Nghiên cứu nhu cầu sử dụng ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung của người Việt
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
112
NGHIÊN CỨU NHU CẦU SỬ DỤNG NGOẠI NGỮ
NHẬT, HÀN, TRUNG CỦANGƯỜI VIỆT
Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh, Trần Thị Thu Hiền, Bùi Thiện Sao*,
Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Quỳnh Hoa
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 31 tháng 08 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 09 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 18 tháng 03 năm 2021
Tóm tắt: Đóng vai trò quan trọng trong quy trình xây dựng và phát triển bài thi, nghiên cứu
nhu cầu ngôn ngữ luôn được chú trọng từ những khâu đầu tiên của hoạt động kiểm tra đánh giá ngoại
ngữ, đặc biệt là đối với các bài thi diện rộng. Trong bối cảnh của chương trình “Xây dựng định dạng đề
thi quốc gia đánh giá năng lực tiếng Nhật, Hàn, Trung theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho
Việt Nam”, một nghiên cứu về nhu cầu sử dụng các ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung đã được tiến hành. Cụ
thể, nghiên cứu hướng tới mục tiêu tìm hiểu các hoạt động mà người Việt cần sử dụng ngoại ngữ Nhật,
Hàn, Trung và tìm hiểu sự khác biệt của tần suất thực hiện các hoạt động này trong mỗi nhóm ngôn ngữ
cũng như giữa các ngôn ngữ khác nhau. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng ba bản khảo sát. Câu trả lời của
những người tham gia nghiên cứu được thu thập và phân tích bằng các thống kê miêu tả và ANOVA.
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ mức độ các đối tượng sử dụng ngoại ngữ trong các hoạt động học tập và
làm việc thường ngày, cũng như chỉ ra sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê trong tần suất thực hiện
các hoạt động khác nhau và giữa các ngoại ngữ khác nhau. Kết quả này đã cung cấp nền tảng quan trọng
và thông tin hữu ích phục vụ quá trình thiết kế định dạng đề thi đánh giá năng lực các ngoại ngữ Nhật,
Hàn, Trung.
Từ khóa: nghiên cứu nhu cầu, sử dụng ngôn ngữ, đề thi đánh giá năng lực ngôn ngữ
1. Giới thiệu tổng quan*
Đóng vai trò đắc lực trong việc định
Khảo thí Ngôn ngữ Châu Âu [ALTE]
(2011), trong tài liệu hướng dẫn xây dựng và
triển khai các bài thi ngôn ngữ (Manual for
hướng và tối ưu hiệu quả của các hoạt động
giáo dục, nghiên cứu nhu cầu của đối tượng
trong thực tiễn luôn được chú trọng trong
lĩnh vực giáo dục nói chung cũng như giáo
dục ngôn ngữ nói riêng. Thu hẹp phạm vi về
kiểm tra đánh giá ngôn ngữ, nghiên cứu nhu
cầu sử dụng ngôn ngữ của người học và sử
dụng ngôn ngữ đó được cho là một trong
những cách có thể giúp làm tăng tính thực
tiễn, gần gũi (authenticity) của bài thi đối với
thí sinh (Spolsky, 1986; Bachman, 1990).
Tương đồng với quan điểm này, Hiệp hội
Language
Test
Development
and
Examining), đã khẳng định các đặc điểm về
khía cạnh xã hội cũng giáo dục của đối tượng
thí sinh, bao gồm các nhu cầu liên quan tới
sử dụng và kiểm tra đánh giá ngôn ngữ của
họ, là một trong những nguồn thông tin tham
khảo cần thiết trong quá trình thiết kế đặc tả
kỹ thuật bài thi.
Với vị trí quan trọng như vậy, nghiên
cứu nhu cầu sử dụng ngoại ngữ cũng là một
trong những bước không thể thiếu của
* Tác giả liên hệ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
113
chương trình “Xây dựng định dạng đề thi
quốc gia đánh giá năng lực tiếng Nhật, Hàn,
Trung theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
dùng cho Việt Nam”. Đây là một chương
trình khởi động vào năm 2019, thực hiện bởi
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN theo
nhiệm vụ của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia
giao nhằm mục đích xây dựng và phát triển
đề thi chuẩn hóa đánh giá năng lực tiếng
Nhật, Hàn, Trung từ bậc 3 đến bậc 5 theo
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho
Việt Nam. Đề thi được xây dựng dành cho
đối tượng người học và sử dụng các ngoại
ngữ này từ 15 tuổi trở lên, là những người
đang học tập và làm việc với các mục đích
khác nhau trong các môi trường khác nhau
tại Việt Nam. Nhằm đảm bảo thực hiện đúng
quy trình phát triển bài thi đề xuất bởi ALTE
(2011) cũng như đặt ra mục tiêu đảm bảo
tính chân thực, gần gũi với các hoạt động
ngôn ngữ thực tế của thí sinh, nhóm thực
hiện chương trình đã áp dụng triển khai
nghiên cứu nhu cầu sử dụng các ngoại ngữ
Nhật, Hàn, Trung của người học và sử dụng
các ngoại ngữ này tại Việt Nam.
(1) những năng lực cần thiết cho việc sử
dụng ngôn ngữ trong các tình huống thực tế
(necessities), (2) những năng lực người học
còn thiếu (lacks), và (3) những năng lực bản
thân người học mong muốn được học
(wants) (tr. 24-25). Để các hoạt động giáo
dục ngôn ngữ có thể triển khai thành công,
việc nghiên cứu các nhu cầu kể trên có vai
trò rất lớn. Trong thực tế, nghiên cứu nhu cầu
(needs analysis/needs assessment) đã trở
thành một trong những nội dung được đề cập
rất nhiều trong giáo dục nói chung và giáo
dục ngôn ngữ nói riêng.
Trong giáo dục nói chung, nghiên
cứu nhu cầu (needs analysis/ needs
assessment) được Pratt (1980) định nghĩa là
các phương thức xác định và chứng minh các
nhu cầu, đồng thời đưa ra trật tự ưu tiên của
các nhu cầu đó. Trong giáo dục ngôn ngữ,
nghiên cứu nhu cầu được Richards, Platt, và
Weber (1985) mô tả là quá trình xác định và
sắp xếp thứ tự các nhu cầu mà người học cần
phải sử dụng ngôn ngữ (“the process of
determining the needs for which a learner or
group of learners requires a language and
arranging the needs according to priorities”,
tr. 189). Xét về vai trò, Brown (1995) cho
rằng kết quả của nghiên cứu nhu cầu là nền
tảng cho việc thiết kế và phát triển bài thi, tài
liệu giáo dục, hoạt động giảng dạy, chiến
lược kiểm tra đánh giá, cũng như đánh giá
lại độ chính xác của các nghiên cứu nhu cầu
thực hiện trước đó.
Cụ thể hơn, nghiên cứu có mục đích
tìm hiểu thực trạng nhu cầu, thói quen sử
dụng ngôn ngữ Nhật, Hàn, Trung trong đời
sống, công việc và học tập của các thí sinh
tiềm năng tại Việt Nam và so sánh sự khác
biệt trong mức độ thường xuyên thực hiện
các hoạt động trong mỗi ngôn ngữ cũng như
giữa ba ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung.
Trong phạm vi xây dựng và phát
triển các bài thi, bài kiểm tra đánh giá, các
tên tuổi đi đầu trong ngành kiểm tra đánh giá
ngôn ngữ từ lâu đã luôn đánh giá cao vai trò
của nghiên cứu nhu cầu. Bachman (1990)
ủng hộ quan điểm của Spolsky (1986) về
việc sử dụng nghiên cứu nhu cầu để sắp xếp
thứ tự ưu tiên các đặc điểm nội dung và tác
vụ của bài thi ngôn ngữ. Bachman (1990)
cho rằng đây là một trong những cách giúp
tăng tính chân thực, gần gũi với đời sống của
bài thi (authenticity). Gần đây, ALTE (2011)
cũng đã đưa ra hướng dẫn về một quy trình
chuẩn hóa cho việc xây dựng một bài thi bao
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Nhu cầu (needs) trong lĩnh vực giáo
dục ngôn ngữ được Nation và Macalister
(2010), và Hutchinson và Waters (1987) chia
thành hai nhóm là nhu cầu mục tiêu (target
needs) và nhu cầu học tập (learning needs).
Nhu cầu mục tiêu tập trung vào những việc
mà cá nhân cần phải làm trong các bối cảnh,
tình huống thực tế, và nhu cầu học tập bao
gồm các nhu cầu trong hoạt động học tập.
Các học giả trên cũng tiếp tục phân loại nhu
cầu mục tiêu thành ba loại hướng tới
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
114
gồm sáu bước: Ra quyết định – Lên kế hoạch
– Thiết kế – Thử nghiệm – Thông báo cho
các bên liên quan – Hoàn thiện bảng đặc tính
kỹ thuật của đề thi. Trong đó, ở bước Lên kế
hoạch, một trong những mục tiêu cần đạt
được là thu thập thông tin về các đặc điểm
của nhóm thí sinh tương lai (độ tuổi, giới
tính, đặc điểm xã hội và giáo dục, v.v.). Tới
bước Thiết kế, ALTE (2011) đã chỉ rõ rằng
đặc tả kỹ thuật của đề thi có thể được được
thiết kế bằng nhiều cách khác nhau, dựa trên
nhu cầu của nhà cung cấp bài thi cũng như
của nhóm thí sinh đang được hướng tới
(“Test specifications may be written in
different ways according to the needs of the
test provider and the intended audience”,
tr. 23). Nói cách khác, để có thể lên kế hoạch
về định dạng bài thi, hiểu biết về các đặc
điểm học tập, giáo dục của các thí sinh là
không thể thiếu, có thể coi đây chính là giai
đoạn các nhà phát triển bài thi có thể sử dụng
nghiên cứu nhu cầu để tìm hiểu thực trạng sử
dụng ngôn ngữ của nhóm đối tượng bài thi
hướng tới, Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu
này sẽ là một trong những công cụ đắc lực
trong việc thiết kế đặc tả kỹ thuật/định dạng
chi tiết của bài thi sau này.
thi. Ngoài ra, xét về đối tượng của khảo sát
nhu cầu, ALTE (2011) nêu rằng đối tượng
cần được khảo sát trước tiên là người học,
tuy nhiên, tất cả các bên liên quan như nhà
quản lý, nhà xuất bản, nhà trường và các thầy
cô, phụ huynh, các chuyên gia của lĩnh vực
liên quan, nhà tuyển dụng, v.v. cũng cần
được khảo sát.
Nhận thức được vai trò quan trọng
của nghiên cứu nhu cầu đối với công tác xây
dựng và thiết kế bài thi, nhóm phát triển bài
thi đánh giá năng lực các ngoại ngữ Nhật,
Hàn, Trung đã triển khai nghiên cứu nhu cầu
nhằm tìm hiểu nhu cầu thực tế, thói quen sử
dụng ngôn ngữ Nhật, Hàn, Trung trong đời
sống, công việc và học tập hàng ngày của các
thí sinh tiềm năng tại Việt Nam, phục vụ
công tác thiết kế định dạng cũng như công
tác đảm bảo yêu cầu về tính thực tiễn
(authenticity) của bài thi. Với mục đích thiết
kế bài thi chuẩn hóa, đánh giá năng lực,
nghiên cứu của nhóm tác giả sẽ tập trung tìm
hiểu nhu cầu về những năng lực cần thiết cho
việc sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống
thực tế (necessities), chứ không tập trung
vào những năng lực người học còn thiếu
(lacks) hay những năng lực bản thân người
học mong muốn được học/kiểm tra (wants).
Về phương pháp, nhóm nghiên cứu quyết
định sử dụng bảng khảo sát – công cụ phổ
biến nhất trong nghiên cứu nhu cầu – để thu
thập thông tin từ người tham gia.
Về phương pháp nghiên cứu nhu cầu
sử dụng ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu giáo
dục gạo cội như Brown (1995) và Richards,
Platt, và Weber (1985) đồng quan điểm rằng
cả nguồn thông tin khách quan cũng như chủ
quan đều có thể được tận dụng. Richards,
Platt, và Weber (1985) và Sönmez (2019) đã
đưa ra một số ví dụ công cụ nghiên cứu như
phương pháp nghiên cứu kết hợp, nghiên
cứu mô tả, nghiên cứu thực nghiệm, điển
cứu, hay nghiên cứu điều tra, phỏng vấn, và
quan sát thực tế. Tuy nhiên, sau khi thực hiện
phân tích trên hơn 70 nghiên cứu về khảo sát
nhu cầu người học ngôn ngữ, Sönmez (2019)
đã tổng kết rằng phương pháp mà các học giả
và nhà nghiên cứu ưa chuộng nhất là sử dụng
bảng hỏi để khảo sát nhu cầu. Đây cũng là
một trong những cách ALTE (2011) khuyến
khích sử dụng trong quá trình thu thập thông
tin của đối tượng dự thi trước khi thiết kế bài
Cho tới nay, các công bố về kết quả
khảo sát nhu cầu sử dụng ngôn ngữ để xây
dựng và thực hiện các bài thi chuẩn hóa nói
chung còn hạn chế. Mặc dù có các bài thi cấp
quốc tế như JLPT (Bài thi đánh giá năng lực
tiếng Nhật), HSK (Bài thi đánh giá năng lực
tiếng Trung Quốc), TOPIK (Bài thi đánh giá
năng lực tiếng Hàn Quốc), nhưng số lượng
công trình về các nghiên cứu nhu cầu ngôn
ngữ ở các ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung cũng
rất ít. Các nghiên cứu có thể tiếp cận được chủ
yếu là các nghiên cứu với các bài thi mang
tính chuẩn hóa cục bộ với phạm vi vừa và nhỏ
như Iwai cùng cộng sự (1999) và Lim (2008).
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
115
Cụ thể, Iwai cùng cộng sự (1999) đã
thực hiện một nghiên cứu có quy mô mẫu
khá lớn với tiếng Nhật tại Đại học Hawaii
với 47 giáo viên và 688 sinh viên. Mục đích
của nghiên cứu là khảo sát nhu cầu sử dụng
tiếng Nhật của người học phục vụ cho việc
đổi mới chương trình học và xây dựng bài
kiểm tra đánh giá năng lực sử dụng tiếng
Nhật của sinh viên năm thứ nhất và năm thứ
hai đang theo học các khóa học tiếng. Hai
bảng điều tra được xây dựng riêng cho từng
nhóm đối tượng, trong đó tập trung khảo sát
tầm quan trọng (theo thang 5 bậc của Likert)
của những tình huống, chủ điểm, kiến thức
và kỹ năng theo quan điểm của giáo viên và
sinh viên. Từ những điểm tương đồng cũng
như khác biệt trong quan điểm của người dạy
và người học, nghiên cứu đề xuất những chủ
điểm (domain) cần được đưa vào chương
trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá như giao
lưu bằng tiếng Nhật với bạn bè và người
thân, tiếp đón khách người Nhật tại nhà, bán
hàng tại cửa hàng bán lẻ của Nhật ở Hawaii,
đi du lịch ở Nhật, tham gia vào các cuộc thảo
luận trong và ngoài phạm vi lớp học trong
bối cảnh ở Nhật Bản và Hawaii, v.v. Iwai và
cộng sự (1999) chỉ ra rằng trước đây, nhiều
thầy cô giáo cũng đã thiết kế những tài liệu
học và bài kiểm tra phù hợp với điều kiện
học tiếng Nhật ở Hawaii, tuy nhiên nhóm tác
giả hi vọng với kết quả thu được từ nghiên
cứu này, những lĩnh vực mà cả giáo viên và
người học đánh giá cao nên được đặc biệt lưu
ý trong chương trình mới. Về tiếng Hàn, Lim
(2008) thực hiện việc khảo sát nhu cầu sử
dụng ngôn ngữ này với 52 sinh viên bao gồm
người Mỹ gốc Hàn và sinh viên quốc tế
muốn học tiếng Hàn với mục đích tìm hiểu
về nhu cầu và nguyện vọng của người học
trong việc xây dựng bài kiểm tra đánh giá
năng lực sử dụng tiếng Hàn như một ngoại
ngữ (Testing of Korean as a Foreign
Language - TKFL) trong phạm vi một
trường đại học ở Mỹ. Dựa trên thông tin thu
nhận được từ một bảng hỏi trực tuyến và
phần phỏng vấn với một số giáo viên và sinh
viên, Lim (2008) đưa ra một số kết quả về lí
do học tiếng Hàn như một ngoại ngữ, kĩ năng
mà người học muốn tập trung, cũng như mục
đích của việc người học tham gia bài thi đánh
giá năng lực tiếng Hàn. Từ đó, nhấn mạnh
tầm quan trọng của việc thiết kế bài kiểm tra
tiếng Hàn để đáp ứng nhu cầu của người học
cả ở phương diện kinh doanh và học thuật.
Có thể thấy, với đặc điểm gắn liền kiểm tra
đánh giá cùng các khóa học cụ thể, hai
nghiên cứu về tiếng Nhật và tiếng Hàn kể
trên đây đặt trọng tâm vào tìm hiểu về những
năng lực mà bản thân người học mong muốn
được học và kiểm tra (tức wants trong target
needs). Cụ thể, Iwai và các cộng sự (1999)
đặt trọng tâm nghiên cứu vào mong muốn
của người học và người dạy về các năng lực
sử dụng tiếng Nhật để giao tiếp với các đối
tượng khác nhau trong các bối cảnh khác
nhau, và Lim (2008) là mong muốn của
người học về việc học tiếng Hàn và cấu phần
của bài kiểm tra để đánh giá năng lực sử
dụng thứ tiếng đó. Với tiếng Trung, hầu hết
các công bố nghiên cứu nhu cầu sử dụng
ngôn ngữ đều thuộc phạm vi xây dựng
chương trình dạy và học như Biduri, Rasyid,
và Emzir (2018) và Wang và Sun (2018);
trong phạm vi kiểm tra đánh giá, rất ít công
trình được xuất bản.
Từ việc phân tích cụ thể hai trong số
không nhiều những nghiên cứu trong thực
tiễn về nhu cầu sử dụng ngôn ngữ trong kiểm
tra đánh giá đã một lần nữa khẳng định tầm
quan trọng của nghiên cứu nhu cầu, đồng
thời cho thấy sự cần thiết của các xuất bản
nhằm làm giàu thêm thông tin về nghiên cứu
nhu cầu trong lĩnh vực kiểm tra đánh giá
ngôn ngữ nói chung và kiểm tra đánh giá
ngôn ngữ trên diện rộng nói riêng. Đây cũng
chính là một lý do nữa để nhóm tác giả triển
khai nghiên cứu nhu cầu sử dụng ngoại ngữ
Nhật, Hàn, Trung của người Việt. Tuy nhiên,
do khác biệt về đặc điểm giữa một đề thi
chuẩn hóa năng lực chung và một đề thi có
xu hướng gắn với khóa học cụ thể nên trọng
tâm của hai nghiên cứu kể trên cũng sẽ khác
với nghiên cứu hiện tại của nhóm tác giả.
Như đã trình bày, trọng tâm của nghiên cứu
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
116
này là khảo sát nhu cầu về những năng lực
cần có để sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu
thực tế (necessities).
nay và đi xa hơn là đưa ra so sánh giữa ba
ngoại ngữ. Mục đích này đã được cụ thể hóa
qua việc trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau:
Trọng tâm này đã đặt ra yêu cầu xây
dựng nội dung bản khảo sát bám sát các năng
lực ngoại ngữ Nhật/Hàn/Trung cần thiết phải
có cho các hoạt động học tập, làm việc hàng
ngày của người Việt. Vì vậy, Khung năng
lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (Bộ
Giáo dục và Đào tạo, 2014) đã được áp dụng
và khai thác như nguồn tham khảo chủ yếu.
Trong khung năng lực này, năng lực ngôn
ngữ được mô tả cấu thành từ hàng loạt các
năng lực trong các hoạt động ngôn ngữ cụ
thể trong cuộc sống, với các đối tượng khác
nhau, và trong các bối cảnh khác nhau (ví dụ:
năng lực sử dụng ngôn ngữ để nghe bài
giảng, kể chuyện, đọc tin tức, trao đổi mua
bán, viết thư, v.v.). Ngoài ra, các hoạt động
ngôn ngữ trong các định dạng bài thi đánh
giá năng lực quốc tế của mỗi ngoại ngữ cũng
được nghiên cứu (bài thi JLPT – đánh giá
năng lực tiếng Nhật, TOPIK – đánh giá năng
lực tiếng Hàn, và HSK – đánh giá năng lực
tiếng Trung). Từ đó, nhóm nghiên cứu tổng
hợp danh sách các hoạt động ngôn ngữ thiết
yếu. Với nền tảng này, nghiên cứu sẽ tập
trung xác định mức độ thường xuyên của
việc thực hiện các hoạt động ngôn ngữ Nhật,
Hàn, Trung trong bối cảnh tại Việt Nam. Tần
suất thực hiện các hoạt động ngôn ngữ này
chính là sự phản ánh nhu cầu cần phải sử
dụng ngôn ngữ trong các hoạt động cuộc
sống của người học/sử dụng ngôn ngữ. Nói
cách khác, việc một hoạt động ngôn ngữ
được thực hiện thường xuyên đồng nghĩa với
việc các đối tượng có nhu cầu lớn trong việc
sử dụng ngôn ngữ cho hoạt động đó. Độ lớn
của tần suất thực hiện cũng sẽ phản ánh tầm
quan trọng và cần thiết của năng lực sử dụng
ngôn ngữ tương ứng hoạt động đó.
1. Nhu cầu sử dụng ngôn ngữ cho các hoạt
động của các kỹ năng ngoại ngữ
Nhật/Hàn/Trung được thể hiện qua tần
suất thực hiện hoạt động như thế nào?
2. Nhu cầu sử dụng ngôn ngữ cho các hoạt
động khác nhau như thế nào giữa ba
ngoại ngữ Nhật, Hàn, và Trung?
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng tham gia nghiên cứu
Với mục tiêu khảo sát những năng
lực cần đạt được theo yêu cầu thực tế, nhóm
tác giả mong muốn có cái nhìn đa chiều và
khái quát về đối tượng sử dụng ngôn ngữ. Do
đó, thông tin được lấy từ các nguồn khác
nhau, cụ thể là từ những người hiện đang học
và sử dụng ngôn ngữ, đang giảng dạy
và/hoặc làm việc thường xuyên với nhóm
người hiện đang học và sử dụng ngôn ngữ.
Với mỗi ngôn ngữ, ban đầu có khoảng 460-
480 người tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên,
sau sàng lọc bỏ đi các phiếu trả lời chưa đầy
đủ và cũng nhằm mục đích đảm bảo tỉ lệ cân
bằng nhất có thể, nhóm tác giả sử dụng câu
trả lời từ 450 người để làm dữ liệu phân tích
cho mỗi ngoại ngữ.
Những người tham gia nghiên cứu có
độ tuổi trải rộng từ 17 đến 41 với tiếng Nhật,
và 15 đến 50 cho hai ngoại ngữ còn lại.
Trung bình độ tuổi của nhóm tiếng Nhật,
Hàn, Trung lần lượt là 26.11 (s=6.89), 20.99
(s=5.76, với 90% người tham gia đồng ý
cung cấp thông tin về độ tuổi), và 24.81
(s=7.39). Về giới tính, ở cả ba thứ tiếng, tỉ lệ
nam – nữ khá mất cân bằng khi số lượng
người tham gia khảo sát là nữ chiếm số đông,
khoảng 65% cho tiếng Nhật và gần 90% cho
tiếng Hàn và Trung. Về nghề nghiệp, sinh
viên và học sinh chiếm số lượng lớn, từ hơn
một nửa cho tiếng Nhật và tiếng Trung đến
khoảng 80% với tiếng Hàn. Các đối tượng
còn lại là những người đã đi làm. Đáng chú
ý, khoảng một phần năm trong những người
Tóm lại, với các động lực đã nêu,
nhóm dự án đã tiến hành một nghiên cứu nhu
cầu nhằm tìm hiểu thực trạng nhu cầu sử
dụng ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung trong các
hoạt động hàng ngày của người Việt hiện
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
117
đã đi làm ở nhóm tiếng Nhật và Trung là các
giáo viên giảng dạy các ngôn ngữ này. Ngoài
ra, các đối tượng là người đi làm còn lại cũng
có nghề nghiệp đa dạng như biên-phiên dịch,
nhân viên văn phòng, nhân viên bán hàng,
hướng dẫn viên du lịch, kỹ sư, kinh doanh,
làm tự do. Về nơi sinh sống làm việc, phần
lớn người tham gia hiện đang cư trú tại các
tỉnh, thành phố thuộc miền Bắc.
đo năng lực của Khung năng lực ngoại ngữ
6 bậc dùng cho Việt Nam (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, 2014), đồng thời được tham khảo từ
một số bài thi đánh giá năng lực quốc tế của
mỗi ngoại ngữ như JLPT (tiếng Nhật),
TOPIK (tiếng Hàn), HSK (tiếng Trung) cũng
như bảng câu hỏi của các nghiên cứu phân
tích nhu cầu được thực hiện trước đây ví dụ
như Iwai và cộng sự (1999) và Lim (2008).
Các hoạt động này đều là các hoạt động tiêu
biểu thuộc bốn lĩnh vực lớn là cá nhân, công
cộng, học tập, và nghề nghiệp. Nhiệm vụ của
người tham gia là đánh giá mức độ thường
xuyên của hoạt động thực hiện bởi người học
và sử dụng ngôn ngữ trên thang 0-3 với sự
tăng dần về tần suất (0 – không bao giờ, 1 –
hiếm khi, 2 – thỉnh thoảng, 3 – thường
xuyên. Mức độ thường xuyên này chính là
sự phản ánh về nhu cầu cần phải sử dụng
ngôn ngữ trong cuộc sống của họ. Ngoài các
câu hỏi đóng với thang đánh giá mức độ
thường xuyên của hoạt động ngôn ngữ, bảng
hỏi cũng có các câu hỏi mở để khuyến khích
người tham gia bổ sung các hoạt động khác
của người học và sử dụng ngôn ngữ mà
nhóm thiết kế bảng hỏi chưa tính đến.
3.2. Bảng khảo sát nhu cầu – công cụ
nghiên cứu
Dựa trên việc phân tích các phương
pháp thường dùng trong nghiên cứu nhu cầu
trong các báo cáo trước đây như Iwai và
cộng sự (1999), Lim (2008), Richards, Platt,
và Weber (1985) và Sönmez (2019) cũng
như hướng dẫn của ALTE (2011) nhóm
nghiên cứu quyết định sử dụng bảng khảo sát
– công cụ phổ biến nhất trong nghiên cứu
nhu cầu – để thu thập thông tin từ người tham
gia. Các câu hỏi khảo sát về hoạt động ngôn
ngữ được xây dựng phần lớn dựa trên việc
phân tích các mô tả năng lực trong Khung
năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014) và việc tham
khảo các kỳ thi quốc tế cũng như các nghiên
cứu đi trước đã kể trên. Các câu hỏi khảo sát
tập trung vào ba nội dung chính.
Ngôn ngữ sử dụng trong bảng hỏi là
tiếng Việt nhằm tăng tính gần gũi, dễ hiểu
với các đối tượng tham gia nghiên cứu. Cuối
cùng, nhóm nghiên cứu đã điều chỉnh ngôn
ngữ trong bảng hỏi để tạo ra các phiên bản
phù hợp với từng ngoại ngữ (Nhật/ Hàn/
Trung) và đối tượng tham gia nghiên cứu
(đối tượng hiện đang học và sử dụng ngôn
ngữ và đối tượng đang giảng dạy và/hoặc
làm việc thường xuyên với nhóm người hiện
đang học và sử dụng ngôn ngữ).
Trước hết, bảng hỏi mở đầu bằng các
câu hỏi về thông tin cá nhân cơ bản của
người tham gia khảo sát bao gồm độ tuổi,
giới tính, công việc hiện tại, nơi sinh
sống/làm việc. Các phần tiếp theo được chia
theo kỹ năng với thứ tự Nghe – Nói – Đọc –
Viết. Với mỗi kỹ năng, các hoạt động sử
dụng ngôn ngữ Nhật/Hàn/Trung cần thực
hiện trong học tập, công việc, cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày được liệt kê kèm theo thang
đo tần suất thực hiện các hoạt động đó bởi
những người đang học và sử dụng ngôn ngữ.
Cụ thể khảo sát đã đưa ra 14 hoạt động Nghe,
18 hoạt động Đọc, 18 hoạt động Nói, và 24
hoạt động Viết. Như đã trình bày ở phần
trước, các lĩnh vực và hoạt động được lựa
chọn đưa vào bảng hỏi là dựa trên các hoạt
động ngôn ngữ được liệt kê trong các thang
Độ tin cậy của các bảng hỏi của các
ngoại ngữ đều rất cao với chỉ số Cronbach
alpha đạt mức .982 (tiếng Nhật), .981 (tiếng
Hàn), và .979 (tiếng Trung).
3.3. Thu thập và xử lý dữ liệu
Cả hình thức bảng hỏi trực tuyến và
bảng hỏi phát trực tiếp đã được sử dụng để
thu thập số lượng phiếu lớn nhất có thể, nhất
là với các địa điểm xa, nơi việc phát bảng hỏi
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
118
trực tiếp là không khả thi hoặc nếu tiến hành,
sẽ tốn rất nhiều công sức và chi phí.
Hàn, Trung, tần suất trung bình thực hiện
hoạt động Nghe, Đọc, Nói, Viết mỗi ngôn
ngữ đã được tính toán và sau đó phân tích
bằng kiểm định ANOVA và Scheffe. Kết
quả (Bảng 1) đã chỉ ra với cả ba ngôn ngữ,
hoạt động Nghe được thực hiện nhiều nhất
và nhiều hơn đáng kể các kỹ năng khác. Trái
lại, hoạt động Viết được thực hiện ít nhất và
ít hơn đáng kể các kỹ năng khác. Nói cách
khác, nhu cầu sử dụng ngôn ngữ cho các hoạt
động Nghe là lớn nhất và lớn hơn đáng kể
các kỹ năng khác, và nhu cầu sử dụng ngôn
ngữ cho các hoạt động Viết là ít nhất và ít
hơn hẳn các kỹ năng khác.
Các thông tin thu thập được từ bảng
hỏi đã được mã hóa, nhập và tổng hợp vào
các bảng tính Microsoft Excel và SPSS phục
vụ việc phân tích số liệu. Trước tiên, thông
số mô tả cơ bản của tần suất thực hiện các
hoạt động ngôn ngữ bởi người học và sử
dụng đã được tính toán. Đó là các giá trị tần
suất trung bình và độ lệch chuẩn tương ứng
của mỗi hoạt động cũng như của toàn bộ kỹ
năng (x, s). Tiếp theo, nhằm so sánh sự khác
̅
biệt trong tần suất thực hiện của các hoạt
động khác nhau trong một kỹ năng và của
một hoạt động giữa ba ngoại ngữ, nhóm
nghiên cứu sử dụng kiểm định khác biệt
ANOVA (với thông số F và độ ý nghĩa trong
thống kê p được báo cáo). Để xác định vị trí
cụ thể của các chênh lệch đáng kể về mặt
thống kê, kiểm định Scheffe sau đó được sử
dụng. Các kết quả được tổng hợp và phân
tích để rút ra các kết luận nghiên cứu quan
trọng về thí sinh và đặc thù các hoạt động
ngôn ngữ của họ.
Bên cạnh đó, các phân tích ANOVA
cũng đã phát hiện sự khác biệt đáng kể về
mặt thống kê (p ≤ .001) trong mức độ thường
xuyên của các hoạt động giữa các ngoại ngữ.
Kiểm định Scheffe sau đó cũng chỉ ra, với kỹ
năng Đọc, người học/sử dụng tiếng Hàn là
nhóm đối tượng thực hiện hoạt động Đọc
nhiều nhất, nhiều hơn một cách đáng kể
người học/sử dụng tiếng Trung và người
học/sử dụng tiếng Trung thực hiện hoạt động
Đọc nhiều hơn đáng kể người học/sử dụng
tiếng Nhật. Với các kỹ năng còn lại, mặc dù
không tìm thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa tiếng Hàn và tiếng Trung, nhưng cả hai
ngoại ngữ này đều ghi nhận tần suất thực
hiện các hoạt động nhiều hơn tiếng Nhật một
cách đáng kể.
4. Kết quả
4.1. So sánh tổng quan bốn kỹ năng
Với mục đích tìm ra và so sánh tổng
quan nhu cầu sử dụng ngôn ngữ để thực hiện
các hoạt động của các kỹ năng tiếng Nhật,
Bảng 1
So sánh tần suất trung bình hoạt động bốn kỹ năng các ngoại ngữ
Tiếng Nhật
(N=450)
Tiếng Hàn
(N=450)
Tiếng Trung
Kỹ
năng
(N=450)
F
Scheffe
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
Nghe
1.60
1.41
1.34
1.04
0.39
0.32
0.33
0.35
1.79
1.56
1.51
1.19
0.50
0.34
0.36
0.35
1.80
1.49
1.52
1.19
0.47
0.31
0.33
0.31
52.603*** H&T>N
20.937*** H>T>N
40.720*** H&T>N
40.464*** H&T>N
Đọc
Nói
Viết
F
170.622***
363.723***
383.171***
Scheffe
*** p ≤ .001
Ng>Đ>N>V
Ng>Đ&N>V
Ng>Đ&N>V
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
4.2. So sánh kỹ năng Nghe
Để tìm ra nhu cầu sử dụng ngôn ngữ
119
Trung. Hệ số F lần lượt ở mức .464
(p ≤ .001) và .379 (p ≤ .01) cho mỗi ngôn
ngữ. Nói cách khác, với hai ngoại ngữ này,
bốn hoạt động 1, 3, 11, và 13 được thực hiện
nhiều hơn đáng kể các hoạt động còn lại. Với
tiếng Nhật, sự khác biệt về tần suất của nhóm
phổ biến nhất chưa thật sự đáng kể khi so
sánh với các hoạt động ít phổ biến hơn xếp
hạng liền sau.
để thực hiện các hoạt động kỹ năng Nghe
khác nhau như thế nào, tần suất trung bình
của mỗi hoạt động trong tổng số 14 hoạt
động đã được tính toán và trình bày (đi kèm
độ lệch chuẩn) ở Bảng 2 theo thứ tự giảm
dần về mức độ thường xuyên. Dễ nhận thấy
ở kết quả này là thứ tự mức độ thường xuyên
thực hiện các hoạt động có phần tương tự
cho cả ba ngoại ngữ. Đầu tiên, người dùng
mỗi ngoại ngữ này đều có nhu cầu sử dụng
ngôn ngữ để thực hiện Hoạt động 13, 1, 11,
và 3 nhiều nhất. Cụ thể đó là các hoạt động
nghe đoạn giải trí, nghe bài giảng, nghe hội
thoại giữa những người dùng tiếng
Nhật/Hàn/Trung thành thạo, và nghe các
phương tiện truyền thông với mức tần suất
xấp xỉ 2 (mức thỉnh thoảng) trở lên. Hơn
nữa, kiểm định ANOVA tìm thấy sự khác
biệt đáng kể về mặt thống kê giữa tần suất
thực hiện hoạt động phổ biến thứ tư và hoạt
động phổ biến thứ năm ở ngôn ngữ Hàn và
Tiếp theo, nhóm các hoạt động 2, 10,
12, 14 là các hoạt động phổ biến thứ nhì
(nghe tin nhắn, mệnh lệnh, thảo luận, bài
phát biểu, kể chuyện) ở cả ba ngoại ngữ.
Cuối cùng, nhóm được thực hiện ít nhất là
sáu hoạt động từ Hoạt động 4 đến Hoạt động
9. Ở cả ba ngoại ngữ, Hoạt động 9 đều có tần
suất thấp nhất, gần mức 1, tức là những
người tham gia nghiên cứu xác nhận rằng họ
hiếm khi có nhu cầu dùng năng lực ngoại
ngữ của mình để nghe thông báo bằng tiếng
Nhật/Hàn/Trung tại nơi công cộng nhất
trong 14 hoạt động được hỏi.
Bảng 2
So sánh tần suất trung bình hoạt động Nghe của mỗi ngoại ngữ
Tiếng Nhật (N=450) Tiếng Hàn (N=450) Tiếng Trung (N=450)
Hoạt
động
Nghe
Hoạt
động
Nghe
Xếp hạng
Hoạt động Nghe
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
1
(Thường
xuyên
nhất)
13 Nghe đoạn giải trí
2.19 0.81
2.18 0.98
2.14 0.89
13
1
2.70 0.59
2.61 0.62
2.42 0.67
13
3
2.69 0.58
2.48 0.66
2.41 0.82
2
1
Nghe bài giảng
Nghe hội thoại/nói
chuyện giữa những
người dùng tiếng
Nhật thành thạo
3
11
3
1
Nghe các phương
tiện truyền thông
(phát thanh, truyền
hình, mạng Internet
...)
4
3
1.98 0.80
11
2.25 0.80
11
2.21 0.81
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Nghe tin nhắn, mệnh
120
1.83 0.81
5
14
1.70 1.08
2
1.79 0.86
1.70 0.98
2
lệnh chỉ đạo ngắn
Nghe thảo luận giữa
6
12 những người dùng
tiếng Nhật
1.69 1.03
14
10
1.80 0.86
Nghe bài nói
chuyện, bài phát
biểu trực tiếp được
7
2
phát trên các
1.54 0.79
10
1.70 0.90
14
1.72 0.97
phương tiện truyền
thông (đài phát
thanh, vô tuyến, …)
8
9
10 Nghe kể truyện
1.54 0.95
1.37 0.93
12
4
1.54 0.97
1.50 0.92
12
4
1.61 0.92
1.57 0.88
Nghe mô tả đặc
7
điểm sản phẩm
Nghe chương trình
điểm tin trên các
phương tiện truyền
thông
10
11
4
1.35 0.85
1.31 1.03
8
7
1.50 0.95
1.43 0.87
7
5
1.46 0.89
1.38 0.85
Nghe thông báo tại
cơ quan, trường học
8
Nghe hướng dẫn sử
dụng vận hành
12
13
6
1.22 0.93
1.19 0.84
6
5
1.30 0.91
1.29 0.90
8
6
1.37 0.95
1.36 0.90
5
9
Nghe phóng sự
Nghe thông báo tại
những nơi công
cộng
14
1.05 0.91
9
1.25 0.91
9
1.25 0.91
Tần suất thực hiện mỗi hoạt động
Độ khác biệt tìm ra bởi kiểm định ANOVA
cho các hoạt động này đều có ý nghĩa về mặt
thống kê (p ≤ .05). Kiểm định Scheffe sau đó
đã được sử dụng để tìm hiểu rõ sự khác biệt
nằm ở đâu. Đa số kết quả cho thấy với sáu
hoạt động trên và với trung bình các hoạt
động, không có sự khác biệt đáng kể giữa
tiếng Hàn và tiếng Trung, nhưng tần suất
thực hiện hoạt động Nghe ở hai ngôn ngữ
này, nhất là tiếng Trung, đều nhiều hơn một
cách đáng kể tiếng Nhật.
cũng được so sánh giữa các nhóm ngôn ngữ
với nhau. Kết quả tóm tắt trong Bảng 3 chỉ
ra xu hướng người học/dùng tiếng Hàn,
Trung nhìn chung có nhu cầu dùng năng lực
ngoại ngữ của mình để thực hiện các hoạt
động nghe ngoại ngữ của mình nhiều hơn
người học/dùng tiếng Nhật. Kết quả thể hiện
rõ rệt nhất khi so sánh tần suất trung bình các
hoạt động Nghe và sáu hoạt động 1, 2, 3, 4,
10, và 13 (nghe giảng, nghe phương tiện
truyền thông, kể chuyện, và đoạn giải trí).
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
121
Bảng 3
So sánh tần suất trung bình mỗi hoạt động Nghe giữa các ngoại ngữ
Tiếng
Trung
(N=450)
S
T
T
Tiếng Nhật
(N=450)
Tiếng Hàn
(N=450)
Hoạt động Nghe
F
Scheffe
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
1
Nghe bài giảng
2.18 0.98 2.61 0.62 2.41 0.82 17.400*** H>T>N
Nghe bài nói chuyện, bài
phát biểu trực tiếp được
2
phát trên các phương tiện 1.54 0.79 1.79 0.86 1.83 0.81 7.821*** H&T>N
truyền thông (đài phát
thanh, vô tuyến…)
Nghe các phương tiện
truyền thông (phát thanh,
truyền hình, mạng
Internet...)
3
4
1.98 0.80 2.42 0.67 2.48 0.66 31.709*** H&T>N
Nghe chương trình điểm
tin trên các phương tiện
truyền thông
1.35 0.85 1.50 0.92 1.57 0.88
3.699*
T>N
5
6
Nghe phóng sự
1.19 0.84 1.29 0.90 1.38 0.85
1.22 0.93 1.30 0.91 1.36 0.90
2.674
1.492
Nghe hướng dẫn sử dụng
vận hành
Nghe mô tả đặc điểm sản
phẩm
7
8
9
1.37 0.93 1.43 0.87 1.46 0.89
1.31 1.03 1.50 0.95 1.37 0.95
.630
Nghe thông báo tại cơ
quan, trường học
2.413
Nghe thông báo tại
những nơi công cộng
1.05 0.91 1.25 0.91 1.25 0.91
1.54 0.95 1.70 0.90 1.80 0.86
3.498
10 Nghe kể truyện
4.734**
T>N
Nghe hội thoại/nói
chuyện giữa những
11
2.14 0.89 2.25 0.80 2.21 0.81
1.080
người dùng tiếng Nhật
thành thạo
Nghe thảo luận giữa
12 những người dùng tiếng
Nhật
1.69 1.03 1.54 0.97 1.61 0.92
1.457
13 Nghe đoạn giải trí
2.19 0.81 2.70 0.59 2.69 0.58 43.567*** H&T>N
1.70 1.08 1.70 0.98 1.72 0.97 .015
1.60 0.39 1.79 0.50 1.80 0.47 52.603*** H&T>N
Nghe tin nhắn, mệnh
14
lệnh chỉ đạo ngắn
Trung bình các hoạt
động Nghe
* p ≤ .05, ** p ≤ .01, *** p ≤ .001
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
4.3. So sánh kỹ năng Đọc
Với kỹ năng Đọc, tần suất trung bình
của việc thực hiện mỗi hoạt động cũng đã
được tính toán và ghi lại trong Bảng 4. Có thể
thấy với kỹ năng Đọc, nhóm người học và sử
dụng các ngôn ngữ không còn chia sẻ chung
một xu hướng rõ rệt như với kỹ năng Nghe.
122
và tiếng Trung có sự khác biệt đáng kể về
mặt thống kê. Chỉ số F lần lượt là .492 (p ≤
0.001) và .407 (p ≤ .05). Nói cách khác, hai
hoạt động 5 (đọc các dòng trạng thái trên
mạng xã hội) và 13 (đọc giáo trình/sách tham
khảo) được thực hiện thường xuyên hơn một
cách đáng kể so với các hoạt động còn lại
trong tiếng Hàn và tiếng Trung. Đây cũng
chính là hai hoạt động duy nhất có mức tần
suất trung bình lớn hơn 2 (mức thỉnh
thoảng). Còn trong tiếng Nhật, các khác biệt
đáng kể không được tìm thấy giữa những
hoạt động được xếp hạng liền nhau và chỉ có
Hoạt động 13 có tần suất đạt mức 2.02,
tương đương mức thỉnh thoảng.
Nhóm bốn hoạt động Đọc phổ biến
nhất chỉ giống nhau giữa tiếng Hàn và tiếng
Trung, đó là Hoạt động 1, 2, 5, và 13 (đọc
thư/emai cá nhân, tin tức, các dòng trạng thái
trên mạng xã hội, và đọc giáo trình/sách
tham khảo). Với tiếng Nhật, nhóm bốn hoạt
động phổ biến nhất vẫn có Hoạt động 1 và
13 (đọc thư/email cá nhân và đọc giáo
trình/sách), nhưng hai hoạt động còn lại là
Hoạt động 8 (đọc thư/email công việc) và 14
(đọc báo chuyên ngành). Khi sử dụng kiểm
định ANOVA để tìm ra khác biệt đáng kể
giữa các hoạt động xếp hạng liền nhau, kết
quả cho thấy giữa hoạt động được thực hiện
thường xuyên thứ hai và thứ ba ở tiếng Hàn
Bảng 4
Với các hoạt động ít được thực hiện
hơn, các ngôn ngữ có xu hướng khá khác
nhau. Ví dụ, ba hoạt động 15, 4 và 6 là được
thực hiện ít nhất bởi người học và dùng tiếng
Nhật, trong khi ba hoạt động ít phổ biến nhất
của người học và sử dụng tiếng Hàn là 17,
12, và 11 và tiếng Nhật là 3, 11, và 17.
So sánh tần suất trung bình hoạt động Đọc của mỗi ngoại ngữ
Tiếng Trung
Tiếng Nhật (N=450) Tiếng Hàn (N=450)
(N=450)
Xếp
hạng
Hoạt
động
Đọc
Hoạt
động
Đọc
Hoạt động Đọc
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
1
(Thường
xuyên
nhất)
Đọc giáo trình và
sách tham khảo
13
2.02 0.96
13
2.44 0.79
5
2.25 0.79
Đọc thư tín/email
cá nhân
2
3
1
8
1.85 1.08
1.84 1.16
5
2
2.32 0.80
1.82 0.89
13
2
2.14 0.94
1.74 0.93
Đọc thư tín/email
giao dịch thương
mại, công việc
Đọc các bài báo
chuyên ngành
4
5
6
14
10
2
1.77 0.92
1.58 1.10
1.53 0.86
1
1.76 0.97
1.58 1.01
1.56 0.95
1
10
4
1.67 1.03
1.54 0.97
1.53 0.90
Đọc mô tả công
việc
10
16
Đọc tin tức trên
báo và tạp chí
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Đọc lịch trình, qui
123
7
18 trình, kế hoạch về 1.49 1.11
9
1.53 1.03
8
1.53 1.10
chuyên môn
Đọc quảng cáo
việc làm
8
9
9
1.45 1.01
1.43 1.14
8
6
1.51 1.09
1.47 1.02
9
6
1.51 0.95
1.50 0.89
Đọc các bản ghi
nhớ cuộc họp
11
Đọc báo cáo
(công việc, hoặc
kết quả nghiên
cứu)
10
11
12
12
7
1.41 1.09
1.39 0.91
1.36 1.03
3
7
1.42 0.88
1.41 0.94
1.41 1.04
16
14
7
1.39 0.93
1.39 0.99
1.32 0.84
Đọc hướng dẫn sử
dụng (thiết bị điện
tử, đồ gia dụng,
...)
Đọc thông báo tại
nơi công cộng,
trường học hoặc
tại nơi làm việc
16
18
Đọc bảng, biểu,
đồ thị
13
14
17
3
1.26 0.96
1.08 0.92
15
14
1.34 0.96
1.33 0.99
15
18
1.31 0.88
1.28 0.98
Đọc công thức
nấu ăn
Đọc các dòng
trạng thái
(status/note) trên
mạng xã hội
15
5
1.06 0.90
4
1.30 0.89
12
1.24 1.02
Đọc bản tóm tắt
16
17
18
15 các nguồn văn
bản khác nhau
1.06 0.90
0.94 0.80
0.91 0.85
17
12
11
1.29 0.96
1.28 1.07
1.24 1.06
3
1.23 0.89
1.19 1.02
1.09 0.86
Đọc truyện ngắn
hoặc tiểu thuyết
4
11
17
Đọc các bài bình
6
luận sách, phim
ảnh, kịch...
Tiếp theo, kiểm định ANOVA tiếp
động đọc ngoại ngữ của mình nhiều hơn
đáng kể người học/dùng tiếng Nhật. Khi xét
cụ thể từng kỹ năng, có 12 trên tổng số 18
hoạt động Đọc ghi nhận sự khác biệt đáng kể
giữa ba ngôn ngữ (Bảng 5). Với Hoạt động
2 đến 6 và Hoạt động 15 (đọc tin tức, công
thức nấu ăn, truyện/tiểu thuyết, trạng thái
mạng xã hội, và bình luận sách/phim, tóm tắt
văn bản từ các nguồn), chủ yếu xu hướng vẫn
tục được sử dụng để so sánh cụ thể hơn tần
suất thực hiện các hoạt động giữa ba ngoại
ngữ. Như đã trình bày ở mục 4.1, khi xét
trung bình các hoạt động Đọc, người
học/dùng tiếng Hàn nhìn chung thực hiện
các hoạt động đọc ngoại ngữ của mình nhiều
hơn đáng kể người học tiếng Trung và người
học/dùng tiếng Trung thực hiện các hoạt
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
124
là người học/dùng tiếng Hàn/Trung thực
hiện nhiều hơn một cách đáng kể người
học/dùng tiếng Nhật. Tuy nhiên, với các hoạt
động số 8, 13, 14, và 17 (đọc email công
việc, giáo trình/sách tham khảo, báo chuyên
Bảng 5
ngành, bảng biểu/đồ thi) thì người sử dụng
tiếng Trung lại xa lạ hơn so với người sử
dụng một trong hai ngôn ngữ còn lại một
cách đáng kể.
So sánh tần suất trung bình mỗi hoạt động Đọc giữa các ngoại ngữ
Tiếng
Trung
(N=450)
S
T
T
Tiếng Nhật
(N=450)
Tiếng Hàn
(N=450)
Hoạt động Đọc
F
Scheffe
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
Đọc thư tín/email cá
nhân
1
1.85 1.08 1.76 0.97 1.67 1.03
1.53 0.86 1.82 0.89 1.74 0.93
1.775
Đọc tin tức trên báo
và tạp chí
2
3
4
6.261**
8.769***
26.200***
H&T>N
H&T>N
T>H>N
Đọc công thức nấu ăn 1.08 0.92 1.42 0.88 1.23 0.89
Đọc truyện ngắn hoặc
0.94 0.80 1.30 0.89 1.53 0.90
tiểu thuyết
Đọc các dòng trạng
thái (status/note) trên
5
6
7
1.06 0.90 2.32 0.80 2.25 0.79 156.202*** H&T>N
mạng xã hội
Đọc các bài bình luận
sách, phim ảnh,
kịch...
0.91 0.85 1.47 1.02 1.50 0.89
26.195***
.970
H&T>N
N>H&T
x
Đọc hướng dẫn sử
dụng (thiết bị điện tử, 1.39 0.91 1.41 0.94 1.32 0.84
đồ gia dụng...)
Đọc thư tín/email
giao dịch thương mại
(công việc – khoa
Trung)
8
9
1.84 1.16 1.51 1.09 1.53 1.10
5.695**
Đọc quảng cáo việc
1.45 1.01 1.53 1.03 1.51 0.95
làm
.384
.116
10 Đọc mô tả công việc
1.58 1.10 1.58 1.01 1.54 0.97
Đọc các bản ghi nhớ
cuộc họp
11
1.43 1.14 1.24 1.06 1.19 1.02
3.047*
Đọc báo cáo (công
12 việc, hoặc kết quả
nghiên cứu)
1.41 1.09 1.28 1.07 1.24 1.02
1.616
Đọc giáo trình và
13
2.02 0.96 2.44 0.79 2.14 0.94
1.77 0.92 1.33 0.99 1.39 0.99
15.345***
12.459***
H>N&T
N>H&T
sách tham khảo
Đọc các bài báo
14
chuyên ngành
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Đọc bản tóm tắt các
125
15 nguồn văn bản khác
1.06 0.90 1.34 0.96 1.31 0.88
5.742**
3.474*
H&T>N
nhau
Đọc thông báo tại nơi
công cộng, trường
học hoặc tại nơi làm
16
1.36 1.03 1.56 0.95 1.39 0.93
x
việc
17 Đọc bảng, biểu, đồ thị 1.26 0.96 1.29 0.96 1.09 0.86
4.604**
2.698
H>T
Đọc lịch trình, qui
18 trình, kế hoạch về
1.49 1.11 1.41 1.04 1.28 0.98
chuyên môn
Trung bình các hoạt
động Đọc
1.41 0.32 1.56 0.34 1.49 0.31
20.937***
H>T>N
* p ≤ .05, ** p ≤ .01, *** p ≤ .001
4.4. So sánh kỹ năng Nói
hơn với tiếng Hàn và Trung và Hoạt động 14
(thảo luận giải quyết vấn đề) phổ biến hơn
với tiếng Nhật và Trung. Tuy nhiên, mỗi
ngôn ngữ Nhật và Hàn cũng có điểm khác
biệt riêng khi xét về nhóm các hoạt động
thường xuyên nhất: Hoạt động 3 (tả vật) chỉ
nằm trong tốp phổ biến của tiếng Hàn và
Hoạt động 5 (mô tả quá trình) chỉ nằm trong
tốp của tiếng Nhật.
Để tìm ra nhu cầu sử dụng ngôn ngữ
để thực hiện các hoạt động Nói, các mức
đánh giá độ thường xuyên bởi những người
học và sử dụng tiếng Nhật, Hàn, và Trung
tham gia nghiên cứu cũng đã được chia trung
bình để tìm ra tần suất trung bình mỗi hoạt
động. Kết quả và xếp hạng tại Bảng 6 cũng
chỉ ra một số điểm chung nhất định giữa ba
ngôn ngữ. Cụ thể, ở cả ba ngoại ngữ, Hoạt
động 1 – Nói về thông tin cá nhân là hoạt
động thường xuyên nhất và cũng là hoạt
động duy nhất tần suất trung bình trên mức
2 (thỉnh thoảng). Ngoài ra, có thể thấy năm
hoạt động 1, 2, 10, 12, 13 (nói thông tin, trải
nghiệm cá nhân, thuyết trình, thảo luận theo
chủ đề, nói chuyện trao đổi thông tin) đều
nằm trong nhóm phổ biến nhất với cả ba thứ
tiếng, Hoạt động 8 (bày tỏ tình cảm) phổ biến
Mặc dù xếp hạng mức thường xuyên
của các ngôn ngữ đều khá khác nhau cho các
hoạt động ít phổ biến hơn, nhóm người học
và dùng ở cả ba ngoại ngữ đều thống nhất
trong việc xác nhận Hoạt động 9 (phát biểu
tại hội nghị) là hoạt động ít được thực hiện
nhất.
Ngoài ra, kiểm định ANOVA không
tìm thấy khác biệt đáng kể nào giữa các hoạt
động Nói có xếp hạng liền kề nhau.
Bảng 6
So sánh tần suất trung bình hoạt động Nói của mỗi ngoại ngữ
Tiếng Hàn
(N=450)
Tiếng Trung
Tiếng Nhật (N=450)
(N=450)
Xếp
Hoạt
động
Nói
Hoạt
hạng
Hoạt động Nói
x
̅
s
x
̅
s
động
Nói
x
̅
s
1
Nói về thông tin cá
nhân (nơi ở, nghề
nghiệp, sở thích,
v.v.)
(Thường
xuyên
nhất)
1
2.05 0.91
1
2.27 0.78
1
2.14 0.82
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Thuyết trình về một
126
2
3
4
10 chủ đề có chuẩn bị
trước
1.63 1.02
1.61 1.04
1.59 1.03
2
10
8
1.97 0.82
1.95 0.84
1.77 0.93
2
1.87 0.89
Thảo luận với một
hoặc nhiều người về
một chủ đề quan tâm
13
13
12
1.87 0.94
1.83 0.97
chung
Nói chuyện với một
12 hoặc nhiều người để
trao đổi thông tin
Thảo luận với một
14 hoặc nhiều người để
giải quyết một vấn đề
5
6
7
1.58 1.04
1.56 1.04
1.54 0.99
3
1.72 0.87
1.70 0.90
1.70 0.96
10
14
8
1.78 0.99
1.72 0.98
1.70 0.94
Mô tả một quá trình
thực hiện/thao tác
5
12
13
Kể một câu chuyện
2
8
hay một trải nghiệm
cá nhân
Phát biểu bày tỏ tình
cảm trong những tình
huống khác nhau
(như cảm ơn, xin lỗi
trong một buổi tiệc
mừng tân gia, v.v.)
8
1.50 0.99
5
1.57 0.86
3
1.59 0.91
9
3
4
Mô tả một đồ vật
Mô tả một sự kiện
1.46 1.00
1.40 1.01
14
4
1.54 0.93
1.53 0.86
5
1.57 0.93
1.54 1.01
10
15
Phỏng vấn và trả lời
phỏng vấn
11
12
18
6
1.24 1.01
1.22 1.00
15
16
1.33 0.98
1.31 0.93
4
1.49 0.93
1.35 0.96
Mô tả đồ thị, bảng,
sơ đồ, biểu đồ
16
Thuyết trình về một
13
11 chủ đề không có
chuẩn bị trước
1.02 0.87
11
1.29 0.92
11
1.29 0.94
14
15
7
Mô tả tranh, ảnh
0.99 0.85
0.98 1.04
18
7
1.29 0.98
1.26 0.90
17
18
1.24 1.07
1.24 1.00
Đàm phán để đạt
được một thỏa hiệp
17
Tham gia hội thoại ở
các tình huống công
cộng khác như hỏi
thông tin ở ga tàu,
hỏi và chỉ đường,
v.v.
16
16
0.97 0.96
6
1.13 0.91
7
1.14 0.86
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Tham gia hội thoại
127
17
15 để mua, bán hàng
hóa và dịch vụ
0.88 0.94
17
9
0.95 0.94
0.94 0.96
6
9
1.04 0.91
Phát biểu khai mạc,
bế mạc, giới thiệu,
v.v. (như tại hội nghị,
18
9
0.85 0.89
0.94 0.91
hội thảo, v.v.)
Khi so sánh giữa các ngôn ngữ, xu
học/dùng tiếng Hàn, Hoạt động 12 và 13
giữa tiếng Nhật và tiếng Trung, Hoạt động 2,
11 và 16 giữa tiếng Nhật so với cả tiếng Hàn
và Trung. Riêng Hoạt động 15 (tham gia hội
thoại mua bán hàng hóa) ghi nhận khác biệt
đáng kể trong tần suất sử dụng giữa cả ba
ngôn ngữ. Ngoài ra, Hoạt động 17 (đàm
phán) thể hiện một xu hướng khác khi cho
thấy người học/dùng tiếng Hàn có nhu cầu
sử dụng ngôn ngữ để thực hiện hoạt động
này ít hơn hẳn so với hai ngôn ngữ còn lại.
hướng người học và dùng tiếng Nhật nhìn
chung thực hiện các hoạt động nói ngoại ngữ
của mình ít hơn một cách đáng kể người
học/dùng tiếng Hàn, Trung tiếp tục được ghi
nhận. Những chênh lệch đáng kể được tìm
thấy ở 12/18 hoạt động bằng kiểm định
ANOVA (p ≤ .05) (Bảng 7). Trong 12 hoạt
động có chênh lệch đáng kể này, Hoạt động
1, 3, 7, 8, và 10 ghi nhận chênh lệch đáng kể
giữa người học/dùng tiếng Nhật và người
Bảng 7
So sánh tần suất trung bình mỗi hoạt động Nói giữa các ngoại ngữ
Tiếng
Trung
(N=450)
S
T
T
Tiếng Nhật
(N=450)
Tiếng Hàn
(N=450)
Hoạt động Nói
F
Scheffe
x
̅
s
x
̅
s
x
s
̅
Nói về thông tin cá
nhân (nơi ở, nghề
nghiệp, sở thích, v.v.)
1
2
2.05 0.91 2.27 0.78 2.14 0.82
4.523*
H>N
Kể một câu chuyện hay
một trải nghiệm cá
nhân
1.54 0.99 1.97 0.82 1.87 0.89 13.606*** H&T>N
3
4
Mô tả một đồ vật
Mô tả một sự kiện
1.46 1.00 1.72 0.87 1.59 0.91
1.40 1.01 1.53 0.86 1.49 0.93
4.550*
1.124
H>N
Mô tả một quá trình
thực hiện/thao tác
5
1.56 1.04 1.57 0.86 1.57 0.93
.013
Mô tả đồ thị, bảng, sơ
đồ, biểu đồ
6
7
1.22 1.00 1.13 0.91 1.04 0.91
0.99 0.85 1.26 0.90 1.14 0.86
2.217
Mô tả tranh, ảnh
5.552**
H>N
H>N
Phát biểu bày tỏ tình
cảm trong những tình
huống khác nhau (như
cảm ơn, xin lỗi trong
một buổi tiệc mừng tân
gia, v.v.)
8
1.50 0.99 1.77 0.93 1.70 0.94
4.508*
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
128
Phát biểu khai mạc, bế
mạc, giới thiệu, v.v.
(như tại hội nghị, hội
thảo, v.v.)
9
0.85 0.89 0.94 0.96 0.94 0.91
.708
Thuyết trình về một
10 chủ đề có chuẩn bị
trước
1.63 1.02 1.95 0.84 1.78 0.99
1.02 0.87 1.29 0.92 1.29 0.94
1.59 1.03 1.70 0.90 1.83 0.97
6.591***
6.270**
3.992*
4.653**
2.968
H>N
Thuyết trình về một
11 chủ đề không có chuẩn
bị trước
H&T>N
T>N
Nói chuyện với một
12 hoặc nhiều người để
trao đổi thông tin
Thảo luận với một hoặc
13 nhiều người về một chủ 1.61 1.04 1.70 0.96 1.87 0.94
đề quan tâm chung
T>N
Thảo luận với một hoặc
14 nhiều người để giải
quyết một vấn đề
1.58 1.04 1.54 0.93 1.72 0.98
Tham gia hội thoại để
15 mua, bán hàng hóa và
dịch vụ
0.88 0.94 1.33 0.98 1.54 1.01 25.605*** T>H>N
0.97 0.96 1.31 0.93 1.35 0.96 10.066*** H&T>N
Tham gia hội thoại ở
các tình huống công
16 cộng khác như hỏi
thông tin ở ga tàu, hỏi
và chỉ đường, v.v.
Đàm phán để đạt được
một thỏa hiệp
17
0.98 1.04 0.95 0.94 1.24 1.07
1.24 1.01 1.29 0.98 1.24 1.00
7.567***
.305
N&T>H
Phỏng vấn và trả lời
phỏng vấn
18
Trung bình các hoạt
động Nói
1.34 0.33 1.51 0.36 1.52 0.33 40.720*** H&T>N
* p ≤ .05, ** p ≤ .01, *** p ≤ .001
4.5. So sánh kỹ năng Viết
cũng xác định được sự khác biệt đáng kể
giữa Hoạt động 9 và 8 với ngôn ngữ Trung
Với số lượng hoạt động nhiều nhất,
(F = .446, p ≤ .05). Nói cách khác, hoạt động
viết ghi chú, tin nhắn tiếng Trung là hoạt
động phổ biến nhất và được thực hiện
thường xuyên hơn các hoạt động còn lại một
cách đáng kể. Ngoài hai hoạt động 9 và 8,
các hoạt động 2, 7, 11, 13 cũng nằm trong
nhóm được thực hiện thường xuyên nhất ở
cả ba hoặc hai trên ba ngôn ngữ. Ngoài ra,
tiếng Nhật còn ghi nhận thêm Hoạt động 1
kỹ năng Viết có kết quả tần suất trung bình
của 24 hoạt động được trình bày ở Bảng 8.
Có thể thấy Hoạt động 9 (viết tin nhắn) và 8
(viết bản ghi nhớ ngắn) là hai hoạt động
được thực hiện thường xuyên nhất ở cả ba
ngôn ngữ. Tuy nhiên, chỉ có Hoạt động 9 ở
ngôn ngữ Hàn và Trung đạt mức tần suất trên
mức 2 (thỉnh thoảng). Kiểm định ANOVA
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
129
và 12 nằm trong nhóm có tần suất cao nhất,
trong khi đó, tiếng Hàn ghi nhận Hoạt động
14. Như vậy, với nhóm sáu hoạt động thường
xuyên nhất, tần suất thực hiện đều trên mức 1.4.
24 – viết thơ) cho tiếng Nhật, 0.68 (Hoạt
động 6 – viết thư giới thiệu) cho tiếng Hàn,
và 0.75 (Hoạt động 24 – viết thơ) cho tiếng
Trung, tức tiến gần tới mức 0 – không bao
giờ thực hiện.
Các hoạt động còn lại mức tần suất
giảm từ dưới 1.4 xuống tới 0.41 (Hoạt động
Bảng 8
So sánh tần suất trung bình hoạt động Viết của mỗi ngoại ngữ
Tiếng Trung
Tiếng Nhật (N=450) Tiếng Hàn (N=450)
(N=450)
Xếp
hạng
Hoạt
động
Viết
Hoạt
động
Viết
Hoạt động Viết
x
̅
s
x
̅
s
x
̅
s
1
Viết ghi chú, tin
nhắn (memo,
message)
(Thường
xuyên
nhất)
9
1.79 0.99
9
2.15 0.90
9
2.06 0.91
Viết một bản ghi
nhớ ngắn gọn
(note)
2
3
8
2
1.50 1.05
1.46 1.08
8
7
1.92 0.96
1.52 1.00
8
1.61 0.99
1.50 0.99
Viết thư để cung
cấp, bình luận
thông tin
11
Viết thể hiện quan
điểm của mình (tán
4
11 thành hay phản đối
một quan điểm
khác)
1.46 0.99
11
1.48 0.93
13
1.49 0.96
Viết thư để cảm ơn
hoặc xin lỗi
5
6
7
1
1.45 0.99
1.45 1.13
1.24 1.00
14
13
1
1.41 0.89
1.40 0.88
1.39 0.92
7
2
1.49 0.96
1.41 0.98
1.35 0.92
12 Viết báo cáo
Điền các biểu mẫu,
giấy tờ
7
14
Viết để mô tả sự
14
8
9
1.10 0.87
1.08 0.87
2
1.37 1.02
1.26 1.04
23
1
1.28 1.01
1.26 0.88
vật, hiện tượng
Viết để kể lại một
13
12
câu chuyện
Viết thư xin
10
11
5
3
việc/ứng tuyển vào
một vị trí
1.06 0.92
1.05 0.97
5
1.25 1.06
1.18 0.90
12
21
1.21 1.06
1.20 0.92
Viết thư mời ai đó
tham dự một sự
kiện
15
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Miêu tả thông tin từ
130
12
10 các bảng biểu, biểu
đồ, qui trình
1.04 0.97
16
1.15 0.93
1.14 0.99
5
1.19 1.03
Viết để phân tích
ưu, nhược điểm của
16 các giải pháp khác
nhau cho một vấn
đề
13
1.00 0.99
23
15
1.17 0.91
Viết bài tóm tắt sau
21 khi đọc một hoặc
nhiều văn bản
14
15
0.94 0.90
0.93 0.89
20
21
1.08 0.97
1.07 0.95
20
16
1.16 0.93
1.14 0.92
Viết so sánh sự
giống và khác nhau
giữa hai sự vật,
15
hiện tượng
Viết bài tóm tắt sau
20 khi nghe người
khác trình bày
16
17
0.93 0.91
0.91 0.98
10
19
1.04 0.92
1.00 0.89
22
3
1.03 0.94
1.02 0.92
Đọc và biên tập
23
(sửa lỗi)
Viết bài phản hồi
để đánh giá một tài
17 liệu có nội dung
chuyên môn, kỹ
thuật
18
0.85 0.94
22
0.98 0.94
17
0.95 0.96
Viết tổng hợp, đánh
giá thông tin/lập
luận từ nhiều nguồn
khác nhau
19
20
22
0.80 0.85
0.70 0.84
3
0.97 0.92
0.87 0.93
10
4
0.94 0.93
0.90 0.92
Viết thư để phàn
nàn/khiếu nại về
một dịch vụ/sản
4
17
phẩm
Viết quảng cáo, tờ
rơi
21
22
18
0.64 0.84
0.62 0.80
18
4
0.86 0.90
0.77 0.84
19
6
0.90 0.89
0.81 0.92
Viết thư giới thiệu
ai đó vào một vị trí
6
Viết để đánh giá
một bộ phim, cuốn
sách, hoặc vở kịch
nổi tiếng
23
24
19
0.49 0.66
0.41 0.71
24
6
0.72 0.91
0.68 0.89
18
24
0.77 0.89
0.75 0.87
Viết một đoạn/bài
thơ
24
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
131
Kiểm định ANOVA một lần nữa
được sử dụng để tìm ra sự chênh lệch đáng
kể trong việc thực hiện một hoạt động Viết
cụ thể giữa ba ngoại ngữ. Kết quả (Bảng 9)
cho thấy tiếng Nhật tiếp tục là ngôn ngữ có
tần suất thực hiện thấp nhất và với 15/24 hoạt
động, sự khác biệt về tần suất này là đáng kể.
Cụ thể, phân tích Scheffe cho thấy, người
học/dùng tiếng Nhật thực hiện Hoạt động 7,
9, 13, 14, 15 19, và 24 bằng tiếng Nhật ít hơn
một cách đáng kể người học/dùng tiếng Hàn
và Trung thực hiện các hoạt động Nói này
bằng ngoại ngữ của họ. Đây là các hoạt động
viết biểu mẫu, ghi chú, kể chuyện, mô tả, so
sánh sự vật, hiện tượng, đánh giá phim/sách,
và viết thơ. Đối với các hoạt động 4, 20-23
(viết thư phàn nàn, viết tóm tắt sau khi
nghe/đọc thông tin, tổng hợp, đánh giá thông
tin từ các nguồn khác nhau, biên tập) người
học và dùng tiếng Trung thực hiện nhiều hơn
người học và dùng tiếng Nhật một cách đáng
kể. Trong khi đó, Hoạt động 18 (viết quảng
cáo, tờ rơi) ghi nhận sự vượt trội đáng kể của
tiếng Hàn so với tiếng Nhật. Người học/sử
dụng tiếng Hàn cũng hay viết bản ghi nhớ
ngắn (note) (Hoạt động 8) nhiều hơn người
học/sử dụng hai ngoại ngữ còn lại một cách
đáng kể.
Bảng 9
So sánh tần suất trung bình hoạt động Viết của mỗi ngoại ngữ
Tiếng
Trung
(N=450)
S
T
T
Tiếng Nhật
(N=450)
Tiếng Hàn
(N=450)
Hoạt động Viết
F
Scheffe
x
̅
s
x
̅
s
x
s
̅
Viết thư để cảm ơn
hoặc xin lỗi
1
2
3
1.45 0.99 1.39 0.92 1.26 0.88
1.46 1.08 1.37 1.02 1.41 0.98
1.05 0.97 0.97 0.92 1.02 0.92
2.863
.445
.497
Viết thư để cung cấp,
bình luận thông tin
Viết thư mời ai đó
tham dự một sự kiện
Viết thư để phàn
nàn/khiếu nại về một
dịch vụ/sản phẩm
4
0.70 0.84 0.77 0.84 0.90 0.92
3.501*
T>N
Viết thư xin việc/ứng
tuyển vào một vị trí
5
6
7
8
9
1.06 0.92 1.25 1.06 1.19 1.03
0.62 0.80 0.68 0.89 0.81 0.92
1.24 1.00 1.52 1.00 1.49 0.96
1.993
2.992
Viết thư giới thiệu ai
đó vào một vị trí
Điền các biểu mẫu,
giấy tờ
5.141**
H&T>N
Viết một bản ghi nhớ
ngắn gọn (note)
1.50 1.05 1.92 0.96 1.61 0.99 12.476*** H>N&T
Viết ghi chú, tin nhắn
(memo, message)
1.79 0.99 2.15 0.90 2.06 0.91
8.566***
1.031
H&T>N
Miêu tả thông tin từ
10 các bảng biểu, biểu đồ, 1.04 0.97 1.04 0.92 0.94 0.93
qui trình
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Nghiên cứu nhu cầu sử dụng ngoại ngữ Nhật, Hàn, Trung của người Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_nhu_cau_su_dung_ngoai_ngu_nhat_han_trung_cua_nguo.pdf

