà Tín Đức thư xã  
đề cập là chia trang giấy thành hai cột và in theo  
kiểu “thượng lục, hạ bát” và có chú thích cách  
đọc cho độc giả: “đọc hết cột bên trái, rồi đọc  
qua bên mặt (nghĩa là bên thuận được hiểu là  
bên phải)” (Lê Duy Thiện, 1929: 33). Cách trình  
bày này được Tín Đức thư xã sử dụng triệt để  
nhằm hạn chế số trang mỗi cuốn thơ do nhà in  
giữ bản quyền, đảm bảo lợi nhuận cho nhà in và  
chủ bổn.  
Phong trào “nói thơ” phát triển  
Đặc trưng riêng của loại truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ là được “sáng tác” và tồn tại gắn liền  
với hình thức diễn xướng nói thơ – một sản  
phẩm văn nghệ dân gian độc đáo của Nam Kỳ.  
Do tâm lý thưởng thức thơ ca của người dân  
Nam Kỳ bằng phương thức diễn xướng nên hình  
thức nói thơ được phổ biến rộng rãi khắp Nam  
Kỳ lục tỉnh, và đã trở thành một món ăn tinh  
thần không thể thiếu đối với người dân Nam Kỳ  
vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Quá trình  
khép kín của văn nghệ dân gian trải qua bốn  
khâu: tích truyện là khâu đầu tiên, diễn xướng là  
Ngoài nhà in Xưa Nay, chúng tôi còn tìm  
thấy các nhà in khác tham gia xuất bản truyện  
thơ Quốc ngữ Nam Kỳ như Bảo Tồn, Tín Đức  
19  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
khâu thứ hai, thưởng thức là khâu thứ ba và cuối  
cùng là hiệu quả nghệ thuật. Trong đó, diễn  
xướng đóng vai trò là cầu trung gian nối liền  
sáng tác với thưởng thức, là sự chở tải tích  
truyện đến chuyển giao cho người thưởng thức.  
Nghĩa là hình thức diễn xướng nói thơ đóng vai  
trò trung gian giúp người đọc biết đến, thưởng  
thức truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ.  
nhu cầu của độc giả. Người bình dân không biết  
chữ thưởng thức truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ  
thông qua hình thức diễn xướng nói thơ. Ngoài  
giá trị giải trí và giá trị giáo dục qua những bài  
học đạo lý, truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ còn  
được xem là một phương tiện để học trò rèn luyện  
chữ Quốc ngữ. Chính vì lẽ đó, truyện thơ Quốc  
ngữ Nam Kỳ được độc giả đón nhận nồng nhiệt  
suốt bốn thập niên đầu thế kỷ XX.  
Truyện thơ Quốc ngữ được “sáng tác” khá  
phong phú và ra đời bằng nhiều cách, “có khi  
tác giả ứng khẩu thành từng thứ, từng đoạn, rồi  
thử tự mình nói thơ hoặc đưa ra cho ai đó ‘nói’  
lên cho bà con trong xóm nghe. Nếu thơ ‘nghe  
đặng’ thì làm thêm thứ khác, bằng không thì sửa  
chữa rồi lại mới tiếp theo, thêm mãi cho đến khi  
trọn vẹn đầu đuôi” (Nguyễn Văn Hầu, 2004:  
100). Đến đầu thế kỷ XX, một số người đứng ra  
lượm lặt theo khẩu truyền mà chép thành chữ  
Quốc ngữ và đứng tên vào tác phẩm để chịu  
trách nhiệm xuất bản. Tuy nhiên, không phải tất  
cả những tác phẩm được hình thành từ phong  
trào nói thơ đều được xuất bản thành truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ, như thơ Thầy Thông Chánh.  
Chúng tôi biết đến thơ Thầy Thông Chánh qua  
hình thức nói thơ do bà Đào Thị Mười (Thủ  
Thừa, Long An) diễn xướng, Nguyễn Hữu Hiệp  
sưu tầm (Nguyễn Hữu Hiệp và Lê Minh Quốc,  
1998: 12). Nghiên cứu tư liệu, chúng tôi chưa  
tìm thấy mẫu quảng cáo nào của các nhà in giới  
thiệu đã xuất bản truyện thơ này. Nhiều khả  
năng, thơ Thầy Thông Chánh chưa từng được in  
thành sách vì nội dung chống lại quan Tây,  
không phù hợp với chính sách cai trị của nhà  
cầm quyền Pháp.  
Mối quan hệ tương trợ giữa truyện thơ Quốc  
ngữ Nam Kỳ và hình thức diễn xướng nói thơ là  
môi trường phát triển thuận lợi cho loại hình văn  
chương này. Đây cũng là lý do vì sao truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ chỉ phổ biến và được ưa  
chuộng ở Nam Kỳ.  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ ra đời và thịnh  
hành trong giai đoạn chữ Quốc ngữ bắt đầu có  
chỗ đứng, công nghệ in ấn hiện đại phát triển  
mạnh ở Nam Kỳ. Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ  
có dung lượng nhỏ trên dưới 20 trang là những  
tác phẩm phù hợp để in thành cuốn nhỏ phục vụ  
2. Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ: Thị  
trường và tiếp nhận của người đọc  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ là loại sách  
được in bằng chữ Quốc ngữ, xuất bản ở Sài Gòn  
và các vùng phụ cận từ cuối thế kỷ XIX đến giữa  
thế kỷ XX, có giá bán phổ biến 0$30 (ba mươi  
xu) một quyển. Thơ thường được in khổ 16cm x  
24cm, dày từ 16 đến 30 trang (kể cả bìa). Trang  
bìa được in bằng giấy màu loại mỏng, có hình  
minh họa một cảnh nào đó trong truyện. Một  
trong những yếu tố đầu tiên tác động đến người  
đọc là tranh minh họa trên trang bìa ấn phẩm  
truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ. Tranh minh họa  
thường thể hiện một tình huống, một cảnh nào đó  
có ý nghĩa tác động đến cuộc đời của nhân vật  
chính hoặc nội dung tranh minh họa sẽ tạo nên sự  
tò mò của độc giả đối với nội dung tác phẩm.  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ là truyện thơ  
được viết bằng chữ Quốc ngữ, chủ yếu sử dụng  
thể thơ lục bát. Truyện có “tác giả”, được biên  
soạn hoặc “sáng tác” (có khi viết nối thêm theo  
hình thức thơ “hậu”) dựa vào một trong năm loại  
truyện dân gian Việt Nam, truyện thơ Nôm,  
truyện tích Trung Quốc, truyền thuyết Phật giáo  
và sự kiện, nhân vật có thật ở Việt Nam, đặc biệt  
là Nam Kỳ.  
Nói cách khác truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ  
là loại hình văn chương chỉ ra đời và phát triển  
ở Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ  
XX. Qua quá trình nghiên cứu và chọn lọc tư  
liệu, chúng tôi thấy những tác phẩm truyện thơ  
mang đầy đủ đặc điểm nêu trong khái niệm  
thường được người dân Nam Kỳ thưởng thức  
thông qua hình thức diễn xướng nói thơ. Chính  
điều này đã tạo nên nét đặc trưng của loại hình  
văn chương truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ.  
Dựa vào danh mục truyện thơ Quốc ngữ  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Nam Kỳ, bắt đầu từ tác phẩm xuất bản sớm nhất  
đã sưu tầm được là Tống Tử Vưu truyện (lần 3:  
1904) và muộn nhất trong giai đoạn trước 1945  
là Hậu Trần Minh và Tiết Giao đoạt ngọc  
(1940), người viết rút ra một vài đặc điểm về  
tình hình xuất bản tác phẩm, đồng thời phân tích  
sự tiếp nhận và nhu cầu thưởng thức truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ của người đọc.  
cô của Hai Miên.  
Bên cạnh loại truyện thơ thời sự mang tính  
đối kháng, người dân Nam Kỳ cũng đặc biệt yêu  
thích loại truyện thơ cổ tích, người ta đau xót  
đến rơi lệ cho cảnh hai trẻ Xuân Nghi và Tấn  
Lực bị mẹ ghẻ là Tào Thị hành hạ mỗi ngày,  
thầm cảm phục nàng Cúc Hoa bất chấp âm  
dương cách biệt hiện về ôm lấy con thơ. Người  
ta phẫn nộ trước những âm mưu và hành động  
độc ác của mẹ con dì ghẻ (Con Tấm con Cám)  
và thương xót cho thân phận nàng Cám mồ côi.  
Người ta khâm phục nàng Đệ Nhứt chung thủy  
với chàng nho sinh nghèo Trần Minh và khinh  
bỉ quan Thị Vệ tham phú phụ bần, phá vỡ lời  
hứa hôn năm xưa. Xét về đề tài, các tác phẩm  
trên đều là những tích truyện dân gian hướng  
người đọc noi gương những phẩm chất tốt đẹp  
của các nhân vật chính và tránh xa những thói  
hư tật xấu của con người. Nhân vật chính thường  
được xây dựng dựa trên chuẩn mực đạo đức của  
người Việt Nam nói chung và người dân Nam  
Kỳ nói riêng. Đó là những người con hiếu thảo;  
những người chồng người vợ thủy chung, vị tha;  
những người bạn tình nghĩa; những chàng nho  
sinh nghèo hiếu học vượt khó. Đối lập với họ  
luôn là những kẻ độc ác, xấu xa, đáng bị xã hội  
lên án và trừng phạt.  
Tác giả truyện thơ cổ tích thường là những  
người biết chữ, xuất thân nho học luôn trân  
trọng những “áng văn xưa” của dân tộc. Trước  
sự thay đổi của xã hội, họ biên soạn, sửa lại “bổn  
cũ” sang Quốc ngữ nhằm phổ biến luân lý, đạo  
đức của dân tộc và chữ Quốc ngữ. Vì vậy, mở  
đầu tác phẩm, các tác giả thường đưa ra luận đề  
khen ngợi và tán dương những điều tốt đẹp,  
phản đối những sự bất công, cái ác và cái xấu  
trong cuộc sống hoặc trong tích truyện xưa. Sau  
đó, tác giả truyện thơ kể câu chuyện để minh họa  
cho chủ đích có sẵn, cho một tư tưởng xã hội mà  
họ hướng đến. Trong các truyện thơ cổ tích,  
nhân vật chính diện mang tư tưởng luận đề và  
kẻ chống lại luận đề sẽ bị lên án. Đặc điểm  
chung của những truyện thơ cổ tích được người  
dân Nam Kỳ yêu thích đó là những câu chuyện  
kết thúc có hậu; có đề tài, nội dung tư tưởng gần  
gũi với cuộc sống của người bình dân. Nhân vật  
Sau khi tiến hành khảo sát toàn bộ danh mục  
truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ, thống kê số  
lượng bản in và số lần tái bản mỗi tác phẩm, kết  
quả cho thấy tác phẩm có số lần tái bản nhiều  
nhất là thơ Sáu Trọng (lần thứ 14), sau đó là Con  
Tấm con Cám, Lang Châu, Thoại Khanh Châu  
Tuấn (lần thứ 7), Nam Kinh Bắc Kinh, Lục Vân  
Tiên, Hoàng Trừu, Nàng Út, Phạm Công Cúc  
Hoa, Quan Âm diễn ca (lần thứ 6), Chiêu Quân  
cống Hồ, Dương Ngọc, Lý Công (lần thứ 5); và  
ấn phẩm có số lượng bản in nhiều nhất là 5000  
bản: thơ Cậu Hai Miên của Cử Hoành Sơn in  
lần thứ 3 và Trần Minh khố chuối của Cử Hoành  
Sơn in lần thứ nhất. Kết quả trên cho thấy, tác  
phẩm có số lần tái bản nhiều nhất là truyện thơ  
thời sự Sáu Trọng và tác phẩm có số lượng bản  
in nhiều nhất, vượt xa những tác phẩm khác  
cũng là một truyện thơ thời sự Cậu Hai Miên.  
Xét về số lượng tác phẩm, truyện thơ thời sự  
chiếm số lượng nhỏ nhất trong toàn bộ danh  
mục truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ nhưng hai  
tác phẩm có số bán cao nhất kể trên lại đều là  
truyện thơ thời sự. Tuy nhiên, không phải truyện  
thơ thời sự nào cũng được người dân Nam Kỳ  
yêu thích, ưa chuộng. Xét về đề tài, đây là hai  
tác phẩm có nội dung thể hiện tính đối kháng,  
kể về người “anh hùng” của nhân dân chống lại  
quan Tây và chính quyền thực dân Pháp. Người  
dân Nam Kỳ yêu thích thơ Sáu Trọng vì “người  
ta ghét cay ghét đắng con hai Đẩu phản bội  
chồng để đi lấy Tây. Người ta phục lắm anh  
chàng Sáu Trọng gan dạ anh hùng” (Nguyễn  
Văn Hầu, 2012: 390) và các tay giang hồ hành  
hiệp đúng điệu nghệ. Người dân Nam Kỳ thích  
nghe thơ Cậu Hai Miên vì người ta yêu tính  
ngang tàng, bộc trực và gan dạ; mến phục hành  
động hào hiệp, trượng nghĩa ra tay trừng trị bọn  
quan lại, bọn du côn ức hiếp người sức yếu, thế  
21  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
chính thường là những người nghèo khổ thuộc  
về phe chính nghĩa, thường biểu hiện những đức  
tính tốt đẹp và dù ít hay nhiều đều mang đặc tính  
Nam Kỳ.  
bìa chính thì ghi in lần thứ tư, trang bìa lót thì  
ghi in lần thứ 6, tháng 9/1919. Theo chúng tôi,  
đây cũng là trường hợp tái bản, nhà in dùng lại  
bìa cũ của ấn phẩm trước đó nhưng không chỉnh  
sửa thông tin phù hợp thực tế.  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ là một sản  
phẩm thương mại, quyền tác giả được chuyển  
nhượng nhiều lần qua nhiều người, mà chủ yếu  
là các chủ hiệu sách hoặc nhà in. Việc sang  
nhượng quyền tác giả được các chủ bổn ghi rõ  
trên bìa sách, như trang bìa thơ Sáu Trọng của  
chủ bổn Phạm Văn Thình (1931) ghi rõ: “Cuốn  
này ông Đinh Thái Sơn đã bán đứt cho ông Lê  
Phước Thành. Ông Lê Phước Thành nhường lại  
cho tôi” (Sáu Trọng thơ, 1931). Chủ bổn có  
quyền đặt in tác phẩm ở nhiều nhà in khác nhau  
và thứ tự số lần xuất bản của ấn phẩm được tính  
riêng theo từng nhà in, ví dụ như cùng tác phẩm  
Chàng Nhái Kiển Tiên của Đặng Lễ Nghi, chủ  
bổn Lê Phước Thành có nội dung và hình thức  
giống nhau, một bản được in tại nhà in Đức Lưu  
Phương, lần thứ 4 được ký nộp lưu chiểu ngày  
31/01/1929, bản khác in tại nhà in Xưa Nay  
cũng lần thứ 4 ký nộp lưu chiểu ngày  
09/10/1929. Hai ấn phẩm kể trên là một tác  
phẩm nhưng là hai sản phẩm thương mại khác  
nhau, nếu không có thông tin đầy đủ độc giả  
thậm chí các nhà nghiên cứu sẽ dễ nhầm hai ấn  
phẩm này là một.  
Một số trường hợp năm xuất bản, số lần xuất  
bản, tái bản có sự khác nhau trong một ấn phẩm.  
Ví dụ, trong ấn phẩm Chiêu Quân cống Hồ  
(thêm hát nam hát khách) có ghi trên trang bìa  
in lần thứ nhất năm 1913, nhưng thông tin nộp  
lưu chiểu thì ghi ngày 9/12/1928, không có số  
lần in. Điều này có nghĩa, nhà in và bán sách  
Nguyễn Văn Viết dùng ấn phẩm lần đầu để tái  
bản nhưng lại sơ suất không sửa thông tin trên  
trang bìa. Đây không phải là trường hợp duy  
nhất trong danh mục truyện thơ Quốc ngữ Nam  
Kỳ, tương tự như vậy còn có ấn phẩm Bạch Viên  
Tôn Các (Đặng Lễ Nghi), và một số ấn phẩm in  
lại nhưng không sửa chữa thông tin khiến hai ấn  
phẩm có cùng số lần in nhưng lại khác thời gian.  
Trường hợp đặc biệt hơn là ấn phẩm Lục Vân  
Tiên (có hát nam hát khách) của Đặng Lễ Nghi  
do nhà in L’Union Ng.V.Cua phát hành, trang  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được xuất  
bản, tái bản thịnh hành nhất vào khoảng 1927  
đến 1939 và chủ yếu được phát hành bởi các nhà  
in tại Sài Gòn. Theo khảo sát của tác giả, số  
lượng ấn phẩm truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ  
được in từ 1933 đến 1938, kết quả: năm 1933,  
có 51 tác phẩm được xuất bản; số lượng tác  
phẩm được xuất bản giảm dần còn 37 ấn phẩm  
(1934); 13 ấn phẩm (1935). Phần lớn các truyện  
thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được xuất bản trong 3  
năm 1933 đến 1935 là những tác phẩm xuất bản  
lần thứ nhất. Kết quả khảo sát này có ý nghĩa,  
trong vòng ba năm (1933-1935), có khoảng 101  
tác phẩm được xuất bản và tái bản. Nếu chia  
trung bình cho ba năm và mỗi lần in là 2000  
cuốn thì ước tính trung bình có hơn 67.000 cuốn  
thơ được bán ra thị trường.  
Đến năm 1936, số lượng tác phẩm được in  
tăng lên 44 và giảm dần còn 20 tác phẩm (1937),  
10 tác phẩm (1938). Hầu hết truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ được in từ năm 1936 đến 1938 là những  
ấn phẩm tái bản lần 2 hoặc lần 3. Điều này cho  
thấy, theo chu kỳ 3 năm truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ được quan tâm xuất bản, tái bản một lần.  
Phần lớn truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được tái  
bản đến lần thứ 3, nhiều tác phẩm tái bản đến lần  
thứ 4, 5 và một số ít tái bản lần 6, 7. Những tác  
phẩm tái bản nhiều, trung bình cách 2 năm tái bản  
1 lần, những cuốn được ưa chuộng thì mỗi năm  
“chủ bổn” đều tái bản, thậm chí có tác phẩm mỗi  
năm tái bản 2 lần như Thoại Khanh Châu Tuấn  
(lần 6 – năm 1930, lần 7 – ngày 20/12/1930). Các  
bổn thơ “hậu” thường tái bản đến lần thứ 2, chỉ  
vài tác phẩm tái bản lần 3.  
Kết quả khảo sát trên cho thấy thời kỳ thịnh  
hành nhất là vào thập niên 20 và 30 của thế kỷ  
XX, truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ được bày bán  
hầu hết các hiệu sách, số lượng mỗi lần in  
thường từ 1.000 đến 3.000 bản. Những quyển  
được ưa chuộng có thể được in với số lượng lớn,  
nhiều quyển thơ tái bản đến lần thứ 6, thứ 7,  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
thậm chí có những quyển tái bản lần thứ 14.  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ là loại sách ít  
trang, có giá bình dân nên được người dân Nam  
Kỳ yêu thích và lựa chọn mua để thưởng thức.  
Đến thập niên 40 của thế kỷ XX, do nhu cầu  
thưởng thức văn nghệ, văn chương của độc giả  
Nam Kỳ thay đổi, phong trào nói thơ không còn  
phổ biến như trước nên truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ dần mai một và bị lãng quên cho đến  
ngày nay.  
liệu in của Thư viện Quốc gia Pháp được đặt tại  
lâu đài Sablé, những tác phẩm vi phim này được  
sản xuất tại đó vào năm 1987. Từ những căn cứ  
trên, chúng tôi cho rằng những cuốn thơ vi phim  
được lưu giữ ở Thư viện Quốc gia Việt Nam  
thuộc trong số những tài liệu được Pháp trao  
tặng. Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy những bản in  
truyện thơ Quốc ngữ, đây là những ấn phẩm nộp  
lưu chiểu được Thư viện Quốc gia lưu giữ đến  
nay. Các ấn phẩm này đều có chữ ký của chủ  
nhà in và thường ghi (bằng bút mực) đầy đủ các  
thông tin như số lần tái bản, ngày xuất bản, số  
lượng bản in cho lần xuất bản đó .  
Hiện nay, ở Việt Nam đơn vị lưu trữ nhiều  
tác phẩm truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ nhất là  
Thư viện Quốc gia Việt Nam. Theo khảo sát của  
chúng tôi, hiện có hơn 450 ấn phẩm truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ được lưu giữ tại đây, trong  
đó có khoảng hơn 284 ấn phẩm vi phim và hơn  
174 ấn phẩm gốc (bản in giấy) truyện thơ Quốc  
ngữ Nam Kỳ. Trong số ấn phẩm vi phim có  
khoảng 107 ấn phẩm trùng với ấn phẩm gốc.  
Về các ấn phẩm gốc, hiện tại truyện thơ  
Quốc ngữ vẫn còn nhiều cuốn giữ được nguyên  
vẹn, đầy đủ trang, không bị hư hại nhiều; chủ  
yếu bị mối mọt ăn, hoặc bị rách do quá trình  
phục vụ độc giả nhưng cũng đã được thư viện tu  
bổ, phục chế. Những ấn phẩm trăm năm tuổi này  
hư hại chủ yếu do yếu tố thời gian và điều kiện  
bảo quản, rất ít sự tác động của con người vì  
chúng vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan  
tâm và không nhiều độc giả biết đến. Tuy việc  
thu thập tư liệu mất rất nhiều thời gian và công  
sức, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng sưu tầm hầu  
hết các ấn phẩm gốc được lưu trữ tại các thư  
viện, số còn lại trên thư mục có nhưng khi chúng  
tôi mượn thì có trường hợp mất, có trường hợp  
lưu nhầm thành một tác phẩm khác.  
3. Nguồn lưu trữ truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ  
Truyện thơ Quốc ngữ đã được các nhà in ở  
Nam Kỳ xuất bản với số lượng khá lớn. Song,  
do yếu tố thời gian và những biến cố lịch sử nên  
chúng còn được lưu giữ không nhiều tại các Thư  
viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa học  
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện  
Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ.  
Hiện nay, Thư viện Quốc gia Việt Nam đang  
là nơi lưu giữ truyện thơ Quốc ngữ nhiều nhất  
và chủ yếu dưới hình thức vi phim. Trên thực tế,  
truyện thơ Quốc ngữ mà Thư viện đang lưu giữ  
là những cuốn được các nhà in nộp lưu chiểu,  
phần lớn được Chính quyền thực dân Pháp  
chuyển về lưu trữ tại Pháp và sau này chụp vi  
phim tặng lại cho Thư viện quốc gia Việt Nam.  
Trong cuốn Thư viện Quốc gia Việt Nam 90 năm  
xây dựng và phát triển 1917 – 2007, có ghi:  
“Trước khi rút chạy khỏi miền Bắc, thực dân  
Pháp đã chuyển ra khỏi Thư viện Quốc gia (Thư  
viện Quốc gia Việt Nam) từ 800 – 1000 hòm  
sách với hàng chục nghìn bản” (Phạm Thế  
Khang, 2007: 194-195) và tác giả cũng ghi nhận  
thêm: “Năm 1996, Thư viện Quốc gia Pháp gửi  
tặng Thư viện Quốc gia Việt Nam vi phích của  
10.000 tên sách xuất bản ở Việt Nam trước  
tháng 10 năm 1954 hiện đang được bảo quản ở  
Thư viện Quốc gia Pháp” (Phạm Thế Khang,  
2007: 195). Khi tiếp cận tác phẩm, chúng tôi  
thấy cuối mỗi bản vi phim truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ đều có thông tin về đơn vị, năm và nơi  
sản xuất phim: “Bibliothèque Nationale” (Thư  
viện Quốc gia), “Château de Sablé 1987” (Lâu  
đài Sablé, năm 1987). Theo tìm hiểu của chúng  
tôi, trung tâm kỹ thuật bảo tồn và phục chế tài  
Trong quá trình sưu tầm truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ, chúng tôi phát hiện nhiều tác phẩm có  
tên trong danh mục sách đã phát hành được in ở  
cuối hoặc đầu ấn phẩm nhưng tra cứu tại các thư  
viện không có. Tưởng rằng đã mất nhưng thực  
tế là do thư mục lưu trữ của thư viện sai tên, sai  
tác giả, sai chính tả hoặc thiếu thông tin, như thơ  
Năm Tỵ thì ghi thành “Năm Tủ”, hoặc thơ  
23  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Thằng Lía thì ghi “Thằng Bá”, Chàng Nhái Kiển  
Tiên thì ghi “Kiễn Tiên” hoặc “Kiểu Tiên”, Con  
Tấm con Cám thì thành “con Tấn con Cám”,  
Mục Liên Thanh Đề thì ghi “Mục Liên Thánh  
Đề”, Đãi yến Đoàn Hồng Ngọc thì ghi “Dải yến  
Đoàn Hồng Ngọc”, Trần Minh khố chuối thì ghi  
“Trần Minh khổ chuối” và còn rất nhiều trường  
hợp khác.  
hết số tác phẩm mà các nhà in cũng như độc giả  
khi ấy quan tâm. Chỉ còn một số ít truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ đã được giới thiệu trên các  
trang bìa sau của các truyện thơ, trên báo nhưng  
hiện nay chúng tôi chưa tìm được, ví như Thơ  
Bảy Tài, Bùi Kiệm kiện Phú Loan, Đơn Nguyệt  
Nga kêu oan cho Bùi Kiệm, Trảm Trịnh Ân, Tây  
Thi ngộ Phù Ta, Ngũ Tử Tư, Mổ tim Tỷ Cang.  
4. Kết luận  
Những tác phẩm có cả ấn phẩm gốc và vi  
phim, chúng tôi ưu tiên chọn sưu tầm ấn phẩm  
gốc được in trên giấy, những trường hợp đặc  
biệt, ấn phẩm giấy bị hư hại, không còn nguyên  
hoặc mất mát trong quá trình lưu trữ thì chúng  
tôi mới sưu tầm ấn phẩm vi phim. Sau nhiều đợt  
thu thập tư liệu, chúng tôi đã sưu tầm được 220  
ấn phẩm trong phạm vi nghiên cứu. Nếu dựa vào  
tên tác phẩm thì chúng tôi có 107 truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ. Đặc trưng của loại hình văn  
chương này là loại tác phẩm có tác giả, một tích  
truyện có thể do nhiều người biên soạn, chỉnh  
sửa thành các tác phẩm khác nhau về ngôn ngữ  
thơ; hoặc một tên tác phẩm có thể do nhiều tác  
giả “sáng tác” thành các tích truyện có nội dung  
khác nhau, thường gặp ở các “bổn thơ hậu”. Cho  
nên, chúng tôi căn cứ vào hai yếu tố là tên tác  
phẩm và tên tác giả để thống kê số lượng tác  
phẩm thì được hơn 163 truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ. 58 ấn phẩm còn lại là những truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ có cùng tên tác phẩm, cùng  
tác giả nhưng khác người xuất bản (chủ bổn)  
hoặc khác nhà in. Hiện nay, chúng tôi chưa sưu  
tầm đầy đủ tất cả các lần in khác nhau giống tên  
tác giả, người xuất bản và nhà in. Các ấn phẩm  
tái bản này được lưu trữ dưới dạng vi phim và  
chúng tôi đã có ít nhất một ấn phẩm có cùng tên,  
cùng tác giả nên chúng được xếp thứ tự ưu tiên  
cuối cùng. Trong tương lai chắc chắn chúng tôi  
sẽ tiếp tục bổ sung vào danh mục nghiên cứu các  
ấn phẩm này. Ngoài ra, còn nhiều truyện thơ  
Quốc ngữ Nam Kỳ khác được xuất bản sau năm  
1945 hoặc không có căn cứ để xác định khoảng  
thời gian xuất bản, chúng tôi không đưa vào  
danh mục nghiên cứu.  
Sự thay đổi hệ thống chữ viết và công nghệ  
in hiện đại là những yếu tố tác động đến sự ra  
đời và phát triển rầm rộ phong trào in ấn và xuất  
bản truyện thơ Quốc ngữ. Truyện thơ Quốc ngữ  
Nam Kỳ là sản phẩm của giai đoạn văn học giao  
thời đầu thế kỷ XX với hình thức ấn phẩm hiện  
đại, như: hình vẽ minh họa, thông tin về tác giả,  
tác quyền, địa chỉ nhà in, số lần in, giá bán, thời  
gian xuất bản, quảng cáo và danh mục sách đã  
xuất bản. Những yếu tố cận văn bản này tạo nên  
hình thức ấn phẩm truyện thơ Quốc ngữ Nam  
Kỳ mới và phong phú hơn so với các ấn phẩm  
chữ Nôm trước đó. Về chữ viết, nội dung truyện  
thơ được viết bằng chữ Quốc ngữ, tuy nhiên,  
người ta dùng hai loại văn tự để ghi tên tác phẩm  
(chữ Nho và chữ Quốc ngữ). Đây là biểu hiện  
của sự tiếp nối giữa cái cũ và mới, nhằm giúp  
những trí thức Nho học chưa biết hoặc chưa  
thông thạo chữ Quốc ngữ có thể tiếp cận truyện  
thơ Quốc ngữ Nam Kỳ qua tên tác phẩm.  
Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ là những văn  
bản xưa cần được trân trọng, là những tác phẩm  
văn học có giá trị cần được bảo tồn. Chúng tôi  
mong muốn, càng ngày sẽ có càng nhiều người  
quan tâm đến loại hình văn chương này, tiếp tục  
sưu tầm những tác phẩm chúng tôi chưa tìm  
được, và dành thời gian để nghiên cứu từng tác  
phẩm cụ thể.  
Tài liệu tham khảo  
Lê Duy Thiện (1929). Chàng Nhái. Xuất bản lần 1.  
Sài Gòn, Tín Đức thư xã.  
Mạch Quốc Thoại (1925). Cảm ứng, âm chất, giác  
thế, công quá cách, tỉn thế ngộ chơn. Sài Gòn,  
Nhà in Xưa Nay.  
McHale, S. F. (2004). Print and Power:  
Confucianism, Communism and Buddhismin  
the Marking of Modern Vietnam. Honolulu,  
Tất nhiên, số tác phẩm đã tìm được chưa phản  
ánh đầy đủ tình hình xuất bản truyện thơ Quốc  
ngữ lúc bấy giờ, nhưng về cơ bản đã bao quát gần  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
University of Hawai'i Press.  
Nguyễn Hữu Hiệp và Lê Minh Quốc (1998). Thơ  
Thầy Thông Chánh, Sáu Trọng, Hai Miêng:  
Lưu hành tại Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Tp.  
HCM, Nxb Trẻ.  
Nguyễn Kim Đính (1929). Trần Đại Lang. Xuất bản  
lần 1. Gia Định, Nhà in Đông Pháp.  
Nguyễn Trọng Thạt (1936). Quan Công đơn đao phó  
hội đặt theo tích truyện Tam Quốc. Xuất bản  
lần 2. Sài Gòn, Nhà in Xưa Nay.  
TẬP 6 SỐ 4  
Nam Bộ (Tập 2). Tp. HCM, Nxb Trẻ.  
Nguyễn Văn Hầu (2012). Văn học miền Nam lục tỉnh  
(Tập 1). Tp. HCM, Nxb Trẻ.  
Nguyễn Văn Trung (1974). Chữ, văn Quốc ngữ thời  
kỳ đầu Pháp thuộc. Sài Gòn, Nam Sơn.  
Nguyễn Văn Trung (2015). Hồ sơ về Lục châu học -  
Tìm hiểu con người ở vùng đất mới. Tp.  
HCM, Nxb Trẻ.  
Phạm Thế Khang (chủ biên) (2007). Thư viện Quốc  
gia Việt Nam 90 năm xây dựng và phát triển.  
Hà Nội, Thư viện Quốc gia Việt Nam.  
Nguyễn Văn Hầu (2004). Diện mạo văn học dân gian  
25  
pdf 9 trang baolam 22000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Truyện thơ Quốc ngữ Nam Kỳ - một loại hình văn chương bị lãng quên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftruyen_tho_quoc_ngu_nam_ky_mot_loai_hinh_van_chuong_bi_lang.pdf